Tải bản đầy đủ (.pdf) (19 trang)

Hành vi thờ cúng tổ tiên trong gia đình của sinh viên học viện báo chí

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (322.45 KB, 19 trang )

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn TS. Nguyễn Thị Tuyết Minh đã giúp đỡ và
hướng dẫn em tận tình trong suốt thời gian học mơn xã hội học Tôn giáo, tạo
cho em những tiền đề, những kiến thức vơ cùng bổ ích để tiếp cận vấn đề,
phân tích giải quyết vấn đề.

Do kinh nghiệm và kiến thức còn hạn chế, trong q trình hồn thành
bài tiểu luận khơng tránh khỏi thiếu sót. Em rất mong nhận được ý kiến đóng
góp từ TS. Nguyễn Thị Tuyết Minh và thầy/ cơ trong khoa để bài tiểu luận
của em được hồn thiện hơn.

Em xin chân thành cảm ơn!

2

MỤC LỤC

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 4

2. Tổng quan nghiên cứu 6

3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 12

4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 12

5. Câu hỏi nghiên cứu 13

6. Giải thuyết nghiên cứu 13

7. Khung lý thuyết 14



8. Phương pháp nghiên cứu 14

8.1. Phương pháp luận nghiên cứu: 14

8.2. Phương pháp thu thập thông tin 14

8.3. Phương pháp chọn mẫu: 16

9. Ý nghĩa luận và thực tiễn của đề tài 16

10. Dự kiến kết cấu đề tài, thời gian biểu 17

TÀI LIỆU THAM KHẢO 19

3

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên được hình thành từ xa xưa và tồn tại ở

nhiều dân tộc trên thế giới, đặc biệt là các dân tộc châu Á. Ở Việt Nam, đây là
một phong tục đẹp, là chuẩn mực đạo đức và nguyên tắc làm người; là một
phần quan trọng trong đời sống tâm linh của người Việt Nam; đồng thờ mang
tính chất giáo dục truyền thống cho các thế hệ.

Xuất phát từ nhận thức “vạn vật hữu linh” – mọi vật đều có linh hồn,
và bắt đầu từ giới tự nhiên xung quanh mình, và linh hồn trở thành đầu mối
của tín ngưỡng. Từ quan niệm đó hình thành nên niềm tin về sự tồn tại của
linh hồn và mối liên hệ giữa người đã chết và người sống (cùng chung huyết
thống). Người đã chết bằng linh hồn trở về chứng kiến, theo dõi hành vi của

con cháu, quở trách hoặc phù hộ cuộc sống của họ [13].

Bên cạnh đó, tín ngưỡng tơn giáo cũng là ý thức tôn trọng cội nguồn
và đức tính hiếu thảo của người Việt. Con cháu bày tỏ lòng biết ơn đối với
các bậc sinh thành, lúc họ đã chết cũng như khi còn sống đồng thời cũng thể
hiện trách nhiệm liên tục và lâu dài của con cháu đối với nhu cầu của tổ tiên.
Trách nhiệm được biểu hiện không chỉ trong các hành vi sống (giữ gìn danh
dự và tiếp tục truyền thống của gia đình, dòng họ, đất nước) mà còn ở trong
các hành vi cúng tế cụ thể.

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên khơng chỉ chịu ảnh hưởng từ chế độ phụ
quyền mà còn chịu ảnh hưởng từ ba dịng tơn giáo chính ở Việt Nam (Nho
giáo, Đạo giáo, Phật giáo). Và dù theo tôn giáo nào thì đây cũng là một hoạt
động khơng thể thiếu trong đời sống của người dân, trong mỗi gia đình.
phong tục này được truyền từ đời cha ơng cho đến thế hệ thanh niên hiện nay
trong đó có các tầng lớp sinh viên cũng đã đang đóng góp giữ gìn phong tục
này.

Một bộ phận thanh niên hiện nay có xu hướng coi nhẹ các lễ nghi
trong việc thờ cúng tổ tiên. Cũng có nhiều bạn trẻ ngày nay coi thờ cúng tổ
tiên là một gánh nặng; vì trách nhiệm, hoặc vì ép buộc. Họ học các lễ nghi

4

trong thờ cúng tổ tiên vì cha mẹ thúc ép, hoặc vì khơng đi sợ mắc tội chứ
khơng vì niềm tin của họ. Họ có tham gia thờ cúng tổ tiên nhưng khơng hề ý
thức mình đang có mặt ở đó để làm gì… Số lượng thầy cúng hiện nay giảm
dần, họ không biết truyền nghề cho ai trong khi con cái trong gia đình khơng
có hứng thú học để trở thành thầy cúng. Đặc biệt một bộ phận thanh niên hiện
nay chưa nhìn nhận đúng giá trị dân tộc mình, trong đó có tục thờ cúng tổ

tiên.

Thờ cúng tổ tiên là một trong những nét đặc sắc văn hóa của Việt
Nam. Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc đã được Đảng Cộng sản
Việt Nam coi là một trong những nhiệm vụ của việc đổi mới ở Việt Nam, là
giá trị cốt lõi nhất của nền văn hóa, thể hiện tâm hồn, cốt cách, lý trí, sức
mạnh của dân tộc, tạo nên chất keo kết nối các cộng đồng người gắn bó, đồn
kết với nhau để cùng tồn tại và phát triển. Chính vì vậy, việc phát huy vai trị
của thanh niên trong giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng trong giai đoạn hiện nay. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, việc giữ gìn
bản sắc văn hóa dân tộc lại càng trở thành yêu cầu cấp thiết, đặc biệt là việc
giữ gìn những giá trị tinh hoa cốt lõi của dân tộc đã được hun đúc qua hàn
ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Trong thời gian qua, đa số thanh
niên đã phát huy được vai trò của mình trong giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc,
tích cực, chủ động làm tốt cơng tác tun truyền, vận động mọi quan điểm,
đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước về xây dựng nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nhưng bên cạnh đó một bộ phận
thanh niên chưa nhận thức được giá trị văn hóa dân tộc, coi nhẹ các lễ nghi.

Học viện Báo chí và Tuyên truyền là trường đại học duy nhất trực
thuộc Đảng, ngôi trường bao gồm nhiều thanh niên ưu tú, có nền tảng tư
tưởng vững chắc và có trang bị cho mình nhiều kiến thức chun mơn, đặc
biệt có sự nhạy bén trong cơng tác truyền thơng. Từ những lý do xuất phát từ
những vấn đề trên, tôi đã quyết định lựa chọn đề tài “Hành vi thờ cúng tổ
tiên trong gia đình của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên Truyền” làm

5

đề tài nghiên cứu. Qua đó sẽ đưa ra một bức tranh chung về thực trạng hành
vi thờ cúng tổ tiên, tìm hiểu đặc điểm và các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi

đó.

2. Tổng quan nghiên cứu
2.1. Nghiên cứu chung về tôn giáo tại Việt Nam

Tạp chí Nghiên cứu Tơn giáo: "Những chuyển biến trên phương diện
niềm tin của đời sống tôn giáo ở Việt Nam từ 1990 đến nay", đề cập đến sự
chuyển đổi đời sống tôn giáo trên phương diện niềm tin qua các giai đoạn,
mối liên hệ của người dân Việt Nam với các đối tượng linh thiêng ngày một
gia tăng so với giai đoạn trước 1990. Cảm thức hay tâm tình tơn giáo, tín
ngưỡng của người dân Việt Nam ngày càng biểu lộ sinh động trong xã hội
qua việc xây dựng, sửa chữa tu bổ các cơ sở thờ tự, như: nhà thờ, thánh
đường đến các lăng, đền, miếu, phủ, nghĩa trang… Các xu hướng chuyển đổi
niềm tin tôn giáo, xu hướng vẫn giữ niềm tin nhưng không đồng nhất với sinh
hoạt đạo, xu hướng đặt niềm tin tôn giáo trong những mục tiêu thế tục, xu
hướng khơng tuyệt đối hóa với một niềm tin cũng những thay đổi ngày càng
nhiều trong xã hội và bị tác động bởi yếu tố văn hóa. Qua bài viết cho thấy
niềm tin tôn giáo là điều căn cốt mà các tổ chức và truyền thống tơn giáo
muốn duy trì trong các cộng đồng tín đồ của mình. Tác giả nêu rõ niềm tin
tôn giáo trước kia và hiện nay cùng với xu hướng phát triển một cách rõ ràng,
mạch lạc [10].

Nghiên cứu “Báo hiếu trong hành vi tôn giáo của cộng đồng người
Khmer Nam bộ”, nghiên cứu tôn giáo số 6 -2013 tác giả Huỳnh Ngọc Thu.
Nghiên cứu về hành vi tôn giáo của người Khmer Nam Bộ thông qua hành vi
báo hiếu, được biểu hiện qua hai hình thức: báo hiếu với cha mẹ còn sống và
báo hiếu với cha mẹ đã quá vãng. Hành vi này chịu tác động sâu sắc bởi yếu
tố tôn giáo, nghiên cứu đã chỉ ra rằng theo ước tính có hơn 95% người Khmer

6


sinh sống tại Nam bộ là tín đồ Phật giáo, do vậy yếu tố Phật giáo đã chi phối
rất lớn đến đời sống sinh hoạt, văn hoá của cộng đồng này. Ngay cả trong tư
tưởng, lối tư duy, cách hành xử văn hoá cũng đều dựa trên tư tưởng, giáo lý
của Phật giáo Theravada. Hành vi báo hiếu của người Khmer Nam Bộ được
chi phối rất lớn bởi yếu tố Phật giáo. Nghiên cứu đã tập trung phân tích quan
niệm của cộng đồng người Khmer về hành vi báo hiếu để từ đó tìm ra ý nghĩa
báo hiếu trong sinh hoạt tôn giáo của cộng đồng và bước đầu đưa ra một số
nhận định về giá trị của hành vi đó [5].

Nghiên cứu “Các xu hướng biến đổi của tôn giáo hiện nay”của tác
giả Bùi Thị Thủy - Trường đại học sư phạm Hà Nội, năm 2017. Nghiên cứu
đề cập đến xu hướng biến đổi tơn giáo hiện nay, đó là 3 xu hướng đa dạng
hóa tơn giáo, xu hướng tồn cầu hóa tơn giáo và xu hướng cá nhân hóa tơn
giáo. Việt Nam được xem là điển hình cho xu hướng đa dạng hóa tơn giáo
qua sự đa dạng tơn giáo bao gồm các tôn giáo bản địa và những tôn giáo
ngoại nhập ( trừ Do Thái giáo). Xu hướng tồn cầu hóa tơn giáo được đề cập
với vai trị quan trọng trong việc sản sinh ra những ranh giới mới về văn hóa,
tộc người, ngơn ngữ và tơn giáo, ngồi ra cịn được hiểu là sự thay đổi về vai
trị chủ thể nhà nước trong việc “kiểm sốt” tơn giáo, về việc “xuất khẩu” các
tôn giáo. Xu hướng cá nhân hóa tơn giáo đang ngày trở nên phổ biến thơng
qua sự xuất hiện của xu hướng cá thể hóa niềm tin tôn giáo và được xem là
một tất yếu của sự phát triển xã hội phản ánh sự thích ứng và nhu cầu phát
triển của chính các tơn giáo trong xã hội hiện nay [1].

Luận án tiến sĩ triết học “Tác động của một số xu hướng biến đổi tôn
giáo đến đời sống tôn giáo ở VN hiện nay” (2019), tác giả Bùi Thị Thủy cho
thấy xu hướng biến đổi tôn giáo hiện nay với 5 xu hướng nổi bật và tác động
mạnh mẽ đến đời sống tôn giáo ở Việt Nam, trong giai đoạn từ khi đổi mới
đến nay, bao gồm các xu hướng: xu hướng đa dạng hóa và cá nhân hóa niềm

tin tơn giáo; xu hướng vừa cạnh tranh vừa đối thoại giữa các tôn giáo; xu

7

hướng tồn cầu hóa và dân tộc hóa tơn giáo; xu hướng vừa thế tục vừa thiêng
hóa của các tơn giáo và xu hướng hiện đại hóa tơn giáo. Đánh giá tác động
của chúng đối với đời sống tôn giáo ở Việt Nam hiện nay đối với các tôn giáo
lớn như: Phật giáo, Công giáo và Tin Lành đã cho thấy trong xu hướng biến
đổi hiện nay đã làm tăng vai trị tác động của các tơn giáo lên xã hội nữa,
hướng vào các hoạt động từ thiện, giáo dục hướng nghiệp tác động đến hành
vi tôn giáo. Những xu hướng này bị tác động bởi các yếu tố kinh tế, chính trị,
văn hóa – xã hội và đặc biệt là chính sách cởi mở, bình đẳng giữa các tơn
giáo và tơn trọng tự do tín ngưỡng tơn giáo ở Việt Nam [2].

Luận văn Thạc sĩ Tơn giáo học “Vai trị của tín ngưỡng, tơn giáo đối
với đời sống cộng đồng phụ nữ ở huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang hiện nay”,
(2020) tác giả Lê Thanh Nhớ. Luận văn đề cập đến vai trị của tơn giáo thơng
qua các lĩnh vực: kinh tế, đời sống xã hội, văn hóa. Ở lĩnh vực kinh tế, trong
các cộng đồng phụ nữ huyện An Biên việc tin theo và thực hành các tín
ngưỡng, tơn giáo truyền thống, đồng thời sớm tiếp thu những giá trị tinh hoa
của các tôn giáo lớn như: Công giáo, Tin lành, Phật giáo và Phật giáo Nam
tông Khmer đã giúp cho các tổ chức tơn giáo ln có ý thức cùng nhau đoàn
kết, giúp đỡ lẫn nhau trên con đường phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo.
Trong đời sống xã hội, tôn giáo là nhân tố giúp cho cộng đồng nói chung,
cộng đồng phụ nữ nói riêng có được sự đoàn kết, dân chủ, tiến bộ và tạo động
lực tuyên truyền, khuyến khích, thúc đẩy cộng đồng đấu tranh cho một cuộc
sống bình n, hạnh phúc.các tín đồ tơn giáo có tinh thần cảnh giác, tham gia
đấu tranh với những âm mưu hoạt động của địch lợi dụng các vấn đề dân tộc,
dân chủ, nhân quyền, lợi dụng khiếu kiện để chống phá cách mạng nhằm chia
rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng một trật tự tinh thần trong xã hội.

Cịn trong văn hóa việc phụ nữ chính là thành phần tích cực và chính yếu
tham gia vào các hoạt động lễ hội, phong tục tín ngưỡng tơn giáo tại địa
phương đã góp phần tích cực trực tiếp giữ gìn, bảo lưu và phát triển bản sắc

8

văn hóa, góp phần tạo nên sự đa dạng và phong phú trong nền văn hóa của
dân tộc, hình thành những giá trị đạo đức cho quần chúng nhân dân trong
những giai đoạn lịch sử [6].

Tóm lại, qua các tài liệu nêu trên, đều đề cập đến một vai trò quan
trọng của tơn giáo- đó là củng cố các giá trị đạo đức, luân lý ở mỗi cá nhân,
gia đình và xã hội, đồng thời khắc phục những hạn chế của sự suy thoái đạo
đức do tác động tiêu cực của xã hội. Ngồi ra cịn có một số vai trị nổi bật
khác như xây dựng niềm tin, tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho mỗi cá nhân;
mang lại sự thoải mái và bình yên trong tâm hồn, giúp kết nối cộng đồng, xã
hội; mang lại nhiều giá trị tốt đẹp cho xã hội thơng qua các hoạt động thiện
nguyện; góp phần xây dựng lối sống, đạo đức tốt đẹp, giúp kết nối cộng
đồng, xã hội; góp phần xây dựng và phát triển văn hóa nghệ thuật của từng
khu vực, lãnh thổ.

2.2. Nghiên cứu về tín ngưỡng tại Việt Nam

Một số nghiên cứu về quyền tự do tín ngưỡng tơn giáo như: Phạm
Phương Hoa (2013) “Đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng và tự do tôn giáo
trong pháp luật Việt Nam hiện nay”, Đào Thị Ngân (2-014) “Quyền tự do tín
ngưỡng tơn giáo trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam”, Lê Quang
Hưng (2014) với “Pháp luật Việt Nam về quyền tự do tín ngưỡng tơn giáo”,
Đặng Văn Tâm (2017) “Những đảm bảo pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng
tôn giáo tại Việt Nam”,...


Những nghiên cứu về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong gia đình:

Nghiên cứu “Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong đời sống cư dân
Mường Động - Kim Bơi - Hịa Bình” (2015) của tác giả Nguyễn Thị Hương
đã đi sâu vào tìm hiểu phong tục thờ cúng tổ tiên của người Mường ở Mường
Động nói riêng và người Mường nói chung từ đó chỉ ra các nét đặc trưng

9

truyền thống trong phong tục thờ cúng tổ tiên của người Mường ở Mường
Động. Cư dân người Mường có tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên khá giống với
người Kinh, tuy nhiên họ có quan niệm khác về Ma. Bên cạnh đó cư dân
Mường có nhiều hình thức trong tín tín ngưỡng thờ cúng khác như: tín
ngưỡng thờ quả (bầu, bí); tín ngưỡng thờ cây, các loại cây được tơn làm vật
thiêng và thờ là Si, Chu đồng, Đa, Gạo,...; tín ngưỡng thờ động vật (thú rừng:
hổ, báo hươu, nai,…); tín ngưỡng thờ giếng nước. Tín ngưỡng thờ cúng tổ
tiên của người Mường Động gồm có quan điểm về thờ cúng tổ tiên, hình thức
thờ cúng, bàn thờ tổ tiên, khơng gian thờ cúng, thời gian thời cúng, đối tượng
thờ cúng, nghi thức thờ cúng, đồ lễ và chăm sóc mộ phần tổ tiên. Đồng thời
tác giả cũng chỉ ra một số nét đặc sắc trong tục thờ cúng tổ tiên của người
Mường Động như: khơng có nhà thờ họ, ngày giỗ không phải ngày chết mà là
ngày đưa người chết ra khỏi nhà, và thầy Mo là người có vị trí quan trọng kết
nối người sống và người chết [11].

Nghiên cứu “Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Nùng ở Thái
Nguyên hiện nay” (2014) của tác giả Ngô Thị Hương đã chỉ ra bốn vai trị
chính của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong đời sống tinh thần của người
Nùng ở Thái Nguyên, đó là: chỗ dựa tinh thần, giúp bù đắp những bất trắc,
rủi ro trong cuộc sống; giáo dục đạo đức, nhân cách, điều chỉnh hành vi cá

nhân của con người; Góp phần bảo lưu và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc;
củng cố gắn kết cộng đồng, xây dựng khối đoàn kết toàn dân. Nghiên cứu
cũng chỉ ra những biến đổi trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Nùng
ở Thái Nguyên và đưa ra một số phương pháp nhằm phát huy mặt tích cực ,
hạn chế tiêu cực trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Nùng ở Thái
Nguyên [9].

“Tín ngưỡng thờ cúng của người Tày ở Lục Yên- Yên Bái” (2017)
của tác giả Lèng Minh Tuấn đã đề cập đến xu hướng vận động của tín

10

ngưỡng thờ cúng và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Tày ở Lục Yên-
Yên Bái. Đó là sự biến đổi trong tín ngưỡng thờ cúng: xu hướng thêm nhiều
thủ tục rườm rà, phơ trương, lãng phí gắn liền với mê tín dị đoan; những giá
trị về âm nhạc thơ ca trong các nghi lễ thờ cúng dần mất đi và xu hướng phục
dựng các nghi lễ có giá trị về nghệ thuật và nhân văn; xu hướng biến đổi
trong các nghi lễ của gia đình như các loại bánh mới, đồ làm sẵn xuất hiện
trong đồ lễ, xu hướng tăng đồ mã, xu hướng thay đổi nội dung khấn, giản
lược thủ tục trong các nghi lễ,... Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra một số bộ
phận thanh niên Tày chưa nhìn nhận đúng giá trị dân tộc mình. Ngồi ra
nhiều thầy Tào, Then, Pụt dần ít đi vì các thầy cũng khơng biết truyền nghề
cho ai khi trong gia đình họ con cái hứng thú với việc học để trở thành thầy
cúng. Qua nghiên cứu của mình, tác giả đưa ra một số giải pháp bảo tồn và
phát huy giá trị trong việc thờ cúng của người Tày ở Lục Yên hiện nay [7].

Những nghiên cứu về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên khác như: “Tín
ngưỡng thờ cúng âm hồn của cư dân Nam Bộ” của tác giả Phạm Tân Thiên
(2014); “Tín ngưỡng thờ cúng cá Ơng ở lân Đông Hải xã An Hải huyện đảo
Lý Sơn” tác giả Nguyễn Duy Đồi (2013); “Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc

Nguyễn Trung Trực ở tỉnh Kiên Giang hiện nay” Huỳnh Quốc Huy (2021);
“Đặc trưng trong tín ngưỡng thờ Nguyên Phi Ỷ Lan ở Hà Nội” tác giả Lê Thị
Hồng Liên (2021)

Tóm lại, qua các tài liệu nêu trên cho thấy tục thờ cúng tổ tiên là một
phần vô cùng quan trọng đối với đời sống mỗi con người. Ở mỗi vùng, mỗi
dân tộc khác nhau đều có những nét đặc trưng khác nhau trong tục thờ cúng
tổ tiên. Nhìn chung, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của mỗi người được thể hiện
qua quan điểm về thờ cúng tổ tiên, hình thức thờ cúng, bàn thờ tổ tiên, không
gian thờ cúng, thời gian thời cúng, đối tượng thờ cúng, nghi thức thờ cúng, đồ
lễ và chăm sóc mộ phần tổ tiên,... Đề tìm hiểu rõ hơn về đặc điểm hành vi thờ

11

cúng tổ tiên của mỗi người đặc biệt là nhóm sinh viên - nhóm đối tượng sở
hữu tri thức cao đồng thời là tương lai của đất nước, tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Hành vi thờ cúng tổ tiên trong gia đình của sinh viên Học viện Báo
chí và Tuyên Truyền”.

3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Nhiệm vụ nghiên cứu:

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn để chỉ ra những đặc điểm
và hành vi của nhóm sinh viên trong tục thờ cúng tổ tiên, đồng thời tìm ra
những yếu tố tác động đến hành vi thờ cúng tổ tiên của sinh viên Học viện
Báo chí và Tuyên truyền.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mô tả những đặc điểm của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
- Tìm hiểu hành vi thờ cúng tổ tiên của sinh viên trong Học viện Báo chí và
Tun truyền.

- Tìm hiểu và phân tích mục đích, động cơ thờ cúng tổ tiên của sinh viên Học
viện Báo chí và Tuyên truyền.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi thờ cúng tổ tiên của sinh viên
Học viện Báo chí và Tuyên truyền.

4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu

Hành vi thờ cúng tổ tiên của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên
truyền.
4.2. Khách thể nghiên cứu

Sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền
4.3. Phạm vi nghiên cứu

12

- Khơng gian nghiên cứu: Học viện Báo chí và Tun truyền
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2022
5. Câu hỏi nghiên cứu
- Mục đích, động cơ thờ cúng tổ tiên của sinh viên hiện nay là gì?
- Đặc điểm hành vi thờ cúng tổ tiên của nhóm sinh viên hiện nay ?
- Những yếu tố tác động đến hành vi thờ cúng tổ tiên của sinh viên?
6. Giải thuyết nghiên cứu
- Sinh viên thờ cúng tổ tiên ít quan tâm đến bài cúng, lời cúng
- Sinh viên nữ thực hiện hành vi hành vi thờ cúng tổ tiên nhiều hơn sinh
viên nam
- Phần lớn, hành vi hành vi thờ cúng tổ tiên của sinh viên chịu ảnh hưởng
từ những quan niệm truyền thống.


13

7. Khung lý thuyết

8. Phương pháp nghiên cứu
8.1. Phương pháp luận nghiên cứu:

Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là kim chỉ
nam trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài, kết hợp với một số lý thuyết xã
hội học như: lý thuyết hành động xã hội, lý thuyết hành vi,...
8.2. Phương pháp thu thập thông tin

Nghiên cứu có sự kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và
phương pháp nghiên cứu định lượng. Cụ thể:
8.2.1. Phương pháp nghiên cứu định tính:

● Phương pháp phân tích tài liệu:

14

Phương pháp này được sử dụng nhằm tìm hiểu khái quát những vấn
đề liên quan đến “Hành vi thờ cúng tổ tiên của sinh viên Học viện Báo chí và
Tuyên truyền” đồng thời phát hiện ra những khía cạnh mới chưa được nghiên
cứu đề cập hay chưa được phân tích sâu ở những nghiên cứu trước đây về vấn
đề này. Quá trình phân tích và tổng hợp tài liệu thơng qua các cơng trình
nghiên cứu sách, báo, tạp chí, các báo cáo, bài viết được cơng bố và có liên
quan đến hành vi thờ cúng tổ tiên. Việc phân tích những tài liệu có sẵn này
nhằm mục đích làm sáng tỏ những kết quả mà báo cáo đề cập. Đồng thời cũng
là tiền đề, cơ sở nghiên cứu cho báo cáo, giúp xác định hướng đi mới cho
riêng mình.


● Phương pháp phỏng vấn sâu:
Đề tài kết hợp phương pháp phỏng vấn sâu với nghiên cứu định lượng
nhằm thu được kết quả chính xác nhất
Phỏng vấn sâu được tiến hành với mục đích phát hiện vấn đề mới,
những khía cạnh xung quanh vấn đề bạo lực gia đình đối với phụ nữ . Kết quả
quá trình phỏng vấn sâu giai đoạn 1 được sử dụng cho mục đích viết bảng hỏi;
giai đoạn 2 nhằm bổ sung cho kết quả cho nghiên cứu định lượng.
- Giai đoạn 1: Số lượng phỏng vấn sâu: 10 bạn sinh viên
Cách thức chọn mẫu: Chọn mẫu phỏng vấn sâu được lựa chọn một
cách ngẫu nhiên, là các bạn sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền đang
học tại trường bao gồm sinh viên hai khối ngành là nghiệp vụ hay lý luận, cụ
thể: 3 sinh viên K41, 2 sinh viên K40, 2 sinh viên K39, 3 sinh viên K38.
- Giai đoạn 2: Số lượng phỏng vấn sâu 28 sinh viên
Cách thức chọn mẫu: Chọn mẫu phỏng vấn sâu được lựa chọn một
cách ngẫu nhiên, là các bạn sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền đang
học tại trường bao gồm sinh viên hai khối ngành là nghiệp vụ hay lý luận, cụ
thể: 7 sinh viên K41, 7 sinh viên K40, 7 sinh viên K39, 7 sinh viên K38.
8.2.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng (điều tra bằng bảng hỏi Anket):

15

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Anket được thực hiện nhằm đo
lường mối quan hệ giữa các biến số thông qua việc xử lý và phân tích qua
phần mềm SPSS 20.
8.3. Phương pháp chọn mẫu:

Đề tài được tiến hành chọn mẫu theo phương pháp chọn mẫu phân
cụm/ theo chùm, đảm bảo khách thể nghiên cứu được lựa chọn một cách
khách quan và có cơ hội lựa chọn như nhau.


● Bước 1: Lập danh sách các lớp chia theo 2 chùm là lớp thuộc khối
lý luận và lớp thuộc khối nghiệp vụ từ năm nhất đến năm tư năm học 2020 –
2021 (tương ứng K41 - K38)

● Bước 2: Từ danh sách các lớp mỗi chùm, chọn ngẫu nhiên hệ thống
3 lớp theo bước nhảy k.

Có 66 lớp khối lý luận: chọn ngẫu nhiên hệ thống 5 lớp theo bước
nhảy k=22. Cứ 22 lớp, chọn lấy một lớp vào mẫu. Chọn lớp đầu tiên trong
khoảng từ 1 – 66 theo danh sách quay vòng.

Có 81 lớp khối nghiệp vụ: chọn ngẫu nhiên hệ thống 5 lớp theo bước
nhảy k=27. Cứ 27 lớp, chọn lấy một lớp vào mẫu. Chọn lớp đầu tiên trong
khoảng từ 1- 81 theo danh sách quay vòng.

● Bước 3: Chọn ngẫu nhiên đơn giản 30 sinh viên mỗi lớp. Tổng số
bảng hỏi phát ra là 300 bảng hỏi.

9. Ý nghĩa luận và thực tiễn của đề tài
9.1. Ý nghĩa luận:

Nghiên cứu đóng góp nhất định về mặt lý luận cũng như phương pháp
nghiên cứu xã hội học tơn giáo ở Việt Nam nói chung và nghiên cứu vấn đề
thờ cúng tổ tiên nói riêng. Trên cơ sở vận dụng những lý thuyết xã hội học
tôn giáo kinh điển kết hợp với các lý thuyết và phương pháp nghiên cứu xã
hội học hiện đại. Nghiên cứu sẽ góp phần vào việc làm sáng tỏ cách thức vận

16


dụng lý thuyết xã hội học phương Tây trong nghiên cứu tơn giáo Việt Nam.
Đồng thời góp phần nhỏ vào sự phát triển của môn xã hội học tôn giáo ở Việt
Nam.
9.2 Ý nghĩa thực tiễn:

Nghiên cứu hành vi thờ cúng tổ tiên của sinh viên Học viện Báo chí
và Tuyên truyền mang ý nghĩa thực tiễn hết sức sâu sắc. Đề tài được thực
hiện với mong muốn đem lại một bức tranh cụ thể hơn về hoạt động thờ cúng
tổ tiên của sinh viên đang diễn ra trong Học viện Báo chí và Tun Truyền.
Trên cơ sở đó nghiên cứu chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng tới hành vi thờ cúng tổ
tiên của giới trẻ hiện nay. Ngoài ra, nghiên cứu này cũng là nguồn tư liệu
tham khảo cho sinh viên của ngành xã hội học.

10. Dự kiến kết cấu đề tài, thời gian biểu
10.1. Kết cấu đề tài

Chương 1: Đặc điểm hành vi thờ cúng tổ tiên trong gia đình của sinh
viên Học viện Báo chí và Tun Truyền

- Quan điểm về thờ cúng tổ tiên,
- Hình thức thờ cúng, bàn thờ tổ tiên,
- Không gian thờ cúng,
- Thời gian thờ cúng,
- Đối tượng thờ cúng,
- Nghi thức thờ cúng,
- Đồ lễ
- Chăm sóc mộ phần tổ tiên.
Chương 2: Một số hướng giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực, hạn
chế tiêu cực trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của sinh viên Học viện Báo chí
và Tuyên truyền hiện nay.

10.2. Thời gian nghiên cứu

17

Thời gian nghiên cứu dự kiến: Từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2022, cụ
thể:

STT Thời gian Công việc

1 01/01- 01/02/2022 Xây dựng đề cương nghiên cứu

2 01/02-15/02/2022 Phỏng vấn sâu giai đoạn 1

3 15/02-15/03/2022 Xây dựng bảng hỏi Anket và tiến hành thu
thập thông tin

4 15/03-01/04/2022 Xử lý số liệu định lượng

5 01/04-01/05/2022 Phỏng vấn sâu giai đoạn 2 bổ sung cho kết
quả định lượng

18

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bùi Thị Thủy (2017),“Các xu hướng biến đổi của tôn giáo hiện nay”,
Trường đại học sư phạm Hà Nội.
2. Bùi Thị Thủy (2019), “Tác động của một số xu hướng biến đổi tôn giáo
đến đời sống tôn giáo ở VN hiện nay”.
3. Đào Thị Ngân (2-014) “Quyền tự do tín ngưỡng tơn giáo trong pháp luật

quốc tế và pháp luật Việt Nam”,
4. Đặng Văn Tâm (2017) “Những đảm bảo pháp lý về quyền tự do tín
ngưỡng tơn giáo tại Việt Nam”
5. Huỳnh Ngọc Thu “Báo hiếu trong hành vi tôn giáo của cộng đồng người
Khmer Nam bộ”, nghiên cứu tôn giáo số 6 -2013.
6. Lê Thanh Nhớ (2020), “Vai trị của tín ngưỡng, tôn giáo đối với đời sống
cộng đồng phụ nữ ở huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang hiện nay”.
7. Lèng Minh Tuấn (2017), “Tín ngưỡng thờ cúng của người Tày ở Lục Yên-
Yên Bái”, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.
8. Lê Quang Hưng (2014) với “Pháp luật Việt Nam về quyền tự do tín
ngưỡng tơn giáo”, Đại học Quốc gia Hà Nội.
9. Ngơ Thị Hương (2014), “Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Nùng ở
Thái Nguyên hiện nay”, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.
10. Ngô Quốc Đông (2021), "Những chuyển biến trên phương diện niềm tin
của đời sống tôn giáo ở Việt Nam từ 1990 đến nay", Tạp chí Nghiên cứu Tơn
giáo.
11. Nguyễn Thị Hương (2015), “Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong đời sống
cư dân Mường Động - Kim Bơi - Hịa Bình”, Đại học Quốc gia Hà Nội.
12. Phạm Phương Hoa (2013) “Đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng và tự do tôn
giáo trong pháp luật Việt Nam hiện nay”.
13.

19

/>ost415447.html

20



×