Tải bản đầy đủ (.doc) (46 trang)

Bảo tồn làng diều truyền thống bá giang

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (295.21 KB, 46 trang )

1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hình ảnh cánh diều đã gắn bó với mỗi người Việt Nam từ bao đời nay.
Ít ai nghĩ rằng diều, thả diều hàm chứa trong đó những giá trị văn hóa, lịch sử,
xã hội sâu sắc. Bởi lẽ nó quá quen thuộc như một sự thật hiển nhiên tồn tại
hay đơn giản chỉ là một trị chơi giải trí.
Bá Giang là một làng q có nhiều di tích và những hoạt động văn hóa
truyền thống mang tính đặc trưng của người nơng dân gắn bó tự nhiên với cây
lúa và đồng ruộng. Trong đó, nổi bật là thú chơi diều. Cánh diều truyền thống
Bá Giang hội tụ trong mình những yếu tố tâm linh, tín ngưỡng cổ xưa, lẫn
những phút giây thư giãn đời thường của người cư dân nơng nghiệp, nó bộc lộ
khát vọng bay cao, vươn xa; biểu hiện của tư chất thanh tao cao đẹp trong tâm
hồn người nông dân quen lao động cực nhọc.
Trong bối cảnh hiện nay, những giá trị truyền thống đang có nguy cơ
mai một theo thời gian. Lối sống công nghiệp hiện đại đang ngày càng xa rời
nghệ thuật dân tộc, việc giữ gìn và phát huy những giá trị văn hố truyền
thống là vơ cùng cần thiết.
Là sinh viên Khoa Bảo tàng, tôi mong muốn được vận dụng vào thực
tiễn những kiến thức đã tích lũy được, tập dượt khả năng nghiên cứu và viết
bài trên cơ sở tập hợp tài liệu và nghiên cứu một cách có hệ thống về làng
diều truyền thống Bá Giang.
Do đó, tơi quyết định chọn đề tài “ Bảo tồn làng diều truyền thống Bá
Giang” làm bài nghiên cứu khoa học chuyên ngành năm thứ ba.
2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là làng diều truyền thống Bá Giang
(xã Hồng Hà – huyện Đan Phượng – TP. Hà Nội) với những giá trị văn hoá


2



tiêu biểu, mà trong đó tập trung nhất là cách làm diều và thú chơi diều truyền
thống của cư dân nơi đây. Ngoài ra, việc nghiên cứu mở rộng thêm một số
yếu tố có liên quan mật thiết như: Quá trình hình thành và phát triển của làng
Bá Giang, văn hóa truyền thống của làng, lễ hội thả diều, lễ hội rước bánh dày
hằng năm, di tích lịch sử văn hố, nghề thủ cơng truyền thống…
3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài được triển khai trên hai phương diện:
+ Về thời gian: nghiên cứu làng diều truyền thống Bá Giang từ khi xuất
hiện truyền thuyết về lịch sử làng tới nay.
+ Về không gian: việc nghiên cứu được đặt trong khơng gian lịch sử
văn hố của làng Bá Giang (xã Hồng Hà – huyện Đan Phượng – TP. Hà Nội)
4. Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu về vùng đất, con người làng Bá Giang – quê hương của
những cánh diều truyền thống, làm cơ sở cho việc nghiên cứu.
- Nghiên cứu khái quát những hoạt động văn hóa mang tính truyền
thống của cư dân Bá Giang.
- Nghiên cứu giá trị văn hoá tiêu biểu của làng diều truyền thống Bá
Giang.
- Từ thực trạng làng diều Bá Giang hiện nay, đề xuất một số ý kiến
nhằm bảo tồn làng diều truyền thống Bá Giang.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin: Duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử
- Phương pháp nghiên cứu: Bảo tàng học, Bảo tồn di tích - lịch sử văn
hố, Lịch sử, Địa lý, Dân tộc học, Du lịch học, Xã hội học, Tâm lý học.
- Các phương pháp khác: Quan sát, điều tra thống kê, nghiên cứu tài
liệu.



3

6. Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, bố
cục bài viết gồm 3 chương. Cụ thể:

 Chương 1. Khái quát về lịch sử - văn hóa làng Bá Giang
 Chương 2. Làng diều truyền thống Bá Giang – những giá trị văn
hoá tiêu biểu

 Chương 3. Bảo tồn làng diều truyền thống Bá Giang


4

Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ - VĂN HOÁ LÀNG BÁ GIANG
1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
1.1.1. Vị trí địa lý
Từ thành phố Hà Nội về trung tâm huyện Đan Phượng, rồi từ đó đi theo
bờ đê sông Hồng về hướng Đông Bắc cách chừng 7 km. Là một vùng dân cư
đông đúc chạy dài từ ngã ba Tiên Tân đến giáp thơn Bồng Lai, đó là làng Bá
Giang (tên trước kia là Bá Dương Nội) thuộc xã Hồng Hà – huyện Đan
Phượng – TP. Hà Nội.
Xã Hồng Hà có 4 làng: Bá Thị, Tiên Tân, Bồng Lai và Bá Giang. Trong
đó Bá Giang nằm ở vị trí trung tâm của xã: phía Bắc giáp huyện Mê Linh,
phía Đơng giáp xã Liên Hồng, phía Nam giáp xã Tân Hợi, phía Tây giáp xã
Hạ Mỗ. Bá Giang nằm trên vị trí thuận tiện về giao thơng, từ thành phố Hà
Nội đến Bá Giang có thể đi bằng đường bộ theo bờ đê sông Hồng. Đây là con
đường giao thông khá thuận tiện. Mặt khác, từ đây cũng có thể đi bằng đường

thủy ngược lên Việt Trì và các tỉnh phía Bắc.
1.1.2. Điều kiện tự nhiên
Trước đây Bá Giang có tên là Bá Dương Nội, nhưng sau này người dân
ở các vùng lân cận gọi cư dân nơi đây bằng cái tên Bá Giang (nghĩa là làng
Bá ở gần sông). Như vậy, ngay cái tên Bá Giang cũng nói lên được phần nào
về điều kiện tự nhiên nơi đây.
Sơng Hồng là một dịng sơng hiền hịa nhưng đơi lúc con sơng ấy cũng
trở nên khó tính. Tính ghê gớm của nó xuất hiện khi mùa mưa đến: “Hình
dáng uốn khúc đó đi đơi với hiện tượng lở bồi ở cùng một khúc sông, hàng
năm sau những trận lũ lớn, nước sơng lại xói mịn ở bên trong những chỗ đỉnh
cong và bồi ở bên bờ thấp đối diện, làng ven sông phải chịu cái cảnh một


5

phần đất bị đưa qua sang bên kia sông và phải theo sang trồng trọt ở đó, có
khi cả làng phải chuyển dịch; do đó mà có hiện tượng làng ven sơng có hai bộ
phận ở hai bên bờ sơng, hoặc làng ở bờ sông bên này dăm bảy chục năm sau
thấy ở bờ sông bên kia, dân làng phải bám đất bám bãi để có chỗ ở và trồng
trọt” 1
Cũng nằm trong điều kiện tự nhiên ven sông Hồng, đất đai của làng Bá
Giang hình thành hai khu vực rõ rệt đó là trong đồng và ngồi bãi. Đất đai
ngồi bãi được dịng sơng Hồng quanh năm bồi đắp phù sa màu mỡ thuận tiện
cho việc trồng các cây hoa màu như: ngô, khoai, sắn, đậu… nhưng không ổn
định. Có năm, nước lũ sơng Hơng lên cao, mùa màng đều mất cả, ngược lại,
những năm mưa thuận gió hồ thì mùa màng bội thu. Khu vực trong đồng đất
đai khơng tươi tốt bằng phía ngồi đê, nhưng có thể thâm canh, ổn định sản
xuất.
Cũng chính vì điều kiện tự nhiên, nhân dân Bá Giang phải nhiều lần
chuyển dần địa diểm sinh sống vào phía trong đê, các di tích trước đây được

đặt ven đê, ngoài bãi cũng được chuyển dịch để tránh sự sói lở của dịng sơng.
Ngay cả những trò chơi trong các lễ hội truyền thống cũng mang dáng nét của
không gian địa lý đặc trưng ấy.
1.2. Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của làng Bá Giang
1.2.1. Truyền thuyết về lịch sử làng Bá Giang
Làng Bá Giang (Bá Dương Nội) xưa có tên Nơm là làng Kẻ Bá. Vùng
đất Kẻ Bá xưa mà nay là làng Bá Giang vốn thuộc vùng đất cổ xứ Đoài. Năm
1975 – 1976, khi đào giếng người ta phát hiện thấy có những hiện vật bằng đá
của người xưa. Theo giới Khảo cổ học nghiên cứu thì đây là một vùng đất
chứa đựng nhiều giá trị lịch sử quí báu của nền Văn minh sông Hồng.

1

Nguyễn Văn Uẩn (2000), Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX, Nxb. Hà Nội, Hà Nội, Tr 1374


6

Mặt khác, nơi đây còn lưu truyền khá nhiều những truyền thuyết xung
quanh lễ hội thả diều, cánh diều và cả những di tích (trong đó bao hàm một số
yếu tố về lịch sử làng).
Truyện kể rằng, khi xưa trời đất còn chưa phân chia rõ rệt như giờ mà
còn giao hòa gần gũi, vạn vật sống trong cảnh thanh bình, hạnh phúc. Người
trên trời và người dưới đất sống hịa hợp. Bỗng một ngày kia, trời long đất lở,
mn loài lâm vào cảnh điêu tàn, tăm tối, con người sống trong cảnh khổ cực,
bi ai. Bầu trời cao dần, xa dần giờ tách biệt hẳn với mặt đất. Người trên trời
không xuống mặt đất được nữa. Người dưới đất nhớ nhung khơn xiết, họ ước
rằng mình có một đơi cánh giống như loài chim để bay lên trời. Họ làm ra
cánh diều và coi đó là sợi dây nối liền mặt đất và bầu trời, là phương tiện để
giữa người trên trời và người dưới đất liên lạc với nhau, làm dịu đi niềm khát

khao mong đợi của người dưới mặt đất. Sau đó, họ cịn gắn vào diều những
ống tre tạo ra những âm thanh trầm bổng, nghe như lời mời gọi bầy tiên trên
trời mau quay về mặt đất. Đó chính là truyền thuyết về nguồn gốc của cánh
diều sáo hiện nay.
Theo thần phả của làng có ghi lại: Thời Hùng Vương thứ 18 có ơng
Nguyễn Xí lấy vợ họ Trần (người ở Nam Châu) sinh được cậu con trai đặt tên
là Hùng Hưu. Lớn lên cậu trở thành một tráng sĩ khỏe mạnh, thông minh, gặp
lúc đất nước loạn lạc trộm cướp quấy phá, dân tình lầm than. Chúa Bộ Sơn
Tây sai Hùng Hưu đem quân dẹp loạn. Đạo của ơng đi đến đâu thì nơi đó n
ổn. Khi ơng tới Bồng Lai – Bá Giang thấy cảnh đẹp, dân lành, liền ở lại nơi
đây rồi nối nghiệp cha làm chúa Bộ Sơn Tây. Khi vua Hùng nhường ngôi cho
thục phán An Dương Vương ông bất mãn bỏ đi ngao du thiên hạ. Nhân dân
Bá Giang nhớ ơn nên dựng ngôi đền trên nền nhà cũ của ông, các đời vua sau
phong sắc tôn làm Linh Hựu đại vương.


7

Tuy rằng, đây chỉ là những truyền thuyết còn lưu truyền đến ngày nay,
nhưng qua những di chỉ khảo cổ học và những di tích cịn tồn tại, ta có thể
khẳng định rằng đây là một làng quê có bề dày lịch sử.
1.2.2. Làng Bá Giang từ kháng chiến chống Pháp đến nay
Xã Hồng Hà nói chung và làng Bá Giang nói riêng đã góp phần to lớn
vào cơng cuộc đấu tranh và giành độc lập của Tổ quốc. Tự hào về truyền
thống đánh giặc của cha ông, năm 1985, Đảng bộ xã Hồng Hà đã ấn hành
cuốn sách “ Truyền thống cách mạng xã Hồng Hà”, trong đó ghi lại những
tấm gương tiêu biểu:
Thôn Bá Giang dưới sự chỉ huy của cụ Phạm Văn Thiều, Phạm Văn
Tỉnh, Phạm Văn Thêm đã cùng nhân dân trong làng cương quyết đánh giặc
bằng nhiều hình thức như: đánh lẻ diệt gọn, nếu cứ năm bảy thằng giặc qua

đường là bị các cụ tiêu diệt gọn… Làm cho địch bị tiêu hao lực lượng mà
khơng tìm ra tung tích của ta. Xác chúng được chôn ngay ở đầu làng, ý muốn
giáo giục cho con cháu đời sau rằng ta tất thắng, kẻ thù xâm lược đã đến đây
thì khơng có đường quay về. Cuộc chiến đấu này kéo dài hơn 3 tháng đã gây
cho địch nhiều thiệt hại.
Cụ Lang Sáng được nhắc đến như một tấm gương dũng cảm. Khi
phong trào chống Pháp trở nên rộng khắp, dưới ngọn cờ lãnh đạo của Hồng
Hoa Thám, cụ Lang Sáng đã bí mật xây dựng cơ sở ở Bồng Lai – Bá Giang.
Cụ được giao nhiệm vụ cao cả: là cắm cờ lên cột cờ thành Hà Nội. Việc
không thành, cụ bị bắt và tra tấn hết sức dã man, nhưng cụ vẫn kiên quyết
không cung khai. Nhờ đó, các đồng chí khác trong cơ sở vẫn tiếp tục hoạt
động mà không bị thực dân Pháp phát hiện.
Trong cuộc kháng chiến cứu nước, thanh niên làng Bá Giang nói riêng
và xã Hồng Hà nói chung đã hăng hái lên đường nhập ngũ bảo vệ Tổ quốc.
Góp phần viết lên những trang sử hào hùng của dân tộc, toả sáng những tấm


8

gương anh hùng, khơng ít những người con của q hương Bá Giang đã ngã
xuống vì độc lập tự do của Tổ quốc, khơng ít những người phải bỏ lại một
phần máu thịt của mình lại chiến trường. Cơng lao của họ đời đời được ghi
nhận.
Sau khi đất nước được giải phóng, cũng như bao miền quê khác, nhân
dân Bá Giang thi đua lao động sản xuất khắc phục hậu quả chiến tranh. Đến
nay làng Bá Giang có trên 1000 hộ dân với khoảng hơn 5000 nhân khẩu. Đời
sống vật chất của người dân cũng được cải thiện đáng kể.
1.3.

Cư dân

1.3.1. Đời sống kinh tế

Địa hình mang nhiều đặc trưng của điều kiện tự nhiên ven sông Hồng.
Mặt khác, đây là khu vực dân cư tập trung đông đúc từ lâu đời nên q trình
sản xuất nơng nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên.
Ngồi ra, có một số nghề thủ công như: nghề mộc, nghề rèn, nghề thêu
ren, đan lát, dệt lụa…nhưng đến nay hầu hết đã bị mai một chỉ còn nghề mộc
và nghề nấu rượu là cịn tồn tại. Trong làng, có một số xưởng mộc nhỏ nằm
ngay sát chân đê, nhiều hộ gia đình buôn bán nhỏ như hàng sáo, nấu và bán
rượu…Rượu Bá Giang nổi tiếng khắp vùng nên nguồn thu từ việc nấu rượu
và bán rượu cũng góp phần khơng nhỏ vào việc cải thiện kinh tế cho nhân
dân. Chợ Bá Giang ngày nào cũng họp, các sản vật mua và bán nơi đây chủ
yếu là các vật dụng phục vụ đời sống hàng ngày của người dân.
Dưới thời phong kiến, nhân dân làng Bá Giang sống trong cảnh đói
khổ, nghèo nàn, hàng năm bị lũ sông Hồng đe dọa. Sau khi thực dân Pháp
xâm lược, tình trạng đói khổ gần như kéo dài triền miên. Mãi đến khi hịa
bình được lập lại ở miền Bắc (1954) với bản chất cần cù, ngồi việc trồng trọt
chăn ni, người dân Bá Giang cịn phát triển thêm nghề phụ như: nấu rượu,
làm đậu phụ, làm bánh gio, bánh tẻ... Nên đời sống kinh tế của người dân Bá


9

Giang “thay da đổi thịt” từng ngày. Góp phần vào thành cơng đó, khơng thể
khơng kể đến những nghề chế biến nơng sản của địa phương, vừa phục vụ gia
đình vừa mang lại thu nhập kinh tế.
Rượu Bá Giang nổi tiếng một vùng. Rượu được nấu từ chính gạo nếp
cái hoa vàng do người dân nơi đây trồng cấy, qua quá trình ủ men, trưng cất
kĩ càng rượu mang hương vị thơm ngon, nồng nàn đến khó quên. Rượu được
đem giao bán khắp các vùng lân cận, vừa mang lại kinh tế cho nhân dân, vừa

tận dụng được lao động dư thừa trong các gia đình.
Đặc sản thứ hai là đậu phụ- một món ăn thơm ngon, bổ mát. Đây là một
nghề thủ công truyền thống đã tồn tại từ bao đời nay, đặc sản này được bày
bán khá nhiều tại địa phương cũng như cung cấp cho các khu vực xung
quanh.
Vào những dịp Tết lễ, người dân thường làm bánh gio để cúng thần, gia
tiên. Trên mâm lễ vật dâng cúng thành hoàng trong hội làng, bao giờ cũng
phải có đủ ba món: Rượu, đậu phụ và bánh gio. Bánh được làm từ gạo nếp cái
hoa vàng, xay xát kĩ. Ngày nay, bánh gio trở thành một mặt hàng ưa chuộng
của nhân dân quanh vùng.
Chính thực tiễn lao động sản xuất, đã góp phần hình thành nên cách
nghĩ, nếp sống thuần nông của từng cá thể trong cộng đồng, được lưu truyền
qua nhiều thế hệ. Sản xuất nông nghiệp lâu đời cũng chi phối nhiều mặt trong
đời sống của người nông dân, từ lao động sản xuất đúc rút ra kinh nghiệm
sống, phong tục tín ngưỡng tác động đến lý tưởng thẩm mĩ, tạo nên bản sắc
rất riêng cho mảnh đất này.
Những năm gần đây, đời sống kinh tế của cư dân làng Bá Giang được
nâng cao, các hoạt động văn hóa cũng ngày càng được chú trọng. Đảng bộ và
nhân dân xã Hồng Hà nói chung và làng Bá Giang nói riêng đã có ý thức giữ
gìn những nét văn hóa bản địa đã tồn tại từ bao đời nay.


10

1.3.2. Văn hoá truyền thống làng Bá Giang
Nêu cao đạo lý uống nước nhớ nguồn, trong mỗi gia đình Việt Nam
thường có bàn thờ tổ tiên, nhằm giáo dục con cháu chi nhớ công ơn của
những thế hệ trước. Làng Bá Giang cũng khơng ngoại lệ, trong các gia đình ở
làng Bá đều có một bàn thờ gia tiên được đặt ở vị trí trang trọng nhất, sạch sẽ
nhất trong nhà và coi đó là nơi linh thiêng, bất khả xâm phạm.

Hầu hết, các dòng họ lớn trong làng đều có nhà thờ họ. Tiêu biểu như:
Nhà thờ họ Phạm với kiến trúc kiểu chữ nhị (=), trong đó có một số di vật
như: Bia đá niên hiệu Gia Long năm thứ tư (1805) ghi lại nguồn gốc và sự
phát triển của dịng họ, q trình từ lúc ra đời đến thời Nguyễn (thế kỉ XVIII),
và nhiều bức hoành phi, câu đối ca ngợi truyền thống hiếu học của dòng họ
Phạm, dịng họ vốn có truyền thống khoa bảng, văn cử từ xưa. Hơn nữa, trong
làng cịn có một số ngơi nhà đại khoa đã có trên trăm năm tuổi như: Nhà ơng
Phạm Văn Đạt, Phạm Đức Chính, Phạm Văn Hiền... Những ngôi nhà này đều
được làm bằng gỗ quý, trang trí nội thất đẹp và phù hợp với cảnh quan kiến
trúc xung quanh.
Ngồi ra, Các dịng họ lớn ở làng Bá cịn duy trì việc giỗ họ hàng năm,
đến ngày giỗ họ, con cháu xa gần về tề tựu đông đủ, cùng nhau “ôn cố tri
tân”. Tiêu biểu như: họ Phạm, họ Nguyễn, họ Hoàng, họ Đỗ… Đây cũng là
một nét đẹp văn hoá gắn liền với đời sống tín ngưỡng của cư dân Bá Giang
nhằm ơn lại truyền thống của gia tộc, giáo dục con cháu xây dựng đời sống
mới không xa rời những giá trị tốt đẹp của dân tộc.
Bá Giang là mảnh đất có truyền thống cần cù, hiếu học. Trong gia phả
của các dòng họ, trên một số tấm bia đá còn lại ở các di tích có ghi lại tên tuổi
của những người đỗ đạt cao, làm rạng rỡ tên tuổi của dòng họ. Trong tấm bia
niên hiệu Chính Hồ đặt tại chùa Già Lê có khắc tên một người họ Hà đó là
Hà Bá Can tức Hoàng Quốc Việt- Đại tướng Quân Đội Nhân dân Việt Nam,


11

nguyên chủ tịch Uỷ Ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam. Sinh thời cụ đã nhiều
lần về thăm người dân trong làng và dòng họ.
Phát huy truyền thống tốt đẹp đó, năm 2008 vừa qua, làng Bá Giang có
tới 80 học sinh đỗ vào các trường Đại học và Cao đẳng, chiếm tỉ lệ cao nhất
huyện Đan Phượng trong vòng nhiều năm trở lại đây.

Ngồi ra, nơi đây cịn tồn tại nhiều di tích gắn liền với những hoạt
động văn hóa mang tính truyền thống của cư dân nơng nghiệp.
Đình Bá Giang được cơng nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia
năm 1991. Ngơi đình là nơi thờ thành hoàng làng Nguyễn Cả và là nơi sinh
hoạt văn hóa cộng đồng. Ngơi đình trước đây là ngơi miếu, nhưng sau khi
ngơi đình chung của làng bị đốt để thực hiện nhiệm vụ “tiêu thổ kháng chiến”
nên ngôi miếu dần thay thế chức năng của ngơi đình và trở thành đình Bá
Giang hiện nay. Sự thay thế chức năng này có nhân tố “hợp lý” bởi đình và
miếu thường có mối quan hệ chặt chẽ: Đình là nơi thờ vọng, miếu là nơi quỷ
thần bằng y.
Cho đến nay, ngơi đình Bá Giang được đánh giá là một trong những
ngơi đình cịn khá ngun vẹn. Các cơng trình được bố trí hài hịa và thống
nhất trong một khn viên khép kín. Nghi mơn bao gồm: 2 cột to và 2 cột nhỏ
xây theo kiểu lối cột đứng, vuông cạnh. Tường hoa thấp bao xung quanh vòng
vào hai tòa nhà tả vu và hữu vu. Ở giữa tạo thành một khoảng sân rộng lát
gạch, đây là nơi tổ chức các buổi tế lễ khi làng vào hội.
Đi qua lớp sân ngồi là đến dãy tiền tế của đình, cách nhà tiền tế một
khoảng sân hẹp về phía trong là tịa nhà đại đình, tới thiêu hương và trong
cùng là hậu cung. Tả vu, hữu vu là 2 ngơi nhà có diện tích nhỏ nằm bên phải
và bên trái tịa đại đình. Đề tài trang trí trong đình Bá Giang hết sức đơn giản,
nhưng đường nét chau chuốt mang phong cách của thế kỉ XIX. Mặt khác, nơi


12

đây cịn là khơng gian lý tưởng để duy trì sự tồn tại của các lễ hội truyền
thống như: lễ hội thả diều truyền thống, lễ hội rước bánh dày hàng năm.
Chùa Bá Giang hay còn gọi là chùa Già Lê, nằm ở phía gần ngồi đê.
Đây vốn là ngơi chùa cổ đã được chùng tu nhiều lần, chùa Già Lê tuy khơng
cịn giữ được nét cổ kính khi xưa nhưng trong chùa còn lưu giữ nhiều hiện vật

quý giá như: Quả chuông đồng niên hiệu Cảnh Thịnh (1795), một chiếc khánh
mang niên hiệu Thành Thái (1900) và 35 tấm bia đá có niên hiệu từ thời Lê
đến thời Nguyễn (muộn nhất vào năm Bảo Đại thứ 10 (1935). Căn cứ vào
những di vật cịn lại có thể xác định ngơi chùa này có niên đại thế kỉ XVII,
với những hoa văn chạm trổ trên gỗ diễn tả cảnh người đi săn, trai gái tự tình,
cảnh mây rồng quận vào nhau, cảnh tiên (giống cảnh tiên ở đình Đại PhùngĐan Phượng)…
Đặc điểm nổi bật là nơi đây ngoài thờ Phật cịn thờ một pho tượng của
ơng “Lê triều thái phó Thiếu Khanh hậu phật tơn thần”, người có cơng giúp
dân làng trong lúc hoạn nạn, khó khăn do mất mùa hạn hán. Chính vì thế, vào
ngày mùng 3 Tết hàng năm, nhân dân Bá Giang thường tổ chức rước bánh
dày để nhớ ơn ơng bà những người đã có cơng với dân làng. Lễ hội diễn ra từ
mùng 3 Tết Nguyên Đán và kéo dài suốt 10 ngày. Qua lễ hội cũng là dịp
người ta gặp gỡ, chúc nhau những lời chúc tốt đẹp nhân dịp đầu năm.
Vào chiều mùng 2, mọi người bước vào công việc chuẩn bị cho lễ
hội như chọn gạo, thổi xôi và giã bánh dày. Bánh dày thơm dẻo, trắng trong,
hình trịn thể hiện cho bầu trời, là sản phẩm của cư dân nông nghiệp. Hơn
nữa, việc làm bánh cũng có những qui định chặt chẽ và mang nhiều yếu tố tín
ngưỡng cổ xưa, ban đầu là nước dùng để thổi xôi phải là nước giếng tinh
khiết được lấy từ nước giếng giữa làng. Gạo được vo sạch ở nơi trong nhất
của dòng nước từ sông Hồng. Chày giã bánh được làm từ tre tươi bánh tẻ, lấy
từ những cây tre giữa vụ. Những người giã bánh nhất thiết phải là trai chưa


13

vợ, gái chưa chồng, được chọn ra từ đám nam thanh nữ tú trong làng. Điều
đặc biệt là cuộc giã bánh được diễn ra suốt đêm trong khơng khí nhộn nhịp,
hạnh phúc. Điều này, khiến cho người ta dễ dàng liên tưởng tới hình ảnh trai
gái giã gạo trên mặt trống đồng?
Sáng mùng 3, bánh dày được đem đến ngôi miếu ở giữa xóm, rồi

được đặt trong các thạp đỏ sơn son thiếp vàng, để lên kiệu rước về chùa. Bánh
dày được làm để lễ thần thường khơng có nhân, theo người dân trong làng thì
đó là việc giữ ngun truyền thống đã có từ thời Lang Liêu (Vua Hùng), gắn
liền với truyền thuyết “Bánh trưng, bánh dày”. Sau đó là việc tế lễ, rước bánh
và thụ lộc. Tất cả đều được thực hiện với sự thành tâm cầu mong những điều
tốt đẹp nhất đến trong năm mới.
Bên cạnh đó phải kể đến: miếu Châu Trần thờ thần diều, gắn liền với lễ
hội thả diều, một trong những lễ hội độc đáo và lôi cuốn không chỉ nhân dân
tỉnh Hà Tây (cũ) mà có thể nói là nhân dân trong cả nước và những người yêu
thích nghệ thuật dân gian trong ngồi nước.
Xưa kia, miếu Châu Trần nằm phía ngồi đê nhưng do đất lở nên nhân
dân trong làng phải chuyển về vị trí như hiện nay (cách đình khoảng 300m).
Miếu Châu Trần thờ thần diều, cũng là nơi lưu giữ những cánh diều đoạt giải
nhất hàng năm. Hiện nay, miếu Châu Trần vẫn đang được xây dựng lại và dự
kiến sẽ khánh thành trước ngày 15 - 3 Âm lịch (tức là ngày diễn ra lễ hội thả
diều truyền thống hàng năm).
Những cơng trình tơn giáo tín ngưỡng được xây dựng trên mảnh đất
nghìn năm lịch sử này vẫn còn giữ được chức năng quan trọng là nơi sinh
hoạt văn hoá của cộng đồng. Vào những dịp Tết, lễ nhân dân trong làng lại tụ
họp đơng đủ ngồi đình để bàn bạc các công việc chuẩn bị, hay cắt cử người
thường trực để trơng nom di tích... Những vị thần được thờ được coi như
những người bảo vệ cuộc sống ấm no, thanh bình cho cả làng.


14

Qua khảo sát tín ngưỡng - văn hóa cổ truyền làng Bá Giang cho thấy
nơi đây còn bảo lưu được nhiều yếu tố văn hóa mang tính cổ xưa của cư dân
lâu đời làm nơng nghiệp. Trong đời sống tín ngưỡng của cư dân làng Bá còn
tồn tại nhiều yếu tố mang tính dung hịa tín ngưỡng của người Việt cổ, một số

nghi thức, nghi lễ trong các lễ hội vẫn được bảo lưu. Mặt khác, những đề tài
trang trí trên các cơng trình kiến trúc cịn lại đến ngày nay cũng phần nào nói
lên ước vọng của người xưa về một cuộc sống tươi đẹp, mn lồi sinh sơi,
nảy nở. Ngồi ra, đây cịn thể hiện tài năng khéo léo của người nghệ nhân dân
gian, những con người đã biến những khung cảnh sinh hoạt đời thường thành
nghệ thuật; Những lễ hội cịn tồn tại đã góp phần tạo nên tính cố kết cộng
đồng cao thường thấy ở những làng quê Việt Nam.


15

Chương 2
LÀNG DIỀU TRUYỀN THỐNG BÁ GIANG NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HỐ TIÊU BIỂU
2.1. Qui trình làm diều
Qui trình làm diều truyền thống ở Bá Giang cũng tương tự như qui
trình làm một cánh diều hiện đại, bao gồm các công đoạn: chuẩn bị nguyên
vật liệu, làm khung diều, dán diều và hoàn chỉnh một con diều. Nhưng đi sâu
vào từng cơng đoạn cụ thể lại thấy có một số điểm khác biệt mang đậm những
nét văn hóa truyền thống.
2.2.1. Nguyên vật liệu làm diều
Có rất nhiều nguyên vật liệu mới thay thế cho những nguyên vật liệu cổ
truyền để làm ra những cánh diều hiện đại. Nhưng ở Bá Giang, tre gần như là
một nguyên vật liệu truyền thống không thể thiếu.
Xuất phát từ một vùng quê lâu đời làm nơng nghiệp, cây tre gắn bó
thân thuộc với bao đời, nên việc dùng nguyên vật liệu sẵn có trong tự nhiên là
điều phổ biến. Tuy nhiên, tài năng của người nghệ nhân lại thể hiện ở chỗ
chọn được nguyên vật liệu nào là tốt nhất để làm ra được sản phẩm ưng ý
nhất. Vì thế, việc chọn tre làm diều cũng có những yêu cầu nhất định:
Trước hết, tre làm diều phải là những cây tre đực, chắc thịt, khơng có
lõi và mọc ở giữa bụi, có gióng dài và đều, thân tre khơng bị trầy xước. Để có

đủ những tiêu chuẩn trên, những nghệ nhân diều thường chọn tre vào tháng 8
âm lịch. Theo kinh nghiệm dân gian đây là thời điểm tốt nhất. Có câu:
“ Tháng 8 tre non làm nhà
Tháng 3 tre già làm lạt”
Nói là tre non nhưng thực ra đó là lúc tre bánh tẻ, tre vào lúc này sẽ có
độ dẻo cần thiết để uốn khung, không mối mọt, điều này sẽ đảm bảo cho một


16

bộ khung chắc chắn, dễ uốn mà nhẹ. Nếu để qua tháng 8, tre đã già mà dùng
để vót khung có thể sẽ gẫy trong lúc uốn hoặc lúc thả diều, hơn nữa dễ bị mối
mọt.
Việc chọn tre làm sáo diều lại khác, ngồi những tiêu chí của một cây
tre làm diều, thì cây tre được chọn làm bộ sáo phải là tre chiết sóc (tre chết già
ngay trong bụi), vỏ màu cánh gián xen kẽ những sọc trắng ngà, không bị nứt
nẻ, đảm bảo độ nhẹ cần thiết của một bộ sáo để diều có thể bay cao, chọn loại
tre này làm sáo sẽ tạo cho tiếng sáo kêu to và hay.
Việc còn lại là chuẩn bị giấy dán, keo dán giấy hoặc keo dán gỗ, sơn để
sơn màu cho sáo nếu có và dây thả diều. Những sản phẩm này được bày bán
rất phổ biến trên thị trường.
2.2.2. Cánh diều Bá Giang xưa và nay
Truyền thuyết, phong tục, luật lệ, cách chơi, cách làm diều được truyền
từ đời này sang đời khác chỉ đơn giản là cha ông làm rồi thì con cháu cũng
làm theo. Chính họ cũng khơng nghĩ rằng chính tình u đối với diều vơ hình
chung đã giúp họ gìn giữ bảo lưu được những truyền thống văn hố của ơng
cha. Tuy giờ đây đã có một vài nguyên vật liệu được thay thế bằng những vật
liệu hiện đại. Nhưng về cơ bản, những cánh diều vẫn giữ được kiểu dáng giản
dị, mộc mạc như xưa.
Các nghệ nhân Bá Giang không chỉ làm diều để thả trong lúc nơng

nhàn mà cịn dùng để tham gia lễ hội thi thả diều truyền thống hàng năm diễn
ra vào ngày 15 tháng 3 Âm lịch. Các con diều dùng để dự thi lễ hội thả diều
được làm rất công phu, tỉ mỉ. Diều được làm chủ yếu từ tre, thế nên việc chọn
tre làm diều được rục rịch ngay từ đầu tháng 8. Chọn được cây tre như ý, là
việc khơng dễ. Sau đó, thân tre được chẻ ra theo các kích cỡ khác nhau, tuỳ
theo ý muốn của chủ diều và kích thước của mỗi con diều. Những thanh tre
này được bỏ lõi, vót nhẵn và đem phơi từ 2 đến 3 nắng cho đến khi tre ngà


17

vàng và có độ mềm cần thiết, nếu phơi quá lâu, tre sẽ bị khơ và giịn; cịn nếu
ít q, tre vẫn “ngậm” nhiều nước khi thả diều sẽ khó lên được cao, dễ gây
ẩm mốc trong môi trường độ ẩm cao. Sau đó tre được đem cuộn lại luộc với
nước vôi trong hoặc nước muối hay đơn giản hơn là cho vào thùng vơi đang
tơi. Làm như thế có tác dụng bảo quản tre: chống mối mọt, dẻo dễ uốn, lại
không bị ẩm mốc khi nhiệt độ trong không khí tăng cao. Sau đó, lại phơi cho
khơ, rồi bắt đầu làm khung diều.
Khung diều là bộ phận nâng đỡ toàn bộ cánh diều. Khi diều lên cao,
khung diều là bộ phận chịu lực từ sức cản của gió. Mặt khác, khi làm khung
cũng phải đảm bảo nhẹ, chuẩn để diều có thể bay lên được. Có các loại diều
phổ biến như: Diều cánh chanh, diều cánh muỗm, diều cánh mộc, diều cánh
tiên...Nên khung diều cũng được uốn theo nhiều hình thù khác nhau. Nhưng
có điểm chung là: khung cái được tạo ra từ 2 thanh tre ngang buộc 2 đầu và
thanh tre dọc ở giữa diều. Khung cái tạo thành lưng diều và một sợi dây dài
nối 2 đầu khung tạo thành bụng diều, tạo độ cong để diều đón gió. Đồng thời,
trên khung diều người ta cũng buộc cố định một số sợi dây để gò khung theo
những hình nhất định, tất cả các chi tiết đều phải đảm bảo độ chính xác cao để
khi thả diều lên, không phải chỉnh lại.
Các công đoạn làm khung diều cho đến ngày nay hầu như vẫn được

duy trì nguyên vẹn, nhưng giấy dán diều thì đươc thay thế bằng giấy xi măng,
nilon thay vì làm bằng giấy gió như các thế hệ trước. Trước kia, người ta
dùng giấy gió để dán diều. Loại giấy này có ưu điểm là rất nhẹ và ít thấm
nước. Tuy nhiên, nếu dùng 1 lần giấy thì khơng đủ để chống lại sức cản của
gió, nên các nghệ nhân thường phải bồi giấy bằng cách trải tờ giấy ra rồi quét
lên đó 1 lớp nhựa hoặc hồ dán. Sau đó, trải lên 1 lớp xơ hoặc 1 tờ giấy nữa lên
trên, làm như thế khoảng 2 đến 3 lần sẽ có loại giấy có độ dầy đáp ứng được
yêu cầu của người sử dụng.


18

Ngày nay, người ta sử dụng giấy nilon hay giấy xi măng thay cho giấy
dó, để tiết kiệm thời gian và kinh phí. Bên cạnh đó chất kết dính cũng được
thay thế bởi các loại keo như: keo dán giấy, keo dán gỗ (thay vì dán bằng các
loại nhựa cây hay bột gạo nếp khi xưa), vừa đảm bảo chỗ dán không bị nấm
mốc, côn trùng phá hoại lại bền đẹp, dễ sử dụng. Dán diều hay còn gọi là phất
mành diều là công việc tương đối đơn giản hơn các công đoạn khác. Tuy
nhiên, phải đảm bảo áo diều khơng q căng – vì khi áo diều q căng diều sẽ
khơng đón được gió, và khơng được q chùng – vì nếu q chùng diều dễ bị
gió làm thủng.
Vậy là đã có một chiếc diều hồn chỉnh. Việc làm sáo có thể được tiến
hành khơng đồng thời với việc làm diều. Và nhìn chung các cơng đoạn để
hồn thành 1 bộ sáo hay chiếc sáo cũng được bảo tồn đến ngày nay (như cách
thức làm khung diều). Bắt đầu cũng là việc chọn tre, nhưng tre làm sáo chỉ
cần đoạn tre ngắn (gồm 2 ống tre chứ không cần cả thân tre như việc làm
khung diều).
Kích thước của chiếc sáo được quy định bởi sức mang của chiếc diều
và quan trọng hơn là những giai âm ưa thích của chủ nhân. Có 4 loại sáo
thường dùng là:

Sáo tiếng chng: tiếng kêu “bi bi”
Sáo tiếng ốc: tiếng kêu “đu đu” như tiếng Tù và
Sáo tiếng còi: tiếng kêu “ vo vo” đanh tiếng, sáo nhỏ hơn những loại
trên.
Trong đó, loại sáo được ưa chuộng nhất là sáo tiếng ốc, nhưng sáo có
kêu to và hay hay khơng lại phụ thuộc vào sức gió và kĩ thuật làm sáo.
Ống tre được nạo bỏ ruột, bỏ cật, chỉ giữ lại 1 phần rất mỏng và bóng.
Hai đầu ống tre được nắp mặt sáo. Mặt sáo được nắp vào 2 đầu ống tre bằng


19

keo dán gỗ. Thay vì nhựa sung hay nhựa mít (xem ảnh số 13: ống sáo và ảnh
số 11: Bộ sáo diều). một bộ sáo thường có từ 2 đến 3 sáo, có khi lên đến 5
sáo. Khơng nhất thiết 1 bộ sáo phải là các sáo cùng loại. Có thể xen lẫn các
sáo khác loại như: 1 sáo tiếng ốc đi cùng với 1 sáo tiếng chuông, tạo ra âm
luật như tiếng “mẹ gọi con thưa”... Bộ sáo lớn gồm 5 sáo, khi thả nghe như 7
nốt nhạc: đồ, rê, mi, pha, son, la, si...Sáo thường được sơn màu đỏ hoặc vàng
hay để mộc tuỳ vào sở thích của mỗi người.
Cuối cùng là việc buộc lèo và chuẩn bị dây thả diều. Điểm khác biệt lý
thú nhất giữa cách sử dụng dây diều xưa và nay là ở chỗ: ngày nay chúng ta
đã có sẵn các loại dây như dây dù, dây cước nên thật ít ai nghĩ rằng xưa kia
cha ông ta thả diều bằng dây được làm từ tre!
Những diều có kích thước lớn từ 2,2 m trở lên địi hỏi phải có cuộn dây
dài hơn 700 m. Điều này đơn giản nếu đó là dây dù hay dây cước, nhưng khi
chưa xuất hiện các loại nguyên vật liệu này cha ông ta đã phải làm những
cuộn dây tre thật vô cùng vất vả và mất thời gian.
Trước hết, dây diều phải được làm từ tre đủ tuổi (tre bánh tẻ). Thân tre
được chẻ ra vót thành sợi, đều tăm tắp từ gốc tới ngọn, đem cuộn lại cho vào
nồi luộc với nước muối và hạt thầu dầu giã nhuyễn, suốt một đêm (7- 8 tiếng).

Sau đó vớt ra để ráo nước, nối các mối theo kiểu con ong rồi lấy chỉ quấn lại,
hoặc đun sơn ta quyết lên. Cuộn dây được vuốt một lớp sáp bóng rồi cuộn lại
một cái lồng (Cũng đan bằng tre, có gờ nổi). Dây diều tre bền đẹp, dẻo, dai có
thể sử dụng từ 5 đến 7 năm. Có thể nói, từ quá trình làm diều đến quá trình
thả diều và thu dây đều đòi hỏi sự tỉ mỉ và say mê đặc biệt.
Thế mới biết để làm hoàn chỉnh một chiếc diều theo kiểu truyền thống
không hề đơn giản - và để đạt tới mức chuẩn là điều vô cùng gian nan, đáng
kính nể.


20

2.2. Hội thi thả diÒu
2.2.1. Một số nghi thức, nghi lễ tiến hành trong hội thi
Rằm tháng 3 (Âm lịch), làng Bá Giang bước vào hội, nhưng khơng
khí nhộn nhịp đã bắt đầu từ đầu tháng. Người ta đăng kí dự thi, bầu ban giám
khảo, chọn người đánh trống cầu phong, chuẩn bị đồ tế tự... Tất cả được tiến
hành trong khơng khí trang nghiêm và thành kính. Nhưng ai nấy đều thấy
lịng mình rộn ràng và háo hức mong đợi.
Lễ hội thả diều bắt đầu từ chiều 14 tháng 3 Âm lịch, dân làng làm lễ
cáo yết thần linh tại đình Bá Giang. Đồng thời mở cửa miếu Châu Trần (miếu
thờ thần diều) lấy nước “tắm cho thần” và tuyên sắc. Đây cũng là nơi thực
hiện các thủ tục tâm linh của hội diều như: lễ trình diều, lễ khám diều, trao
giải thưởng và lễ tạ ơn đối với những chủ diều được giải. Đêm 14, tiếp tục tế
lễ và dâng hương.
Sáng 15, cả làng nghỉ ngơi ăn bánh tết buổi sáng và tham gia một số
trò chơi dân gian như: đấu vật, chọi gà... Đồng thời, các chủ diều ra đền làm
lễ trình diều, cáo yết thần linh cầu xin sự che chở và phù hộ cho diều lên cao
thuận gió. Khoảng hơn 13 h, mọi người đã có mặt đơng đủ tại miếu Châu
Trần. 13 h 30, người được dân làng tin cậy bầu ra sẽ đánh 3 hồi 9 tiếng trống

cầu phong. Diều được các chủ diều mang ra bãi đất rộng và bắt đầu thả. Hàng
năm thường có từ 40 đến 100 chiếc diều dự thi. Mỗi diều đều đảm bảo sải
cánh dài trên 2,2m và đèo 3 sáo. “Người thi đa số ở trong làng, có thêm người
ở Hạ Lỗ, Tân Hội, Liên Trung...cũng mang diều đến dự. Buổi chiều quê, khi
gió nồm nam lộng thổi, cánh đồng lúa đang thì con gái xao động rì rào. Trước
cửa miếu Bá Giang, mấy chục cánh diều nối tiếp bay lên, bầu trời xanh vi vu
tiếng sáo... Đứng trên bờ đê, trong làng xóm, ngồi đồng ruộng, ở đâu cũng
được xem diều bay. Thỉnh thoảng lại có diều đứt dây bay mất ra phía sơng.
Có diều chao đảo rồi rơi xuống nước, lại có những diều đan chéo dây quấn



×