Tải bản đầy đủ (.doc) (83 trang)

nâng cao năng lực nhận thức và hứng thú học tập môn hóa học cho học sinh trung học phổ thông qua hoạt động ngoại khóa

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.07 MB, 83 trang )

MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục 1
Danh mục các chữ viết tắt 4
Danh mục các bảng, biểu đồ, đồ thị
Bảng 3.1: Kết quả kiểm tra lần 1 (Bố Trạch) 71
Bảng 3.2: Kết quả kiểm tra lần l (Việt Trung) 72
Bảng 3.3: Mô tả điểm kiểm tra lần 1 72
Bảng 3.4: Tần số f và tần suất kết quả kiểm tra lần 1 72
Bảng 3.5: % học sinh đạt điểm kiểm tra từ X
i
trở xuống (lần 1) 73
Bảng 3.6: Kết quả kiểm tra lần 2 (Bố Trạch) 74
Bảng 3.7: Kết quả kiểm tra 2 (Việt Trung) 74
Bảng 3.8: Mô tả điểm kiểm tra lần 2 74
Bảng 3.9: Tần số f và tần suất kết quả kiểm tra lần 2 75
Bảng 3.10: % học sinh đạt điểm kiểm tra từ X
i
trở xuống (lần 2) 75
Bảng 3.11: Giá trị các tham số đặc trưng 77
Biểu đồ 3.1: Biểu diễn kết quả kiểm tra lần 1 73
Biểu đồ 3.2: Biểu diễn kết quả kiểm tra lần 2 75
Đồ thị 3.1: Đường luỹ tích biểu diễn kết quả kiểm tra lần 1 73
Đồ thị 3.2: Đường luỹ tích biểu diễn kết quả kiểm tra lần 2 76
PHẦN I: MỞ ĐẦU 5
I. Lí do chọn đề tài 5
II. Mục đích nghiên cứu 6
III. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 6


IV. Nhiệm vụ nghiên cứu 7
V. Phương pháp nghiên cứu 7
VI. Phạm vi nghiên cứu 7
VII. Giả thuyết khoa học 8
VIII. Cái mới của đề tài 8
1
PHẦN II: NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NÂNG CAO
NĂNG LỰC NHẬN THỨC VÀ HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN HOÁ HỌC
CHO HỌC SINH THPT 9
1.1: Cơ sở lí luận 9
1.1.1: Hoạt động nhận thức 9
1.1.2: Hứng thú học tập 13
1.1.3: Hoạt động ngoại khoá 16
1.2: Thực tiễn hoạt động ngoại khoá hoá học ở các trường trung học phổ thông
trên địa bàn tỉnh Quảng Bình 20
1.2.1: Mục đích điều tra 20
1.2.2: Kết quả điều tra, phỏng vấn 21
Tóm tắt chương 1 23
CHƯƠNG 2: NÂNG CAO NĂNG LỰC NHẬN THỨC VÀ HỨNG THÚ HỌC
TẬP MÔN HOÁ HỌC CHO HỌC SINH THPT QUA HOẠT ĐỘNG NGOẠI
KHOÁ 24
2.1: Cơ sở khoa học của việc sưu tập, chọn lọc, sử dụng các thí nghiệm hoá học vui,
câu hỏi hoá học vui, hiện tượng hoá học trong thiên nhiên và trong cuộc sống dùng
trong hoạt động ngoại khoá hoá học ở trường phổ thông 24
2.1.1: Cơ sở khoa học của việc sưu tập, chọn lọc, sử dụng thí nghiệm hoá học vui
dùng trong hoạt động ngoại khoá hoá học 24
2.1.2: Cơ sở khoa học của việc sưu tập, chọn lọc câu hỏi hoá học vui, hiện tượng
hoá học trong thiên nhiên và trong cuộc sống dùng trong hoạt động ngoại khoá hoá
học 25

2.2: Sưu tập, chọn lọc, sử dụng thí nghiệm hoá học vui dùng trong hoạt động ngoại
khoá hoá học 26
2.3: Hệ thống câu hỏi hoá học vui, hiện tượng hoá học trong thiên nhiên và trong
cuộc sống dùng trong hoạt động ngoại khoá hoá học 38
2.3.1: Hiện tượng hoá học trong thiên nhiên 38
2.3.2: Hiện tượng hoá học trong cuộc sống 41
2.4: Hệ thống bài tập dùng trong hoạt động ngoại khoá hoá học 52
2.4.1: Bài tập phát triển tư duy logic 52
2
2.4.2: Bài tập thực tiễn dùng trong hoạt động ngoại khoá hoá học 54
2.4.3: Bài tập dùng cho câu lạc bộ giải toán hoá học 62
2.5: Tổ chức một số hình thức hoạt động ngoại khoá hoá học để nâng cao năng lực
nhận thức và hứng thú học tập cho học sinh THPT 68
2.5.1: Tổ chức câu lạc bộ giải toán hoá học 68
2.5.2: Tổ chức ngày hội hoá học 69
2.5.3: Tổ chức tham quan nhà máy chế biến cao su Việt Trung 69
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 70
3.1: Mục đích thực nghiệm sư phạm 70
3.2: Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 70
3.3: Địa điểm, trường, lớp và phương pháp thực nghiệm sư phạm 70
3.4: Nội dung thực nghiệm sư phạm 71
3.5: Kết quả thực nghiệm sư phạm 71
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78
I. Kết luận 78
II. Kiến nghị 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC
3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CTCT : Công thức cấu tạo

CTPT : Công thức phân tử
đktc : Điều kiện tiêu chuẩn
NTK : Nguyên tử khối
PTHH : Phương trình hoá học
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
ĐC : Đối chứng
TN : Thực nghiệm
4
PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Hòa chung với sự phát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật, ngành giáo dục
và đào tạo Việt Nam đang tiếp tục đổi mới phương pháp dạy, đổi mới phương pháp
học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và tiếp tục thực hiện nhiệm vụ
nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, phục vụ cho sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ
quốc, vì sự nghiệp dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh.
Hội nghị lần thứ hai của ban chấp hành Trung Ương Đảng khóa VIII đã đề ra
bốn giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng cho ngành giáo dục và đào tạo, mà
một trong bốn giải pháp đó là: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục – đào tạo,
khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học”.
Dự thảo báo cáo chính trị tại đại hội X của Đảng đã nêu: “Một nền giáo dục
hiện đại phải dạy cho con người biết học cách học, học cách làm, học cách tổ chức
các tri thức, liên kết các tri thức nhằm nâng cao hiệu quả hành động của mình”.
Trước những yêu cầu đòi hỏi cấp thiết của giáo dục và đào tạo nước nhà, mà
trọng tâm là đổi mới phương pháp dạy, đổi mới phương pháp học nhằm phát huy
vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo, nâng cao nhận thức của người học, giúp người
học vừa lĩnh hội được hệ thống tri thức khoa học phổ thông, vừa cập nhật được
những tri thức khoa học mới, hiện đại để khi bước vào đời không bị bỡ ngỡ trước sự
phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật.

Hóa học là một bộ môn khoa học thực nghiệm, việc tăng nội dung thực hành
trong dạy học hóa học không những tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh lĩnh hội hệ
thống tri thức, rèn luyện kĩ năng thực hành, phát triển tư duy, mà còn giúp học sinh
hình thành thế giới quan khoa học đúng đắn. Trong hoạt động dạy học nói chung và
hoạt động dạy học hóa học nói riêng, hứng thú học tập là động lực thúc đẩy tính tích
cực, tự giác trong học tập, lòng say mê, ham hiểu biết tri thức khoa học. Thực tiễn
chứng tỏ rằng thiếu hứng thú học tập làm cho tinh thần mệt mỏi, làm giảm khả năng
tư duy, giảm khả năng lĩnh hội tri thức và đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự
yếu kém trong học tập.
Do khối lượng kiến thức của nhân loại là một kho tàng khổng lồ và ngày càng
được bổ sung, trong khi đó thời gian học trên lớp chưa đáp ứng được việc tiếp cận
5
toàn bộ lượng kiến thức này. Chủ trương của bộ giáo dục và đào tạo là tăng thời
gian học tập trên lớp nhằm giảm tải và đưa thêm một lượng kiến thức mới vào
chương trình sách giáo khoa mới so với bộ sách cải cách giáo dục. Nhưng còn một
lượng tri thức khoa học lớn cần hiểu, cần biết mà chưa có điều kiện để đưa vào
chương trình. Vì vậy, để giải quyết vấn đề này đối với bộ môn hóa học thì việc tổ
chức hoạt động ngoại khóa hóa học có ý nghĩa thiết thực.
Thực tiễn hoạt động ngoại khóa hóa học ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh
Quảng Bình đã được chú trọng. Nhưng nội dung và hình thức tổ chức chưa phong
phú nên phần nào đã ảnh hưởng đến năng lực nhận thức và hứng thú học tập bộ
môn hóa học của học sinh. Với những lí do trên nên chúng tôi quyết định chọn đề
tài: “NÂNG CAO NĂNG LỰC NHẬN THỨC VÀ HỨNG THÚ HỌC TẬP
MÔN HÓA HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUA HOẠT
ĐỘNG NGOẠI KHÓA”.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Sưu tập, chọn lọc và sử dụng các thí nghiệm hóa học vui, câu hỏi hóa học vui,
hiện tượng hóa học trong thiên nhiên, trong cuộc sống và hệ thống bài tập dùng
trong hoạt động ngoại khóa hóa học để củng cố, khắc sâu kiến thức, rèn luyện kĩ
năng thực hành, thí nghiệm cho học sinh, bước đầu tạo điều kiện cho học sinh làm

quen với nghiên cứu khoa học, đồng thời nâng cao năng lực nhận thức và hứng thú
học tập cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng dạy học hóa học.
Bên cạnh đó giúp giáo viên bồi dưỡng thêm kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng
thực hành thí nghiệm và phương pháp tổ chức hoạt động ngoại khóa hóa học để
nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học hóa học ở trường phổ thông.
III. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học bộ môn hóa học ở trường THPT.
Đối tượng nghiên cứu:
- Hệ thống lí luận về hoạt động nhận thức và hứng thú học tập của học sinh.
- Hệ thống lí luận về hoạt động ngoại khóa hóa học ở trường phổ thông.
- Hệ thống thí nghiệm hóa học vui, câu hỏi hóa học vui, hiện tượng hóa học
trong thiên nhiên, trong cuộc sống và hệ thống bài tập hóa học nhằm kích thích
hứng thú học tập bộ môn hóa học, nâng cao năng lực nhận thức và phát triển tư duy
cho học sinh.
6
IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.
1. Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài.
a) Nghiên cứu về quá trình hoạt động nhận thức và hứng thú của học sinh
trong hoạt động học tập.
b) Nghiên cứu hệ thống lí luận về hoạt động ngoại khóa hóa học ở trường phổ
thông.
2. Nghiên cứu thực tiễn hoạt động ngoại khóa hóa học ở các trường THPT
trên địa bàn tỉnh Quảng Bình và nghiên cứu các hình thức tổ chức hoạt động
ngoại khóa hóa học ở trường THPT.
3. Sưu tập, chọn lọc và sử dụng các thí nghiệm hóa học vui, câu hỏi hóa học
vui, hiện tượng hóa học trong thiên nhiên, trong cuộc sống và hệ thống bài tập
dùng trong hoạt động ngoại khóa hóa học ở trường THPT.
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Đề tài được tiến hành dựa trên cơ sở tiếp cận hệ thống cấu trúc, chúng tôi đã
dùng nhóm các phương pháp nghiên cứu sau:

1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết.
Phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết, phương pháp phân loại và hệ
thống hoá lí thuyết, phương pháp đọc và nghiên cứu tài liệu
2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
Nghiên cứu thực tiễn hoạt động ngoại khóa hóa học ở các trường THPT trên
địa bàn tỉnh Quảng Bình (điều tra, phỏng vấn, phân tích, tổng kết kinh nghiệm ).
3. Nhóm phương pháp thực nghiệm sư phạm.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra, đánh giá và kết luận qui mô
ảnh hưởng của hoạt động ngoại khóa hoá học đối với việc nâng cao năng lực nhận
thức và hứng thú học tập môn hóa học của học sinh THPT.
- Sử dụng toán thống kê, sác xuất trong nghiên cứu khoa học giáo dục để xử
lí số liệu thực nghiệm thu được.
VI. PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
Trong khuôn khổ thời gian và điều kiện, chúng tôi sẽ nghiên cứu hệ thống lí
luận về hoạt động nhận thức, hứng thú học tập của học sinh, nghiên cứu cơ sở lí
luận của hoạt động ngoại khóa ở trường THPT và nghiên cứu hệ thống thí nghiệm
7
hoá học vui, câu hỏi hóa học vui, hiện tượng hóa học trong thiên nhiên, trong cuộc
sống và hệ thống bài tập hóa học trong chương trình THPT.
VII. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC.
Đối với bộ môn hóa học, nếu người giáo viên thường xuyên tổ chức và khai
thác tốt hoạt động ngoại khóa, với nội dung và hình thức tổ chức đa dạng, phong
phú thì không những nâng cao được năng lực nhận thức và hứng thú học tập bộ
môn, mà còn có tác dụng tích cực trong việc phát triển tư duy, nâng cao kĩ năng
thực hành, thí nghiệm, kĩ năng phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, nhằm
nâng cao chất lượng dạy học hóa học.
VIII. CÁI MỚI CỦA ĐỀ TÀI.
- Tăng cường nội dung thực hành trong hoạt động dạy học.
- Nội dung và hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa phong phú, tùy thuộc
vào mục đích, điều kiện, cơ sở vật chất, thời gian, không gian, mà áp dụng hình

thức hoạt động ngoại khóa hóa học cho phù hợp, nhằm nâng cao năng lực nhận thức
và hứng thú học tập cho học sinh THPT.
- Sưu tập, xây dựng, chọn lọc hệ thống thí nghiệm hóa học vui, câu hỏi hóa
học vui, hiện tượng hóa học trong thiên nhiên, trong cuộc sống và hệ thống bài tập
dùng trong các hoạt động ngoại khóa hóa học khác nhau, nhằm nâng cao năng lực
nhận thức và hứng thú học tập cho học sinh trung học phổ thông.
PHẦN II: NỘI DUNG
8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NÂNG CAO
NĂNG LỰC NHẬN THỨC VÀ HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN HÓA HỌC
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1: Cơ sở lí luận.
1.1.1: Hoạt động nhận thức [30], [31].
1.1.1.1: Khái niệm nhận thức.
Nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người,
là hoạt động tìm hiểu khách thể của chủ thể.
1.1.1.2: Bản chất của nhận thức.
Sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã tạo ra một cuộc cách mạng trong
lí luận nhận thức. Bằng sự kế thừa những tinh hoa của lí luận nhận thức trước Mác,
dựa vào thực tiễn lịch sử và thành tựu của khoa học kĩ thuật Các Mác, Ph. Ăngghen
đã xây dựng nên lí luận nhận thức duy vật biện chứng, lí luận này có những quan
điểm cơ bản sau:
- Nhận thức không phải là cái gì khác, mà là sự phản ánh hiện thực khách quan
vào trong bộ óc của con người.
- Con người có thể nhận thức thế giới vật chất, có những sự vật, hiện tượng mà
con người chưa biết, nhưng trải qua thời gian với sự phát triển của khoa học kĩ thuật
và thực tiễn con người rồi sẽ nhận thức được. Không có cái gì là không thể nhận
thức được, mà chỉ có cái con người chưa nhận thức được, nhưng rồi sẽ nhận thức
được.
- Khẳng định sự phản ánh hiện thực khách quan là một quá trình biện chứng,

tích cực, tự giác và sáng tạo. Quá trình phản ánh đó xảy ra theo trình tự từ chưa biết
đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, đi từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất kém sâu
sắc đến bản chất sâu sắc hơn.
- Nhận thức không phải là sự phản ánh đơn giản, nhất thời, mà là quá trình biện
chứng, quá trình không ngừng nảy sinh và giải quyết mâu thuẫn.
- Thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức, là động lực, mục
đích của nhận thức, là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lí.
9
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: “Nhận thức là quá trình phản ánh
biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào trong bộ óc của
con người, trên cơ sở thực tiễn”.
V.I. Lênin đã vạch rõ quy luật chung của hoạt động nhận thức là: “Từ trực quan
sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con
đường biện chứng của sự nhận thức chân lí, của sự nhận thức hiện thực khách quan”.
1.1.1.3: Các hình thức hoạt động nhận thức.
* Nhận thức cảm tính (hay còn gọi trực quan sinh động).
Nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức, đó là giai
đoạn mà con người sử dụng các giác quan để tác động trực tiếp vào các sự vật, hiện
tượng nhằm nắm bắt các sự vật, hiện tượng ấy. Nhận thức cảm tính gồm 3 hình
thức: Cảm giác, tri giác và biểu tượng.
- Cảm giác: Là sự phản ánh các thuộc tính riêng lẽ của các sự vật, hiện tượng
khi chúng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của con người, cảm giác là
nguồn gốc của mọi sự hiểu biết, là kết quả của sự chuyển hoá những năng lượng
kích thích từ bên ngoài thành yếu tố của ý thức. V.I. Lênin viết: “Cảm giác là hình
ảnh chủ quan của thế giới khách quan”.
- Tri giác: So với cảm giác thì tri giác là hình thức nhận thức cao hơn, đầy đủ
hơn, phong phú hơn về sự vật, hiện tượng của nhận thức cảm tính. Nó là hình ảnh
tương đối toàn vẹn về sự vật, hiện tượng, khi các sự vật, hiện tượng đang trực tiếp
tác động vào các giác quan. Tri giác nảy sinh dựa trên cơ sở của cảm giác, là sự
tổng hợp của nhiều cảm giác.

- Biểu tượng: Là hình thức phản ánh cao nhất và phức tạp nhất của nhận thức
cảm tính, đó là hình ảnh cảm tính và tương đối hoàn chỉnh còn lưu lại trong bộ óc
của con người về sự vật, hiện tượng, khi sự vật, hiện tượng đó không còn trực tiếp
tác động vào các giác quan.
Như vậy, cảm giác, tri giác và biểu tượng là những giai đoạn kế tiếp nhau của
hình thức nhận thức cảm tính, chúng có mối liên hệ hữu cơ với nhau. Trong nhận
thức cảm tính đã tồn tại cả cái bản chất lẫn không bản chất, cả cái tất yếu và cái
ngẫu nhiên, cả cái bên trong lẫn bên ngoài về sự vật.
* Nhận thức lí tính (tư duy trừu tượng).
10
Nhận thức lí tính là giai đoạn tiếp theo và cao hơn nhận thức cảm tính, là giai
đoạn phản ánh gián tiếp, trừu tượng và khái quát hoá những thuộc tính, những đặc
điểm bản chất của đối tượng. Muốn nhận thức được nội dung, bản chất của sự vật,
hiện tượng con người phải nhờ đến tư duy trừu tượng. Nhận thức lí tính được thể
hiện ở các hình thức sau: Khái niệm, phán đoán và suy lụân.
- Khái niệm: Là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, nó phản ánh những
thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng. Sự hình thành khái niệm là kết quả của
sự khái quát, tổng hợp biện chứng các đặc điểm, thuộc tính của sự vật, hiện tượng.
Khái niệm vừa có tính khách quan, vừa có tính chủ quan, vừa có mối quan hệ tác
động qua lại lẫn nhau, vừa thường xuyên vận động và phát triển. Con người trong
quá trình hoạt động trí tuệ đã xây dựng nên những khái niệm về sự vật, hiện tượng
trong hiện thực khách quan, hiện thực khách quan luôn luôn vận động và phát triển
không ngừng, khái niệm phản ánh hiện thực đó nên nó cũng luôn vận động và phát
triển. Muốn biết khái niệm có phù hợp với hiện thực hay không phải qua thực tiễn
kiểm nghiệm.
- Phán đoán: Là hình thức của tư duy nhằm liên kết các khái niệm lại với nhau
để khẳng định hoặc phủ định một đặc điểm, một thuộc tính nào đó của đối tượng.
Phán đoán được biểu thị bằng câu và một phán đoán có thể là đơn hay phức.
Ví dụ: “Clo là một phi kim” là một phán đoán đơn, nó chỉ đưa ra một khẳng
định về thuộc tính của đối tượng.

“ Clo là một phi kim mạnh, có thể oxi hoá được nhiều kim loại” là một phán
đoán phức, gồm hai phán đoán.
- Suy luận: Là hình thức tư duy liên kết các phán đoán lại với nhau để rút ra
phán đoán mới.
Ví dụ: Từ hai phán đoán: “Mọi kim loại đều dẫn điện”, “Nhôm là kim loại”. Liên
kết hai phán đoán này lại, ta rút ra được một phán đoán mới là: “Nhôm dẫn điện”.
Như vậy, nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính là những nấc thang hợp thành
chu trình nhận thức, chúng có những nhiệm vụ và chức năng khác nhau. Nếu nhận
thức cảm tính gắn liền với hoạt động thực tiễn, với sự tác động của khách thể cảm
tính, là cơ sở cho nhận thức lí tính, thì nhận thức lí tính nhờ có khái quát cao lại có
thể hiểu được bản chất. Trong quá trình nhận thức, thực tiễn chiếm một vị trí quan
11
trọng, bởi nó là cơ sở, động lực, là mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để xác
định tính chân thực của tri thức mà con người thu nhận được qua quá trình nhận thức.
1.1.1.4: Vai trò của nhận thức trong hoạt động học tập của học sinh [17].
Hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình học tập là một quá trình vận
động không ngừng, từ chổ chưa biết đến biết được, từ chổ biết chưa đầy đủ, chưa
đúng đắn đến đầy đủ hơn, đúng đắn hơn. Sự hoạt động đó phải trải qua nhiều con
đường khác nhau.
- Con đường trực tiếp: Thông qua sự phản ánh thế giới vật chất mà học sinh
tiếp xúc được, thể hiện qua các hoạt động như: Thực nghiệm khoa học, thí nghiệm,
thực hành, lao động sản xuất hoặc qua sự quan sát các sự vật, hiện tượng trong thiên
nhiên và trong xã hội.
- Con đường gián tiếp: Thông qua hoạt động nhận thức để biến kho tàng tri
thức của nhân loại thành những hiểu biết của bản thân mình. Con đường này thể
hiện ở chổ học sinh phải học tập các môn khoa học có kế hoạch, có hệ thống dưới
sự hướng dẫn của người giáo viên.
Hoạt động học tập của học sinh là một hoạt động tìm tòi và tiếp thu những kiến
thức trong kho tàng kiến thức của nhân loại, vì vậy, hoạt động nhận thức đóng vai
trò rất quan trọng, ban đầu từ những cảm giác, tri giác, biểu tượng tiếp theo là

những khái niệm, phán đoán, suy luận học sinh dần dần biết, hiểu và vận dụng kiến
thức thành thạo.
Trong hoạt động học tập muốn cho học sinh tiếp cận hệ thống tri thức dễ dàng,
sâu sắc và bền vững, người giáo viên phải xây dựng các khái niệm, các thuyết từ sự
quan sát trực tiếp các sự vật, hiện tượng, sau đó khái quát hóa giúp học sinh hiểu
được bản chất của kiến thức. Các phương pháp dạy học được coi là tích cực nếu nó
làm thức dậy ở học sinh sự hứng thú, sự tích cực hoạt động trí tuệ và luôn hướng
học sinh vào trạng thái hoạt động tìm kiếm tri thức.
Tính tích cực của tư duy được đặc trưng bằng sự xuất hiện hứng thú một cách
bền vững đối với vấn đề nghiên cứu.
* Các mức độ của tính tích cực trong nhận thức học tập.
- Tích cực nhận thức, mô phỏng, bắt chước kinh nghiệm hoạt động của người
này được tích lũy chuyển qua kinh nghiệm của người khác.
12
Ví dụ: Giáo viên mô tả cách lắp ghép dụng cụ và tiến hành thí nghiệm hóa học,
học sinh theo dõi và làm lại các thao tác này.
- Tính tích cực của nhận thức chủ động tìm tòi kiến thức: Học sinh nhận thức
được yêu cầu, nhiệm vụ và tự mình tìm các con đường để thực hiện nhiệm vụ.
Ví dụ: Khi giải các bài tập hóa học.
- Tính tích cực chủ động sáng tạo: Là mức độ cao hơn, học sinh tự đặt ra
nhiệm vụ và xác định con đường mới để thực hiện nhiệm vụ.
Ví dụ: Yêu cầu học sinh thực hiện tổng hợp một hợp chất hữu cơ, khi biết chất
ban đầu.
1.1.2: Hứng thú học tập [5], [13], [31].
1.1.2.1: Một số khái niệm về hứng thú.
V.N. Miasixep, V.G. Ivanop, A.G. Ackhipop: “Hứng thú là thái độ nhận thức
tích cực của cá nhân với những đối tượng trong hiện thực khách quan”.
Phạm Minh Hạc - Lê Khanh - Trần Trọng Thủy: “Khi ta coi hứng thú về một
cái gì đó, thì cái đó bao giờ cũng được ta ý thức, ta hiểu ý nghĩa của nó đối với cuộc
sống của chúng ta. Hơn nữa, ở ta xuất hiện một tình cảm đặc biệt đối với nó, do đó

hứng thú, lôi cuốn, hấp dẫn chúng ta về phía đối tượng của nó, tạo ra tâm lí khát
khao, tiếp cận đi sâu vào nó”.
Nguyễn Quang Uẩn: “Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân với đối tượng
nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa mang lại khoái cảm cho cá nhân
trong quá trình hoạt động”.
1.1.2.2: Vai trò của hứng thú.
* Đối với hoạt động nói chung.
Trong quá trình hoạt động của con người, cùng với nhu cầu, hứng thú kích thích
hoạt động, làm cho con người say mê hoạt động và đem lại hiệu quả cao trong công
việc. Nhu cầu và hứng thú có mối quan hệ mật thiết với nhau, nhu cầu là tiền đề, cơ
sở của hứng thú, khi ta có hứng thú về một cái gì đó thì cá nhân sẽ hoạt động tích
cực nhằm chiếm lĩnh được đối tượng để thỏa mãn nhu cầu. Công việc nào có hứng
thú cao thì sẽ thực hiện dễ dàng, hiệu quả cao. Ngược lại công việc không có hứng
thú, thực hiện một cách gượng ép thì rất khó hoàn thành và nếu có hoàn thành thì
chất lượng giảm nhiều.
* Đối với hoạt động nhận thức.
13
Hứng thú giúp con người tiến hành hoạt động nhận thức đạt hiệu quả cao,
hứng thú tạo ra động cơ của hoạt động nhận thức. Hứng thú làm tích cực hóa các
quá trình tâm lí như: Cảm giác, tri giác, tư duy
* Đối với năng lực.
Khi công việc phù hợp với hứng thú thì dù khó khăn đến đâu ta cũng quyết tâm
để hoàn thành, từ đó hình thành năng lực. Đối với học tập việc hình thành năng lực
phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó hứng thú của người học đối với bộ môn rất
quan trọng, hứng thú là yếu tố quyết định đến sự hình thành và phát triển năng lực
của cá nhân.
1.1.2.3: Hứng thú học tập.
* Khái niệm.
Hoạt động học tập với tư cách là hoạt động nhận thức tích cực, tự lực và sáng
tạo, là một quá trình căng thẳng, đòi hỏi phải n† lực thường xuyên.

A.K. Markova và V.V. Repkin cho rằng: “Hứng thú học tập là một loại hứng
thú chưa được ý thức một cách rõ ràng, có tính chất tình huống, thường chú ý tới
những khía cạnh bên ngoài của đối tượng hoạt động học tập, ít có tác dụng thúc đẩy
hành động học tập theo sáng kiến riêng của người học, được xuất hiện dưới những
phản ứng rất mãnh liệt nhưng ngắn ngủi”
A.G. Covaliop cho rằng: “Hứng thú học tập chính là thái độ lựa chọn đặc biệt
của chủ thể với đối tượng của hoạt động học tập về sự cuốn hút về tình cảm và ý
nghĩa thiết thực của nó trong đời sống cá nhân”.
* Phân loại hứng thú học tập.
Hứng thú học tập được chia làm 2 loại:
- Hứng thú gián tiếp trong hoạt động học tập (còn gọi là hứng thú bên ngoài):
Là thái độ lựa chọn đặc biệt của chủ thể với đối tượng của hoạt động học tập, do
những yếu tố bên ngoài, gián tiếp liên quan đến đối tượng của hoạt động này gây
nên.
- Hứng thú trực tiếp trong hoạt động học tập (còn gọi là hứng thú bên trong,
hứng thú nhận thức): Là hứng thú đến với nội dung tri thức, quá trình học tập và
phương pháp tiếp thu, vận dụng những nội dung tri thức đó.
* Biểu hiện của hứng thú học tập.
Hứng thú học tập được biểu hiện ở 3 mặt sau:
14
- Về mặt nhận thức: Người học nhận thức được vai trò của đối tượng hoạt
động, trong cuộc sống, trong quá trình lĩnh hội tri thức.
- Về mặt xúc cảm: Ham học, chờ đón kiến thức mới, nhận thức và lí giải các
nguyên nhân tạo ra sự yêu thích ấy của chủ thể.
- Về mặt hành động: Là tính tìm kiếm tích cực (biết giả định, biết tìm cách
khắc phục khó khăn để giải quyết vấn đề). Quá trình tích cực suy nghĩ là hạt nhân
của hứng thú học tập.
* Vai trò của hứng thú học tập.
Về phương diện tâm lí học: Hứng thú được xem như là một cơ chế bên trong, sự
biểu hiện của động cơ thúc đẩy quá trình nhận thức của con người. Trong đó, hứng

thú nhận thức được xem là biểu hiện của động cơ chủ đạo trong hoạt động học tập
của người học.
Kết quả học tập của người học không chỉ phụ thuộc vào đặc điểm trí tuệ của cá
nhân, mà còn phụ thuộc vào động cơ, thái độ và hứng thú học tập của người học.
Hứng thú học tập có tác dụng nâng cao tính tích cực, tự giác và làm tăng hiệu quả
của quá trình nhận thức, hứng thú học tập tạo ra sự say mê nghiên cứu, tìm tòi kiến
thức, nhu cầu cần hiểu biết về một lĩnh vực, một bộ môn khoa học nào đó, giúp
người học có thể vượt qua mọi khó khăn để đạt được mục đích nhanh nhất.
Tóm lại, hứng thú học tập có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động học tập của
người học, chúng là một trong những động lực thúc đẩy hoạt động nhận thức của
người học nhằm đạt hiệu quả cao. Vì vậy, một trong những yêu cầu sư phạm quan
trọng của người giáo viên là phải hình thành và phát triển hứng thú học tập bộ môn
cho học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy học.
1.1.2.4: Hứng thú học tập của học sinh THPT.
Đối với học sinh THPT hứng thú học tập bộ môn được hình thành và phát triển
một cách rõ nét, gắn với động cơ lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai. Vì vậy, các
em đã ý thức được việc học tập có ý nghĩa sống còn, quyết định tương lai của bản
thân. Những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và các kĩ năng độc lập nghiên cứu, tìm kiếm tri
thức được hình thành ở trường phổ thông là điều kiện cần thiết, có tính quyết định
đến nghề nghiệp tương lai của các em.
Thái độ học tập của các em học sinh THPT đã có sự lựa chọn, các em chỉ tập
trung học tập tích cực, nhiệt tình và hứng thú đối với những môn học có liên quan
15
đến nghề nghiệp tương lai, ngược lại các em có thái độ thờ ơ, thậm chí coi thường
những môn học không liên quan đến nghề nghiệp đã lựa chọn. Rất ít những trường
hợp các em có tinh thần, thái độ, hứng thú học tập như nhau đối với các môn học.
Hứng thú học tập của học sinh THPT phân hóa rõ rệt, gắn liền với việc lựa
chọn nghề nghiệp sau này. Cuối THPT hứng thú học tập của học sinh rất ổn định và
bền vững đối với một số môn học hay một số lĩnh vực tri thức nhất định, điều đó đã
kích thích nhu cầu muốn mở rộng và đào sâu kiến thức trong các lĩnh vực đó.

Trong quá trình dạy học cần tạo ra sự thay đổi căn bản trong hoạt động tư duy,
nhằm kích thích hứng thú học tập cho học sinh, phát triển cho học sinh khả năng
nhận thức về tầm quan trọng của tất cả các môn học ở trường phổ thông nhằm phát
triển toàn diện, cân đối nhân cách của con người.
1.1.2.5: Phát triển hứng thú học tập môn hóa học cho học sinh THPT [10].
Trong hoạt động dạy học nói chung và hoạt động dạy học hóa học nói riêng,
hứng thú học tập có vai trò đặc biệt quan trọng, nó là động lực thúc đẩy học sinh
tìm tòi, hiểu biết và vận dụng kiến thức một cách linh động. Tài nghệ sư phạm,
nhân cách của người giáo viên có ảnh hưởng rất lớn đến sự duy trì và phát triển
hứng thú học tập cho học sinh. Lí thuyết giáo dục học và cả các nghiên cứu về
phương pháp dạy học chỉ ra rằng, nếu không phát triển hứng thú học tập của học
sinh với hóa học thì năng lực nhận thức của học sinh sẽ giảm đột ngột.
* Phương pháp kích thích hứng thú học tập của học sinh.
- Nghiên cứu lí thuyết xen kẽ với thực nghiệm.
-Tăng cường mối liên hệ giữa lí thuyết với thực tiễn.
- Sử dụng có hiệu quả các thí nghiệm, các tư liệu lịch sử hóa học, tính hấp dẫn
của các tình huống và tính chất các nguyên tố, các hợp chất.
- Kết hợp dạy học chương trình nội khóa và ngoại khóa, tăng cường mối liên
hệ liên môn học.
1.1.3: Hoạt động ngoại khoá [7].
1.1.3.1: Khái niệm hoạt động ngoại khoá.
Hoạt động ngoại khoá được hiểu là những hoạt động học tập, giáo dục học sinh
mà được tổ chức ngoài chương trình học bắt buộc và tự chọn, do giáo viên điều
khiển, có sự h† trợ của các đoàn thể và xã hội.
16
1.1.3.2: Mục đích của hoạt động ngoại khoá.
- Nâng cao năng lực nhận thức và hứng thú học tập bộ môn cho học sinh.
- Giáo dục cho học sinh thế giới quan duy vật biện chứng, củng cố niềm tin
khoa học cho học sinh.
- Củng cố, mở rộng, nâng cao và khắc sâu kiến thức cho học sinh.

- Bước đầu cho học sinh tập làm quen với nghiên cứu khoa học, phát huy tính
tích cực, chủ động, sáng tạo để khi bước vào đời học sinh biết vận dụng vốn kiến
thức của bản thân vào thực tiễn có hiệu quả cao nhất.
- Hình thành ở học sinh những đức tính tốt đẹp của người lao động như:
Phương pháp làm việc khoa học, có tổ chức, có kỷ luật, cẩn thận
1.1.3.3: Nhiệm vụ cơ bản của hoạt động ngoại khoá hoá học.
Hoạt động ngoại khoá có nhiệm vụ h† trợ đắc lực cho mục tiêu đào tạo, dựa trên
sự tự nguyện và sáng tạo của học sinh, dưới sự chỉ đạo của giáo viên, có sự h† trợ
của nhà trường, cộng đồng và xã hội. Vì vậy, nó có những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Phát triển hứng thú học tập hoá học, nâng cao và mở rộng kiến thức hoá học,
phát triển kĩ năng thực hành, thí nghiệm và kích thích lòng ham hiểu biết hoá học.
- Phát triển tính tích cực, sáng tạo và rèn luyện kĩ năng giải quyết các vấn đề
khoa học, trí thông minh của học sinh.
- Chuẩn bị cho học sinh đi vào hoạt động thực tiễn, hướng nghiệp, phát triển và
bồi dưỡng thiên hướng, tài năng về hoá học.
- Huy động học sinh tham gia vào các hoạt động công ích có mang nội dung
hoá học như: Xây dựng phòng thí nghiệm hoá học cho trường, tổ kĩ thuật ở địa
phương, bảo vệ môi trường, vệ sinh, phòng bệnh có dùng đến hoá học.
-Tổ chức vui chơi, giải trí một cách văn hoá, có trí tuệ, bổ ích như: Ngày hội
hoá học, câu lạc bộ giải toán hoá học, thí nghiệm hoá học vui, thi Olimpic về hóa
học
Như vậy, hoạt động ngoại khoá có tác dụng giáo dục, phát tiển trí dục, nâng cao
năng lực nhận thức và hứng thú học tập rất lớn đối với học sinh, góp phần làm
phong phú thêm sự hiểu biết và rèn luyện nhiều phẩm chất tốt đẹp cho học sinh.
1.1.3.4: Nguyên tắc hoạt động của ngoại khoá hoá học.
Để đảm bảo hiệu quả và chất lượng của hoạt động ngoại khoá, cần tuân thủ một
số nguyên tắc sau:
17
- Bảo đảm tính mục đích và tính kế hoạch: Kế hoạch hoạt động ngoại khoá cho
từng năm (từng tuần, từng tháng, từng kì) cần được vạch ra ngay từ khi chuẩn bị

bước vào năm học mới, trong bản kế hoạch cần chỉ rõ mục đích, nội dung, hình
thức tổ chức và thời gian thực hiện.
- Bảo đảm tính thích hợp và tính hiệu quả: Kế hoạch hoạt động ngoại khoá
phải vừa sức, đủ điều kiện về nhân tài, vật lực, tránh phô trương hình thức, lãng phí
mà không có hiệu quả.
- Bảo đảm sự thống nhất giữa ngoại khoá với nội khoá: Thực hiện mối quan hệ
mật thiết giữa nội dung các hoạt động ngoại khoá với chương trình nội khoá.
- Bảo đảm thống nhất sự chỉ đạo của giáo viên, với sự tự nguyện, chủ động và
sự quan tâm hứng thú của học sinh. Hoạt động ngoại khoá phải có tổ chức, có kĩ
luật, nhưng phải huy động được tối đa sáng kiến và tính tự giác, tính tích cực của
học sinh.
- Nội dung hoạt động ngoại khoá phải linh hoạt, phong phú, cân đối giữa các
loại hình hoạt động tập thể, nhóm và cá nhân, hình thức tổ chức phải đa dạng, huy
động được tối đa học sinh tham gia.
- Huy động được tối đa sự giúp đỡ của chính quyền địa phương và nhà trường,
của cộng đồng xã hội trong và ngoài trường như: Đoàn thanh niên địa phương, các
nhà khoa học, hội cha mẹ học sinh
1.1.3.5: Các hình thức tổ chức hoạt động ngoại khoá hoá học.
Hoạt động ngoại khoá hoá học bao gồm các hình thức hoạt động tập thể trường,
khối, lớp, các nhóm hoặc từng cá nhân. Các hình thức này khác nhau không chỉ về
số lượng học sinh tham gia, mà khác cả về nội dung, phương pháp tiến hành
Những hình thức tổ chức và các dạng hoạt động ngoại khoá hoá học được hoàn thiện
thường xuyên, tương ứng với sự phát triển của nhà trường và nhu cầu nhận thức của
học sinh. Sau đây là một số hình thức tổ chức cơ bản:
a) Hoạt động ngoại khoá tập thể: Bao gồm các nhóm những nhà khoa học trẻ,
trong nhóm gồm những học sinh tích cực, tự giác, tự nguyện tham gia hoạt động
của nhóm và bắt buộc phải hoàn thành các nhiệm vụ được giao.
- Các nhóm được đặt các tên gọi khác nhau như: Câu lạc bộ những nhà hoá
học trẻ, nhóm hoá học trường phổ thông Các nhóm có ban tổ chức để chỉ đạo.
- Nhiệm vụ của câu lạc bộ hoá học:

18
+ Nói chuyện có tính chất phổ biến khoa học với nội dung liên quan đến hoá
học, có thể mời chuyên gia, các nhà khoa học trình bày.
+ Tham quan viện bảo tàng, nhà máy, xí nghiệp, phòng truyền thống.
+ Chiếu phim về các đề tài hoá học.
b) Ngày hội hoá học: Tạo điều kiện củng cố, mở rộng, nâng cao tầm hiểu biết
kiến thức hoá học, phát triển năng lực sáng tạo, nâng cao năng lực nhận thức, phát
triển hứng thú, vui chơi, giải trí khoa học, bổ ích.
- Khi lựa chọn chuyên đề ngày hội hoá học giáo viên cần xuất phát từ nhiệm vụ
giảng dạy và giáo dục cụ thể, nội dung buổi ngày hội hóa học cần mang tính chất
tìm tòi, chứa đựng những bất ngờ, vui nhộn, có thể sử dụng các hình thức như: Đố
vui, kịch vui, kể chuyện, thí nghiệm hoá học vui, ảo thuật hoá học
-Tính hiệu quả của ngày hội hoá học không chỉ phụ thuộc vào nội dung, mà còn
phụ thuộc vào cả sự tổ chức và phương pháp tiến hành.
- Chuyên đề ngày hội hóa học rất phong phú, có thể chọn theo chuyên đề riêng
hoặc chương riêng của chương trình hoá học phổ thông. Mục đích của ngày hội hóa
học nhằm khái quát và đào sâu kiến thức của học sinh đã thu được trong giờ học
chính khoá.
- Người chủ trì cần chuẩn bị chu đáo, cẩn thận tiến trình của ngày hội hóa học
như: Dự định dàn bài, xác định các chuyên đề, thời gian, các hình thức tổ chức, lựa
chọn cốt cán, phân công nhiệm vụ, sự phối hợp của các nhóm riêng biệt, diễn tập,
trình bày, trang trí, xếp đặt, chuẩn bị trang bị kĩ thuật
c) Tổ ngoại khóa: Nhóm hóa học được tổ chức đối với nhóm học sinh có quan
tâm đến hóa học. Nhiệm vụ cơ bản là đào sâu và mở rộng những hiểu biết hóa học
mà chương trình nội khóa không có điều kiện thực hiện. Tùy theo số lượng học sinh
tham gia mà có cơ cấu tổ chức hay nhóm hóa học. M†i nhóm có một học sinh làm
nhóm trưởng (phụ trách chung). Giáo viên hóa học làm cố vấn cho các nhóm.
- Tùy theo hứng thú của học sinh, điều kiện trường phổ thông mà giáo viên có
thể tổ chức thành các nhóm ngoại khóa như:
+ Nhóm tìm hiểu lịch sử hóa học.

+ Nhóm tìm hiểu về khoa học và công nghệ hóa học đầu thế kỷ XXI.
+ Nhóm tìm hiểu từng ngành của hoá học: Hóa học đại cương, hóa vô cơ, hóa
hữu cơ, hóa môi trường, hóa lí
19
+ Nhóm thí nghiệm và phòng thí nghiệm: Làm quen và làm các dụng cụ thí
nghiệm, giúp đỡ giáo viên trong giờ học thực hành.
+ Nhóm thiết kế hóa học: Nghiên cứu, chế tạo đồ dùng trực quan (bảng vẽ
minh họa, mô hình ).
+ Nhóm giải toán hóa học.
- Tổ ngoại khóa hóa học: Có thể tổ chức thành tổ chung toàn trường, tổ khối
lớp, nhóm khối lớp để giữ vai trò nồng cốt cho các hoạt động ngoại khóa khác như:
Câu lạc bộ giải toán hóa học, ngày hội hóa học Cần tổ chức có cả học sinh giỏi và
học sinh có trình độ khác, nhưng có năng khiếu nghiên cứu hóa học. Nhà trường và
bộ môn cần chú ý đầu tư vào tổ ngoại khóa, làm cho nó hình thành và hoạt động tốt
để làm nồng cốt cho mọi hoạt động ngoại khóa.
d) Thi học sinh giỏi hóa học: Hình thức tổ chức này có nhiều ý nghĩa lớn lao như:
- Khuyến khích việc học tập vững chắc, hiểu biết sâu rộng kiến thức hóa học,
rèn luyện trí thông minh, sáng tạo, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo hóa học.
- Lựa chọn được những học sinh có năng khiếu tốt về hóa học, từ đó tuyển chọn
được các em có tài năng để bồi dưỡng học sinh giỏi.
- Thúc đẩy, khuyến khích, động viên học sinh thi đua với chính mình, say mê
học tập, giáo viên có nhu cầu dạy giỏi, tìm cách nâng cao chất lượng giảng dạy.
- Cung cấp những số liệu cần thiết để đánh giá chất lượng, khả năng tư duy của
học sinh.
Sự tổ chức các hoạt động ngoại khóa (ngoài hoạt động thi học sinh giỏi) nên bố
trí phối hợp tổ chức cùng với các bộ môn khoa học khác như: Vật lí, sinh học, cho
phong phú và thể hiện được mối liên hệ liên bộ môn.
1.2: Thực tiễn hoạt động ngoại khóa hóa học ở các trường THPT trên địa bàn
tỉnh Quảng Bình.
Trước khi bắt tay vào việc nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã giành một thời gian

để điều tra, phỏng vấn tìm hiểu thực tiễn hoạt động ngoại khóa hóa học ở các
trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
1.2.1: Mục đích điều tra.
Chúng tôi tiến hành tìm hiểu thực tiễn hoạt động ngoại khóa hóa học ở các
trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Bình để nắm các nội dung sau:
- Tình hình tổ chức hoạt động ngoại khóa hóa học ở các trường từ năm 2005 đến 2010.
20
- Nhận thức của giáo viên và học sinh về hoạt động ngoại khóa hóa học.
- ‹ kiến góp ý của giáo viên và học sinh để hoàn thiện hơn hoạt động ngoại
khóa hóa học.
Từ kết quả của các nội dung tìm hiểu, chúng tôi có cơ sở thực tiễn cho vấn đề
nghiên cứu và định hướng cho việc nghiên cứu đề tài.
1.2.2: Kết quả điều tra, phỏng vấn.
Qua điều tra, phỏng vấn về thực tiễn hoạt động ngoại khóa hóa học của một số
trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, chúng tôi thu được những kết quả sau:
1.2.2.1: Về tình hình tổ chức.
- 20% số trường hàng năm đều có tổ chức hoạt động ngoại khóa hóa học.
- 30% số trường 2 năm tổ chức một lần.
- 20% số trường 3 năm tổ chức một lần.
- 30% số trường trên 3 năm tổ chức một lần.
1.2.2.2: Về hình thức tổ chức.
- 80% số trường cứ lặp đi lặp lại các hình thức tổ chức đã quá quen thuộc.
- 20% số trường hình thức tổ chức có đổi mới, nhưng chủ yếu vẫn dựa trên cái
nền của các hình thức quen thuộc.
1.2.2.3: Về nhận thức của học sinh.
Phần lớn (65,4%) học sinh hiểu được mục đích, ý nghĩa của hoạt động ngoại
khóa hóa học như:
- Tạo được sân chơi giải trí khoa học, bổ ích.
- Củng cố, khắc sâu và mở rộng thêm kiến thức.
- Rèn luyện thêm nhiều kĩ năng cho bản thân

1.2.2.4: Đối v‚i giáo viên.
- Một số giáo viên (30,0%) nhận thức chưa đúng về hoạt động ngoại khóa hóa
học và cho rằng đây là hoạt động ngoài chương trình chính khóa nên không cần
thiết lắm.
- 37,8% giáo viên hóa học ít quan tâm, đầu tư cho hoạt động ngoại khóa.
1.2.2.5: Đối v‚i ban giám hiệu nhà trường.
- Ban giám hiệu các trường chưa quan tâm đúng mức đến hoạt động ngoại khóa
nói chung và hoạt động ngoại khóa hóa học nói riêng và lấy lí do rằng: Nếu trong
một năm học mà môn nào cũng tổ chức hoạt động ngoại khóa thì tốn kém kinh phí,
21
không có nguồn chi, không có nguồn tài chính h† trợ Nên trong kế hoạch hoạt
động của năm học, hoạt động này cũng chỉ đề cập chung chung, không đưa ra chỉ
tiêu.
* Từ các kết quả thu được, chúng tôi có một số nhận xét sau:
- Hầu hết các trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Bình đã thấy được vai trò
và tầm quan trọng của hoạt động ngoại khóa đối với công tác dạy học và giáo dục
học sinh, vì thế, ở các trường từ thành phố, đồng bằng, đến nông thôn, miền núi đều
đã có hoạt động ngoại khóa. Song hoạt động ngoại khóa ở các trường thuộc thành
phố, thị xã, thị trấn diễn ra có phần đều đặn hơn, nhưng cũng chỉ 1-2 năm mới tổ
chức được một lần. Còn ở các trường thuộc vùng nông thôn, miền núi hoạt động
ngoại khóa diễn ra không đều khoảng 3-4 năm thậm chí 5 năm mới tổ chức được
một lần.
- Hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa chưa phong phú, thường lặp đi, lặp
lại hình thức quen thuộc. Còn các hình thức hoạt động ngoại khóa như: Thi học
sinh giỏi, tham quan các nhà máy, xí nghiệp, chưa được áp dụng. Hai năm gần
đây một số trường đã linh động tổ chức theo hình thức giống với một số chương
trình của đài truyền hình như: Rung chuông vàng, đường lên đỉnh olimpia.
- Phần lớn các hoạt động ngoại khóa đều tổ chức đơn môn, chưa liên kết với
các môn khoa học khác như: Sinh học, vật lí, để tổ chức, nhằm cho học sinh thấy
được mối liên hệ mật thiết giữa các môn khoa học.

- Nội dung các buổi ngoại khóa hóa học chưa phong phú, chủ yếu để củng cố
những kiến thức đã học của học sinh, chưa mở rộng và nâng cao tầm hiểu biết về
hóa học cho học sinh.
- Về phía học sinh: Qua điều tra chúng tôi nhận thấy đa số học sinh nhận thức
được mục đích, ý nghĩa của hoạt động ngoại khóa hóa học.
Hoạt động ngoại khóa hóa học ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng
Bình chưa tương xứng với vai trò và nhiệm vụ của nó do những nguyên nhân sau:
- Một số giáo viên chưa hiểu hết tầm quan trọng của ngoại khóa hóa học.
- Một số giáo viên thiếu nhiệt tình, sợ tốn thời gian, công sức cho việc chuẩn bị
và tổ chức hoạt động ngoại khóa.
- Năng lực của giáo viên trong việc tổ chức hoạt động ngoại khóa hóa học còn
hạn chế.
- Chưa nhận được sự h† trợ của các tổ chức đoàn thể và xã hội.
22
* Hoạt động ngoại khóa hóa học ở các trường phổ thông không chỉ nâng cao
năng lực nhận thức, hứng thú học tập, phát triển tư duy, mở rộng, nâng cao kiến
thức hóa học và rèn luyện kĩ năng thực hành, thí nghiệm cho học sinh, mà còn giáo
dục thế giới quan duy vật biện chứng, củng cố niềm tin khoa học và hình thành
những đức tính tốt đẹp cho học sinh như: Phương pháp làm việc khoa học, cẩn thận,
gọn gàng Vì vậy, chúng tôi hi vọng rằng trong những năm tới hoạt động ngoại
khóa hóa học ở các trường THPT trong cả nước nói chung và ở các trường THPT
trên địa bàn tỉnh Quảng Bình nói riêng phát triển mạnh hơn nữa nhằm góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.
Tóm tắt chương 1
Trong chương 1 chúng tôi đã tiến hành đọc và nghiên cứu các tài liệu liên
quan đến hoạt động nhận thức, hứng thú học tập và hoạt động ngoại khoá. Từ đó
chúng tôi nhận thấy:
- Nhận thức có vai trò rất quan trọng trong hoạt động học tập của học sinh,
hoạt động học tập của học sinh là một hoạt động tìm tòi và tiếp thu những kiến thức
trong kho tàng kiến thức của nhân loại, ban đầu từ những cảm giác, tri giác, biểu

tượng tiếp theo là những khái niệm, phán đoán, suy luận học sinh dần dần biết, hiểu
và vận dụng kiến thức thành thạo.
- Hứng thú học tập có tác dụng nâng cao tính tích cực, tự giác và làm tăng hiệu
quả của quá trình nhận thức, hứng thú học tập tạo sự say mê nghiên cứu, tìm tòi
kiến thức, nhu cầu mở rộng và nâng cao kiến thức. Kết quả học tập không chỉ phụ
thuộc vào đặc điểm trí tuệ của cá nhân, mà còn phụ thuộc vào động cơ, thái độ và
hứng thú học tập, thiếu hứng thú học tập là một trong những nguyên nhân dẫn đến
sự yếu kém trong học tập.
- Nghiên cứu lí luận hoạt động ngoại khoá: Mục đích, nhiệm vụ, nguyên tắc và
các hình thức tổ chức hoạt động ngoại khoá hoá học để làm cơ sở cho việc tổ chức
hoạt động ngoại khoá hoá học ở trường phổ thông, nhằm nâng cao năng lực nhận
thức và hứng thú học tập cho học sinh.
Chúng tôi cũng đã tiến hành điều tra, phỏng vấn tìm hiểu thực tiễn hoạt động
ngoại khoá hoá học ở một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. Từ kết
quả điều tra chúng tôi có cơ sở thực tiễn cho vấn đề nghiên cứu và định hướng cho
việc nghiên cứu đề tài.
23
CHƯƠNG 2 : NÂNG CAO NĂNG LỰC NHẬN THỨC VÀ HỨNG THÚ
HỌC TẬP MÔN HOÁ HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
QUA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHOÁ.
2.1: Cơ sở khoa học của việc sưu tập, chọn lọc, sử dụng các thí nghiệm hoá học
vui, câu hỏi hoá học vui, hiện tượng hoá học trong thiên nhiên và trong cuộc
sống dùng trong hoạt động ngoại khoá hoá học ở trường phổ thông.
2.1.1: Cơ sở khoa học của việc sưu tập, chọn lọc, sử dụng thí nghiệm hoá học
vui dùng trong hoạt động ngoại khoá hoá học [6], [9], [12].
Hoá học là một khoa học thực nghiệm, vì vậy, trong dạy học hoá học không
chỉ trang bị cho học sinh một hệ thống kiến thức cơ bản, khoa học và hiện đại làm
nền tảng cho việc phát triển năng lực nhận thức và tư duy trừu tượng, mà còn hình
thành và phát triển kĩ năng, kĩ xảo cho học sinh thông qua thí nghiệm hoá học.
Hệ thống thí nghiệm hoá học ở trường phổ thông giữ vai trò đặc biệt quan

trọng đối với quá trình nhận thức, thí nghiệm hoá học giúp học sinh phát triển năng
lực nhận thức một cách toàn diện, từ cảm giác, tri giác đến tư duy trừu tượng.
Ở trường phổ thông thí nghiệm hoá học được coi là chiếc cầu nối giữa lí thuyết
và thực tiễn, giữa học và hành. Thí nghiệm hoá học giúp học sinh làm quen với
những tính chất, mối liên hệ và quan hệ có quy luật giữa các đối tượng nghiên cứu,
làm cơ sở để nắm vững các quy luật, các khái niệm khoa học và biết cách khai thác
chúng. Thí nghiệm hoá học còn giúp học sinh làm sáng tỏ mối liên hệ giữa các sự
vật và giải thích được bản chất của các quá trình, các hiện tượng xảy ra trong thiên
nhiên, trong sản xuất và đời sống.
Thí nghiệm hoá học là cơ sở của việc dạy - học hoá học, thông qua thí nghiệm
hoá học học sinh lĩnh hội, củng cố kiến thức và phát triển hứng thú học tập bộ môn.
Thí nghiệm hoá học còn có tác dụng phát triển tư duy, giáo dục thế giới quan duy
vật biện chứng, củng cố niềm tin khoa học cho học sinh, giúp hình thành và phát
triển ở học sinh những đức tính tốt đẹp của người lao động như: Làm việc khoa học,
cẩn thận, ngăn nắp, gọn gàng…
Để hoạt động ngoại khoá hoá học đạt được hiệu quả và chất lượng cao thì có
nhiều yếu tố chi phối như: Công tác chuẩn bị, công tác tổ chức, nội dung, đối tượng
24
học sinh tham gia… Nhưng yếu tố đóng vai trò quan trọng là nội dung ngoại khoá,
bởi vậy, khi lựa chọn thí nghiệm hoá học vui cần dựa trên những yêu cầu sau:
- Thí nghiệm phải an toàn: Đảm bảo an toàn cho giáo viên và học sinh là yêu
cầu đặt lên hàng đầu và cơ bản, khi lựa chọn thí nghiệm dùng trong hoạt động ngoại
khoá cần lựa chọn những thí nghiệm không hoặc ít ảnh hưởng đến sức khoẻ.
- Kích thích được hứng thú, lòng ham hiểu biết kiến thức hoá học: Thí nghiệm
phải chứa đựng những biến đổi hoá học lạ kì (giống ảo thuật).
- Dấu hiệu thí nghiệm rõ ràng, đảm bảo cho những học sinh ngồi xa vẫn quan
sát được.
- Thí nghiệm dễ làm, dụng cụ không quá phức tạp.
- Đảm bảo được tính mĩ thuật và tính khoa học.
- Thí nghiệm không hoặc ít ảnh hưởng đến môi trường.

2.1.2: Cơ sở khoa học của việc sưu tập, chọn lọc câu hỏi hóa học vui, hiện
tượng hóa học trong thiên nhiên và trong cuộc sống dùng trong hoạt động
ngoại khóa hóa học [26].
Cuộc sống xung quanh chúng ta có vô vàn hiện tượng hoá học khác nhau, có
những hiện tượng hoá hoc tự xảy ra trong thiên nhiên, có những hiện tượng hóa học
được hình thành trong quá trình sản xuất và có những hiện tượng hoá học đang xảy
ra ngay trong cơ thể của m†i con người, động vật Vấn đề đặt ra ở đây là cần sưu
tập, chọn lọc những hiện tượng hoá học nào để đưa vào nội dung hoạt động ngoại
khoá ? Căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ của hoạt động ngoại khoá mà sưu tập, chọn
lọc những câu hỏi hoá học vui, hiện tượng hoá học trong thiên nhiên và trong cuộc
sống để đưa vào nội dung hoạt động ngoại khoá cho phù hợp.
- Câu hỏi hoá học vui, hiện tượng hoá học vui phải phù hợp với đối tượng học
sinh tham gia hoạt động ngoại khoá, câu hỏi đảm bảo tính vừa sức để học sinh dùng
vốn kiến thức đã được trang bị trả lời được nội dung câu hỏi.
- Các nội dung câu hỏi, các hiện tượng hoá học phải kích thích được tính tò mò,
nhu cầu muốn hiểu biết, muốn tìm hiểu nội dung kiến thức và phát triển tư duy cho
học sinh.
- Nội dung câu hỏi rõ ràng, dễ hiểu, không đánh đố học sinh.
- Nội dung câu hỏi, các hiện tượng hoá học phong phú, liên quan đến nhiều lĩnh
vực trong tự nhiên, cũng như trong đời sống sản xuất, đặc biệt là những hiện tượng
25

×