Tải bản đầy đủ (.pdf) (8 trang)

Nghiên cứu khoa học " ẢNH HƯỞNG CỦA XỬ LÝ THỰC BÌ, LÀM ĐẤT VÀ BÓN PHÂN TỚI SINH TRƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOÀI KEO TRỒNG TẠI VIỆT NAM " doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (269.1 KB, 8 trang )

Tạp chí NN&PTNT số 18 năm 2007
ẢNH HƯỞNG CỦA XỬ LÝ THỰC BÌ, LÀM ĐẤT VÀ BÓN PHÂN TỚI SINH TRƯỞNG
CỦA MỘT SỐ LOÀI KEO TRỒNG TẠI VIỆT NAM

Nguyễn Quang Dương , Đặng Thịnh Triều


TÓM TẮT
Bài báo này tóm tắt một số kết quả nghiên cứu về xử lý thực bì, làm đất và bón phân trong trồng rừng keo
tại Việt Nam trong những năm gần đây. Sinh trưởng của keo lưỡi liềm (Acacia srassicarpa) và keo lá tràm (A.
auriculiformis) tốt hơn khi đất được xử lý bằng cách lên líp nơi đất bị ngập lụt vào mùa mưa. Kích thước líp cho keo
lưỡi liềm là cao 0,2m và rộng 4, và với keo lá tràm cao 0,2m và rộng 1,5m. Việc để lại cành, nhánh sau khai thác làm
tăng 10% sản lượng rừng so với dọn sạch thực bì đối với keo lá tràm (A. auriculiformis). Tuy nhiên chiều cao cây và
tỷ lệ sống khác nhau không có ý nghĩa giữa các công thức. Chất diệt cỏ Ridweed (paraquat chloride) có thể dùng để
diệt cỏ cho rừng trồng keo lai (Acacia hybrid), tuy nhiên kết quả nghiên cứu cho thấy sinh trưởng đường kính và
chiều cao giữa các công thức diệt cỏ bằng thuốc và làm cỏ bằng phương pháp thủ công khác nhau không rõ rệt. Bón
lót và bón thúc làm tăng sinh trưởng của keo. Cho tới nay, lượng phân bón lót lớn nhất được thí nghiệm là hỗn hợp
25g N, 50g P, 25 K và 100g phân vi sinh cho keo lai (Acaica hybid).

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo dự báo, nhu cầu gỗ của Việt Nam tới năm 2010 khoảng 9,35 triệu m
3
. Tuy nhiên, gỗ
khai thác từ rừng tự nhiên chỉ đạt 300.000m
3
/năm (Bộ NN và PTNT, 1999). Lượng thiếu hụt sẽ
được cung cấp từ rừng trồng hoặc nhập khẩu. Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng của chính
phủ đang được thực hiện nhằm góp phần đáp ứng một phần nhu cầu gỗ trên và nâng độ che phủ
toàn quốc lên tới 43%. Trong thời gian qua công tác giống đã đạt được nhiều thành tựu (Harwood
và cộng tác viên, 2006), bên cạnh đó việc áp dụng những tiến bộ kỹ thuật lâm sinh trong trồng
rừng cũng được chú trọng, cả năng suất và chất lượng rừng đã được cải thiện một cách rõ rệt


(Nguyễn Huy Sơn và Đặng Thịnh Triều, 2004). Các loài mọc nhanh như bạch đàn và keo đã
được du nhập vào Việt Nam từ giữa thế kỷ XX (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, 1989;
Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1992), tới nay bạch đàn và keo được coi như là những loài cây có triển
vọng trong các chương trình trồng rừng. Hiện tại diện tích rừng trồng keo và bạch đàn đạt khoảng
576.000ha (Tổng cục thống kê, 2005) và chiếm khoảng 46% tổng diện tích rừng trồng tại Việt
Nam (Nguyễn Huy Sơn và Đặng Thịnh Triều, 2004). Sản lượng rừng đã được nâng cao nhờ áp
dụng các biện pháp lâm sinh tiến bộ trong thời gian qua. Bài báo này tập hợp, phân tích kết quả
một số nghiên cứu về ảnh hưởng của một các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tới sản lượng keo trong
thời gian qua nhằm cung cấp cho người đọc một cách tổng quát về việc các biện pháp lâm sinh
hiện đang áp dụng trong trồng rừng keo tại Việt Nam.
II. KẾT QUẢ CÁC NGHIÊN CỨU
1. Ảnh hưởng của xử lý thực bì tới sinh trưởng của các loài keo
Để giảm sự canh tranh dinh dưỡng của cỏ dại đối với cây trồng, thực bì được xử lý trước
khi trồng. Trước đây, thực bì được phát, sau đó đốt, ngay cả cành lá sau khi khai thác cũng được
đốt trước khi trồng rừng. Tuy nhiên những nghiên cứu gần đây cho rằng nếu để thực bì sau khi
phát, hoặc cành nhánh sau khi khai thác để tự phân hủy thì sẽ tốt hơn cho cây trồng và đất rừng.
Vũ Đình Hưởng và các cộng tác viên (2006) cho rằng sinh trưởng của keo lá tràm (A.
auriculiformis) bị ảnh hưởng bởi biện pháp xử lý thực bì. Sau khi khai thác, cành nhánh được để

1
lại cho tự phân huỷ thì sinh trưởng đường kính tốt hơn và trữ lượng lâm phần cao hơn 7% so với
việc phát và lấy đi thực bì, mặc dù sau 4 năm thí nghiệm, chiều cao cây và tỷ lệ sống giữa các
công thức thí nghiệm xử lý thực bì khác nhau không có ý nghĩa (Bảng 1).
Bảng 1: Ảnh hưởng của biện pháp xử lý thực bì đến sinh trưởng keo lá tràm (A.
auriculiformis) sau 4 năm thí nghiệm (Vũ Đình Hưởng, 2006)
Trữ lượng (m
3
/ ha)
Công thức thí nghiệm
D

1.3

(cm)
H (m)
Cả vỏ Không vỏ
Tỷ lệ
sống (%)
Cành, lá lấy đi sau khi khai thác 11,1 13,9 116,0 92,8 95,4
Cành, lá để lại sau khi khai thác 11,4 14,2 124,1 99,4 94,2
Gom thêm cành lá gấp đôi 11,6 14,3 127,3 102,1 96,0
Mức độ sai khác (P) 0,01 0,45 0,02 0,03 0,63
LSD
0.05
0,3 0,7 7,6 6,3 4,4
Thí nghiệm dùng thuốc Ridweed để diệt cỏ chăm sóc rừng trồng cũng đã được tiến hành
đối với keo lai (Acacia hybrid) tại Bình Phước (Phạm Thế Dũng và cộng tác viên, 2005). Sau 2
năm cho thấy sinh trưởng về chiều cao và đường kính không khác nhau giữa các công thức thí
nghiệm (Bảng 2). Tỷ lệ cây đa thân giữa các công thức sai khác nhau rõ rệt, điều đó dẫn tới trữ
lượng lâm phần của các công thức thí nghiệm khác nhau, tuy nhiên sự xuất hiện đa thân không
phải là kết quả của việc phun thuốc diệt cỏ.
Bảng 2: Ảnh hưởng của các biện pháp chăm sóc (làm cỏ) tới sinh trưởng của keo lai 2 năm
sau khi thí nghiệm tại Bình Phước (xem Phạm Thế Dũng và cộng sự, 2005).
Công thức thí nghiệm Tỷ lệ sống
(%)
Tỷ lệ cây
đa thân
(%)
Đường
kính cổ rễ
(cm)

Chiều
cao (m)
Trữ
lượng
(m
3
/ ha)
Phát cỏ và cày lật đất theo băng 94,4 22,2 8,0 8,3 34,1
Phun thuốc diệt cỏ 1 lần/năm 93,0 38,9 7,9 8,2 37,5
Phun thuốc diệt cỏ 2 lần/năm 94,4 15,3 7,9 8,1 29,2
Tuy nhiên, trong một thí nghiệm khác (Vũ Đình Hưởng và cộng tác viên, 2006) cho rằng,
thuốc diệt cỏ ảnh hưởng rõ rệt tới sinh trưởng của Keo lá tràm tại thời điểm 4 năm sau khi thí
nghiệm. Các kết quả của thí nghiệm được ghi trong bảng 3 cho thấy phun thuốc 2 lần/năm làm
tăng chiều cao và trữ lượng lâm phần.
Bảng 3: Ảnh hưởng của thuốc diệt cỏ tới sinh trưởng của keo lá tràm 4 năm sau khi trồng
(Vũ Đình Hưởng và cộng sự, 2006)
Công thức thí nghiệm
Chiều
cao (m)
Trữ lượng lâm
phần (m
3
/ha)
Tỷ lệ đa
thân
Tỷ lệ
sống

2


Cả vỏ Bóc vỏ
(%) (%)
Đối chứng 11,9 78,4 62,2 2,3 83,3
Phun thuốc theo hàng, bề rộng
1.5m, 2 lần/năm
13,6 119,7 95,9 9,7 93,5
Phun thuốc toàn diện 1 lần/năm 13,5 113,4 90,7 12,9 95,8
Phun thuốc toàn diện 2 lần/năm 13,9 127,2 102,0 16,2 94,9
Mức sai khác (P) 0,003 <0,001 <0,001 <0,001 0,002
LSD
0.05
0,9 11,5 9,5 6,2 5,7

2. Ảnh hưởng của khâu làm đất tới sinh trưởng của các loài keo
Hiện nay, trước khi trồng rừng đất có thể được chuẩn bị bằng nhiều phương pháp và
phương thức khác nhau tuỳ vào điều kiện cụ thể. Thường sau khi xử lý thực bì, đất được đào hố
để trồng cây theo kích thước và mật độ thiết kế. Trong một số điều kiện nhất định, đất được xử lý
bằng cách cày toàn diện hoặc lên líp trước khi đào hố. Đã có một vài thí nghiệm nhằm nâng cao
sản lượng rừng trồng thông qua việc làm đất .
Tại Quảng Trị, nơi thường hay bị ngập lụt vào mùa mưa, thí nghiệm lên líp trồng được
tiến hành đối với keo lá tràm (A. auriculiforimis) và keo lưỡi liềm (A. crassicapar). Kết quả cho
thấy sau 4,5 năm, đường kính và chiều cao của keo lưỡi liềm trồng trên líp tăng một cách ý nghĩa
so với không lên líp. Đường kính và chiều cao đạt tương ứng là 5cm và 7,7m, trong khi ở công
thức đối chứng các chỉ tiêu này chỉ đạt 2,6cm và 5,8m. Đối với keo lá tràm sự khác nhau rõ rệt
chỉ xảy ra đối với đường kính. Kích thước líp thích hợp cho keo lưỡi liềm là cao 0,2m, rộng 4m
và cho Keo lá tràm là 0,2m chiều cao và 1,5m chiều rộng (chi tiết xem Nguyễn Thị Liệu, 2004).
Năm 2001, thí nghiệm về làm đất được tiến hành với keo lá tràm (Phạm Thế Dũng, 2005).
Sau 4 năm, chiều cao của cây trong thí nghiệm đối chứng (không cày) tốt hơn rõ rệt so với cây
trong công thức làm đất bằng cách cày toàn diện. Nguyên nhân có thể trong công thức cày toàn
diện đất bị rửa trôi và xói mòn (Phạm Thế Dũng, 2005). Sự sai khác không có ý nghĩa được ghi

nhận đối với tăng trưởng đường kính thân cây và trữ lượng lâm phần.
Hiện tại, hầu hết đất trồng rừng thường được xử lý bằng cách đào hố sau khi xử lý thực
bì. Những nghiên cứu về ảnh hưởng của kích thước hố tới sinh trưởng của Keo ít. Theo Ochiai
(chuyên gia lâm sinh của JICA), tại Trung Quốc, kích thước hố ảnh hưởng rõ rệt tới sinh trưởng
và tỷ lệ sống của bạch đàn. Cụ thể, nếu hố đào to thì tỷ lệ chết tăng lên và nguyên nhân là do mối
ăn vì trong các hố đào to, số lượng mối nhiều hơn so với hố đào bé.
3. Ảnh hưởng của bón phân tới sinh trưởng của keo
a. Ảnh hưởng của bón lót tới sinh trưởng của keo
Việc bón lót trước khi trồng đã làm tăng tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của các loài keo.
Trong một thí nghiệm, Nguyễn Huy Sơn (2006) đã chỉ ra rằng, sinh trưởng của keo lai tốt nhất tại
công thức bón 200g NPK (28g N, 8g P và 10g K) và 100g phân vi sinh. Tăng trưởng bình quân
tại công thức tốt nhất đạt 36,7m
3
/ha/năm so với 28,8m
3
/ha/năm của công thức không bón phân.

3
Tại Quảng Trị, sinh trưởng tốt nhất của keo lai tìm thấy tại công thức bón hỗn hợp 200g
phân NPK (10g N, 8,73g P và 4,98g K) và 100g phân vi sinh. Sau 2 năm, sinh trưởng đường kính
đạt 7,1cm và chiều cao đạt 7,6m, trong khi tại công thức đối chứng (không bón phân) đường kính
chỉ đạt 6,0cm và chiều cao đạt 6,7m. Tương tự tại Thái Nguyên, sinh trưởng tốt nhất ghi nhận
được tại công thức bón hỗn hợp 100g NPK (10,0g N, 4,37g P và 2,49g K), 400g phân vi sinh và
50g vôi bột (27,03g Ca). Sau 3 năm thí nghiệm, đường kính ngang ngực bình quân đạt 9,4cm và
chiều cao đạt 12,6m, trong khi tại công thức không bón phân đường kính chỉ đạt 8,2cm và chiều
cao đạt 11,2cm (Nguyễn Huy Sơn và cộng tác viên, 2005).
Phạm Thế Dũng và cộng tác viên (2005) so sánh sinh trưởng của 3 dòng keo lai TB03,
TB05 và TB06 trồng trên đất phù sa cổ tại Bình Phước được bón lót các loại phân khác nhau. Kết
quả cho thấy tỷ lệ sống thấp xuất hiện trong công thức 2 trừ trường hợp dòng BT12. Tỷ lệ cây đa
thân dường như không bị ảnh hưởng bởi việc bón phân.

Chiều cao và trữ lượng lâm phần của các dòng keo lai đều ảnh hưởng bởi phân bón lót
mặc dù với mức độ khác nhau. Chiều cao của dòng TB03 tốt nhất tại công thức thí nghiệm 2,
nhưng đường kính và trữ lượng lâm phần không khác nhau giữa các công thức thí nghiệm. Sinh
trưởng của dòng TB05 tốt hơn tại các công thức bón phân, nhưng sự khác nhau chưa đạt mức có
ý nghĩa. Kết quả tương tự xuất hiện với dòng TB06, đường kính, chiều cao và trữ lượng lâm phần
tại công thức 2 cao hơn so với công thức không bón phân. Trữ lượng lâm phần của dòng BT12 tại
công thức bón phân cao hơn rõ rệt so với công thức không bón phân. Nhìn chung bón lót hỗn hợp
phân NPK và phân vi sinh (công thức 3) làm tăng cao nhất trữ lượng lâm phần sau 3 năm thí
nghiệm (Phạm Thế Dũng và các cộng tác viên, 2005). Trong một thí nghiệm khác, Hoàng Xuân
Tý (1990) ghi nhận rằng bón lót hỗn hợp 100g NPK (25g N, 50g P, 25 K) và 100g phân vi sinh
cho sinh trưởng tốt nhất đối với Keo lai tại Bình Phước.
Bảng 5: Ảnh hưởng của bón lót đến sinh trưởng đường kính (D), chiều cao (H) và trữ lượng lâm
phần (V) của keo lai (A. hybrid) tại Bình Phước 3 năm sau khi thí nghiệm (xem Phạm Thế Dũng
và cộng sự, 2005).
Dòng
TB03 TB05 TB06 TB12
Công thức thí
nghiệm
D
1.3

(cm)
H
(m)
V
(m
3
/h
a)
D

1.3

(cm)
H
(m)
V
(m
3
/h
a)
D
1.3

(cm)
H
(m)
V
(m
3
/h
a)
D
1.3

(cm)
H
(m)
V
(m
3

/h
a)
Không bón phân
(CT1)
9,8 11,1 44,6 9,1 10,3 48,4 10,3 10,5 39,9 9,9 11,1 43,9
Bón 100g NPK+
50g lân (CT2)
10,1 13,7 36,2 9,5 10,5 47,9 10,8 11,1 45,9 9,8 12,7 53,3
Bón 100g NPK
500g vi sinh
(CT3)
9,9 10,7 36,8 9,7 11,0 54,0 10,5 11,4 48,1 9,7 11,0 54,2
Đối với keo lá tràm sinh trưởng tốt nhất (D = 6,6cm, H=6,2m) tìm thấy tại công thức bón
hỗn hợp 150g NPK (24g N, 10,48g P và 9,96g K) và 300g phân vi sinh (Bảng 6; Phạm Thế Dũng
và cộng sự, 2005). Các công thức không bón phân, sinh trưởng chiều cao và đường kính của keo
lai kém hơn. Trong thí nghiệm này bón lót có thể tăng từ 4,0-15,9% về đường kính và từ 2,6-
8,5% về chiều cao (bảng 6).

4


Bảng 6: Ảnh hưởng của bón lót đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của keo lá tràm (A.
auriculiformis) tại Bình Phước (xem Phạm Thế Dũng và cộng sự, 2005).
Công thức thí nghiệm
Lượng phân bón
(g/cây)
Lượng dinh dưỡng (g/cây)
NPK Phân vi sinh N P K
Tỷ lệ
sống

(%)
D
1.3

(cm)
H (m)
50 100 8 3,49 3,32 84,8 6,3 6,0
150 100 24 10,48 9,96 80,8 6,0 5,9
200 100 32 13,97 13,28 85,8 6,4 6,0
150 500 24 10,48 9,96 88,9 6,0 5,9
150 200 24 10,48 0,96 88,9 6,2 6,1
150 300 24 10,48 9,96 87,9 6,6 6.2
150 0 24 10,48 9,96 90,0 6,1 6,0
0 300 89,0 5,9 5,9
0 0 89,0 5,7 5,7
Đối với keo lưỡi liềm trồng tại Quảng Trị, (Nguyễn Thị Liệu, 2004) thấy rằng, sau 1 năm
thí nghiệm sinh trưởng chiều cao và đường kính của cây tại các công thức bón phân NPK và phân
vi sinh cao hơn so với công thức chỉ bón phân lân và công thức không bón phân. Tuy nhiên sau
54 tháng, sự khác nhau giữa các công thức bón phân không cón khác nhau có ý nghĩa nhưng tốt
hơn ở mức có ý nghĩa so với công thức không bón phân. Như vậy bón lót có thể ảnh hưởng tới
sinh trưởng của cây ít nhất 4,5 năm.
Khi bón lót 100g NPK (5g N, 4,37g P và 2,49g K) cho keo lai tại Quảng Trị, sau một năm
sinh trưởng đường kính đạt 1,8cm và và chiều cao đạt 2,3m so với công thức không bón là
1,37cm đường kính và 1,81m chiều cao (Phạm Văn Tuấn, 2001).
b. Ảnh hưởng của bón thúc tới sinh trưởng của keo
Một thí nghiệm về bón thúc được tiến hành với keo lai tại Vĩnh Phúc (Nguyễn Đức Minh,
2004). Cây con được bón với lượng phân khác nhau như: (1) bón thúc 200g hỗn hợp phân ure,
super lân và kali tỷ lệ 1:1:1 (23g N, 6,98g P và 24,98g K); (2) bón thúc 100g super lân (6,98g P);
(3) bón thúc 200g super lân (13,97g P); (4) bón thúc 200 g NPK thương phẩm (10g N, 8,73g P,
và 4,98g K); và (5) không bón phân. Sau 2,5 năm, chiều cao và đường kính của cây trong các thí

nghiệm bón phân tốt hơn rõ rệt so với công thức không bón phân. Công thức tốt nhất là công thức
(1). Sự khác nhau giữa các công thức bắt đầu xuất hiện 1 năm sau khi thí nghiệm, chiều hướng
này kéo dài tới năm thứ 2 sau đó sinh trưởng đường kính có chiều chậm lại.

5
Kết quả nghiên cứu của Phạm thế Dũng và cộng sự (2005) cho thấy, sinh trưởng đường
kính, chiều cao và trữ lượng lâm phần không ảnh hưởng rõ rệt bởi bón thúc. Tuy nhiên, tỷ lệ sống
và tỷ lệ cây đa thân khác nhau rõ rệt giữa các công thức thí nghiệm. Sau 42 tháng, tỷ lệ đa thân
của dòng TB05 là 27,1%, 35,5% và 42,9% cho các công thức thí nghiệm 1, 2, và 3. Tỷ lệ sống
của dòng TB12 là 59,3%, 66,7% và 75,9% cho các công thức thí nghiệm tương ứng là 1, 2 và 3.
Sau 12 tháng bón thúc, sinh trưởng của keo lá tràm được cải thiện rõ rệt (Vũ Đình Hưởng
và cộng sự, 2006). Tại thời điểm sau 3 năm thí nghiệm, đường kính của công thức bón phân tăng
hơn 8% so với công thức không bón phân. Tuy nhiên sự khác nhau giữa các công thức về chiều
cao và tỷ lệ sống không rõ rệt.
III. THẢO LUẬN
Nhu cầu về gỗ và sản phẩm từ gỗ được dự báo là ngày càng tăng tại Việt Nam. Để đáp
ứng được nhu cầu này, Việt Nam đã mở rộng diện tích trồng rừng. Đồng thời các nhà lâm nghiệp
cũng chuyển từ trồng rừng quảng canh với năng suất thấp sang trồng rừng thâm canh cho năng
suất cao bằng cách áp dụng những tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất.
Sản lượng rừng trồng keo phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như giống, chất lượng
rừng trồng, đặc điểm đất, thực bì nơi trồng rừng. Trong đó một số vấn đề như cải thiện nguồn
gen, quản lý lập địa và các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tiến bộ đã được quan tâm nghiên cứu
trong thời gian qua.
Việc làm đất trước khi trồng rừng chủ yếu vẫn được làm thủ công bằng cách đào hố. Mục
đích nhằm giúp bộ rễ dễ dàng phát triển, giúp nước thấm sâu vào đất để gia tăng độ ẩm cho cây
trồng và làm đất tơi xốp, thoáng khí. Trong một số trường hợp đào hố có thể hạn chế sự cạnh
tranh của cỏ dại. Tuy nhiện hiện nay chưa có các tài liệu công bố các thí nghiệm ảnh hưởng của
kích thước hố trồng đến sinh trưởng của keo. Việc lên líp và cày trước khi trồng rừng cũng đã
được thực hiện ở một số nơi. Ví dụ như ở miền trung, đất thường bị ngập lụt vào mùa mưa, lên
líp có thể cải thiện sinh trưởng của keo lưỡi liềm và keo lá tràm. Một số kết quả nghiên cứu về

làm đất khuyến cáo rằng không nên làm đất bằng cách cày toàn diện vì đẩt có thể bị xói mòn và
rửa trôi, dẫn đến giảm năng suất rừng trồng.
Qua các nghiên cứu trên cho thấy ngoài việc xử lý thực bì trước và sau khi trồng và bằng
phương pháp thủ công, có thể xử lý thực bì bằng các dùng thuốc diệt cỏ. Điều đó cỏ thể làm tăng
sản lượng rừng và đặc biệt tiết kiệm nhân công. Việc dùng thuốc diệt cỏ trong trồng rừng đã được
nhiều nước trên thế giới áp dụng. Đối với nước ta, cần có thêm nhiều nghiên cứu vấn đề này để
này để có thể khuyến cáo người trồng rừng sử dụng đúng phương pháp, liều lượng và chủng loại
các loài thuốc diệt cỏ.
Việc áp dụng bón phân có thể nâng cao sản lượng rừng trồng keo. Tăng trưởng hàng năm
của keo tai tượng trong thời gian qua đã tăng một cách đáng kể, từ 7m
3
/ha/năm trước đây nay đã
tăng lên 17m
3
/ha/năm tại Lâm trường Kim Bôi, Hoà Bình sau luân kỳ 6-7 năm (Trần Ánh
Dương, trao đổi cá nhân), hoặc từ 20m
3
/ha/năm nay đã tăng lên 33m
3
/ha/năm sau luân kỳ 6 năm
đối với keo lai tại Bình Phước (Nguyễn Huy Sơn và Đặng Thịnh Triều, 2004).
Khai thác và khôi phục lại rừng có thể thay đổi dinh dưỡng trong đất, đất rừng cũng có
thể bị suy thoái trong trường hợp kinh doanh rừng trồng bằng biện pháp thâm canh. Trong các
nghiên cứu, việc để lại cành nhánh sau khai thác có thể bù đắp lại một phần dinh dưỡng cho đất.
Bón phân trong trồng rừng có thể duy trì dinh dưỡng cần thiết trong đất cho cây trồng. Hầu hết
các thí nghiệm về bón phân tại Việt Nam đều cho rằng bón phân đã cải thiện sinh trưởng của
rừng keo trong thời gian qua.


6

IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Đối với những nơi đất bị ngập úng vào mùa mưa, lên líp làm tăng tốc độ sinh trưởng của
keo lưỡi liềm (A. crassocarpa) và keo lá tràm (A. auriculiformis). Việc để lại cành nhánh sau khai
thác tự phân hủy làm tăng tốc độ sinh trưởng của rừng trồng keo. Áp dụng bón phân làm tăng tốc
độ sinh trưởng của rừng trồng keo, tuy nhiên tuỳ vào điều kiện đất đai và đặc điểm của từng loài
mà mức độ ảnh hưởng khác nhau.
Qua các nghiên cứư trên, có thể thấy được một số tồn tại trong các thí nghiệm bón phân
trong thời gian qua như sau:
Hầu hết các thí nghiệm đều tiến hành với phân NPK, điều đó rất khó đưa ra kết luận
nguyên tố nào là quan trọng nhất cho Keo trong 3 nguyên tố đa lượng là N, P và K. Đến nay vẫn
chưa có giới hạn cao nhất cho liều lượng cao nhất trong bón phân cho rừng keo. Còn ít các thông
tin về đặc điểm lý, hoá của đất trong các thí nghiệm bón phân cho rừng trồng. Trong khi cơ sở
của việc bón phân cần dựa vào đặc điểm đất nơi thí nghiệm. Việc bón phân cũng cần phải dựa
trên cơ sở phân tích dinh dưỡng trong thực vật, tuy nhiên trong các báo cáo không có những kết
quả phân tích thực vật.
Một điều cần quan tâm trong các báo cáo về thí nghiệm bón phân là lượng các nguyên tố
dinh dưỡng được sử dụng hoặc tỷ lệ thành phần trong phân hỗn hợp không được đề cập, điều đó
sẽ dễ dàng gây nên sự nhầm lẫn hoặc khó so sánh được kết quả giữa các thí nghiệm.
Qua bài viết này cho thấy, vẫn còn ít các thông tin về xử lý thực bì, làm đất và bón phân
áp dụng cho rừng trồng keo tại Việt Nam. Trong số các tài liệu hiện có, hầu hết các thí nghiệm
được tiến hành trong thời gian từ 1 đến 4 năm đầu của rừng trồng. Trong khi chu kỳ của các loài
keo có thể kéo dài trên 10 năm. Điều đó chưa thể đưa ra kết luận hoàn chỉnh về áp dụng các biện
pháp kỹ thuật trên nhằm nâng cao năng suất rừng keo trong suốt quá trình kinh doanh. Để đạt
được mục đích năng cao năng suất và hiệu quả kinh tế của rừng trồng, cần có những nghiên cứu
về kỹ thuật lâm sinh trong thời gian tới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn,2007. “Phát Chiến lược phát triển Lâm
nghiệp giai đoạn 2006-2020”.
2. Harwood, C.E., Lê Đình Khả, Hà Huy Thịnh, Phí Hồng Hải, 2006. “Tổng quan về
nguồn gen và phương pháp nhân giống keo lai phục vụ rừng trồng gỗ xẻ tại Việt

Nam”. Aus AID CARD. Báo cáo dự án MS032/05, 32 trang.
3. Hoàng Xuân Tý, 1990. “Cải thiện kỹ thuật trồng rừng thâm canh bạch đàn và keo lai
vùng Đông Nam bộ”. Báo cáo tổng kết đề tài. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.
4. Nguyễn Đức Minh, Nguyễn Thị Thu Hương, và Đoàn Đình Tam, 2004. “Nghiên cứu
nhu cầu dinh dưỡng khoáng (N,P,K) và chế độ nước của một số dòng keo lai (A.
hybid) và bạch đàn (Eucalyptus urophylla) trong giai đoạn vườn ươm và rừng non”.
Kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ lâm nghiệp giai đoạn 2001-2005. Viện Khoa
học Lâm nghiệp Việt nam. Trang 234-242.
5. Nguyễn Hoàng Nghĩa,2003. “Phát triển các loài keo Acacia tại Việt Nam”. Nhà xuất
bản Nông nghiệp, 132 trang.
6. Nguyễn Huy Sơn và Đặng Thịnh Triều, 2004. “Đánh giá thực trạng rừng trồng keo
và bạch đàn ở nước ta trong những năm qua”. Thông tin khoa học Kỹ thuật Lâm
nghiệp. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam. số 2 năm 2004. Trang 8-13.

7
7. Nguyễn Huy Sơn, Nguyễn Xuân Quát và Đoàn Hoài Nam, 2006. “Kỹ thuật trồng
rừng thâm canh một số loài cây gỗ nguyên liệu”. Nhà xuất bản thống kê, 128 trang.
8. Nguyễn Thị Liệu, 2004. Điều tra tập đoàn cây trồng và xây dựng mô hình trồng rừng
keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa)r trên cát nội đồng vùng Bắc Trung Bộ. Báo cáo
tổng kết đề tài. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.
9. Phạm thế Dũng, Ngô Văn Ngọc, Hồ Văn Phúc, Nguyễn Thị Lề, Nguyễn Thị Nhuần,
Phạm Viết Tùng và Nguyễn Thanh Bình, 2005. “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ
thuật thâm canh rừng cho các dòng Keo lai được tuyển chọn trên đất phù sa cổ tại
tỉnh Bình Phước làm nguyên liệu giấy”. Báo cáo tổng kết đề tài. Viện Khoa học Lâm
nghiệp Việt Nam.
10. Tổng cục thống kê, 2005. Niên giám thống kê 2004. Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội.
Trang 214-226.
11. Vũ Đình Hưởng, Phạm Thế Dũng, Lê Thanh Quang, Nguyễn Thanh Bình, 2006.
“Ảnh hưởng của quản lý lập địa đến sản lượng rừng keo lá tràm (A. auriculiformis)
tại miền nam Việt Nam”. Báo cáo CIFOR bản thảo.


STUDY ON THE INFLUENCES OF VEGETATION CLEARING, TILLAGE, AND
FERTILIZERS APPLICATION ON GROWTH OF SOME ACACIA SPECIES
PLANTED IN VIETNAM
This paper is dealing with some results of the studies on vegetation clearing, tillage and
fertilizer application in acacia plantation in Vietnam in the recent years. In the wedlands or the
seasonally flooded alnds the growth of A. crassicarpa is generally better if they were planted on
the embankments. The size for the embankments for each of them must be diffrently designed.
The evaluation for both of them should not less than 0.2m but the width for crassicarpa should be
4m, while for auriculiformis should be 1.5m only. The branches of A. auriculiformis left in the
plantations after wood cutting can increase the productivity to the extent of 10%. Nevertheless,
no significance was noted in the disparity of height and survival rate among the trees in the
plantations. Some herbicide kinds can be used for A. hybridd plantations; however no distinction
was noted between the treatments by hands or by chemical products. Fertilizer application
procedures, basal and dressing, have positive impacts on the growth of acacias. It has been
appreciated, that the composition, 25 gr N + 50gr P + 25 gr K in addition to 100 microorganisms,
is the best for A. hybrid basal application.
Keywords: Vegetation clearing, tillage, fertilizers, Acacias, embankment


8

×