Tải bản đầy đủ (.doc) (104 trang)

đánh giá hiệu quả dự án thí điểm phân loại rác sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn quận 6 và đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.17 MB, 104 trang )

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP PGS.TS HOÀNG HƯNG
LỜI NÓI ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài:
Rác thải là một phần tất yếu của cuộc sống chúng ta, chúng ta không thể nào sinh
sống, hoạt động mà không thải rác. Trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa
đất nước, nhiệm vụ bảo vệ môi trường luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng. Bảo
vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội dung cơ bản của phát
triển bền vững. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp, tốc độ đô thị hóa ngày càng
gia tăng cùng với đời sống vật chất của người dân không ngừng được nâng cao đang
làm cho lượng rác thải ngày càng tăng lên. Nếu không được xử lý tốt, rác thải sẽ gây
ô nhiễm nghiêm trọng. Nhận thức về bảo vệ môi trường trong các cấp, ngành và
nhân dân đã được nâng lên đáng kể. Tại các nước phát triển, bên cạnh việc vận động
và áp dụng các biện pháp, chế tài để giảm thiểu xả thải rác, các chính phủ đã chú
trọng đầu tư cho ngành công nghiệp tái chế chất thải.
Chỉ thị số 199/TTg ngày 2/4/1997 của Thủ tướng Chính phủ về các biện pháp cấp
bách trong quản lý chất thải rắn tại khu đô thị và khu công nghiệp và tiếp sau đó là
quyết định số 152/199/QĐ-TTg ngày 10/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc
phê duyệt Chiến lược quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp Việt
Nam đến năm 2020 chứng tỏ những nỗ lực lớn lao của Chính phủ trong việc đối phó
với các vấn đề môi trường hiện tại và tương lai, ở đó vấn đề quản lý chất thải rắn
sinh hoạt được xem là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của chiến lược.
Nhờ đó, môi trường được cải thiện đồng thời tăng nguyên liệu, sản phẩm cho nền
kinh tế. Song công nghiệp tái chế chất thải chỉ phát triển được khi có nguồn rác được
phân loại tốt, vì vậy phân loại rác tại nguồn đã được xác định là giải pháp cần thiết
trong chu trình thu gom và xử lý chất thải nói chung và rác thải sinh hoạt đô thị nói
riêng.
Mặt khác, mỗi ngày ở Tp.HCM thải ra khoảng 6.000 tấn CTRSH trong đó hết 5.200
tấn được đem chôn lấp ở các bãi chôn (Nguồn: Cty Môi trường đô thị, 2007). Do đó
lượng rác thải chưa được tái chế, tái sử dụng chiếm tới hơn 85% tổng khối lượng
SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI 1
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP PGS.TS HOÀNG HƯNG


CTRSH. Với tốc độ này thì Thành phố sẽ không đủ quỹ đất để chôn lấp trong tương
lai, các bãi chôn lấp sẽ quá tải và các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh sẽ xuất hiện
ngày càng nhiều, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân, đồng thời
cũng kiềm hãm sự phát triển xã hội.
Phân loại CTR tại nguồn có khả năng giải quyết các vấn đề đó. Những lợi ích của
việc phân loại CTR tại nguồn là không thể phủ nhận, nó không chỉ mang tính chất là
một giải pháp cho sự phát triển ở các thành phố lớn phát triển mà còn là một sự tái sử
dụng vật chất cho tương lai. Do vậy nếu chúng ta thực hiện tốt việc phân loại rác thì
rác không chỉ đi ra từ đời sống mà còn là một sản phẩm quay trở lại với cuộc sống
chúng ta.
Nhằm thực hiện tốt việc thu gom và xử lý chất thải rắn ở Việt Nam, một trong những
mục tiêu trong chiến lược quốc gia về quản lý chất thải rắn là tổ chức thực hiện phân
loại rác tại nguồn với tỉ lệ gia tăng qua từng giai đoạn: tối thiểu là 90% năm 2010 và
đảm bảo 95% năm 2020. Tuy nhiên cho đến thời điểm hiện nay việc phân loại rác tại
nguồn vẫn đang trong giai đoạn thực hiện thí điểm tại các quận 1,4,5,6,10 và huyện
Củ Chi ở Thành Phố Hồ Chí Minh. Và Quận 6 là 1 trong 5 quận của thành phố thực
hiện thí điểm chương trình phân loại rác tại nguồn đầu tiên. Trong quá trình thực
hiện dự án thí điểm Quận 6 đã đạt được những thuận lợi và khó khăn nhất định về
các mặt như công tác tuyên truyền, hệ thống thu gom vận chuyển, kiểm tra giám sát,
các quy định xử phạt, chế tài lực lượng thu gom và người dân khi thực hiện sai hay
không thực hiện việc phân loại rác tại nguồn chính vì vậy đề tài “ Đánh giá hiệu quả
dự án thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn Quận 6 và đề xuất giải
pháp hoàn thiện hơn” là hết sức cần thiết, nó góp phần nâng cao hiệu quả của việc
thực hiện phân loại rác tại nguồn trên địa bàn Quận 6 .
2. Mục tiêu đề tài:
Đánh giá thuận lợi và khó khăn của dự án thí điểm phân loại rác tại nguồn trên địa
bàn quận 6.
SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI 2
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP PGS.TS HOÀNG HƯNG
Đề xuất các giải pháp để hoàn thiện mô hình phân loại rác tại nguồn của địa bàn

quận 6.
3. Ý nghĩa của đề tài:
Tìm ra các giải pháp mới nhằm hoàn thiện và nâng cao công tác quản lý cũng như xử
lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn quận 6 để việc phân loại rác tại nguồn trên địa
bàn quận diễn ra đồng bộ từ khâu thu gom đến nhà máy tái chế.
Xử lý được một lượng CTRSH khổng lồ của thành phố, góp phần cải thiện môi
trường và sức khỏe cộng đồng.
4. Nội dung nghiên cứu của đề tài:
∗ Thu thập tài liệu có liên quan đến đề tài: tìm hiểu về vị trí địa lý, điều kiện tự
nhiên, kinh tế xã hội và hiện trạng CTR của thành phố nói chung và quận 6
nói riêng.
∗ Thu thập tài liệu về chương trình phân loại rác tại nguồn mà thành phố đã
thực hiện thí điểm trên địa bàn quận 6.
∗ Đánh giá được những thuận lợi cũng như giới hạn của dự án thí điểm
PLRSHTN trên địa bàn quận 6.
∗ Đề xuất các giải pháp về tuyên truyền, công cụ pháp lý, hệ thống thu gom và
vận chuyển, nhà máy chế biến phân compost và tái chế nhằm nâng cao hiệu
quả của việc PLRSHTN trên địa bàn quận 6.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là rác sinh hoạt từ các nguồn:
• Hộ gia đình
• Trường học
• Cơ quan – văn phòng
• Dịch vụ kinh doanh
• Bệnh viện, trung tâm y tế
• Các chợ trong quận 6
• Doanh trại quân đội
• Rác đường phố
Đề tài nghiên cứu chỉ thực hiện trong địa bàn quận 6
SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI 3

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP PGS.TS HOÀNG HƯNG
6. Phương pháp nghiên cứu:
6.1 Phương pháp luận:
Dựa vào hiện trạng diễn biến môi trường cơ sở phải được nghiên cứu, thu thập chính
xác và khách quan. Từ đó, đánh giá phương án thực hiện cần thiết, nhằm thực hiện
công tác quản lý môi trường đạt hiệu quả.
Với sự gia tăng dân số cũng như mức sống của con người ngày càng được nâng cao
thì sự gia tăng về khối lượng cũng như thành phần rác thải ngày càng nhiều. Trong
khi đó hệ thống quản lý CTR cũng như công nghệ xử lý chưa được phù hợp gây ô
nhiễm nghiêm trọng đến môi trường và cuộc sống của con người. Vì vậy, việc thực
hiện PLRTN và đề xuất các giải pháp quản lý cũng như chọn lựa công nghệ xử lý
CTR một cách phù hợp cho tương lai là vấn đề cần thiết và cấp bách trong thời gian
này.
Hiện nay, lượng rác sinh hoạt đang chiếm khối lượng lớn với nhiều thành phần và
tính chất khác nhau nên rất khó thu gom và xử lý. Tại các bãi chôn lấp gây ô nhiễm
nghiêm trọng đến môi trường không khí, nước mặt và nước ngầm do khí thải và
nước rỉ rác.
Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố lớn nhất nước với tốc dộ phát triển kinh tế và
đô thị hóa nhanh vì thế nó thúc đẩy quá trình ô nhiễm môi trường, đặc biệt ô nhiễm
môi trường do CTRSH ngày càng nghiêm trọng. Do vậy, CTRSH là vấn đề cấp thiết
và cần được quan tâm hàng đầu bởi cộng đồng dân cư, các nhà quản lý đô thị cũng
như các cấp lãnh đạo của mọi cấp. Do vậy lượng CTRSH nếu không được quản lý
một cách triệt để sẽ dẫn tới hàng loạt các hậu quả nghiêm trọng cho môi trường và
sức khỏe con người.
6.2 Phương pháp cụ thể:
• Phương pháp thu thập số liệu, tài liêu
• Phương pháp chuyên gia
• Phương pháp điều tra và khảo sát xã hội học
• Phương pháp thống kê và xử lý số liệu
SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI 4

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP PGS.TS HOÀNG HƯNG
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TRÊN ĐỊA
BÀN TPHCM VÀ TỔNG QUAN VỀ QUẬN 6
1.1 Tổng quan CTR sinh hoạt trên địa bàn thành phố HCM:
1.1.1 Hệ thống kỹ thuật
Hệ thống quản lý kỹ thuật chất thải rắn đô thị tại thành phố HCM được thực hiện
theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1. Sơ đồ hệ thống quản lý kỹ thuật chất thải rắn đô thị tại TP.HCM
a. Công đoạn lưu chứa
Hiện tại các gia đình tự trang bị sử dụng thùng chứa chất thải rắn bằng nhựa, một số
gia đình sử dụng thùng chứa bằng kim loại hoặc các giỏ tre nứa. Phổ biến nhất hiện
nay, người dân sử dụng các loại túi xốp, nilon chứa chất thải rắn. Khi đến thời gian
giao rác, thông thường các hộ đem thùng chứa hoặc túi nilon để trước cửa để công
nhân thu gom dễ dàng thu gom. Đối với những hộ không ở nhà vào thời gian thu
gom rác, thường bỏ rác vào các bọc nilon buộc chặt, để trước cửa, chính hành động
này đã tạo điều kiện cho những người thu nhặt ve chai có thể bươi, móc gây ô nhiễm,
làm mất vẻ mỹ quan đô thị.
SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI 5
Nguồn phát sinh
Tồn trữ tại nguồn
Thu gom
Bãi chôn lấp
Trung chuyển
và vận chuyển
Tái sinh, tái chế
và tái sử dụng
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP PGS.TS HOÀNG HƯNG
Tại các chợ, do diện tích kinh doanh có hạn nên đa số các tiểu thương buôn bán đều
tận dụng khoảng trống làm nơi chứa hàng, rất ít nơi có thùng rác tiếp nhận rác, hầu
hết rác phát sinh đều được thải bỏ ngay tại các lối đi trong chợ. Sau khi tan chợ, công

nhân vệ sinh sẽ thu gom rác trong chợ.
Các hoạt động mua bán trên đường phố (cố định và di dộng), sinh hoạt đi lại của
người dân đang là vấn đề phức tạp và nhức nhối trong việc tổ chức lưu chứa chất thải
của mình. Tình trạng đường phố đầy rác do các đối tượng này xả thải bừa bãi không
đúng nơi quy định là thường xuyên, liên tục và đã thành thói quen xấu khó điều
chỉnh.
Đối với trường học, công sở, nhà hàng, khách sạn, rác được lưu giữ trong các thùng
chứa nhỏ được trang bị ngay trong đơn vị. Sau đó, hầu hết rác đều được chuyển ra đổ
vào các thùng 240l.
Phần lớn các vị trí lưu chứa rác của các hộ gia đình, các khu chưng cư, đặc biệt khu
nhà cao tầng, các điểm chợ, các điểm đặt thùng rác công cộng, đều không có lưu ý
nghiên cứu thiết kế ban đầu hay có nhưng bố trí không hợp lý, không thuận tiện.
Tại các khu vực công cộng trên đường phố, vỉa hè, phần lớn chưa được bố trí thùng
rác công cộng hoặc có nhưng không đảm bảo phục vụ theo đúng chức năng của
thùng rác công cộng.
Nhận xét:
• Tình trạng chất lượng vệ sinh nơi công cộng rất xấu do ý thức giữ gìn vệ sinh
của một bộ phận cộng đồng dân cư kém.
• Người dân chưa nhận thức được vai trò, trách nhiệm, xử sự của mình đối với
chất thải rắn do hiện nay việc bao cấp của nhà nước trong lĩnh vực này còn
nhiều.
• Chưa có sự quản lý nhà nước, dẫn đến thiếu sự thống nhất và đồng bộ của hệ
thống lưu chứa tại nguồn.
b. Công đoạn Quét dọn rác đường phố và vớt rác trên kênh rạch
SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI 6
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP PGS.TS HOÀNG HƯNG
Hàng ngày, lực lượng công nhân của các Cty Dịch vụ công ích của các quận huyện
phải thực hiện quét dọn vệ sinh hàng ngàn tuyến đường giao thông và vỉa hè. Để
hoàn thành khối lượng công việc lớn này, hiện thành phố có trên 2.000 lao động và
khoảng 1.500 phương tiện thô sơ thùng 660 lít thu gom lưu chứa chất thải. Các hoạt

động cung cấp dịch vụ diễn ra từ 18 giờ chiều tối và đến 6h sáng hôm sau. Kỹ thuật
quét thực hiện bằng thủ công. Kinh phí nhà nước chi trả cho hoạt động này trên 200
tỷ đồng/năm và khoản chi này đang gia tăng hàng năm. Tất cả hoạt động này đều do
các doanh nghiệp nhà nước thực hiện thông qua nguồn ngân sách của Ủy ban nhân
dân quận huyện với hình thức giao vốn kế hoạch hàng năm.
Nhận xét
• Hệ thống quét dọn hoạt động ổn định, kết nối rất tốt và nhịp nhàng với hệ
thống thu gom vận chuyển. Chỉ có một thành phần duy nhất tham gia cung
ứng dịch vụ đó là nhà nước.
• Thiếu sự điều hành mang tính tích cực (về công nghệ, trong quản lý tác
nghiệp, ) trong quá trình cung ứng dịch vụ thích nghi với sự thay đổi của xã
hội.
• Công tác quét dọn chủ yếu bằng thủ công chưa đáp ứng được yêu cầu về chất
lượng vệ sinh (chủ yếu quét sạch rác, còn cát thì không).
• Kinh phí dịch vụ tăng liên tục mà chất lượng dịch vụ tăng không tương ứng.
• Công tác quản lý nhà nước yếu kém, công tác kiểm tra giam sát bị buôn lỏng.
Tình trạng chất lượng vệ sinh sau khi quét rất xấu và diễn biến ngày càng
phức tạp do ý thức người dân quá kém.
c. Công đoạn thu gom
Hệ thống thu gom rác tại nguồn do lực lượng của Cty Dịch vụ công ích của các quận
huyện ( chiếm khoảng 40%) và lực lượng tư nhân rác dân lập ( chiếm khoảng 60%)
cùng thực hiện cung ứng dịch vụ trên toàn địa bàn thành phố. Rác sinh hoạt từ nguồn
thải ra được chứa đựng trong các thùng chứa 660 lít, xe ba gác đạp, xe đẩy tay hoặc
các xe lam, xe ba gác có gắn động cơ được công nhân vệ sinh hay rác dân lập chuyển
đến các điểm hẹn tập trung trên đường phố hoặc các bô, trạm trung chuyển rác gần
SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI 7
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP PGS.TS HOÀNG HƯNG
nhất. Ở một số nơi, lực lượng rác dân lập có kết hợp quét dọn vệ sinh khu vực các
con hẽm tại khu vực mình cung cấp dịch vụ mà không thu thêm kinh phí.
Lực lượng rác dân lập được hình thành từ trước giải phóng đến nay. Lực lượng này

có xuất thân phức tạp từ những gia đình nghèo, ở nhiều địa phương khác đến cũng
như có trình độ văn hóa và hiểu biết thấp. Hoạt động của lực lượng này mang tính
cha truyền con nối. Lực lượng rác dân lập là một một nhóm tư nhân với các cá thể
cung cấp dịch vụ độc lập ở một số khu vực nhất định. Các khu vực này chủ yếu là
những địa bàn, khu dân cư hình thành mới, hoặc ở những vùng sâu vùng xa, những
nơi chưa có lực lượng thu gom của nhà nước cung cấp dịch vụ này. Những cá nhân
này tự tìm kiếm địa bàn và tự trang bị phương tiện thu gom cũng như tự thống nhất
về thời gian, giá dịch vụ với các hộ gia đình.
Thời gian thu gom diễn ra khác nhau tùy thuộc vào đặc trưng của từng khu vực hoặc
do lực lượng thu gom ấn định, thường diễn ra liên tục suốt cả ngày lẫn đêm. Địa bàn
thu gom rất phức tạp do đặc điểm có quá nhiều các tổ chức nhà nước và tư nhân (trên
30 đơn vị), các cá thể rác dân lập (trên 2.000 người) cùng tham gia cung ứng dịch vụ
trên địa bàn thành phố nói chung và một địa bàn phường xã cụ thể nói riêng.
Việc cung cấp dịch vụ phần lớn không thông qua hợp đồng kinh tế và giá dịch vụ
thường do tự thương thảo với mức giao động trong khoảng từ 7.000 – 15.000
đồng/hộ/tháng. Tùy theo khu vực thu gom nội thành hay ngoại thành, mặt tiền hay
trong hẽm, ở các khu chung cư cao tầng hay thấp tầng, các khu dân cư cao cấp hay
không cao cấp có mức giá dịch vụ thu khác nhau rõ rệt. Giá thu dịch vụ chỉ tính đến
chi trả cho công đoạn thu gom ban đầu do người cung cấp dịch vụ tự thu và cân đối
thu chi hoạt động. Giá dịch vụ hiện đang áp dụng được quy định cách đây gần 10
năm quá lạc hậu và không có cơ sở tính toán hợp lý trên nguyên tắc tính đúng tính
đủ.
Hiện nay về mặt quản lý chuyên ngành do Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện
thông qua ngành dọc là các Phòng Tài nguyên Môi trường Quận Huyện nhưng về
quản lý hành chính (nhân sự, cấp giấy hành nghề) các đường dây rác lại do các Ủy
SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI 8
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP PGS.TS HOÀNG HƯNG
ban nhân dân các phường xã quản lý. Ở một số quận huyện, việc quản lý ngành và
hành chính đều do Công ty Dịch vụ công ích đảm nhận luôn. Lực lượng quản lý ở
các quận quận huyện, phường xã là không có, các cán bộ chủ yếu là kiêm nhiệm.

Hình 1.2. Hiện trạng thu gom chất thải rắn
Nhận xét:
• Phương tiện thu gom của lực lượng dân lập chưa phù hợp về mặt mỹ quan đô
thị, an toàn giao thông và chưa đảm bảo vệ sinh môi trường (phát tán mùi hôi
và nước rỉ rác) do đa số là tự chế.
• Đôi khi có tình trạng đổ bỏ rác bừa bãi do ngại đi xa hoặc chờ (đến các điểm
hẹn đổ quy định). Địa bàn thu gom da beo do ai thương lượng (hoặc tranh
dành không lành mạnh) được với hộ dân nào (hay cụm dân cư nào) thì tiến
hành thu gom ở đó.
• Do có quá nhiều đầu mối quản lý, nhân sự thiếu và yếu kém dẫn đến sự quản
lý từ phía nhà nước không hiệu quả, khó có thể can thiệp vào công tác thu
SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI 9
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP PGS.TS HOÀNG HƯNG
gom rác của lực lượng dân lập này (giá dịch vụ, thời gian thu gom, bảo hộ lao
động, đăng ký hành nghề, …).
• Thiếu sự quản lý đồng bộ từ Thành phố đến địa phương, thiếu cơ chế quản lý
phù hợp và hiệu quả cũng như thiếu các biện pháp chế tài hữu hiệu đối với lực
lượng này.
• Phí thu gom chất thải rắn sinh hoạt chưa được tính toán và thu đầy đủ. Thành
phố đang phải chi trả kinh phí rất lớn cho vấn đề này.
d. Công đoạn thu gom vận chuyển
Hàng ngày hệ thống thu gom vận chuyển phải giải quyết khoảng 6.000 tấn chất thải
sinh hoạt. Cơ sở vật chất để giải quyết lượng rác lớn này gồm có trên 40 bô/trạm
trung chuyển, trên 600 xe cơ giới các loại và có 23 đơn vị công ích và 1 Hợp tác xã
tham gia cung ứng dịch vụ với khoảng trên 1.000 nhân công.
Chất thải rắn sinh hoạt được thu gom và tập trung tại điểm hẹn hay trạm ép rác kín,
sau đó đổ trực tiếp vào xe ép rác (loại xe nhỏ hơn 4 tấn) chuyển đến trạm trung
chuyển, một số xe đẩy tay đổ trực tiếp vào trạm trung chuyển khi thu gom chất thải
rắn ở khu vực gần trạm trung chuyển. Tại trạm trung chuyển xe tải và xe ép lớn (từ
7-10 tấn) nhận chất thải rắn và đổ ra bãi chôn lấp Đa Phước (Bình Chánh) hoặc

Phước Hiệp (Củ Chi). Tại một số điểm, chất thải rắn sau khi được thu gom bằng xe
đẩy tay chuyển trực tiếp sang xe ép lớn và chở thẳng đến bãi chôn lấp.
Hiện nay Công ty Môi trường Đô thị đang chịu trách nhiệm chuyên chở 55% khối
lượng chất thải rắn đô thị của TPHCM, Hợp tác xã Công nông chuyên chở 15%,
phần còn lại 30% do các Công ty dịch vụ công ích các Quận, huyện chuyên chở.
Sở Tài nguyên và Môi trường là đơn vị chủ quản giao vốn sự nghiệp hàng năm bằng
kế hoạch vốn cho Công ty Môi trường Đô thị. Đơn vị này là đơn vị tổng thầu ký hợp
đồng lại với các Cty Dịch vụ công ích Quận, huyện và Hợp tác xã tổ chức tiếp nhận,
thu gom rác tại các điểm hẹn, các thùng rác công cộng hoặc các điểm phát sinh rác
đổ bừa bãi trên đường phố.
SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI 10
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP PGS.TS HOÀNG HƯNG
Ngoài ra, Quận 1, Quận Tân Bình, Tân Phú, Bình Tân, Bình Chánh và Huyện Củ
Chi, Cần Giờ là những đơn vị được phân cấp trực tiếp thực hiện công tác vận chuyển
rác thông qua giao kế hoạch vốn hàng năm của UBND Quận - Huyện cho các đơn vị.
Mỗi năm Nhà nước phải chi trả cho công tác trung chuyển và vận chuyển từ 200 -
250 tỷ đồng. Kinh phí này tăng lên hàng năm thông qua gia tăng khối lượng rác hàng
năm và đơn giá dịch vụ ngày một tăng.
Chất lượng các xe vận chuyển rác còn sử dụng được ở mức tương đối khoảng 70%,
các xe vận chuyển phần lớn là xe đã qua sử dụng. Các bô rác, trạm trung chuyển
phần lớn nằm lẫn trong khu dân cư và hiện nay 90% trong số này là không đảm bảo
yêu cầu hoạt động gây ô nhiễm môi trường. Việc đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện
vận chuyển từ nguồn ngân sách nhà nước còn quá manh mún, không đồng nhất và rất
hạn chế.
Nhận xét
• Hệ thống thu gom vận chuyển hoạt động ổn định, đảm bảo vận chuyển hết
chất thải rắn sinh hoạt phát sinh hàng ngày trên địa bàn thành phố. Có sự tham
gia của thành phần kinh tế ngoài nhà nước.
• Cơ sở hạ tầng, các phương tiện cơ giới cung ứng dịch vụ phần lớn là đã qua
sử dụng, củ kỹ và lạc hậu, không đảm bảo mỹ quan đô thị và vệ sinh môi

trường. Cần khoản kinh phí lớn để đầu tư đổi mới trang thiết bị và cơ sở vật
chất.
• Kinh phí vận chuyển tăng liên tục tuy nhiên chất lượng dịch vụ không thay
đổi nhiều.
• Công tác quản lý nhà nước (bao gồm công tác kiểm tra giám sát) yếu kém,
chưa theo kịp tốc độ thay đổi, phát triển tự nhiên của ngành, chưa nói đến việc
đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội.
Hình 1.3. Hiện trạng hệ thống thu gom vận chuyển tại TP.HCM
SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI 11
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP PGS.TS HOÀNG HƯNG
SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI 12
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP PGS.TS HOÀNG HƯNG
Sơ đồ 1.4. Sơ đồ hệ thống thu gom vận chuyển tại TP.HCM
e. Công đoạn chôn lấp
Hiện nay, hầu hết lượng chất thải rắn tại thành phố Hồ Chí Minh được thu gom và
vận chuyển lên các bãi chôn lấp, kể cả những chất thải nguy hại. Công tác vận hành
tất cả các bãi chôn lấp do Cty Môi trường đô thị thực hiện. Chôn lấp là công nghệ
duy nhất được sử dụng để xử lý chất thải rắn đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh.
Tình hình chung các bãi chôn lấp rác tại TPHCM hiện nay:
• Công trường Đông Thạnh: đang tiếp nhận xà bần (1000tấn/ngày).
SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI 13
Chứa trong
thùng
240-660 lít
(Trực tiếp)
NGUỒN
THẢI RÁC
SINH HOẠT
THƯỜNG
Chứa trong

thùng
240-660 lít
(Trực tiếp)
NGUỒN
THẢI RÁC
SINH HOẠT
THƯỜNG
RÁC SINH
HOẠT BỆNH
VIỆN
CÔNG NGHIỆP
(Thùng 240 L)
RÁC SINH
HOẠT BỆNH
VIỆN
CÔNG NGHIỆP
(Thùng 240 L)
NGUỒN
THẢI
RÁC
XÂY
DỰNG
NGUỒN
THẢI
RÁC
XÂY
DỰNG
BÃI CHÔN
LẤP CTRSH
BÃI CHÔN

LẤP CTRSH
ĐIỂM
HẸN
THU
GOM
ĐIỂM
HẸN
THU
GOM
BÔ ÉP
KÍN
BÔ ÉP
KÍN
TRẠM
TRUNG
CHUYỂ
N
TRẠM
TRUNG
CHUYỂ
N
TRẠM
TRUNG
CHUYỂ
N
TRẠM
TRUNG
CHUYỂ
N
BÃI CHÔN

LẤP CTRSH
BÃI CHÔN
LẤP CTRSH
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP PGS.TS HOÀNG HƯNG
• Công trường Phước Hiệp: công nghệ chôn lấp hợp vệ sinh, đã ngưng tiếp
nhận xử lý rác, hiện nay chỉ còn vấn đề xử lý nước rỉ rác và đóng bãi.
• Công trường Gò Cát: công nghệ chôn lấp hợp vệ sinh, đã ngưng tiếp nhận xử
lý rác, hiện nay chỉ còn vấn đề xử lý nước rỉ rác và đóng bãi . Bên cạnh đó, hệ
thống thu khí gas và chạy máy phát điện đang vận hành tốt hòa vào mạng lưới
điện quốc gia.
• Bãi chôn lấp 1A – Công trường xử lý rác Phước Hiệp: hiện bãi chôn lấp này
đang tiếp nhận 3000 tấn/ngày. Đây là bãi chôn lấp được xây dựng và vận
hành theo tiêu chuẩn của bãi chôn lấp hợp vệ sinh. Tuy nhiên, hiện nay bãi
chôn lấp này vẫn đang hoạt động quá tải với công suất tiếp nhận khoảng 6.000
tấn/ngày và tình trạng ô nhiễm môi trường đang diễn ra phức tạp do sự cố lún
trượt rác.
• Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước: Được thiết kế tiếp nhận 3000
tấn/ngày. Đây là bãi chôn lấp được xây dựng và vận hành theo tiêu chuẩn của
bãi chôn lấp hợp vệ sinh kết hợp công nghệ xử lý rác làm compost và phân
loại tái chế chất thải rắn. Dự kiến Khu này sẽ đưa vào hoạt động cuối năm
2007 với bãi chôn lấp và trong năm 2008 sẽ vận hành các công nghệ còn lại.
Hiện nay, Sở Tài nguyên và Môi trường đang phải chi trả trên 200 tỷ đồng/năm cho
Cty Môi trường đô thị thông qua giao vốn kế hoạch hàng năm thực hiện cung ứng
dịch vụ xử lý chất thải sinh hoạt này. Bên cạnh đó, công tác xử lý nước rỉ rác của các
bãi chôn lấp cũng đang thực hiện với các đơn vị tư nhân như Cty Quốc Việt, Cty
Đức Lâm và Cty Seen. Các đơn vị này hoạt động xử lý và nhà nước thực hiện mua
nước sạch và thanh toán thông qua từng m
3
nước xử lý đạt yêu cầu.
Nhận xét:

• Chưa đa dạng công nghệ xử lý và các thành phần kinh tế tham gia.
• Kinh phí xử lý rác ngày một gia tăng nhưng chất lượng dịch vụ không được
cải thiện nâng cao.
SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI 14
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP PGS.TS HOÀNG HƯNG
Hình 1.5. Hiện trạng xử lý chất thải rắn tại TP.HCM
1.1.2 Công tác thu gom CTRSH tại TPHCM
a. Lực lượng thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại TPHCM
Hiện nay trên địa bàn TPHCM đang tồn tại song song 2 hệ thống tổ chức thu gom
rác sinh hoạt: hệ thống thu gom công lập và hệ thống thu gom dân lập.
- Hệ thống công lập gồm 22 Công ty Dịch vụ công ích của các Quận. Hệ
thống này đảm nhận toàn bộ việc quét dọn vệ sinh đường phố, thu gom rác chợ, rác
cơ quan và các công trình công cộng, đồng thời thực hiện dịch vụ thu gom rác sinh
hoạt cho khoảng 30% số hộ dân trên địa bàn, sau đó đưa về trạm trung chuyển hoặc
đưa thẳng tới bãi rác. Một số đơn vị ký hợp đồng với Công ty Môi trường Đô thị để
vận chuyển rác trên địa bàn.
SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI 15
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP PGS.TS HOÀNG HƯNG
- Hệ thống thu gom dân lập bao gồm các cá nhân thu gom rác, các nghiệp
đoàn thu gom và các Hợp tác xã vệ sinh môi trường. Lực lượng thu gom dân lập chủ
yếu thu gom rác hộ dân (thông qua hình thức thỏa thuận hợp đồng dưới sự quản lý
của UBND Phường), trên 70% hộ dân trên địa bàn và các công ty gia đình (Nguồn:
Điều tra chỉ số hài lòng về dịch vụ thu gom 2008, Cục Thống kê và Viện Nghiên cứu
Phát triển). Rác dân lập chịu trách nhiệm quét dọn rác trong các ngỏ hẻm, sau đó tập
kết rác đến các điểm hẹn dọc đường hoặc bô rác trung chuyển và chuyển giao rác
cho các đơn vị vận chuyển rác.
Số lượng lao động thu gom công lập và dân lập tại các quận/huyện được thống kê tại
bảng sau.
Bảng 1.1 : Số lượng lao động thu gom chất thải rắn đô thị tại các quận/huyện
của thành phố Hồ Chí Minh (năm 2006)

STT Quận/Huyện Lao động thu công (người)
Công lập Dân lập
1 Quận 1 270 73
2 Quận 2 30 50
3 Quận 3 131 370
4 Quận 4 68 130
5 Quận 5 140 200
6 Quận 6 158 185
7 Quận 7 86 120
8 Quận 8 150 125
9 Quận 9 33 160
10 Quận 10 136 140
11 Quận 11 100 250
12 Quận 12 32 110
13 Quận Phú Nhuận 96 288
14 Quận Bình Thạnh 236 220
15 Quận Tân Bình 325 464
16 Quận Tân Phú 96 130
17 Quận Thủ Đức 32 115
SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI 16
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP PGS.TS HOÀNG HƯNG
18 Quận Bình Tân 120 95
19 Quận Gò Vấp 74 165
20 Huyện Hóc Môn 23 40
21 Huyện Nhà Bè 30 85
22 Huyện Bình Chánh 96 215
23 Huyện Củ Chi 60 50
24 Huyện Cần Giờ 19 -
Tổng cộng 2.541 3.780
Nguồn: Tổng hợp của các quận, huyện, thống kê từ Sở Tài nguyên và Môi trường,

2006.
Từ bảng trên cho thấy lực lượng thu gom dân lập chiếm gần 60% lực lượng thu gom
của toàn Thành phố, là lực lượng thu gom chủ yếu trong các đường nhỏ, đường hẻm
mà xe cơ giới không vào được. Mặc dù còn nhiều mặt hạn chế trong công tác thu
gom nhưng không thể phủ nhận vai trò quan trọng của lực lượng rác dân lập trong
công tác bảo vệ môi trường cho Thành phố.
Đối với hệ thống thu gom rác công lập thì vấn đề tổ chức thu gom đã đi vào nề nếp,
từng bước ổn định. Đây là lực lượng nòng cốt có trách nhiệm duy trì các hoạt động
thu gom rác khu vực công cộng, quét dọn đường phố. Còn với lực lượng thu gom rác
dân lập do được hình thành một cách tự phát từ rất lâu nên lực lượng này thường làm
việc một cách độc lập và thường không ký hợp đồng thu gom bằng văn bản với các
hộ dân. Chính quyền địa phương hầu như không thể quản lý được lực lượng này, vì
thế đã gây nhiều khó khăn trong công tác quản lý chung của Thành phố.
b. Quy trình thu gom:
Quy trình thu gom của lực lượng thu gom công lập
- Quy trình thu gom thủ công: Công nhân xuất phát từ địa điểm tập trung
thùng, công nhân đẩy thùng 660L đi thu gom hết các hộ ở một bên tuyến đường sau
đó quay về bên còn lại của tuyến đường để thu gom tiếp. Nếu tuyến thu gom có một
SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI 17
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP PGS.TS HOÀNG HƯNG
người thì người công nhân có thể đẩy từ 1 tới 2 thùng 660L, tuyến có 2 người có thể
đẩy từ 2-3 thùng 660L đến khoảng giữa tuyến đường, đẩy từng thùng đi thu gom rác
hộ dân dọc theo 2 bên đường đến khi đầy, sau đó đẩy các thùng đến điểm hẹn.
- Quy trình thu gom cơ giới: Một xe lam chạy chậm dọc theo lề đường của các
tuyến được quy định trước, một công nhân đi nhặt các túi rác bỏ vào trong xe. Xe
đầy, chạy về trạm trung chuyển đổ rồi tiếp tục đi thu gom cho tới hết tuyến quy định.
- Đối với các khu vực phát sinh chất thải lớn: Công ty cho xe tới thu gom một
hoặc vài cơ sở vào ngày thoả thuận trước rồi vận chuyển về trạm trung chuyển để xe
lớn vận chuyển đi bãi chôn lấp.
Quy trình thu gom của lực lượng dân lập

Lực lượng rác dân lập sử dụng phương tiện cá nhân đến thu gom rác tại các nguồn
thải (chủ yếu là hộ dân) theo giờ đã thỏa thuận với chủ nguồn thải hay theo giờ họ
quyết định. Sau khi thu gom tại nguồn thải họ phân loại một số chất thải rắn có thể
tái chế đem bán phế liệu. Sau đó, một số rác dân lập đẩy xe (thùng) đến điểm hẹn đổ
vào xe cơ giới theo giờ quy định của đơn vị vận chuyển, một số khác đến đổ rác trực
tiếp tại bô rác gần nhất.
Tại các điểm hẹn, chất thải rắn từ xe đẩy tay sẽ được đưa lên các xe ép nhỏ (2-4 tấn)
và đưa về trạm trung chuyển. Tại trạm trung chuyển, một số công nhân thu gom sẽ
thu nhặt lại một lần nữa chất thải rắn có thể tái chế, sau đó xe tải và xe ép lớn (từ 7-
10 tấn) tiếp nhận chất thải rắn và vận chuyển ra bãi chôn lấp.
c. Phương tiện thu gom rác:
Phương tiện thu gom rác hiện nay vẫn chưa thống nhất, mỗi địa bàn sử dụng phương
tiện thu gom khác nhau, có khi một địa bàn sử dụng cùng lúc nhiều loại phương tiện
tùy vào mức độ tiện dụng và tổ chức thu gom sử dụng. Các loại phương tiện tại
TPHCM rất đa dạng, chủ yếu là các loại xe thô sơ, điển hình như các loại xe đẩy tay,
xe ba gác đạp, ba gác máy, xe lam. Ngoài ra còn có các loại xe khác như xe tải, xe
công nông cải tiến, xe máy cày cải tiến,… Chính các phương tiện thu gom thô sơ này
SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI 18
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP PGS.TS HOÀNG HƯNG
đã không bảo đảm yêu cầu vệ sinh môi trường, gây bốc mùi, để rơi vải rác dọc
đường vận chuyển.
Theo số liệu của Phòng Quản lý chất thải rắn vào năm 2005, TPHCM có tổng cộng
3675 xe thu gom các loại như xe thùng 660L, xe ba gác đạp, ba gác máy, xe lam,…
Dung tích chứa của các phương tiện này đều bị lực lượng thu gom tận dụng tối đa,
thậm chí quá tải do phần lớn các phương tiện đều bị cơi nới cao lên. Các loại phương
tiện như xe lam, lavi, xe ba gác máy (do lực lượng rác dân lập sử dụng),…có khả
năng thu gom rác với khối lượng lớn gấp 1,5 – 2 lần so với các loại thùng 660L và
vận tốc vận chuyển cũng nhanh hơn rất nhiều. Tuy nhiên, hầu hết các phương tiện
này là tự chế, không theo quy chuẩn hay thiết kế đảm bảo đạt tiêu chuẩn môi trường
nên các phương tiện này thường không bảo đảm vệ sinh môi trường trong khi thu

gom.
Đa số lực lượng thu gom công lập sử dụng phương tiện thu gom là xe thùng 660L
thu gom chủ yếu trên các tuyến đường chính, còn các phương tiện như xe ba gác, xe
lam được lực lượng dân lập sử dụng thu gom trên các đường nhỏ, các hẻm trong
Thành phố. Ngoài xe thùng 660L có cấu trúc như nhau trên toàn địa bàn Thành phố
và được thiết kế dành riêng cho việc thu gom CTR, các loại phương tiện còn lại đều
do người thu gom cải tiến từ các loại xe mà không qua kiểm định của cơ quan chức
năng.
1.1.3 Chiến lược phát triển ngành xử lý CTR tại TPHCM
a. Mục tiêu:
Từng bước hình thành một hệ thống quản lý đồng bộ về công tác quản lý CTR đô thị,
với kỹ thuật xử lý rác tiên tiến nhằm kiểm soát toàn bộ quá trình từ khâu phát sinh
đến khâu xử lý sau cùng, bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững trong thời kì công
nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Mục tiêu đến năm 2015:
SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI 19
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP PGS.TS HOÀNG HƯNG
- Hoàn tất việc phân loại CTR tại nguồn, tiến hành tái sử dụng tái chế phế liệu
thu hồi từ rác, giảm thiểu tối đa khối lượng rác đưa đến các khu xử lý rác.
- Thu gom, vận chuyển và xử lý được 95% tổng khối CTR phát sinh.
- Xử lý triệt để CTR công nghiệp nguy hại bằng công nghệ tiên tiến.
- Hoàn thiện hệ thống quản lý công tác giải quyết CTR đô thị bảo đảm đồng bộ
về luật pháp, về đầu tư phát triển, về tổ chức bộ máy điều hành tác nghiệp, về
chính sách tạo nguồn tài chánh.
b. Các giải pháp chủ yếu:
• Hoàn thiện khung pháp luật
Rà soát và ban hành đồng bộ các văn bản hướng dẫn luật trong lĩnh vực quản lý
CTR, nâng cao hiệu lực thi hành Luật Bảo vệ môi trường.
Lập quy hoạch quản lý CTR đô thị TPHCM đến năm 2020 làm cơ sở để lập và phê
duyệt các dự án đầu tư phát triển ngành.

Xây dựng, ban hành quy trình công nghệ tổng thể và chi tiết công tác phân loại tại
nguồn, tái sử dụng và tái chế phế liệu được thu hồi, quét dọn, thu gom, vận chuyển
và xử lý rác cho từng loại CTR.
Xây dựng, ban hành chính sách xã hội hóa, khuyến khích các thành phần kinh tế kể
cả trong và ngoài nước tham gia quản lý CTR. Hiệu chỉnh Quy chế quản lý lực lượng
lấy rác dân lập ( một hình thức xã hội hóa ) làm cơ sở cũng cố tổ chức thu gom rác
dân lập theo hướng tăng cường quản lý Nhà nước, bảo đảm vệ sinh môi trường.
Xây dựng, ban hành chính sách khuyến khích, ưu đãi đối với các cơ sở sản xuất hàng
hóa áp dụng công nghệ sản xuất sạch, ít chất thải, có những nghiên cứu nhằm giảm
thiểu CTR sau khi tiêu dùng hàng hóa đó.
• Hoàn thiện mô hình tổ chức quản lý CTR
Nghiên cứu, tổ chức lại hệ thống quản lý, điều hành tác nghiệp hoạt động của ngành
vệ sinh. Một cơ quan được chính quyền thành phố giao nhiệm làm đầu mối quản lý
tạp trung, xuyên suốt toàn bộ hoạt động của ngành, còn hoạt động tác nghiệp được
phân cấp một phần hoặc toàn bộ quy trình giải quyết CTR cho đơn vị công ích Quận
SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI 20
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP PGS.TS HOÀNG HƯNG
huyện thực hiện hoặc tổ chức đấu thầu rộng rãi kêu gọi các thành phần kinh tế tham
gia.
Cũng cố phát huy các doanh nghiệp Nhà nước làm công tác vệ sinh môi trường đang
hoạt động có hiệu quả, cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kém hiệu
quả.
• Hiện đại hóa công nghệ và sản xuất thiết bị chuyên ngành xử lý CTR
Thông qua các đề tài nghiên cứu khoa học, các dự án đầu tư đưa vào áp dụng các
công nghệ kỹ thuật tiên tiến, phù hợp với điều kiện của thành phố trong tất cả các
khâu của quy trình giải quyết chất thải rắn.
Nhập khẩu, tiến tới tự sản xuất các thiết bị phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý
CTR.
Nghiên cứu và ứng dụng các chỉ tiêu, tiêu chuẩn trong việc lựa chọn công nghệ, lập
hồ sơ thiết kế kỹ thuật, xây dựng và vận hành các dự án xử lý rác bảo đảm kỹ thuật

môi trường.
• Tăng cường quan hệ và hợp tác quốc tế
Tích cực tranh thủ các nguồn viện trợ của Chính phủ các nước, các tổ chức phi chính
phủ và các nguồn tài trợ quốc tế khác về đào tạo, học tập kinh nghiệm, chuyển giao
công nghệ, trợ giúp kỹ thuật trong lĩnh vực quản lý CTR.
• Các giải pháp hỗ trợ cụ thể khác
Tiếp tục tuyên truyền, vận động nhân dân, nâng cao nhận thức cộng đồng góp phần
giữ gìn vệ sinh môi trường, thực hiện nếp sống văn minh đô thị thông qua giáo dục
tại trường học, họp Tổ dân phố, các phương tiện thông tin đại chúng, các chương
trình phát động Xanh – Sạch – Đẹp nhân các ngày Lễ lớn trong năm.
Tăng cường kiểm tra, giáo dục cưỡng bức bằng xử phạt nghiêm mọi hành vi vi phạm
hành chính về vệ sinh môi trường; Thành lập lực lượng cảnh sát trật tự đô thị trên cơ
SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI 21
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP PGS.TS HOÀNG HƯNG
sở hợp nhất các lực lượng kiểm tra xử phạt vi phạm trât tự và mỹ quan đô thị; áp
dụng mức phạt, hình thức phạt phù hợp điều kiện thực tiễn của thành phố.
Thực hiện việc thu tiền dịch vụ lấy rác áp dụng trên toàn địa bàn thành phố. Bước
đầu trang trải chi phí vận hành hệ thống thu gom, vận chuyển và xử lý rác; về lâu dài
nâng cao mức thu đủ bù dắp kinh phí ban đầu tư phát triển ngành giải quyết CTR.
Mở rộng dự án phân loại rác tại nguồn trên toàn thành phố, tiếp tục hoàn thiện công
tác lấy rác trên sông rạch địa bàn quận 8, mở rộng dự án giải quyết rác trên sông rạch
toàn thành phố; tiếp tục triển khai kế hoạch mở rộng địa bàn thu gom, xử lý rác ra
các đô thị mới.
Hoàn thành đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng, đạt hiệu quả các dự án đầu tư lĩnh vực
giải quyết CTR đã được phê duyệt và đang triển khai thực hiện.
Tiếp tục nghiên cứu, lập báo cáo khả thi các dự án xử lý CTR công nghiệp, giải
quyết bùn hầm tự hoại, xây dựng Trạm xử lý rác y tế ( thứ II),…
SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI 22
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP PGS.TS HOÀNG HƯNG
1.2 Tổng quan về quận 6:

Hình 1.6: Bản đồ hành chính Quận 6
1.2.1 Điều kiện tự nhiên
1.2.1.1 Vị trí hành chính địa lý:
Quận 6 là Quận nội thành có vị trí cửa ngõ phía tây Thành phố. Quận 6 giáp với các
Quận sau:
• Bắc giáp Quận Tân Phú, Quận 11
• Nam giáp Quận 8
• Tây giáp Quận Bình Tân
• Đông giáp Quận 5
SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI 23
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP PGS.TS HOÀNG HƯNG
Diện tích Quận 6 là 7,14 km
2
(chiếm 0,34% so với toàn thành phố), với dân số
241902 người, toàn Quận có 14 phường (gồm 49870 hộ trong đó có khoảng 5000 hộ
sống trong các khu nhà lụp xụp và trên các kênh bị ô nhiễm nặng, thiếu cơ sở hạ
tầng.
1.2.1.2 Địa hình:
Về vị trí địa lý và quy mô lãnh thổ, Quận 6 có diện tích rộng 7,14 km
2
, chiếm khoảng
0,34% toàn diện tích thành phố. Diện tích của các phường không đồng đều nhau.
Trong đó, phường 10 có diện tích lớn nhất là 0,21 km
2
.
Cao độ quận 6 thấp hơn các quận nội thành khác, với cao độ trung bình + 1m trên
mực nước biển, tại khu trũng nhất chỉ là 0,5m. Khu vực này thường xuyên chịu ảnh
hưởng bởi cường triều.
1.2.1.3 Đặc điểm khí hậu:
Là một quận nội thành của TPHCM, đặc điểm khí hậu của Quận 6 đều mang tính đặc

trưng của khí hậu TPHCM, có khí hậu nóng ẩm và chịu ảnh hưởng của gió mùa.
Nhiệt độ cao nhất là 39
0
C và thấp nhất là 15
0
C với hai mùa mưa nắng rõ rệt, mùa
mưa từ tháng năm đến tháng 11, mùa nắng từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau. Lượng
mưa trung bình 1.979 mm/năm, ít có mưa kéo dài. Độ ẩm tương đối trung bình hàng
năm khoảng 79,5%. Do vị trí địa lý của TPHCM thuộc nữa bán cầu bắc nên có hiện
tượng tháng nắng nhiều hơn tháng mưa hoặc ngược lại. Số giờ nắng trung bình trong
năm đạt từ 160 giờ đến 270 giờ/năm.
1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội quận 6
1.2.2.1 Điều kiện kinh tế:
Quận 6 có hệ thống giao thông nối liền trung tâm với các Quận 5, 11, 8, Tân Phú,
Bình Tân, có những đường xuyên Quận nên rất thuận lợi cho việc giao thông và phát
triển các Khu thương mại – dịch vụ. Đây là yếu tố cơ bản dẫn đến sự hình thành các
chợ lớn và khu thương mại dọc theo những trục đường chính.
SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI 24
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP PGS.TS HOÀNG HƯNG
Do quận 6 có vị trí chiến lược về vận chuyển, trao đổi hàng hóa, cơ cấu kinh tế của
quận 6 gồm các thành phần kinh doanh, dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp. Tốc độ tăng
trưởng kinh tế hàng năm đạt 14%.
Các ngành chủ yếu và tốc độ phát triển: các ngành nghề chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu
kinh tế bao gồm: sản xuất cao su, dệt, nhựa, may mặc, sản xuất giày, túi sách…
Trên toàn quận 6 có 2.653 cơ sở sản xuất ngoài quốc doanh ( doanh nghiệp tư nhân,
công ty trách nhiệm hữu hạn, hợp tác xã, công ty cổ phần, các cơ sở sản xuất công
nghiệp các thể ) thu hút 21.649 lao động.
1.2.2.2 Điều kiện xã hội:
Quận 6 có diện tích là 7,14 km
2

với mật độ dân số khá cao ( 37.503 người/km
2
).
Quận 6 thuộc khu vực hạ lưu của hệ thống kênh Tân Hóa – Lò Gốm, có nhiều chợ
nhỏ nằm xen kẽ trong khu dân cư với nhiều chung cư – cư xá.
a. Dân số
Hiện nay, Quận 6 có dân số khá đông ( 251.912 người ) với mật độ dân số khá cao
35.282 người/km². Sự tăng trưởng dân số của quận 6 từ năm 2003 đến năm 2009
được thống kê như sau:
Bảng 1.2: Thống kê dân số Quận 6
Năm Dân số (người) Tỷlệ (%/năm)
2003 267.773 0.74
2004 265.806 1.31
2005 262.379 1.69
2006 258.014 1.37
2007 254.510 1.32
2008 251.182 1.76
2009 251.912 0.31
Nguồn: Cục Thống Kê TPHCM, 2008
SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI 25

×