Tải bản đầy đủ (.doc) (103 trang)

SỬ DỤNG TÀI LIỆU LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (1945 -1954) Ở TRƯỜNG THPT TỈNH LẠNG SƠN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (532.8 KB, 103 trang )

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này, tôi đã nhận rất nhiều sự động viên,
giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới PGS.TS Kiều Thế
Hưng, người đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và
hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại
học, Ban chủ nhiệm khoa Lịch sử, Tổ bộ môn Lý luận và phương pháp dạy
học Lịch sử Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, giúp
đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã
luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài
nghiên cứu của mình.
Hà Nội, ngày 16 tháng 10 năm 2013
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Hoài Thu
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Viết đầy đủ
LSVN Lịch sử Việt Nam
LSDT Lịch sử dân tộc
LSĐP Lịch sử địa phương
GV Giáo viên
HS Học sinh
PP Phương pháp
DH Dạy học
SGK Sách giáo khoa
THPT Trung học phổ thông

MỤC LỤC
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU


1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục và đào tạo luôn được Đảng ta coi là “quốc sách hàng đầu”
[66;151]. Bước sang thế kỷ XXI, nền giáo dục Việt Nam đứng trước những
đòi hỏi mới. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ đã tạo nên
bước đột phá trong quan hệ quốc tế. Xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa là một
xu thế chủ đạo trong quan hệ quốc tế hiện nay. Xu thế đó đang mở ra những
cơ hội, những triển vọng to lớn cho Việt Nam trong sự nghiệp phát triển đất
nước. Nhưng mặt khác nó cũng mang lại những thách thức, những nguy cơ,
mà trước hết là nguy cơ tụt hậu, nguy cơ đánh mất bản sắc văn hóa của một
dân tộc có "bốn ngàn năm văn hiến".
Ý thức được những nguy cơ trên, nghị quyết Đại hội VIII của Đảng
Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: " Lựa chọn những nội dung có tính cơ bản,
hiện đại.Tăng cường giáo dục công dân, giáo dục lòng yêu nước, chủ nghĩa
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục đạo đức và nhân văn, lịch sử
dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc, ý chí vươn lên vì tương lai của bản thân
và tiền đồ của đất nước" [4;109]. Một trong những môn học có ưu thế hơn cả
trong giáo dục truyền thống dân tộc, lòng yêu nước , chính là môn lịch sử.
Để đảm bảo chất lượng bộ môn, đảm bảo được mục tiêu giáo dục đề ra,
bộ môn lịch sử đang có những đổi mới mạnh mẽ, toàn diện cả về nội dung,
chương trình, phương pháp, sách giáo khoa, trong đó việc khai thác và sử
dụng tài liệu LSĐP luôn có vị trí quan trọng, cả trong tri thức nhận thức khoa
học, cũng như trong giáo dục tư tưởng, đạo đức, giáo dục lòng yêu quê hương
đất nước cho HS, "bởi vì nguồn gốc của lòng yêu Tổ quốc bắt đầu từ thủa ấu
thơ, từ lòng yêu quê hương của các em. HS tự hào về đất nước và dân tộc
Việt Nam bắt đầu từ lòng tự hào về những chiến công của cha anh mình đã
làm nên nhờ ngay tại làng xóm thân yêu trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù
xâm lược " [48;235]. Theo cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng: "Dạy lịch sử tức
là dạy yêu nước, khi dạy làm thế nào để đồng bào Thái, đồng bào Dao,
1
trong lúc học LSVN thấy có phần mình trong đó, thấy gắn bó với đất nước với

dân tộc" [24;24].
LSĐP là một bộ phận cấu thành của LSDT, LSDT bao giờ cũng được
diễn ra trên phạm vi không gian, thời gian nhất định, ở những địa phương cụ
thể. LSĐP có thể phản ánh sự phát triển của LSĐP hoặc mang tầm LSDT,
phản ánh sự phát triển của LSDT, vì thế việc gắn kết chặt chẽ giữa việc
nghiên cứu LSDT và LSĐP luôn mang tính nhất quán và không tách rời.
Chỉ có thể hiểu sâu sắc LSDT khi hiểu sâu sắc LSĐP, nơi diễn ra sự
kiện mang tầm LSDT và ngược lại, chỉ có thể hiểu sâu sắc LSĐP khi đặt nó
trong mối quan hệ với LSDT. Nó là mối quan hệ giữa cái chung với cái riêng,
cái phổ biến với cái đặc thù, cụ thể.Việc nghiên cứu, học tập LSĐP không chỉ
có ý nghĩa đối với LSĐP mà còn có ý nghĩa quan trọng với việc nhận thức
LSDT. Tài liệu LSĐP không chỉ có ý nghĩa trong việc dạy học bài LSĐP mà
còn góp phần bổ sung và làm phong phú thêm, sinh động thêm LSDT, đồng
thời thực hiện được nguyên lí giáo dục: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết
hợp với lao động sản xuất, lí luận gắn với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết
hợp với giáo dục gia đình và xã hội”. [44;8].
LSĐP có vai trò quan trọng, nhưng thực tế DH lịch sử hiện nay ở
trường phổ thông chưa đáp ứng được yêu cầu này. Việc sử dụng tài liệu
LSĐP chưa được coi trọng đúng mức, chưa khai thác hết hiệu quả của tài liệu
LSĐP trong dạy học LSDT. Cách DH hiện nay còn nặng về lý thuyết, hàn
lâm, thiếu tính sáng tạo, hạn chế tính tích cực của HS trong nhận thức LSDT
cũng như LSĐP. Và việc chuyển đổi dạy học theo mô hình "lấy giáo viên làm
trung tâm" sang mô hình "lấy học sinh làm trung tâm” là một trong những
biện pháp để chúng ta khắc phục điều đó.
Lạng Sơn là một tỉnh miền núi phía Đông - Bắc, là nơi địa đầu Tổ
Quốc. Lạng Sơn có núi non hũng vĩ, phong cảnh hữu tình làm say mê lòng
người. Lạng Sơn có 17 dân tộc anh em cùng sinh sống đã tạo nên nét văn hóa
phong phú, đặc sắc. Nổi bật lên là những câu hát giao duyên sli, slượn duyên
2
dáng, tình tứ, văn hóa Then đậm chất tâm linh của người dân tộc Mảnh đất

này cũng có bề dày lịch sử, bởi Lạng Sơn tự hào là vùng đất chứng kiến những
bước đi chập chững đầu tiên của dân tộc. Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và
giữ nước, Lạng sơn là "phên dậu" của Tổ Quốc, đất Lạng Sơn anh hùng có
nhiều chiến công còn ghi dấu ấn như Ải Chi Lăng, căn cứ địa Bắc Sơn
Ngày nay, trong bối cảnh xây dượng đất nước, Lạng Sơn là cửa ngõ
của quốc gia với 01 cửa khẩu quốc tế, 04 cửa khẩu quốc gia. Nhân dân Lạng
Sơn đang nỗ lực vươn lên trên tất cả mọi mặt, nhằm góp phần vào sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Nhân dân tỉnh Lạng Sơn, đặc biệt là thế hệ trẻ của xứ Lạng cần biết,
cần hiểu và tự hào về mảnh đất thân yêu này. Giáo dục LSĐP cho các em là
điều vô cùng cần thiết để các em thêm yêu quê hương, từ đó các em có ý thức,
có trách nhiệm dựng xây đối với nơi "chôn rau cắt rốn" của mình.
Xuất phát từ những cơ sở lí luận và thực tiễn trên, chúng tôi chọn vấn
đề: "Sử dụng tài liệu LSĐP theo hướng phát huy tính tích cực của HS trong
dạy học LSVN (1945 - 1954) ở trường THPT tỉnh Lạng Sơn" làm đề tài Luận
văn Thạc sĩ, chuyên ngành Lí luận và PPDH bộ môn Lịch sử, mã số
60.14.01.11.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Về việc sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử ở
trường phổ thông.
2.2.1. Tài liệu nước ngoài
LSĐP là một vấn đề được quan tâm từ rất sớm ở các nước trên thế giới.
Ngay từ đầu thế kỉ XVIII, Nga hoàng Pie đệ nhất rất coi trọng việc nghiên
cứu và sưu tầm LSĐP. Trong thời gian này, cuốn LSĐP đầu tiên với tựa đề
“Lịch sử Xibia” của Remêdốp được biên soạn. Tiếp đó, Lômôlôxốp biên soạn
tác phẩm về LS các mặt của từng tỉnh, thành phố nước Nga. Cuối thế kỉ
XVIII, nhiều tác phẩm khác về các vùng miền khác nhau của Nga được xuất
bản như: Địa hình vùng Orenbua, Những kiến thức LS sơ giản về dân tộc
3
Đơvin, Sơ yếu LS thành phố Ackhaghen… Bên cạnh việc nghiên cứu LSĐP

của các nhà khoa học, còn có hoạt động nghiên cứu trong nhà trường. M.V.
Lômônôxốp đã thu hút HS ở nông thôn sưu tầm nghiên cứu các mỏ đá và kim
loại qúi. N.P. Bunacốp, một GV trường trung học, đã viết 20 cuốn sách về
LSĐP [40,16].
Hoạt động nghiên cứu địa phương cũng được đẩy mạnh trong các
trường đại học ở Cadan, Kháccốp, Kiép, Ôđetxa v.v Các hội nghiên cứu
khoa học lần lượt được thành lập ("Hội nghiên cứu LS cổ đại Nga" (1840),
"Hội khảo cổ học" (1846) ).
Văn kiện giáo dục đầu tiên của chính quyền Xô viết (1918) đã yêu cầu
các trường phổ thông dạy học LSĐP trong giờ nội khóa. Từ năm học 1920 -
1921, địa phương học đã đưa vào chương trình DH ở nhà trường và sau đó trở
thành tài liệu bắt buộc.
Đến năm 1930, môn Địa phương học được đưa vào giảng dạy ở các
trường Đại học Sư phạm. Từ những năm 50 của thế kỉ XX trở đi, với việc thành
lập các "Hội bảo tàng địa phương", "Hội bảo vệ các di tích LS và Văn hoá"
(1966), hoạt động nghiên cứu LSĐP càng được đẩy mạnh, đã góp phần quan
trọng vào sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ trong nhà trường Xô Viết trước đây.
Cuốn “Lịch sử địa phương” do G.N.Matiusin chủ biên (1980) nhấn
mạnh rằng việc dạy học LSĐP trong nhà trường phổ thông đã trở thành một
nguyên tắc giáo dục chung. Các tác giả không chỉ giới thiệu các nguồn tư liệu
mà còn hướng dẫn PP nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn và giảng dạy LSĐP.
Dựa trên kinh nghiệm thực tế ở nhà trường Xô viết, tài liệu đã khái quát lí
luận nhiều vấn đề liên quan đến công tác LSĐP, về các hình thức cơ bản của
việc DH.
Quyển “PP công tác LSĐP ở trường phổ thông” (1982) do N.X. Bô-ri-
ôp chủ biên trình bày hai vấn đề chính: nguồn tư liệu và công tác LSĐP ở
trường phổ thông. Các tác giả nêu lên những mặt mạnh, yếu của công tác này,
4
đề xuất những PP sư phạm tiến hành có hiệu quả và nhấn mạnh phải làm cho
HS hứng thú trong quá trình nhận thức LS quê hương mình.

Ở Hunggari, công tác nghiên cứu, sưu tầm LSĐP rất coi trọng. Nhà
trường kết hợp với các cơ quan chuyên môn LS và văn hoá, tổ chức HS sưu
tầm tư liệu để xây dựng những "làng bảo tàng" địa phương. Ở đó, người ta
trưng bày những hiện vật LS, những kiến trúc độc đáo, thể hiện tính đặc thù
trong đời sống và văn hoá tinh thần của nhân dân các địa phương.
Trong tài liệu của tổ chức UNESCO cũng nói về LSĐP. Tờ “Người
đưa tin UNESCO” (6/1989, bản tiếng Việt) giới thiệu kinh nghiệm sử dụng
các bảo tàng, di tích LS ở địa phương để giảng dạy trong giờ học LS. Ở Mĩ,
trong chương trình các trường Tiểu học (từ lớp 1 đến lớp 6) môn “Nhập môn
xã hội học” cũng có một số tiết về “LS và địa lí về tỉnh ta, bang ta”.
Trong các hội nghị LS quốc tế năm 1979 (tại Cộng hòa Dân chủ Đức),
năm 1980 (tại Rumani), vấn đề nghiên cứu và giảng dạy LSĐP được thảo
luận một cách nghiêm túc. Năm 1994, tại Hội thảo khoa học về giáo dục LS
các nước Đông Nam Á, các nhà khoa học đã đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến
PP luận và PP nghiên cứu LSĐP, các nguồn và PP xử lí sử liệu.
Trong Khuyến nghị của Nghị viện châu Âu (số 1283) liên quan đến LS
và việc học tập LS ở châu Âu, ngày 22/01/1996 nhấn mạnh: “Nội dung của
các chương trình LS phải rất mở rộng; phải bao gồm tất cả những mặt của xã
hội (LS xã hội và văn hóa cũng như LS chính trị)… LSĐP cũng như LS dân
tộc (nhưng không phải là LS theo quan điểm dân tộc chủ nghĩa) phải được
giảng dạy, cũng như LS các dân tộc thiểu số…” [46;66].
2.2.2. Tài liệu trong nước.
Từ xưa, các triều đại phong kiến Việt Nam, ngoài việc nghiên cứu
Quốc sử cũng coi trọng LSĐP, một số tác phẩm tiêu biểu là: Dư địa chí
(1435) của Nguyễn Trãi, Phủ biên tạp lục (1776) của Lê Quí Đôn, Đại Nam
nhất thống chí (1849) của Quốc sử quán triều Nguyễn… Đặc biệt, dưới thời
Nguyễn việc chép sử được mở rộng đến các làng xã và huyện.
5
Trước Cách mạng tháng Tám 1945, ở nước ta xuất hiện những tài liệu,
thần phả, địa chí, như: Gia Định thành thông chí (1972) của Trịnh Hoài Đức,

Nghệ An kí (đầu thế kỉ XIX) của Bùi Dương Lịch, Đồ Bàn kí của Nguyễn
Văn Hiển, Vương quốc Đàng Ngoài của S. Barong, Làng xã An Nam ở Bắc
Kì (1894) của P.Ory, Thành bang An Nam (1909) của C. Briphô, Nhân dân
đồng bằng Bắc Bộ (1936) của Piê-Guru,…
Ở miền Nam, dưới thời Mỹ - ngụy cũng có một số soạn giả nghiên cứu
và xuất bản sách về LSĐP: Cao nguyên miền thượng, Phong quang Đắc Lắc
của Cửu Long và Toan Ánh; Nước non Bình Định của Quách Tấn… Các tài
liệu này đã trình bày đầy đủ, hệ thống về một địa phương, thể hiện một phần ý
thức dân tộc.
Việc giảng dạy và học tập LSĐP ở nước ta sớm được đưa vào chương
trình, nhất là sau các cuộc cải cách giáo dục (năm 1950, 1956, 1979), bước
đầu đạt kết quả về mặt nội dung và PPDH. Cho đến nay đã có nhiều quyển
sách biên soạn về LSĐP.
Cuốn “Lịch sử địa phương” (1989) của Trương Hữu Quýnh, Phan
Ngọc Liên, Nguyễn Phan Quang, Nguyễn Văn Am là một công trình khoa
học tương đối đầy đủ và có hệ thống về việc nghiên cứu, biên soạn và giảng
dạy LSĐP ở trường phổ thông.
Trong các giáo trình “PPDH lịch sử” (xuất bản lần đầu năm 1978 và tái
bản nhiều lần vào các năm 1980, 1992, 1998, 2000, 2001) của Phan Ngọc
Liên, Trần Văn Trị (chủ biên) đều nhấn mạnh việc nghiên cứu và giảng dạy
LSĐP ở các trường phổ thông, gắn việc học tập LS với đời sống xã hội. Các
tác giả cũng tập trung đi sâu vào việc hướng dẫn biên soạn và giảng dạy các
tiết LSĐP, cũng như công tác sưu tầm, nghiên cứu và xử lí tài liệu thu thập
được (trong giáo trình năm 2002 và 2009).
Cuốn “PP giảng dạy LS” tập 1, 2 (1966) do Phan Ngọc Liên, Trần
Văn Trị biên soạn đã khẳng định: “Giảng dạy LS gắn liền với đời sống và
6
cần phải liên hệ tri thức LS trong sách vở với cuộc sống, liên hệ LS toàn quốc
với LSĐP” [44; 9].
Tại Hội thảo khoa học về vấn đề “Nghiên cứu, biên soạn và giảng dạy

LSĐP” do Hội khoa học LS Việt Nam kết hợp với Đại học Vinh tổ chức vào
tháng 6/2002, các tác giả đã đi sâu vào những vấn đề chung về nghiên cứu,
biên soạn và giảng dạy LSĐP; việc đổi mới PP giảng dạy LSĐP và một số kết
quả nghiên cứu mới về LSĐP.
Năm 2007, “Dự án Việt – Bỉ” triển khai ở Việt Nam đã tổ chức tập
huấn cho GV Cao đẳng Sư phạm. DA triển khai viết về tài liệu giáo dục
LSĐP cho sinh viên các trường Cao đẳng, cho THCS và cho Tiểu học.
Ngoài ra, vấn đề này còn được trình bày trên các Tạp chí Giáo dục, Tạp
chí Nghiên cứu LS, Luận án, Luận văn, Khóa luận tốt nghiệp, như:
Nguyễn Thị Côi (2002): “Nâng cao hiệu quả dạy học LSĐP ở trường
THPT”, Tạp chí Khoa học trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đã nêu lên vai
trò, tầm quan trọng và đề xuất các biện pháp DH LSĐP ở trường phổ thông.
Vấn đề giảng dạy LSĐP ở trường phổ thông đang là một đề tài hấp dẫn,
cần thiết và đã có nhiều khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
đã viết về đề tài này. Cụ thể: Luận án PTS của Đặng Công Lộng (1996) "
Nghiên cứu việc giảng dạy LSĐP ở trường THPT" (Qua thực nghiệm ở Bình
Định), Luận án "Sử dụng di tích LSĐP trong dạy học LSVN ở trường THPT
tỉnh Hưng Yên" (1999) của Hoàng Thanh Hải , các luận văn như: "Sử dụng
tài liệu LSĐP để giáo dục ý thức giữ gìn văn hóa dân tộc trong dạy học LS ở
trường THPT (qua ví dụ tỉnh Bắc Ninh) " của Lê Thị Hải Yến, Luận văn "Một
số biện pháp nâng cao hiệu quả bài học LSĐP ở trường THPT tỉnh Bắc
Giang" của Ngọ Văn Giáp, luận văn "Một số biện phát huy tính tích cực của
HS trong dạy học các bài LSĐP ở trường THPT Ninh Bình" của Vũ Đặng Hà
Bình, “Sử dụng LSĐP trong DHLS Việt Nam ở trường THPT tỉnh Sơn La”
(2009) của Chu Thị Mai Hương,… và một số khóa luận tốt nghiệp khác là
những gợi ý cho đề tài.
7
2.2 Về vấn đề phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy - học lịch sử
2.1.1 Tài liệu nước ngoài
M.N. Sacđacốp trong cuốn "Tư duy học sinh" (Nxb Giáo dục, 1970), đã

nhấn mạnh đến vai trò của tư duy tích cực trong việc lĩnh hội tri thức. Ông
cho rằng chỉ có phát huy tư duy tích cực, độc lập của học sinh mới giúp các
em chủ động lĩnh hội kiến thức.
I.F.Kharlamop trong cuốn "Phát huy tính tích cực của HS như thế
nào" (Nxb Giáo dục, 1978), tác giả đã đề cập đến những biện pháp nhằm kích
thích hoạt động nhận thức của học sinh. Theo ông, để giờ học đạt kết quả cao
thì nhiệm vụ trọng tâm là phải phát huy tính tích cực.
B.P.Êxipôp (nhà giáo dục học Liên Xô trước đây), trong cuốn " Những
cơ sở của lý luận dạy học" (tập 3, Nxb Giáo dục, 1971), tác giả nhấn mạnh
đến việc nâng cao tính tích cực, sáng tạo và tính tự lập, ham hiểu biết của HS
trong quá trình học tập. Đồng thời nêu rõ nhiệm vụ của nhà trường là phải
phát triển tính tích cực của HS và PP làm việc tự lập của HS.
N.V.Savin trong cuốn "Giáo dục học" (Tập 1, Nxb Giáo dục, 1983) đã
nêu ra vấn đề làm thế nào để khơi gợi được hoạt động nhận thức tích cực của
HS để các em nắm được tri thức, kĩ năng, kĩ xảo. Đồng thời tác giả cũng chỉ
ra các biện pháp để nâng cao hiệu quả DH như sử dụng đồ dùng trực quan, tư
liệu DH, tình huống có vấn đề, hứng thú học tập và đặc biệt là phát huy tính
tích cực của HS.
T.A. Ilina đã đề cập đến những con đường nâng cao hiệu quả bài học
trong cuốn "Giáo dục học" (tập 1, Nxb Giáo dục, 1979), tác giả nhấn mạnh
yêu cầu tăng cường mối quan hệ của việc giảng dạy những cơ sở khoa học với
đời sống, đặt ra cho GV nhiệm vụ tìm cách phát huy tính tích cực của HS,
phát triển ở các em năng lực nhận thức và sáng tạo, xây dựng kỹ năng, kỹ xảo
độc lập.
8
Trên cơ sở các công trình nghiên của các nhà giáo dục học nêu trên, các
nhà giáo dục sử học có nhiều công trình nhiên cứu về vấn đề phát huy tính
tích cực của HS trong dạy học LS, tiêu biểu như I.Ia.Lecne, N.G Đairi.
I.Ia.Lecne trong cuốn "Phát triển tư duy của HS trong dạy học LS"
(Tài liệu dịch thư viện trường Đại học sư phạm Hà Nội, 1982), đã đặc biệt

nhấn mạnh đến con đường, biện pháp dạy học LS nhằm phát triển tư duy cho
HS: dạy học nêu vấn đề, dạy học trực quan Ông chỉ rõ các biện pháp đó sẽ
kích thích năng lực sáng tạo, tính tích cực nhận thức của HS để nâng cao chất
lượng giờ học LS.
I.Ia. Lecne, nhà giáo dục học Liên Xô trước đây, trong cuốn "dạy học
nêu vấn đề" (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1977) đã làm sáng tỏ bản chất và cơ sở
của DH nêu vấn đề, nhấn mạnh đến tầm quan trọng của tư duy tích cực trong
quá trình nhận thức của HS. Đồng thời, ông cũng chỉ ra tác dụng của việc DH
nêu vấn đề đối với việc phát huy tính tích cực, độc lập của HS.
Tiến sĩ N.G. Đairi (nhà giáo dục LS Liên Xô trước đây) trong tác phẩm
"Chuẩn bị giờ học LS như thế nào" (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1973), ông khẳng
định hoạt động tích cực độc lập của HS là một điều kiện bắt buộc đối với một
giờ học được tổ chức một cách khoa học và hiệu quả. Đồng thời, ông còn chỉ rõ
muốn đạt được giờ học LS đạt hiệu quả cao phải chuẩn bị tốt giáo án, vận dụng
linh hoạt DH nêu vấn đề với các PPDH, đặc biệt là sử dụng sách giáo khoa và
bài giảng của thầy trong một giờ học. Ông đã đưa ra một sơ đồ, có thể coi như
một kim chỉ nam cho người GV lịch sử trong việc sử dụng sách giáo khoa.
Qua tìm hiểu, các tác giả nêu trên đều khẳng định ý nghĩa và tầm quan
trọng của việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học nói
chung và trong dạy học lịch sử nói riêng. Đồng thời nhấn mạnh đến vai trò của
việc phát huy tính tích cực trong nhận thức đặc biệt là trong tư duy của học sinh.
2.1.2. Tài liệu trong nước
Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt trong cuốn "Giáo dục học" (Tập 1,
Nxb Giáo dục, 1987), đã đưa ra các nguyên tắc của quá trình DH, trong đó có
9
nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa hoạt động của thầy và vai trò tự giác,
tích cực, độc lập của trò. Nguyên tắc này đòi hỏi phải phát huy tính tích cực,
tính tự giác, độc lập của HS trong quá trình DH, đồng thời các tác giả cũng
đưa ra khái niệm tính tích cực, tự giác, tính độc lập nhận thức.
Thái Duy Tuyên, trong cuốn "Giáo dục học hiện đại" (Nxb Đại ĐHQG

Hà Nội, 2001), cũng trình bày một số vấn đề về tính tích cực, độc lập, tự giác
của HS trong quá trình học tập. Tác giả nhấn mạnh đến vai trò của hứng thú đối
với việc phát huy tính tích cực của HS trong học tập. Từ đó, tác giả đưa ra một
số biện pháp để phát huy tính tích cực nhận thức của HS trong giờ lên lớp.
Đặng Thành Hưng trong cuốn "Dạy học hiện đại - lý luận, biện pháp,
kĩ thuật" (Nxb ĐHQG Hà Nội, 2002) đã đề cập đến vấn đề tích cực hóa và
biện pháp tích cực hoá để thể hiện mình và phát triển. Đồng thời, tác giả cũng
nêu lên các biện pháp, kĩ thuật nhằm làm cho giờ học đạt kết quả cao như: kĩ
thuật ghép nhóm, kĩ thuật sử dụng câu hỏi, kĩ thuật sử dụng và khai thác các
phương tiện, tài liệu DH, đây thực sự là giải pháp về tổ chức nhằm đảm bảo
quá trình học tập diễn ra tích cực và hiệu quả.
Giáo trình "Phương pháp dạy học lịch sử" của Phan Ngọc Liên, Trần
Văn Trị (chủ biên) xuất bản các năm 1976 (tập 1), năm 1980 (tập 2), tái bản
nhiều lần sau đó, đã dành hẳn một phần đề cập đến vấn đề phát triển các năng
lực nhận thức, năng lực hành động của HS trong dạy học LS. Đặc biệt là cuốn
"Phương pháp dạy học lịch sử" (tập 1,2 Nxb ĐHSP Hà Nội, 2002) do giáo sư
Phan Ngọc Liên chủ biên, tái bản và có sửa chữa năm 2009, 2010 đã hoàn
chỉnh hơn vấn đề sử dụng sách giáo khoa, tài liệu tham thảo và phát huy tính
tích cực của HS trong dạy học LS.
Trong cuốn "Phát huy tính tích cực của HS trong dạy học LS ở trường
trung học cơ sở" do Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng chủ biên (Nxb Giáo
dục, 1998) đã đưa ra cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát huy tính tích cực
HS trong dạy học LS ở trường trung học cơ sở, khẳng định tầm quan trọng
10
của tài kiệu tham khảo và đề ra những con đường, biện pháp, hình thức để
phát huy tính tích cực của HS trong học tập LS.
Cuốn "Đổi mới dạy học lịch sử lấy "Học sinh làm trung tâm"" do giáo
sư Phan Ngọc Liên chủ biên (Nxb ĐHQG, 1996) và cuốn "Đổi mới PPDH
lịch sử ở trường phổ thông" (Một số chuyên đề) do giáo sư Phan Ngọc Liên
chủ biên đã cho chúng ta thấy đổi mới PPDH nói chung, dạy học LS nói riêng

là một yêu cầu cấp thiết. Đổi mới PPDH là đổi mới theo hướng phát huy tính
tích cực của HS. Đồng thời các tác giả cũng nêu ra các con đường, biện pháp
để phát huy tính tích cực đó.
Cuốn "Mô hình DH tích cực lấy người học làm trung tâm" của Nguyễn
Kỳ (Trường cán bộ quản lý GD và ĐT Hà Nội, 1996), tác giả đưa ra mô hình
DH tích cực lấy người học làm trung tâm trong đó quan trọng là PP, đặc
trưng, ý nghĩa, vai trò của HD tích cực.
Cuốn "Một số chuyên đề PPDH lịch sử" (Nxb ĐHQG Hà Nội, 2002)
do giáo sư Phan Ngọc Liên chủ biên, "Các con đường, biện pháp nâng cao
hiệu quả bài học LS ở trường phổ thông " của giáo sư Nguyễn Thị Côi (Nxb
ĐHSP, 2010) đã nhấn mạnh đến vai trò phát triển nhận thức tích cực, độc lập,
sáng tạo của HS và đề xuất các con đường, biện pháp phát triển tính tích cực,
độc lập của HS trong giờ học nội khoá cũng như hoạt động ngoại khoá.
Cuốn "Áp dụng dạy và học tích cực trong môn LS" của giáo sư Phan
Ngọc Liên chủ biên (Dự án Việt - Bỉ), giáo trình "Các hình thức tổ chức DH
ở trường trung học cơ sở" do Nguyễn Thị Côi chủ biên (Nxb ĐHSP, 2007),
đều đã đề cập đến PPDH tích cực, đưa ra các PPDH theo hướng tích cực hoá
hoạt động học tập của người học.
Vấn đề LSĐP cũng như phát huy tính tích cực của HS trong dạy học
lịch sử không phải là vấn đề mới. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về các
vấn đề này ở những góc độ và mức độ khác nhau. Đó là những cơ sở rất quan
trọng cho chúng tôi trong quá trình vận dụng để nghiên cứu đề tài này.
11
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu về
việc sử dụng tài liệu LSĐP Lạng Sơn theo hướng phát huy tính tích cực của
HS trong dạy học LSVN (1945 - 1954) ở trường THPT Lạng Sơn.
Vì thế theo chúng tôi nghiên cứu đề tài này một mặt kế thừa thành tựu
nghiên cứu của những đề tài cùng loại trước đó, mặt khác chúng tôi còn đề
cập và nghiên cứu nhiều vấn đề mới, những vấn đề cụ thể trong DH lịch sử ở
trường THPT Lạng Sơn.

Việc nghiên cứu thành công đề tài sẽ góp phần quan trọng nâng cao chất
lượng dạy học lịch sử ở trường phổ thông, cũng như góp phần làm tài liệu tham
khảo cho các đồng nghiệp ở Lạng Sơn khi dạy học giai đoạn lịch sử này.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sử dụng tài liệu LSĐP Lạng
Sơn trong dạy học LSVN (1945 - 1954).
3.2. Trong khuôn khổ của một Luận văn Thạc sĩ, chúng tôi sẽ không đi
sâu vào nghiên cứu tiết dạy LSĐP riêng biệt. Trên cơ sở tìm hiểu lí luận và
thực tiễn liên quan đến đề tài, chúng tôi tập trung đề xuất các hình thức, biện
pháp sử dụng tài liệu LSĐP Lạng Sơn trong dạy học LSVN (1945 - 1954) cho
HS lớp 12 các trường THPT ở Lạng Sơn theo hướng phát huy tính tích cực HS.
Tác giả soạn nội dung “Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn
quốc chống thực dân Pháp (1946 - 1950)" (tiết 3) để thực nghiệm sư phạm
theo các biện pháp đã đề xuất trong Luận văn, hình thức DH nội khóa ở lớp
12 trường THPT Đồng Đăng - Lạng Sơn.
4. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
4.1. Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn DH lịch sử nói chung,
vận dụng các hình thức, PPDH tích cực khi tiến hành sử dụng tài liệu LSĐP
trong dạy học LSDT lớp 12 THPT (chương trình chuẩn) nói riêng, đề tài sẽ:
- Tiếp tục khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng tài liệu LSĐP
trong dạy học LSVN.
12
- Khảo sát, điều tra thực trạng về việc dạy học LSĐP trong dạy học
LSVN.
- Đề xuất các hình thức, biện pháp sử dụng tài liệu LSĐP khi tiến hành
dạy các bài LSVN (1945 - 1954) lớp 12 THPT (chương trình chuẩn) theo
hướng phát huy tính tích cực HS.
- Chỉ rõ những yêu cầu và PP luận vận dụng các hình thức, biện pháp
khi sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy các bài LSVN (1945 - 1954) .
4.2. Để đạt được mục đích trên, đề tài cần giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Tìm hiểu lí luận của Giáo dục học, Tâm lí học và PPDH môn LS.
- Khảo sát thực trạng vận dụng các hình thức, biện pháp khi sử dụng tài
liệu LSĐP trong dạy các bài LSVN (1945 - 1954) .
- Tìm hiểu nội dung, chương trình SGK, tài liệu LSĐP ở Lạng Sơn để
xác định bài học có nội dung kiến thức phù hợp với việc vận dụng các hình
thức, biện pháp dạy học tích cực khi sử dụng tài liệu LSĐP trong bài LSVN,
cũng như chuẩn bị bài thực nghiệm sư phạm.
- Đề xuất các hình thức, biện pháp sư phạm sử dụng tài liệu LSĐP trong
dạy học LSVN theo hướng phát huy tính tích cực của HS, góp phần nâng cao
chất lượng DHLS nói chung, dạy học LSĐP nói riêng ở trường THPT.
- Soạn giáo án và thực nghiệm sư phạm những biện pháp đã đề xuất
trong Luận văn.
5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở PP luận của đề tài dựa trên quan điểm, nhận thức của chủ
nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, Nhà nước ta
về công tác giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ. Đề tài cũng dựa vào lí luận DH của
Giáo dục học, Tâm lí học, Lý luận và PPDH môn LS…
5.2. Bên cạnh việc tuân thủ những nguyên tắc nghiên cứu khoa học nói
chung, do nội dung và tính chất của đề tài, chúng tôi sử dụng chủ yếu các PP
nghiên cứu khoa học giáo dục sau:
13
- Nghiên cứu các nguồn tài liệu về Giáo dục học, Tâm lí học… Đặc biệt là
lí luận DH bộ môn liên quan đến các tài liệu nói chung và tài liệu LSĐP nói riêng.
- Nghiên cứu thực tiễn vận dụng các PPDH tích cực khi sử dụng tài
liệu LSĐP trong dạy học LS dân tộc (1945 - 1954) lớp 12 ở trường THPT
tỉnh Lạng Sơn thông qua phiếu điều tra, dự giờ, phỏng vấn.
- Soạn bài và thực nghiệm sư phạm theo những biện pháp đã đề xuất
trong Luận văn và tiến hành thực nghiệm sư phạm.
- Sử dụng PP toán học thống kê, tập hợp và xử lí số liệu đã thu được để
phân tích, nhận xét, rút ra kết luận và nêu kiến nghị.

6. Ý nghĩa của đề tài
6.1. Đề tài góp phần làm phong phú thêm lí luận DH bộ môn về sử
dụng các PPDH. Việc hoàn thành đề tài này sẽ giúp chúng tôi nâng cao trình
độ về lí luận DH, nhất là các hình thức, biện pháp vận dụng các PPDH tích
cực vào dạy học LSĐP trong bài LS dân tộc.
6.2. Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ được tác giả ứng
dụng rộng rãi vào quá trình DHLS ở trường THPT. Mong rằng đây cũng là tài
liệu tham khảo bổ ích cho học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Lí luận
và PPDH môn LS.
7. Giả thuyết khoa học
Dạy học LSĐP nói chung, sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy học LSVN
theo hướng phát huy tính tích cực HS là một xu thế tất yếu của nền giáo dục
hiện đại, nền giáo dục vừa giữ gìn và phát huy truyền thống văn hoá, bản sắc
dân tộc vừa có khả năng hội nhập quốc tế. Nếu GV có quan niệm đúng đắn về
sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy học LS dân tộc, nắm được lí luận DH bộ
môn và áp dụng hiệu quả các hình thức, biện pháp sư phạm theo những đề
xuất của Luận văn, đảm bảo các yêu cầu và PP luận đã nêu sẽ góp phần nâng
cao chất lượng DH bộ môn ở trường phổ thông.
14
8. Đóng góp của đề tài
Luận văn có đóng góp về khoa học và thực tiễn ở các mặt sau:
- Tiếp tục khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng tài liệu lịch
LSĐP trong dạy học LSVN.
- Cung cấp thêm thực trạng việc sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy học
LSVN theo hướng phát huy tính tích cực HS.
- Đề xuất các hình thức, biện pháp vận dụng các hình thức, PPDH tích
cực khi sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy học LSVN theo hướng phát huy tính
tích cực học sinh.
9. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn

gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý lụân và thực tiễn của việc sử dụng tài liệu LSĐP
theo hướng phát huy tính tích cực của HS trong dạy học LSVN (1945 - 1954)
ở trường THPT tỉnh Lạng Sơn
Chương 2: Các biện pháp sử dụng tài liệu LSĐP theo hướng phát huy tính
tích cực của HS trong dạy học LSVN (1945 - 1954) ở trường THPT Lạng Sơn
15
CHƯƠNG I.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG TÀI LIỆU
LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH
CỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM
(1945 - 1954) Ở TRƯỜNG THPT TỈNH LẠNG SƠN
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Về việc sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy học LSVN ở trường THPT
1.1.1.1.Quan niệm về “tài liệu lịch sử địa phương”
*Tài liệu lịch sử
Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng thì tài liệu là những sách báo giúp
cho việc tìm hiểu một vấn đề gì đó. Ví như tài liệu học tập, tài liệu tham khảo,
tài liệu giảng dạy… Chúng ta cần phân biệt khái niệm “tài liệu LS” với khái
niệm “tư liệu LS”. Tư liệu lịch sử là khâu trung gian nối liền nhà sử học với
các công trình nghiên cứu lịch sử. Cho nên, có thể hiểu tư liệu lịch sử là
những di tích của quá khứ, xuất hiện như sản phẩm của quan hệ xã hội nhất
định, mang trong nó dấu vết của quan hệ ấy, phản ánh trực tiếp và trừu tượng
hóa một mặt hoạt động nào đấy của con người. Tư liệu lịch sử thường được
trích ra từ trong các tài liệu lịch sử. Nó là phần quan trọng của tài liệu lịch sử,
nó phục vụ cho quá trình nghiên cứu hay học tập lịch sử. Như vậy, chúng ta
có thể hiểu tài liệu lịch sử là những sách, báo hay các công trình nghiên cứu
về lịch sử quá khứ của xã hội loài người. Tài liệu lịch sử có nhiều loại khác
nhau, tùy theo đặc điểm xuất xứ, nội dung, đặc trưng khác nhau mà người ta
phân chia chúng làm các nhóm, loại khác nhau. Trong đó có ba nhóm tài liệu

lịch sử chính là tài liệu thành văn, tài liệu hiện vật và tài liệu trực quan.
*Lịch sử địa phương
Tìm hiểu thuật ngữ “địa phương" là một cơ sở để nắm vững nội hàm
khái niệm "lịch sử địa phương". Cho đến nay, có nhiều quan niệm về "địa
phương". "Địa phương là những vùng, những khu vực trong quan hệ với
những vùng, những khu vực trong nước" [39;11], "địa phương là những khu
16
vực, vùng được phân ra từ một tổ chức cao nhất là Trung ương" [39; 321], và
có thể hiểu một cách đơn giản "địa phương" là những gì không phải là
"Trung ương", "cả nước", "dân tộc" [39; 11].
Như vậy, địa phương là những vùng đất nhất định nằm trong quốc gia,
có sắc thái đặc thù riêng để phân biệt với những vùng đất khác, là bộ phận cấu
thành của đất nước. Theo nghĩa cụ thể thì địa phương là đơn vị hành chính
của một quốc gia (tỉnh, thành phố, huyện, quận, xã phường, thôn, bản, ). Còn
hiểu một cách khái quát thì địa phương là những vùng đất, khu vực nhất định
được hình thành trong lịch sử, có ranh giới tự nhiên (nhưng không có địa giới
hành chính) để phân biệt với vùng đất khác về mặt tự nhiên, kinh tế, như
miền Bắc, miền Trung, miền Nam, cụ thể là vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Nam
Trung Bộ.
Với những nhận thức trên, chúng ta có thể hiểu LSĐP chính là lịch sử
các làng, các xã, huyện, tỉnh, thành phố hay khu vực, vùng, miền. Cụ thể hơn,
đó chính là lịch sử hình thành, tồn tại và phát triển của các địa phương. LSĐP
còn bao hàm ý nghĩa lịch sử của các đơn vị sản xuất, chiến đấu, các trường
học, cơ quan, xí nghiệp, xét về yếu tố địa lý, các đơn vị đều gắn với một địa
phương nhất định. Song nội dung của nó mang tính chuyên môn, kỹ thuật, do
đó các ngành nghiên cứu xếp nó vào dạng lịch sử chuyên ngành.
Từ định nghĩa trên, chúng ta có thể thấy LSĐP có hai đối tượng nghiên
cứu chính:
- Lịch sử các đơn vị hành chính (thôn, xã, huyện tỉnh, thành phố, ), cụ
thể là quá trình hình thành, ổn định và phát triển của một địa phương và các

mặt kinh tế, văn hoá, chính trị, quân sự, tư tưởng, trong sự phát triển chung
của LSDT. Trên cơ sở đó, khai thác nét độc đáo, đặc thù của địa phương,
những giá trị văn hoá, tinh thần và xác định những đóng góp quý báu của địa
phương đối với việc xây dựng truyền thống chung, bổ sung, hoàn chỉnh lịch
sử dân tộc. Nghiên cứu về đối tượng này có nhiều thể loại phong phú như:
17
thông sử địa phương, lịch sử phong trào cách mạng địa phương, lịch sử Đảng
bộ địa phương
- Các sự kiện, hiện tượng lịch sử xảy ra ở địa phương, có liên quan đến
những sự kiện, biến cố chung của lịch sử dân tộc, chẳng hạn như: chiến thắng
Chi Lăng – Xương Giang, khởi nghĩa Bắc Sơn
Chúng ta cũng cần phân biệt LSĐP với các chuyên khảo về một sự kiện
lớn của cả nước như: một phong trào nông dân, một cuộc khởi nghĩa Mặt
khác, cũng cần phân biệt LSĐP với lịch sử chuyên ngành, mặc dù chúng có
chỗ giống nhau, song chúng vẫn có nét khác nhau cơ bản.
Từ những quan niệm trên, chúng ta có thể hiểu tài liệu lịch sử địa
phương là những sách, báo hay các công trình nghiên cứu về lịch sử quá khứ
của một địa phương nhất định.
1.1.1.2. Các loại tài liệu LSĐP
Sự phát triển của khoa học lịch sử gắn liền với việc mở rộng các nguồn
tư liệu LSĐP và hoàn thiện phương pháp phân tích, giám định tư liệu. Các tài
liệu LSĐP thu được trong nghiên cứu làm cho việc giảng dạy LSĐP, cũng
như việc sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy học LSVN được phong phú với các
nguồn chủ yếu:
Tài liệu thành văn hay sử liệu viết: là nguồn tư liệu giữ vị trí quan trọng
hàng đầu trong các nguồn sử liệu LSĐP. Nguồn tư liệu này rất phong phú và
đa dạng, gồm nhiều loại: gia phả, hồi kí, văn bản chính quyền, đảng bộ, các
đoàn thể địa phương Xã hội càng phát triển, hoạt động văn hoá, giáo dục
càng phát triển nguồn sử liệu thành văn càng phong phú.
Tài liệu hiện vật hay sử liệu vật chất: bao gồm những di vật khảo cổ,

những công trình kiến trúc nghệ thuật, các di tích lịch sử, cách mạng ở địa
phương. Những sử liệu vật chất có giá trị chân thực, giúp chúng ta xác định
một số vấn đề đặt ra đối với những thời đại xa xưa, khi chữ viết chưa ra đời
hoặc góp phần xác minh những sự kiện thu thập được từ các nguồn khác nhau.
18
Tài liệu dân tộc học: miêu tả một cách sinh động nền văn hoá vật chất,
tinh thần, sinh hoạt xã hội của con người như: phong tục, tập quán, hội hè,
nghi lễ
Tài liệu ngôn ngữ học: có hai hình thức phổ biến là phương ngôn và địa danh.
Tài liệu truyền miệng: là nguồn tư liệu vô cùng phong phú giúp các nhà
nghiên cứu lịch sử nói chung, LSĐP nói riêng biên soạn và giảng dạy lịch sử
có sức hấp dẫn, truyền cảm. Tài liệu truyền miệng bao gồm các loại như:
truyện cổ tích, ca dao, tục ngữ, hò vè, truyện kể của các cụ già, của các cán bộ
lão thành cách mạng; những câu chuyện truyền lại trong Lễ hội - Hội làng.
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi tập chung khai thác các nguồn tài
liệu chủ yếu sau:
Tài liệu thành văn được ghi trong các sách, tạp chí, chuyên khảo đã
xuất bản, các báo cáo từ các hội nghị, hồi kí các nhân chứng lịch sử
Các di tích lịch sử: là những địa điểm của tỉnh đã từng diễn ra các sự
kiện, hiện tượng từ năm 1945 - 1954.
Tài liệu truyền miệng
Do nội dung các nguồn tài liệu về LSĐP phong phú như vậy nên hình
thức và biện pháp sử dụng cũng rất đa dạng, nhưng trong phạm vi đề tài, chúng
tôi chỉ tập trung đề cập đến việc sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy học LSVN.
1.1.1.3. Đặc điểm của việc sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy học LSVN
Để dễ dàng nhận biết đặc điểm của việc sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy
học LSVN, chúng tôi tiến hành một vài so sánh nhỏ, cụ thể là so sánh tiết dạy
LSVN có sử dụng tài liệu LSĐP với tiết dạy LSVN không sử dụng tài liệu
LSĐP và tiết dạy LSĐP riêng biệt (được quy định trong PPCT Bộ GD- ĐT)
Về kiến thức:

* Trước hết, chúng tôi so sánh tiết dạy sử dụng tài liệu LSĐP so với tiết
dạy không sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy học LSVN như sau:
- Thứ nhất, việc sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy học LSDT sẽ giúp HS
nắm vững LSVN và LSĐP. Kiến thức LSĐP cụ thể hóa kiến thức LSVN làm
19
cho HS dễ dàng nắm được một số khái niệm phức tạp về “tự nhiên – con
người – xã hội”, làm phong phú kiến thức LSDT cho HS, ngoài những kiến
thức cơ bản cần phải nắm vững của LSDT, HS hiểu được LSĐP nơi mình
sinh ra, lớn lên, các em thấy được nét riêng, đặc thù về mọi mặt của quê
hương so với LSDT.
- Thứ hai, sử dụng tài liệu LSĐP góp phần thực hiện được nguyên lý
“học đi đôi với hành”, “Lý luận gắn với thực tiễn”, học tập gắn với đời sống
xã hội…
- Thứ ba, phát triển năng lực cho HS, nhất là năng lực thực hành (so
sánh, phân tích, liện hệ, vẽ, lập biểu đồ, lược đồ )
- Thứ tư, Sử dụng tài liệu LSĐP góp phần quan trọng nhất trong việc
giáo dục tình yêu quê hương và làm cơ sở của tình yêu nước cho các em.
* So với tiết dạy LSĐP riêng biệt, sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy học
LSDT có nét khác biệt sau:
- Thứ nhất, lượng ý kiến thức LSĐP mà HS được tiếp thu nhiều hơn.
- Thứ hai, HS thấy rõ được quy luật phát triển của địa phương trong
quy luật phát triển chung của LSDT
- Thứ ba, HS luôn có điều kiện so sánh, đối chiếu kiến thức LSĐP với
LSDT.
- Thứ tư, việc sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy học LSDT làm kiến
thức địa phương liền mạch, hệ thống, không rời rạc, đứt quãng, để qua đó các
em nhận thức LSĐP có hệ thống, toàn diện, sâu sắc.
Một số đặc điểm như: về mức độ sử dụng, có thể sử dụng thường
xuyên; về biện pháp thực hiện: dễ tiến hành; về hình thức DH có thể là bài nội
khoá hay ngoại khoá

Tiết dạy LSĐP được quy định trong phân phối trường trình do bộ GD –
ĐT ban hành là 04 tiết, lớp 10: 01 tiết, lớp 11: 01 tiết; lớp 12 : 02 tiết. Với số
tiết quy định này đã cho thấy Bộ GD – ĐT đã coi trọng việc giáo dục LSĐP
cho thế hệ trẻ. Nhưng LSĐP là một bộ phận của LSDT, là một dòng chảy nhỏ
20
trong dòng chảy LSDT, đôi chỗ dòng chảy này hợp vào dòng chảy LSDT, khi
sự kiện xảy ra tại địa phương trở thành sự kiện LS chung của dân tộc, được
ghi trong chương trình và SGK. Việc dạy học LSĐP như đã nêu trên có ý
nghĩa to lớn trên cả 3 mặt giáo dưỡng, giáo dục và phát triển đối với HS, thì
việc dạy học LSĐP chỉ thực hiện từ 01- 02 tiết cho một khối lớp theo phân
phối chương trình là rất ít và để đảm bảo được việc giáo dục HS và khắc phục
được hạn chế do quy định số tiết của Bộ GD – ĐT đưa ra thì biện pháp tốt
nhất là cùng với các tiết dạy LSĐP riêng biệt, GV sử dụng thường xuyên tài
liệu LSĐP trong dạy học LSDT. Để việc sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy học
LSDT một cách hiệu quả cần dụng tài liệu LSĐP trong dạy học LSDT theo
hướng phát huy tính tích cực của HS.
1.1.1.4 . Một số yêu cầu khi sử dụng tài liệu LSĐP trong DHLS Việt Nam ở
trường THPT
Căn cứ vào đặc điểm của tài liệu LSĐP và đặc trưng của quá trình
DHLS ở trường THPT, việc sử dụng tài liệu LSĐP trong DHLS Việt Nam
cần đáp ứng một số yêu cầu sau:
Thứ nhất, mục đích sử dụng: Các tài liệu LSĐP được sử dụng trong
giảng dạy LSVN cần phải nhằm mục đích chung của bộ môn LS và mục tiêu
của giáo dục. Sử dụng tài liệu LSĐP nhằm làm phong phú thêm nội dung LS
và nâng cao hiểu biết của HS về LSĐP. Một trong những nguyên tắc của việc
dạy học LS là liên hệ kiến thức quá khứ với thực tế, làm sống lại sự kiện LS
trong cuộc sống hiện tại. Vì vậy, khi giảng dạy LS thế giới và LSDT cần hiểu
rõ LSĐP. Quy luật chung của LS thế giới và lịch sử dân tộc được thể hiện
trong LSĐP. Tuy mỗi địa phương có nét đặc thù nhưng nó làm phong phú cái
chung và đều mang nét chung của LSDT.

Thứ hai, tài liệu LSĐP sử dụng trong DHLS cần phải đáp ứng mục tiêu
bài học. GV cần chú ý khi lựa chọn tài liệu LSĐP để sử dụng, cần phải căn cứ
vào mục đích, yêu cầu của bài học và trình độ nhận thức của HS. Tài liệu
LSĐP sử dụng trong bài cần có nội dung trọng tâm vào bài học, là những tài
21
liệu cần thiết để khi nêu lên HS có thể hiểu nội dung LS được phản ánh trong
tài liệu đó.
Để đáp ứng được mục tiêu bài học, khi sử dụng tài liệu LSĐP, GV cần
phải xem kỹ nội dung của bài học để tiến hành thẩm định, chọn lọc tài liệu
trước khi sử dụng trên lớp. Có như vậy khi đưa vào sử dụng mới có tính chính
xác, đem lại hiệu quả và đáp ứng được mục tiêu giáo dục, giáo dưỡng và phát
triển của bài. Bên cạnh đó, việc GV sử dụng tài liệu có liên quan chặt chẽ với
các sự kiện cơ bản trong bài, vừa sức với HS còn là biện pháp tốt để hướng dẫn
các em tự học ở nhà, góp phần phát huy tính tự giác, tích cực học tập của mình.
Thứ ba, sử dụng tài liệu LSĐP phải làm nổi bật nội dung cơ bản của
bài, đảm bảo tính khoa học trong nội dung. Trong DHLS, chúng ta không thể
cung cấp hết cho HS mọi kiến thức của khoa học LS mà chỉ có thể làm cho các
em nắm vững những kiến thức cơ bản của bài, là những kiến thức tối ưu cần
thiết cho việc hiểu biết của HS về LS. Để xác định kiến thức trọng tâm, nội
dung cơ bản của bài, GV cần căn cứ vào sơ đồ Đai-ri để thiết kế giáo án. GV
cần căn cứ vào nội dung bài viết trong SGK để lựa chọn tài liệu lịch sử cho phù
hợp. Nhằm làm rõ kiến thức cơ bản của bài, khắc sâu kiến thức cho HS.
Thứ tư, sử dụng tài liệu LSĐP phải đảm bảo tính vừa sức,phù hợp với
trình độ và tâm lí HS. Trong dạy học ở trường THPT, tính vừa sức được thể
hiện ở việc GV lựa chọn nội dung, PPDH và cách tổ chức quá trình nhận thức
phù hợp với từng đối tượng HS. Còn tính vừa sức trong sử dụng tài liệu
LSĐP thể hiện:
- Khối lượng kiến thức trong các tài liệu LSĐP đưa vào sử dụng phải
vừa đủ. GV phải căn cứ vào từng cấp học, lớp học, đặc điểm tâm sinh lý, lứa
tuổi cũng như khả năng tư duy của từng đối tượng, giữa HS THCS với HS

THPT, HS ở thành phố với HS ở nông thôn,… để xác định nội dung cơ bản
phù hợp với từng đối tượng HS. Sau đó mới lựa chọn các tài liệu LSĐP phù
hợp với từng đối tượng, tránh trường hợp tài liệu quá dễ hay quá khó với trình
độ nhận thức của các em.
22

×