Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (73.3 MB, 269 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
Chủ nhiệm đề tài: TS. ĐÀO LE THU
Thư ki đề tài: NCS.ThS. ĐÀO PHƯƠNG THANH
HÀ NỘI - 2022
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">Chủ nhiệm đề tài: TS. ĐÀO LE THU
Thư ki đề tài: NCS.ThS. ĐÀO PHƯƠNG THANH
HÀ NỘI - 2022
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3"><small>VÀ , . ._. | CHUYEN</small>
<small>TT HO VA TEN CHUC VU, DON VI CONG TAC ĐỀ</small>
<small>1. | TS. Đào Lệ Thu Giảng viên chính, Giám đốc Trung 1,2,</small>
<small>tâm nghiên cứu so sánh luật công, 3,4Viện Luật so sánh, Trường Đại học</small>
<small>Luật Hà Nội</small>
<small>2. | NCS.ThS. Luu Hải Yến Giảng viên, Khoa Pháp luật Hình sự, 5Trường Đại học Luật Hà Nội</small>
<small>3. | NCS.ThS. Dao Phương Thanh | Giảng viên, Khoa Pháp luật Hình sự, 6</small>
<small>Trường Đại học Luật Hà Nội</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4"><small>BLHS Bộ luật hình sư</small>
BLTTHS_ Bộ luật tố tụng hình sự <small>NCTN Người chưa thành niên</small>
<small>TNHS Trach nhiém hinh swVPPL Vi phạm pháp luật</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">BAO CAO TONG HOP KET QUA NGHIEN CUU DE TAI <small>PHAN THU NHAT</small>
<small>MO DAU</small>
<small>Tinh cấp thiết của dé tàiTình hình nghiên cứu đề tài</small>
<small>Mục đích, mục tiêu nghiên cứu của đề tàiCách tiếp cận và phương pháp nghiên cứuĐối tượng và phạm vi nghiên cứu</small>
<small>Đóng góp mới của đề tài</small>
<small>Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tàiCấu trúc của dé tai</small>
<small>Khái niệm “người chưa thành niên vi phạm pháp luật” và “vi phạmpháp luật của người chưa thành niên”</small>
<small>Khái niệm triết lý xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luậtCác yêu tố định hình triết ly xử lý người chưa thành niên vi phạm</small>
<small>pháp luật</small>
<small>Các triết ly xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luật điển hìnhẢnh hưởng (ý nghĩa) của triết lý xử lý người chưa thành niêm vi phạmpháp luật đối với hoạt động lập pháp</small>
<small>Chương 2</small>
<small>SỰ THE HIEN CUA CÁC TRIET LÝ XỬ LÝ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊNVI PHAM PHÁP LUẬT TRONG THỰC TIEN LẬP PHAP</small>
<small>CUA ANH, PHAP, CANADA VA TRUNG QUOC</small>
<small>Su thé hiện trong thực tiễn lập pháp của AnhSự thể hiện trong thực tiễn lập pháp của PhápSự thể hiện trong thực tiễn lập pháp của CanadaSự thê hiện trong thực tiễn lập pháp của Trung Quốc</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6"><small>SỰ THE HIEN CUA CÁC TRIÉT LÝ XỬ LÝ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊNVI PHAM PHAP LUẬT TRONG THỰC TIEN XÂY DỰNG PHÁP LUẬT</small>
<small>CỦA VIỆT NAM - SO SÁNH VÀ ĐỀ XUẤT</small>
<small>Sự thể hiện của các triết lý xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp</small>
<small>luật trong thực tiên xây dựng pháp luật của Việt Nam</small>
<small>So sánh sự thé hiện các triết lý xử lý trong thực tiễn xây dựng pháp</small>
<small>luật của Việt Nam với Anh, Pháp, Canada và Trung Quôc</small>
<small>Những đề xuất cho Việt Nam</small>
CÁC CHUYEN DE
<small>Chuyên đề 1. Khái quát về triết lý xử lý người chưa thành niên vi</small>
<small>phạm pháp luật</small>
<small>Khái niệm người chưa thành niên vi phạm pháp luật và vi phạm pháp</small>
<small>luật của người chưa thành niên</small>
<small>Khái niệm triết lý xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luậtCác yếu tơ định hình triết lý xử lý người chưa thành niên vi phạm</small>
<small>pháp luật</small>
<small>Các triết lý xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luật điển hìnhẢnh hưởng (ý nghĩa) của triết lý xử lý người chưa thành niên vi phạm</small>
<small>pháp luật đôi với hoạt động lập pháp</small>
<small>Chuyên đề 2. Các triết lý xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luậttrong thực tiên lập pháp của Anh và sự gợi mở cho Việt Nam</small>
<small>Khái quát về các triết lý xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp</small>
<small>luật của Anh</small>
<small>Sự thể hiện các triết lý trong thực tiễn lập pháp của Anh</small>
<small>Những gợi mở cho Việt Nam</small>
<small>Chuyên đề 3. Các triết lý xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp</small>
<small>luật trong thực tiên lập pháp của Pháp và sự gợi mở cho Việt Nam</small>
<small>Khái quát về các triết lý xử lý người chưa thành niên vi phạm phápluật của Pháp</small>
<small>Sự thể hiện các triết lý trong thực tiễn lập pháp của Pháp</small>
<small>Những gợi mở cho Việt Nam</small>
<small>Chuyên đề 4. Các triết lý xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp</small>
<small>luật trong thực tiên lập pháp của Canada và sự gợi mở cho Việt Nam</small>
<small>Khái quát về các triết lý xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp</small>
<small>luật của Canada</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7"><small>Những gợi mở cho Việt Nam</small>
<small>Chuyên đề 5. Các triết lý xử lý người chưa thành niên vi phạm phápluật trong thực tiễn lập pháp của Trung Quốc và sự gợi mở cho Việt NamKhái quát về triết lý xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luậtcủa Trung Quốc</small>
<small>Sự thê hiện các triết lý trong thực tiễn lập pháp của Trung Quốc</small>
<small>Những gợi mở cho Việt Nam</small>
<small>Chuyên đề 6. Các triết lí xử lí người chưa thành niên vi phạm pháp luật</small>
<small>trong thực tiên lập pháp của Việt Nam và những đê xuât</small>
<small>Những triết lí xử lí người chưa thành niên vi phạm pháp luật ở Việt NamSự thê hiện các triết lí xử lí người chưa thành niên vi phạm pháp luật</small>
<small>trong thực tiên lập pháp ở Việt Nam</small>
<small>Một số đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về xử lí người</small>
<small>chưa thành niên vi phạm pháp luật</small>
<small>Bài viết “Triết lí xử lí người chưa thành niên phạm tội trong lập phápcủa Canada - Liên hệ với Việt Nam và những đề xuất”, Tap chí Luật học,</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">MỞ DAU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khác với các quốc gia phát triển nơi mà những vấn đề về tư pháp NCTN trong đó có các triết lý xử lý NCTNVPPL đã được thảo luận từ khá lâu, Việt Nam mới chỉ quan tâm đến chủ đề pháp luật về xử ly NCTNVPPL này kế từ khi
những đạo luật liên quan được ban hành. Các chủ thể nghiên cứu và mức độ
nghiên cứu về tư pháp NCTN ở Việt Nam cho thấy hiện nay đây là một trong những van đề dần thu hút sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, của các tơ chức và của tồn xã hội. Sự hình thành và phát triển muộn, chưa rõ nét của hệ thống tư
<small>pháp NCTN ở Việt Nam cùng với mức độ quan tâm ngày càng tăng của Nhà</small>
nước và xã hội tới kết quả hoạt động của hệ thống ay chính là một lí do quan trọng cho sự cần thiết của một dé tài tiếp cận van dé mang tính nền tảng, vừa có
tính lý luận vừa có cơ sở thực tiễn.
Một vài nghiên cứu ít ỏi về tư pháp NCTN của Việt Nam trong cả hai bối cảnh lịch sử và hiện tại để nhìn ra sự phát triển của hệ thống manh nha ay da cho thay những băn khoăn rằng liệu việc lập pháp về xử ly NCTNVPPL ở Việt Nam đã thực sự đi theo những triết lý xử lý NCTN mang tính nhân văn và tiễn bộ mà nhân loại đã phát triển (Đào Lệ Thu, 2019). Những băn khoăn đó chưa được giải đáp một cách rõ ràng và đây đủ, nếu nhìn vào bức tranh tổng quát của tình hình
nghiên cứu. Điều đó cho thấy tuy mức độ quan tâm của toàn xã hội đến vấn đề
<small>này ngày càng tăng nhưng lại chưa có những nghiên cứu đáp ứng được sự quan</small>
tâm ấy, và quan trọng hơn nữa là giải đáp được những băn khoăn, trăn trở về
việc cải cách pháp luật dựa trên những triết lý xử lý NCTNVPPL ở Việt Nam và
phù hợp với các chuẩn mực quốc tế, với xu thế của các hệ thống tư pháp cho NCTN tiến bộ trên thế giới và ứng phó được với những thách thức của tình hình VPPL của NCTN ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Một nghiên cứu về nền
<small>tảng lý luận của việc xử ly NCTNVPPL trong sự phân tích, liên hệ, so sánh với</small> thực tiễn lập pháp của một số quốc gia dé đưa ra những dé xuất cho Việt Nam sẽ
góp phần giải quyết được một cách toàn diện những vấn đề đặt ra cho hệ thống tư pháp NCTN hiện nay ở Việt Nam. Đặc biệt, trong bối cảnh Tòa án nhân dân tối cao đang trong quá trình chủ trì soạn theo dự án Luật Tư pháp người chưa
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">và cả thực tiễn lập pháp, từ pháp luật quốc gia tới so sánh với pháp luật của một số nước khác, sẽ trở thành một nguồn tài liệu tham khảo hữu ích.
Cho đến thời điểm hiện nay phần lớn những nghiên cứu về tư pháp NCTN ở Việt Nam tập trung vào những vấn đề của pháp luật thực định như phân tích về các quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính của NCTN, nguyên tắc
xử lý NCTN phạm tội, TNHS của NCTN phạm tội, về thủ tục tố tụng đối với vụ
án NCTN, thi hành án phạt tù với NCTN. Qua các nghiên cứu về lý luận đã
được tìm hiểu, có thê nhận ra trên thé giới đã ton tại một hệ thống lý luận được
thừa nhận chung, làm nền tảng cho sự hình thành và hoạt động của hệ thống tư pháp cho NCTN với các triết lý cốt lõi trong xử lý NCTNVPPL, các luận điểm về sự cần thiết của một hệ thống riêng và chuyên biệt, những gợi mở về các thành tố của hệ thống ấy. Đây chính là hệ quy chiếu cho việc nhận diện đặc trưng của hệ thống tư pháp NCTN của Việt Nam và cho việc lựa chọn triết lý
<small>phù hợp với việc xử lý NCTNVPPL ở Việt Nam trong tương lai. Tuy nhiên rà</small> sốt tình hình nghiên cứu cũng cho thấy cuộc cạnh tranh chưa đi đến thắng bại
và sự thay đơi của các triết lí xử lý NCTNVPPL ở những quốc gia khác nhau và
trong những giai đoạn lịch sử với các bối cảnh khác nhau. Điều đó có nghĩa là
cần có việc vận dụng sâu sắc những lý luận này trong việc phân tích thực tiễn
lập pháp của Việt Nam vẻ xử lý NCTNVPPL để từ đó có cơ sở cho việc hoàn thiện quy định của pháp luật hiện hành. Bên cạnh đó, cần thừa nhận bản thân những nghiên cứu lý luận về nội dung này ở Việt Nam cịn khiêm tốn. Việc tìm ra một hoặc một số triết lý và cách tiếp cận phù hợp cho việc xây dựng khung <small>pháp lý chuyên biệt cho NCTN ở Việt Nam còn chưa được quan tâm và cũng</small>
<small>chưa thực sự có câu trả lời.</small>
Bên cạnh đó, trong 10 năm gan đây, những khái niệm như xử lý chuyển hướng, tư pháp phục hồi, tiếp cận thân thiện hoặc nhạy cảm với trẻ em, đã và
đang truyền cảm hứng cho tư pháp NCTN Việt Nam. Sự ảnh hưởng ấy thê hiện ở những sửa đổi quan trọng của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, BLHS năm 2015 và BLTTHS năm 2015 về NCTN. Đây chính là những biểu
hiện của sự nhận thức ngày càng đúng đắn về chính sách xử lý NCTNVPPL.
Điều đó đặt ra nhu cầu tìm hiểu về cơ sở lý luận và thực tiễn, mức độ hợp lý và điểm còn tồn tại của những sửa đổi ấy, từ đó có hướng đi cho những hoạt động lập pháp về NCTNVPPL trong tương lai. Vì vậy hiện nay Việt Nam rất cần một
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">thuyết về hệ thống tư pháp cho NCTN, gắn những triết lý ấy với việc đánh giá
<small>thực trạng và hồn thiện pháp luật có liên quan.</small>
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
<small>2.1. Tình hình nghién cứu trong nước</small>
Có rất ít nghiên cứu trong nước ở góc độ lý luận về triết lý xử lý NCTN vi
phạm pháp luật. Các nghiên cứu trong nước có liên quan đến vấn đề
NCTNVPPL tập trung vào hai nội dung: mot /à làm sang tỏ một số khái niệm cơ
bản và một số cách tiếp cận (mơ hình) của tư pháp NCTN; hai Jd luận ban về
chính sách và pháp luật về xử lý NCTNVPPL.
Trước hết, các nghiên cứu quan tâm tới một số khái niệm cơ bản trong tư pháp đối với NCTN như khái niệm và đặc điểm của NCTN, NCTNVPPL,
NCTN phạm tội, khái niệm VPPL của NCTN và các cách tiếp cận tư pháp mang tính đổi mới, thích hợp với NCTNVPPL.
Tác gia Hồng Minh Khơi trong bài viết “Cần thống nhất độ tuổi của
<small>người chưa thành niên trong các văn bản pháp luật”, Tap chí Nghiên cứu lập</small>
pháp, số 18/2013, cho rằng pháp luật Việt Nam đang quy định một cách thiếu
thống nhất và thiếu hệ thống về cơ sở lý luận, việc lý giải các thuật ngữ trẻ em, NCTN, vị thành niên còn chưa mạch lạc, nhằm lẫn giữa khái niệm mang tính quy phạm và khái niệm mang tính tâm lý xã hội. Điều này dẫn đến pháp luật
chưa thê hiện được quy chuẩn cũng như chính sách đối với họ, chưa đủ sức dé
phòng ngừa vi phạm, tội phạm cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN. Trên bình diện chung, Đào Thị Thu An trong Luận án tiễn sĩ Luật học
Pháp luật về các biện pháp xử lý hành chính đối với người chưa thành niên,
<small>Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2020, đưa ra định nghĩa NCTNVPPL là người</small>
dưới 18 tuổi, chưa phát triển đầy đủ về thé chat và trí não, thực hiện hành vi trai với quy định của pháp luật một cách cố ý hoặc vô ý khi ở độ tuôi tối thiểu ma
pháp luật giả định có khả năng nhất định dé nhận thức, điều khiến và chịu trách nhiệm về hành vi của mình, bị áp dụng các chế tài, biện pháp xử lý theo quy <small>định của pháp luật. Còn dưới góc độ pháp luật hình sự, GS. TSKH. Lê Cảm và</small>
PGS. TS. Đỗ Thị Phượng trong bài viết “Tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên - những khía cạnh pháp lý hình sự, t6 tụng hình sự, tội phạm học va so sánh luật học”, Tap chí Tồ án, số 10/2004, cho rằng khái nệm NCTN phạm
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">phạm đối với hành vi do NCTN thực hiện và tạo điều kiện cho việc áp dụng hình phạt đối với NCTN sao cho phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm
cho xã hội của hành vi mà họ đã thực hiện trên cơ sở những đặc điểm về tâm
sinh lý của họ vào thời điểm họ phạm tội.
Ở góc độ nghiên cứu các tiếp cận và chương trình tư pháp cho NCTN, Báo cáo nghiên cứu của Bộ Tư pháp và UNICEF với tiêu đề Báo cáo đánh giá luật pháp và thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý chuyển hướng, tư pháp phục
hồi đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật, Nxb Tư pháp năm 2012,
đã phân tích một số van dé lý luận về xử lý chuyên hướng như nguồn gốc, khái
niệm, mục tiêu và lợi ích của xử lý chuyển hướng. Theo đó, xử lý chuyển hướng là một quá trình thay thế nhằm xử lý các vi phạm của NCTN bên ngồi hệ thơng tư pháp chính thơng. Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng đưa ra một số
khái niệm, xác định và phân tích các nguyên tắc và mục tiêu của tư pháp phục hồi. Tư pháp phục hồi được hiểu là một cách nhìn nhận về tư pháp trong đó
nhắn mạnh khía cạnh giải quyết hậu quả do hành vi phạm tội hoặc VPPL gây ra chứ không chỉ nhằm trừng phạt người có tội. Mục tiêu của tư pháp phục hồi
được xác định là giúp NCTN hiểu rõ hậu quả do hành vi VPPL của mình gây
ra đối với cộng đồng và chấp nhận sửa chữa sai lam đó. Nghiên cứu tiếp theo
đó của Bộ Tư pháp va UNICEF Báo cáo nghiên cứu pháp luật về phòng ngừa, xử ly, phục hồi, tái hoà nhập cộng dong đối với người chưa thành niên
<small>vi phạm pháp luật và tình hình người chưa thành niên vi phạm pháp luật taiViệt Nam, Nxb Tư pháp năm 2019, đã cập nhật những cải cách trong chính</small> sách và pháp luật của Việt Nam về xử lý NCTNVPPL. Cũng về chủ đề đó, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Đồn TNCS Hỗ Chí Minh trong hoạt động tư
pháp phục hồi đối với thanh thiếu niên vi phạm pháp luật” của Viện nghiên cứu Thanh niên (do ThS. Nguyễn Tuấn Dũng làm chủ nhiệm, nghiệm thu năm 2019), nghiên cứu về tư pháp phục hồi, các lý thuyết áp dung trong quá trình tư pháp phục hồi, một số quy định thể hiện tư tưởng tư pháp phục hồi, kinh
nghiệm của một số quốc gia như Anh và Xứ Wales, Cộng hoà Séc, New
Zeland về tư pháp phục hồi.
Nội dung thứ hai của các nghiên cứu trong nước luận bàn về chính sách và pháp luật xử lý NCTN vi phạm pháp luật. Đề tạo cơ sở cho việc kiến nghị thay đổi chính sách xử lý hình sự đối với NCTN phạm tội, tác giả Lê Minh
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13"><small>tội - nhìn từ phương diện tội phạm học và trách nhiệm xã hội”, Tạp chí Dán chủ</small>
và pháp luật, số 12/2011 phân tích hai khuynh hướng nổi bật liên quan đến kha
<small>năng phạm tội và khả năng giáo dục, cải tạo của NCTN. NCTN thường thựchiện loại tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, trong các vụ án</small>
đồng phạm thường tham gia với vai trò là người thực hành, người giúp sức. Khả
<small>năng cải tạo, giáo dục của NCTN thành công cao hơn so với người đã thành</small> niên. Do đó, chính sách hình sự đối với NCTN phải được rộng mở theo hướng
nhân văn hơn đối với người đã thành niên, đặc biệt quy trình tố tụng phải giúp NCTN hạn chế những tôn thương do việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố
tụng gây nên. Dong thời, hoạt động giáo dục và môi trường tố tụng thân thiện phải được tiễn hành ngay từ khâu đầu tiên của tơ tụng hình sự, nếu càng sớm thì <small>hiệu quả càng cao. Trong khi đó, bài báo khoa học của tác giả Hồng Minh Khơi</small> “Hồn thiện chính sách hình sự nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân của người chưa thành niên phạm tội theo Hiến pháp năm 2013”, Tạp chí Nghiên
cứu lập pháp, số 14/2015 phân tích những bat cập trong chính sách hình sự đối
với NCTN trên ba khía cạnh chính sách về nhân thân và chính sách về tội danh và hình phạt, chính sách tô tụng - phục hồi. Tác giả đưa ra một số định hướng hồn thiện chính sách hình sự này nhăm bảo vệ quyền con người, quyền công <small>dân của NCTN phạm tội.</small>
Ở khía cạnh pháp luật về xử lý hành chính đối với NCTN, Đào Thị Thu An trong Luận án tiến sĩ luật học Pháp luật về các biện pháp xử lý hành chính đối với người chưa thành niên, Trường Dai học Luật Hà Nội năm 2020, đã xây dựng bộ tiêu chí hồn thiện pháp luật về biện pháp xử lý hành chính đối với NCTN. Còn tác giả Đặng Thanh Sơn trong bài viết “Pháp luật Việt Nam về tư
pháp người chưa thành niên”, 7ạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 20 (12/2008), phân tích thực trạng pháp luật về xử lý NCTN trên các khía cạnh: nguyên tắc xử
lý, hệ thống các biện pháp xử lý chính thức, xử lý khơng chính thức. Từ đó, tác giả xác định hạn chế của hệ thống tư pháp xử lý NCTN ở Việt Nam như hệ
thống pháp luật chưa đồng bộ và day đủ, việc hỗ trợ, tao điều kiện cho NCTN tái hoà nhập cộng đồng sau khi thi hành án phạt tù mới dừng lại ở tầm chủ trương, chính sách, xử lý vi phạm hành chính thiếu tính răn đe. Tác giả cũng đưa
ra các khuyến nghị hồn thiện luật pháp, chính sách xử lý đối với NCTNVPPL <small>tại Việt Nam.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">chưa thành niên phạm tội - Đặc điểm tâm lý và chính sách xử lý, Nxb Tư pháp năm 2011, đã tìm hiểu sâu các đặc điểm tâm lý của NCTN phạm tội để làm sáng
tỏ một phần nguyên nhân phạm tội ở lứa tudi chưa thành niên. Các tác giả xác
định các yếu tố tâm lý xã hội tác động đến hành vi phạm tội của NCTN, đó là
<small>tác động của mơi trường gia đình, tác động của nhóm bạn bè, nhà trường, xã hội.</small>
Tác giả cũng đưa ra những trường hợp điển hình minh họa cho mối tương quan giữa đặc điểm tâm lý của NCTN phạm tội và các yêu tố tâm lý xã hội tác động
đến hành vi phạm tội của họ. Trên cơ sở đó, tác giả phác hoạ những đặc thù
trong điều tra, xét xử, tái hoà nhập cho NCTN phạm tội. Thực tiễn thi hành các
chế tài hình sự và tái hoà nhập cộng đồng đối với NCTN phạm tội cũng được
phân tích, sơ bộ xác định được hạn chế, vuong mac co ban cua thuc trang nay. Tác giả cũng dé xuất biện pháp tham van là một trong những biện pháp hỗ tro tâm lý cho NCTN phạm tội. Tác giả đưa ra một số kiến nghị nâng cao trách
<small>nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội trong việc phòng ngừa NCTN phạm</small>
tội và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả xử lý đối với NCTN phạm tội.
Tác giả Lê Thị Sơn trong bài viết “Nguyên tắc xử lí đối với người chưa
thành niên phạm tội và sự thể hiện trong Bộ luật Hình sự”, Tạp chí Luật hoc, SỐ
3/2015, nghiên cứu về các nguyên tắc xử lý NCTN phạm tội trong BLHS. Theo
tác giả, các nguyên tắc xử lí đặc biệt đối với NCTN phạm tội đã được quy định rõ ràng tại Điều 69. Tuy nhiên, sự thé hiện các nguyên tắc này trong các điều
luật cụ thể cịn có những hạn chế nhất định nên chưa tạo cơ sở pháp lí đầy đủ để
đảm bảo thực hiện các nguyên tắc xử lí đối với NCTN phạm tội. Bài viết đánh giá các hạn chế này và đề xuất hướng khắc phục, trong đó có đối chiếu với các
văn kiện quốc tế liên quan cũng như tham khảo kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia khác (Nga) về trách nhiệm hình sự (TNHS) của NCTN phạm tội. Bên cạnh đó, tác giả Lê Huỳnh Tan Duy trong cuốn Hodn thiện pháp luật tổ tụng hình sự Việt Nam doi với người dưới 18 tuổi trên cơ sở khung pháp lý của Liên Hợp quốc, Nxb Đại hoc Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh năm 2018, phân
tích pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đối với người dưới 18 tuổi và thực tiễn
áp dụng, chỉ ra thực tiễn giải quyết vụ án hình sự liên quan đến NCTN tại Việt Nam, từ đó đưa ra những nguyên nhân của những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở này, tác giả đưa ra những kiến nghị hồn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đối với người dưới 18 tuổi trên cơ sở khung pháp lý của Liên Hợp Quốc.
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">Luật Hà Nội, Nxb. Tư pháp năm 2020 bên cạnh việc giới thiệu tong quan vé tu pháp NCTN cũng như phân tích sự phát triển của NCTN từ góc độ tâm ly học, đã mơ ta khá rõ nét về hiện trang các thành tô của tư pháp NCTN ở Việt Nam trong mối liên hệ với các chuẩn mực pháp lý quốc tế. Các nội dung và khía cạnh của xử lý NCTNVPPL đã được phân tích cụ thé từ Chương 4 đến Chương 7 của Giáo trình. Chương 4 nghiên cứu tư pháp đối với NCTN trong lĩnh vực xử lý vi
phạm hành chính. Xử lý hành chính đối với NCTN theo pháp luật Việt Nam <small>được phân tích trên các mặt: các vi phạm hành chính, biện pháp xử lý hành</small>
<small>chính NCTNVPPL, các hình thức xử phạt, các biện pháp ngăn chặn va dam bao</small> xử lý vi phạm hành chính, áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, về biện pháp thay thế xử phạt hành chính. Chương 5 nghiên cứu về xử lý hình sự đối với <small>NCTN phạm tội và người có hành vi xâm phạm NCTN. Giáo trình phân tích sáu</small>
nguyên tắc xử lý đối với NCTN phạm tội theo quy định của BLHS năm 2015. Về xử lý hình sự đối với NCTN phạm tội, giáo trình phân tích phạm vi chịu
<small>TNHS của NCTN phạm tội, các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong</small> trường hợp NCTN được miễn TNHS, biện pháp tư pháp, hình phạt áp dụng đối
với NCTN phạm tội, quyết định hình phạt, tổng hợp hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xố án tích đối với NCTN phạm tội. Chương 6 nghiên cứu về tư pháp đối với NCTN trong tố tụng hình sự. Phân tích cho thay
Bộ luật TTHS năm 2015 của Việt Nam đã ghi nhận nhiều nguyên tắc tố tụng hình sự mới đối với NCTN, làm cơ sở, định hướng cho các hoạt động tố tụng.
Thủ tục tố tụng hình sự đối với NCTN tại Việt Nam được nghiên cứu ở các khía cạnh: tiêu chuẩn về người tiễn hành tổ tụng, quyền của NCTN, áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục và ngăn chặn đối với NCTN, các vấn đề cần xác định
khi tiến hành tố tụng đối với NCTN, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với
NCTN. Chương 7 phân tích về các biện pháp thay thế quy trình tư pháp và tái hồ nhập cộng đồng đối với NCTN phạm tội.
Các tác giả Hoàng Minh Đức, Nguyễn Phan Trung Anh trong bài viết “Bàn
về mục tiêu của tư pháp hình sự người chưa thành niên”, Tap chí Nghề luật, số
4/2017, đã đưa ra 5 mục tiêu của tư pháp hình sự đối với NCTN, đó là: (1) xây dựng hệ thống cơ sở lý luận, chính tri, pháp lý và co chế đảm bảo cho việc khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đối với NCTN phạm tội; (2) đảm bảo
quyền của NCTN được ghi nhận, tôn trọng, thực thi trên thực tế một cách đầy
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">minh nhân loại và các nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự đối với NCTN; (4) đảm bảo hiệu quả của quá trình thực thi quyền lực nhà nước trong mối quan hệ hữu cơ và thống nhất, phối hợp và chế ước, khả thi và hợp lý của hệ thống các cơ quan nha nước tương ứng với ba nhánh quyên lực, trong việc cụ thé hóa quan điểm, tư tưởng nhân đạo của Đảng và Nhà nước đối với việc xử lý các vẫn dé có liên quan đến NCTN, (5) góp phan xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch,
<small>vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ</small> nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao.
Với góc nhìn tổng thể về hệ thống tư pháp NCTN ở Việt Nam, tác giả Đào
<small>Lệ Thu trong bài 7 pháp người chưa thành niên cua Việt Nam và sự nhận diện</small> từ những mơ hình tư pháp người chưa thành niên pho biến trên thé giới, Ki yêu Hội thảo quốc tế “Tư pháp với NCTN - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam”, Trường Đại học Luật Hà Nội, tháng 5/2019, nhận định rang những
nghiên cứu giai đoạn trước về tư pháp NCTN cho thấy đây là lĩnh vực cịn ít
được quan tâm. Thực chất nghiên cứu về tư pháp NCTN hau như mới chỉ dừng lại ở phân tích và bình luận về luật thực định và việc áp dụng luật chứ chưa thực sự tìm cách nhận diện triết lý và các mơ hình của tư pháp NCTN. Những cải cách của BLHS năm 2015 trong đó bé sung những biện pháp giám sát, giáo dục
áp dụng đối với NCTN được miễn TNHS, hoặc việc mở rộng phạm vi áp dụng
thủ tụng tố tụng đặc biệt đối với nạn nhân, nhân chứng dưới 18 tudi của Bộ luật TTHS năm 2015, hay việc thành lập Tịa gia đình và NCTN đã khiến cho thực tiễn tư pháp NCTN của Việt Nam có những chuyền biến tích cực đáng kể. Tuy nhiên sự phát triển của hệ thống tư pháp NCTN của Việt Nam vẫn thiếu những yếu tố quan trọng thể hiện triết lý và mơ hình của mình, ví dụ như một luật
chuyên biệt điều chỉnh về tư pháp NCTN, một hệ thống những cơ quan và cán
<small>bộ chuyên trách được dao tạo chun mơn va có kĩ năng làm việc với trẻ em vàđặc biệt là nhận thức đúng của cán bộ pháp lý trong lĩnh vực này.</small>
Tóm lại, những nghiên cứu trong nước về tư pháp NCTN nói chung và xử ly NCTNVPPL nói riêng mới chỉ manh nha đề cập đến triết lý xử lý NCTNVPPL nhưng chưa có nghiên cứu sâu từ nhiều góc độ và có minh họa bởi thực tiễn lập pháp của các quốc gia khác nhau.
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">Qua tìm hiểu có thê nhận thấy trong tâm của các nghiên cứu lý luận về tư pháp đối với NCTN là triết lý xử lý NCTN vi phạm pháp luật và ảnh hưởng của những triết lý này doi với sự hình thành và phát triển của các hệ thong tư pháp NCTN trên thế giới.
<small>Dưới góc độ nghiên cứu so sánh, các tác giả Harry R. Dammer, Jay S.</small>
Albanese trong cuốn sách Các hệ thống tr pháp hình sự so sánh (Comparative
<small>Criminal Justice Systems), Wadworth Cengage Learning, Fifth Edition, 2014,</small>
phan ánh những triết lý xử lý ở một số mơ hình tư pháp NCTN trên thế giới. Theo tác giả mơ hình xuất hiện đầu tiên vào những năm đầu của thế kỉ 20 là mơ
hình phúc lợi hay cịn gọi là mơ hình cải tạo với tinh thần xử lý dựa trên đặc điểm của cá nhân và sự chăm lo của Nhà nước. Triết lý nền tảng cho mơ hình
nay là học thuyết parens patriae, một học thuyết có nguồn gốc từ thời trung cổ trong đó nêu lên rang Hồng gia Anh có thé can thiệp vào các van dé gia đình
nếu cha mẹ khơng thé hoặc khơng muốn chăm sóc cho lợi ích (an sinh) của đứa
trẻ. Với triết lý đó, tiễn trình tư pháp được chun từ việc xem xét lỗi của người
<small>phạm tội chưa thành niên sang tìm phương hướng giáo dục thơng qua việc xử lý</small>
cải tạo thay thế cho trừng phạt. Ở giai đoạn tiếp theo vào những năm sau Chiến tranh thế giới thứ 2 có sự chuyển hướng từ mơ hình phúc lợi sang mơ hình tư
pháp với triết lý cơng minh, coi trọng việc xử lý thích đáng và thủ tục đúng pháp luật. Theo triết lý mới này, hệ thống tư pháp NCTN có nghĩa vụ bảo đảm những quyền hợp pháp của họ. Mơ hình tư pháp tập trung nhất vào việc bảo đảm các
quyền tô tụng của NCTN phạm tội, việc bảo đảm phúc lợi cho NCTN trở thành thứ yếu. Sau đó, sự gia tăng của tội phạm cùng với những kết quả nghèo nàn của những nỗ lực cải tạo đã dẫn tới sự cấp thiết của việc trừng phạt, xem như là mục đích chính của tư pháp NCTN. Điều đó dẫn tới kết qua là những thay đổi trong
<small>thái độ của người làm công tác tư pháp hình sự, trong luật pháp và trong chính</small>
sách. Triết lý trừng trị thích đáng được thé hiện trong suốt những năm 1950 tới
<small>những năm 1970.</small>
Cũng tiếp cận dưới góc độ so sánh, Richard J. Terrill trong cuốn Các hệ thống tư pháp hình sự trên thế giới — Một khảo sát so sánh (World Criminal
<small>Justice Systems — A Comparative Survey), Ninth Edition, New York: Anderson</small>
Publishing, 2016, đã chỉ ra những triét lý cho sự hình thành, phát triển và vận hành của các hệ thống tư pháp NCTN ở 7 quốc gia và khu vực trên thế giới. Tác
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">giả đề cập đến cơ sở cho sự hình thành của các hệ thống tư pháp cho NCTN ở Anh là ý tưởng về việc thiếu niên VPPL cần được xử lý với các quy định luật
hình sự và quy trình tơ tụng riêng rẽ. Ý tưởng đó dựa trên triết lý nhân đạo đối
với trẻ em của các gia đình nghèo và cũng là để bảo vệ lợi ích của cộng đồng khi
<small>xã hội nhận thức được nguy cơ những trẻ em đó sẽ trở thành những người phạm</small>
tội trong tương lai. Đối với Pháp, tác giả chỉ ra triết lý ở thời kì đầu của hệ thống tư pháp cho NCTN phạm tội là coi việc tri liệu/điều trị quan trọng hơn là xử
phạt. Chính vì vậy mà hệ thống tư pháp cho NCTN của Pháp đi theo hướng tiếp cận phúc lợi xã hội trong việc can thiệp. Tuy nhiên sang thé ki 21 đã có một số
thay đổi về triết lý xử lý khi mà việc bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng cũng
<small>được song hành với bảo đảm lợi ích của NCTN, theo đó một mục đích mới được</small> lỗng ghép vao trọng tâm của tư pháp NCTN bên cạnh cải tạo và giáo dục là <small>trừng trị những NCTN phạm tội đáng phải chịu trách nhiệm. Tác giả cũng phản</small>
ánh một số triết lý tương tự ở những hệ thống tư pháp cho NCTN khác.
Susan Reid, Rebecca Bromwich trong cuốn “Thiếu niên và Luật pháp” <small>Youth and the Law, Fourth Edition, Canada: Edmond Montgomery Publications</small> Limited (2019) đưa ra năm mơ hình với triết lý khác nhau về tư pháp cho NCTN, đó là mơ hình phúc lợi, mơ hình cơng lý, mơ hình kiểm sốt tội phạm, mơ hình thay đổi cộng đồng và mơ hình tư pháp phục hồi. Trong mơ hình phúc lợi (welfare model), triết lý xử lý nhấn mạnh vào tam quan trọng của việc quan
tâm tới các nhu cầu của người phạm tội dé bảo đảm rằng các vẫn đề của họ được giải quyết sao cho tái phạm không xảy ra. Mô hình cơng lý (justice model) lại chú trọng tới việc bảo đảm các quyền tô tụng của NCTN phạm tội, nhấn mạnh việc họ cần được xử lý với cùng những bảo vệ pháp lý giống như quyên của
người trưởng thành. Mơ hình kiểm sốt tội phạm (crime control model) chủ yếu
liên quan tới việc bảo vệ xã hội và bảo đảm với công chúng rằng tội phạm sẽ không được khoan dung và sẽ bị xử lý một cách nghiêm khắc, được dựa trên
triết lý ngăn ngừa và quan niệm chính người phạm tội lựa chọn việc thực hiện tội phạm trên cơ sở động cơ cá nhân của họ chứ không phải do yếu t6 nào khác. Trong khi đó, mơ hình tư pháp phục hồi (restorative justice model) lại có cách
tiếp cận tới tư pháp trong đó coi tội phạm như sự gây tốn thất, ton thương cho con người và các mối quan hệ, vì vậy thúc đây những cách thức xử lý tội phạm theo đó có thể giúp chữa lành, khắc phục lại những ton thương ấy. Cùng với mơ
hình tư pháp phục hồi, một mơ hình khác có tính hỗ trợ là mơ hình thay đổi cộng
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">đồng (community change model) với triết lý là tất cả các thành tổ trong xã hội có trách nhiệm làm tăng phúc lợi cho tất cả các cơng dân của mình và phải cùng
<small>nhau ngăn ngừa tội phạm, trong đó có tội phạm của NCTN. Vì vậy trong mơ</small> hình này hành vi phạm tội của NCTN được xem là hậu quả của những yếu tố
của cuộc song như đói nghèo, thiếu cơ hội,... và quá trình xử lý phải chú trọng vào giải quyết các vẫn đề xã hội đó.
Trong Báo cáo nghiên cứu “Giải quyết các ưu tiên về tư pháp người chưa
thành niên trong khu vực châu A — Thái bình đương” (Addressing Juvenile <small>Justice Priorities in the Asia — Pacific Region), the International Juvenile Justice</small>
<small>Observatory, Belgium 2016, cac tac gia Cédric Foussard va Giulia Melotti da</small>
tiếp cận một số nội dung liên quan đến việc đưa triết lý tư pháp phục hồi vào hệ thống tư pháp NCTNở các quốc gia trong khu vực.
Bên cạnh các nghiên cứu ở góc độ lý luận, nhiễu nghiên cứu ngồi nước
phản ánh thực tiễn hình thành và phát triển của hệ thong tr pháp NCTN của các quốc gia trong đó thể hiện sự ảnh hưởng của các triết lý xử lý NCTN khác nhau.
Jacqueline A. Meyers (năm 1999) trong Luận án tiến sĩ The Determinants
<small>of Juvenile Justice Policy in France and Germany thực hiện tai Center for Public</small> Policy, Virginia Commonwealth University đã nhận định triết ly xử lý
NCTNVPPL của Pháp ở thời kì từ cuối thế kỉ 19 đến nửa đầu thế kỉ 20 coi việc
trị liệu và giáo dục, cải tạo quan trọng hơn là xử phạt. Chính vì vậy mà hệ thống tư pháp cho NCTN của Pháp đi theo hướng tiếp cận phúc lợi xã hội trong việc <small>can thiệp ngăn ngừa VPPL của NCTN và xử lý NCTNVPPL. Sau đó, AnneWyvekens (2006), với chương sách “The French Juvenile Justice System’, trongsách: Josine Junger-Tas, Scott H. Decker, International Handbook of Juvenile</small>
Justice, NXB. Springer tiếp tục khang định hệ thống tu pháp dành cho NCTN
của Pháp từ cuối thé ki 19 đến cuối thé ki 20 đã thúc day cách tiếp cận can thiệp
theo triết lý phúc lợi xã hội. Anne Wyvekens nhận định trong mơ hình tư pháp NCTN lúc đó, vai trị của thấm phán và các nhà giáo dục trong Co quan bảo vệ tư pháp thanh thiếu niên rất lớn và lẫn át hoàn tồn vai trị của cơng tố viên và
<small>luật sư. Bên cạnh đó, Nicolas Sallée (2017) trong bai “Rehabilitation within a</small>
<small>Punitive Framework: Responsibilization and Disciplinary Utopia in the FrenchJuvenile Justice System”, dang trén Tap chi Youth Justice, Vol.17(3) phat hién</small>
từ giữa những năm 1990, triết ly công lý quay trở lại Pháp do ảnh hưởng của hai nhận thức chính: thứ nhất cho rằng tội phạm NCTN là một hiện tượng xã hội
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">liên quan đến những thanh thiếu niên ngày càng trẻ hơn, nhiều hơn, bạo lực hơn và gây mất an toàn cho xã hội, đang tạo nên mối đe dọa thường trực cho trật tự
<small>xã hội; thứ hai nhìn nhận tội phạm NCTN với tu cách là hành vi của cá nhân</small>
<small>được thực hiện bởi những NCTN ngày càng phải chịu trách nhiệm cho hành vi</small>
của họ khi họ gần với tuổi trưởng thành. Ngoài ra, Jessica Filippi (2022), trong
<small>bài “Restorative justice France which approaches juvenile offenders”, dang tại</small>
<small>Restorative justice in France | European Forum for Restorative Justice</small>
(euforumrj.org) đã nhận định triết lý phục hồi cũng thé hiện vai trò nhất định trong xu hướng mới của việc xử lý NCTNVPPL tại Pháp. Filippi cho rằng triết lý này nhắn mạnh sự liên quan trực tiếp của NCTN với quan điểm “khắc phục” thiệt hại do hành vi của mình gây ra. Ý tưởng “khắc phục/sửa chữa” này đã
được phát triển như một sự chuyên tiếp của triết lý cải tạo, khi tạo cơ hội cho <small>chính NCTN phạm tội được sửa chữa những thiệt hại mà tội phạm của mình gây</small>
ra và tự nhận ra lỗi lầm của mình.
Trong tác phâm Các luận thuyết, thực tiễn và pháp luật về tội phạm người
<small>chưa thành niên (Juvenile delinquency - Theories, Practice and Law), TwelfthEdition, CENGAGE Learning, USA 2015, Larry J. Siegel va Brandon C. Welsh</small> trình bay quá trình thay đồi, phat trién của hệ thống tư pháp cho NCTN từ thé kỷ
19 đến nay ở Mỹ, từ đó phân tích các biện pháp can thiệp, các hình phạt và các
biện pháp phi hình phạt theo quy định của pháp luật hiện hành đối với NCTN phạm tội. Phản ánh về thực tiễn hệ thống tư pháp NCTN ở Đức, Frieder Dunkel trong nghiên cứu với tựa đề 7 pháp người chưa thành niên ở Đức (Youth
Justice in Germany), Published to Oxford Scholarship Online 2016, đề cập đến các nội dung về lịch sử phát triển và tổng quan pháp luật hiện hành của Đức về tư pháp NCTN; hệ thống chế tài, bao gồm các biện pháp can thiệp chính thức và
khơng chính thức được quy định trong Luật tư pháp NCTN của Đức; thủ tục tố <small>tụng với NCTN; các phương thức không chính thức trong xử lý NCTN phạm tội</small>
và thực tiễn của xử lý chuyển hướng: thực tiễn quyết định hình phạt ở các tòa án
<small>NCTN của Đức.</small>
<small>Chomil Kamal trong nghiên cứu Các hướng đi của cải cách tu pháp ngườichưa thành niên ở Singapore (Directions of Juvenile Justice Reforms in</small>
Singapore), Research Papers delivered at 118" International Training Course
<small>Visiting Experts’ Papers, Resource Material Series No. 59 (2002) da nhan dinh</small> tư pháp phục hồi dựa trên ý tưởng giúp NCTN phạm tội nhận thức đầy đủ về tội
</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21"><small>phạm của mình và hậu quả của nó tới bản thân họ, tới gia đình, những người</small>
khác và xã hội nói chung. Mơ hình tư pháp này tìm kiếm cách giải quyết những
<small>nguyên nhân của việc phạm tội và hòa nhập người phạm tội và gia đình họ vào</small>
xã hội bằng cách làm cho các bên có liên quan tham gia vào giải quyết tội phạm và cuộc sống của người phạm tội. Tác giả nhận thấy sự ảnh hưởng to lớn của triết lý tư pháp phục hồi tới hệ thống tư pháp NCTN của Singapore. Một trong những ảnh hưởng ấy chính là tinh thần và quy định của đạo luật quan trọng nhất là Luật trẻ em và thiếu niên 1946 (sửa đổi năm 2001).
<small>Theo các tác giả Ruohui Zhao, Hongwei Zhang và Jianhong Liu nhận định</small>
tại Chương 6 “Tư pháp người chưa thành niên Trung Quốc: Một hệ thống dang chuyên tiếp” (Chapter 6: “China 's Juvenile Justice: A System in Transition”),
<small>trong sách của John Winterdyte (chủ biên), 7z pháp người chưa thành niên: các</small>
khía cạnh, mơ hình và xu hướng quốc tế (Juvenile justice: international perspectives, models, and trends), CRC Press (2015),' tư pháp NCTN của Trung Quốc chịu anh hưởng kết hợp của tư tưởng Nho giáo, chủ nghĩa Mao, quan niệm về phúc lợi “Parens Patriae” và sau này là quan điểm của chủ nghĩa cộng sản. Trong thời gian gần đây, tư pháp NCTN của Trung Quốc đang dan tiếp cận đến
mô hình tư pháp phục hồi của các nước phương tây. Ở Trung Quốc, Luật Bảo vệ <small>NCTN (Juvenile Protection Law) năm 1991 và Luật ngăn ngừa tội phạm NCTN(Juvenile Delinquency Prevention Law) năm 1999 có vi trí quan trong trong hệ</small>
thống văn bản luật. Năm 2012, Trung Quốc đã bổ sung 1 chương mới vào
BLTTHS với 11 điều liên quan đến trình tự, thủ tục đối với NCTN phạm tội. Triết lý nền tảng của BLTTHS Trung Quốc là xử lý NCTN phạm tội dựa trên nguyên tắc ưu tiên giáo dục hơn trừng phạt. Mặc dù có sự tăng cường của tư pháp phục hồi nhưng cơ bản mô hình tư pháp của Trung Quốc là mơ hình kiêm
sốt với trọng tâm là giáo dục và giảm trừng phạt. Các tác giả nhận định tiếp cận của hệ thống tư pháp NCTN của Trung Quốc là tiếp cận cải tạo. Trong tư tưởng về cải tạo ở tư pháp NCTN Trung Quốc, hình phạt là cơng cụ răn đe cần thiết. Việc cần thiết đưa đến nơi giáo dưỡng với quan điểm cải tạo thông qua lao động cho thấy trường giáo dưỡng dành cho NCTN được coi là như một nhà tù.
Như vậy có thê thấy khác với các nghiên cứu trong nước của tác giả Việt <small>Nam, các nghiên cứu của tác giả ngoài nước đã giới thiệu và phân tích khá sâu</small>
<small>Truy cập ngày 18/10/2020 tại: https:/www.researchgate.net/publication/281612947 Chinas Juvemile Justice_A_ System In Transition</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">sắc ở cả góc độ lý luận về triết lý xử lý NCTNVPPL lẫn góc độ thực tiễn pháp luật quốc gia thê hiện những ảnh hưởng của các triết lý này.
Với đề tài “Triết lý xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luật và sự thể hiện trong thực tiễn lập pháp của một số quốc gia trên thế giới”, nhóm nghiên cứu đề tài đã tiếp thu và tong hợp những tri thức lý luận về các triết ly xử lý NCTNVPPL (ví dụ như về nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển của các triết lý này), phát triển thêm một bước khi đi sâu phân tích một số nội dung về các yêu tố định hình những triết lý này, ảnh hưởng của các triết lý này đối với
hoạt động xây dựng pháp luật. Ở góc độ phản ánh thực tiễn lập pháp của một số quốc gia thê hiện ảnh hưởng của các triết lý xử lý NCTNVPPL, nhóm nghiên
cứu đề tài sẽ tiếp tục kế thừa những nội dung đã được nghiên cứu về pháp luật
có liên quan của Anh, Pháp, Canada, Trung Quốc và Việt Nam, làm mới những
tri thức này bằng những cập nhật của pháp luật cũng như tiếp tục có những phân tích so sánh và rút ra những đề xuất hoàn thiện pháp luật Việt Nam.
3. Mục đích, mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục đích của đề tài là xác định triết lý xử lý NCTNVPPL phù hợp với bồi cảnh phòng ngừa và xử lý VPPL của NCTN ở Việt Nam cũng như các điều kiện về chính trị, xã hội, văn hóa của Việt Nam và tâm lý của người Việt, từ đó có
những đề xuất xây dựng và hồn thiện các quy định của pháp luật có liên quan.
Từ mục đích trên, đề tài có một số mục tiêu cụ thé sau:
- Tìm ra và khái qt hóa, phân tích, lý giải cho các triết lý xử lý NCTNVPPL đã có nhiều ảnh hưởng trong lịch sử và hiện tại ở các hệ thống tư pháp NCTN tiêu biểu trên thé giới;
- Phân tích sự thể hiện của những triết lý đó trong thực tiễn lập pháp của các quốc gia Anh, Pháp, Canada, Trung Quốc và Việt Nam;
- Tìm ra sự phù hợp và sự không phù hợp của những triết lý xử lý NCTNVPPL nhất định với thực tiễn xây dựng pháp luật của Việt Nam qua phân
<small>tích so sánh.</small>
- Nhận diện và phân tích những hạn chế, những khoảng trống trong pháp luật Việt Nam có liên quan từ góc độ sự phản ánh các triết lý xử lý NCTNVPPL, trên cơ sở đó và lấy những kinh nghiệm phù hợp của các quốc gia được so sánh dé đưa ra các đề xuất hoàn thiện pháp luật Việt Nam.
</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">4. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu Cách tiếp cận
Đề tài sử dụng phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử khi tiếp cận van đề nghiên cứu. Các triết lý xử lý NCTNVPPL được nghiên cứu trong bối cảnh lịch sử - pháp lý của các quốc gia, thể hiện mối quan hệ tương tác với các yếu tố chính trị, xã hội, văn hóa và tập quán, trong trạng thái luôn vận động, phát triển. Đồng thời, thực tiễn lập pháp về xử lý NCTNVPPL của các quốc gia được lựa
chọn trong đề tài này được nghiên cứu theo sự phát triển lịch sử và là minh chứng
cho sự tương tác với và chịu ảnh hưởng bởi các triết lý xử lý NCTNVPPL.
Bên cạnh đó, đề tài sử dụng cách tiếp cận khoa học liên chuyên ngành, trong đó bên cạnh cách tiếp cận luật học cịn có cả tiếp cận tâm lý học và tội
phạm học, đặc biệt là nền tảng kiến thức và phương pháp của các lĩnh vực tư
pháp hình sự. Các tiếp cận xã hội học pháp luật và lịch sử pháp luật cũng được nhóm nghiên cứu quán triệt trong thực hiện đề tài.
<small>Phương pháp nghiên cứu:</small>
Các phương pháp nghiên cứu truyền thống như phương pháp phân tích, tong hợp được sử dụng xuyên suốt trong dé tài dé làm rõ, cụ thé hoặc khái quát
<small>hóa tùy theo từng nội dung. Phương pháp nghiên cứu lịch sử pháp luật vàphương pháp nghiên cứu so sánh luật được sử dụng với tư cách là các phương</small> pháp chuyên biệt trong thực hiện đề tài này, nhằm làm sáng tỏ quá trình phát
triển của các triết lý xử lý NCTNVPPL cũng như quá trình lập pháp của các quốc gia Anh, Pháp, Canada, Trung Quốc và Việt Nam thể hiện các triết lý này.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các triết lý xử lý NCTNVPPL và thực tiễn lập pháp của của một số quốc gia thé hiện những triết ly này.
<small>Phạm vi nghiên cứu</small>
Đề tài nghiên cứu các triết lý xử lý NCTNVPPL dưới góc độ liên ngành, chủ yếu từ góc độ tư pháp hình sự va phan liên quan của pháp luật về xử lý
<small>hành chính.</small>
Đối với thực tiễn pháp luật quốc gia có liên quan, đề tài giới hạn nghiên cứu thực tiễn lập pháp về xử lý NCTNVPPL ở các quốc gia Anh, Pháp, Canada,
</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">Trung Quốc va Việt Nam. Thực tiễn lập pháp của các quốc gia trong nghiên cứu này được tiếp cận mở rộng hơn so với phạm vi khái niệm lập pháp thông thường, tức là không chỉ liên quan đến hoạt động làm luật của Nghị viện/Quốc hội mà còn được thé hiện trong việc xây dựng các loại văn bản pháp luật có liên quan khác của những cơ quan nhà nước có thầm quyên.
Trong phạm vi nghiên cứu của dé tài, các hệ thống tư pháp NCTN của
quốc gia được nhóm tác giả lựa chọn dé nghiên cứu so sánh bao gồm: Anh quốc là quốc gia khởi nguồn của những triết lý đầu tiên về tư pháp NCTN; Pháp là
quốc gia phát triển về tư pháp NCTN và có cùng truyền thống pháp luật civil
law với Việt Nam cũng như vốn có nhiều ảnh hưởng tới pháp luật Việt Nam vì lý do lịch sử; Canada là quốc gia đi đầu trong các cải cách về tư pháp NCTN và có sự đa dang về các triết lý xử lý NCTN VPPL; Trung Quốc là quốc gia Châu Á có nhiều nét tương đồng về điều kiện chính trị, xã hội, văn hóa và mối quan tâm tới tư pháp NCTN với Việt Nam và cuối cùng là Việt Nam. Kết quả nghiên cứu của đề tài được thê hiện bằng những bài học kinh nghiệm về phát triển triết
lý xử lý NCTN VPPL, về những nội dung có thể vận dụng trong bối cảnh xây <small>dựng Luật tư pháp NCTN ở Việt Nam hiện nay.</small>
6. Đóng góp mới của đề tài
Đề tài là một trong vài nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam tìm hiểu việc xử lý NCTNVPPL từ nguồn gốc của van dé, đó là triết lý xử lý. Từ trước đến nay
các nghiên cứu ở Việt Nam về tư pháp NCTN nói chung và xử lý NCTNVPPL
nói riêng chỉ tập trung vào phân tích pháp luật thực định, nghiên cứu lý luận về chủ đề này rất ít và nghiên cứu về triết lý xử lý chỉ mới manh nha và mới dừng lại ở mức độ giới thiệu. Đề tài “Triết lý xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luật và sự thể hiện trong thực tiễn lập pháp của một số quốc gia trên thế
giới” lần đầu tiên đi phân tích khái niệm triết lý xử lý NCTNVPPL và đưa ra định nghĩa về khái niệm này. Lần đầu tiên ở Việt Nam, các triết lý này được giới
thiệu và phân tích ở một bình diện rộng nhất, cu thể nhất và sâu sắc nhất. Van dé ảnh hưởng của các triết lý này tới tồn bộ q trình xây dựng pháp luật của các
quốc gia, trong đó có Việt Nam, lần đầu được phân tích tương đối hệ thống và sâu sắc. Đây cũng là cơng trình nghiên cứu đầu tiên đề xuất khung vấn đề cần được đưa vào dự thảo Luật Tư pháp người chưa thành niên dé thé hiện rõ nét
triết lý xử ly NCTNVPPL.
</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về mặt khoa hoc, đề tài góp phan phát triển lý luận về tư pháp đối với NCTN nói chung và cơ sở lý luận cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về xử lý NCTN vi phạm pháp luật nói riêng. Về mặt thực tiễn, đề tài có thé được sử
<small>dụng làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy cho các bậc đào tạo luật. Bên cạnh đó,</small>
dé tài có thé có những đóng góp cho việc xây dựng Luật tư pháp NCTN va một số văn bản pháp luật có liên quan trong lĩnh vực tư pháp này ở Việt Nam.
8. Cau trúc của đề tài
Đề tài được chia thành hai nội dung lớn:
- Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài
Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài bao gồm hai phần: Phần thứ
nhất là “Mở đầu”; Phần thứ hai là “Các kết quả nghiên cứu chính của đề tài”.
- Các chuyên đề của đề tài
Chuyên dé 1: Khái quát về triết lý xử ly NCTN vi phạm pháp luật.
Chuyên đề 2: Các triết lý xử lý NCTN vi phạm pháp luật trong thực tiễn
<small>lập pháp của Anh và sự gợi mở cho Việt Nam.</small>
Chuyên đề 3: Các triết lý xử lý NCTN vi phạm pháp luật trong thực tiễn
<small>lập pháp của Pháp và sự gợi mở cho Việt Nam.</small>
Chuyên đề 4: Các triết lý xử lý NCTN vi phạm pháp luật trong thực tiễn
<small>lập pháp của Canada và sự gợi mở cho Việt Nam.</small>
Chuyên đề 5: Các triết lý xử lý NCTN vi phạm pháp luật trong thực tiễn
lập pháp của Trung Quốc và sự gợi mở cho Việt Nam.
Chuyên dé 6: Các triết lý xử lý NCTN vi phạm pháp luật trong thực tiễn
lập pháp của Việt Nam và những đề xuất.
</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">PHAN THU HAI
CAC KET QUA NGHIEN CUU CHINH CUA DE TAI
<small>CHUONG 1</small>
KHAI QUAT VE TRIET LY XU LY NGUOI CHUA THANH NIEN VI PHAM PHAP LUAT
<small>1.1. Khái niệm “Người chưa thành niên vi phạm pháp luật” va “Viphạm pháp luật của người chưa thành niên”</small>
Người chưa thành niên (NCTN) được coi là người chưa trưởng thành đầy đủ cả về thé chất và tinh thần. Vì tinh trạng chưa trưởng thành đó, họ khơng thé tự quyết định và/hoặc tự mình tham gia vào những quan hệ pháp luật nhất định.
Khái niệm NCTN được tiếp cận từ cả hai góc độ: chuẩn mực pháp lý quốc tế và
pháp luật quốc gia, trong đó có pháp luật Việt Nam.
NCTN theo pháp luật và thông lệ quốc tế được hiểu là người dưới độ tuôi
trưởng thành. Khác với khái niệm trẻ em, khái niệm này trong pháp luật quốc tế
không được sử dụng trong bối cảnh rộng mà chỉ được dùng trong lĩnh vực tư
pháp hình sự. NCTN vi vậy được hiểu gồm những người ở độ tuổi thanh thiếu niên có hành vi vi phạm pháp luật, bi can, bị cáo, người bi kết án, bị giam giữ, bị thi hành các phán quyết hình sự. Theo Bộ Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu về thực
hiện tư pháp đối với NCTN (Quy tắc Bắc Kinh}, “NCTN là một trẻ em hoặc
một thanh thiếu niên, theo những hệ thống pháp luật tương ứng, sẽ được xử lý về một hành vi vi phạm pháp luật theo cách khác với người trưởng thành” (Quy tac 2.2(a)). Bình luận chính thức của Quy tắc này nêu rõ giới hạn tuổi sẽ tùy
thuộc vào mỗi hệ thống pháp luật với tinh thần tơn trọng các đặc điểm về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và pháp lý của các quốc gia thành viên. Định nghĩa về NCTN như vậy tạo ra một sự phong phú về độ tuổi của nhóm chủ thé này
trong thực tiễn, có khoảng cách được xác định từ 7 đến 18 tuổi và hơn nữa.
Luật pháp của các quốc gia sử dụng thuật ngữ NCTN khi nói về “người
<small>chưa thành niên vi phạm pháp luật” (NCTNVPPL) hoặc “người chưa thành niên</small>
<small>* Xem: UNICEF-Bộ Tư pháp (2009), Thuật ngữ tư pháp người chưa thành niên, Hà Nội, tr.72.</small>
<small>> The United Nations Standard Minimum Rules for the Administration of Juvenile Justice (The Beijing Rules)</small>
<small>— ban hành theo Nghị quyêt của Đại Hội dong LHQ sô 40/33 ngày 29 tháng 11 năm 1985.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27"><small>bị buộc tội”. Ví dụ như theo Luật cải cách tư pháp người chưa thành niên của Mỹ</small>
năm 2018 thì NCTN được hiểu là người dưới độ tuổi chịu TNHS day đủ theo quy định của pháp luật bang và bị bắt, bị tạm giam, bị kết án hoặc bị áp dụng các biện pháp giám sát, cải tao’; Singapore quy định NCTN là người từ đủ 7 tuổi đến dưới
16 tuổi vi phạm pháp luật (Luật trẻ em và thiếu niên năm 1993); Phillipines quy
định đó là người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi phạm tội (Luật tư pháp va phúc lợi NCTN năm 2006); Luật về Tịa gia đình và NCTN của Thái Lan (1991) tuy không trực tiếp sử dụng thuật ngữ NCTN nhưng đối tượng thuộc thâm quyền xét xử của tòa này là những trẻ em và thiếu niên vi phạm pháp luật từ đủ 7 tuổi đến dưới 18 tuổi; Nhật Bản quy định NCTN là người dưới 20 tuổi vi phạm pháp luật
<small>hoặc có nguy co vi phạm pháp luật (Luật NCTN năm 1948); v.v...</small>
Như vậy, có thé thấy trong pháp luật quốc tế và pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới, khái nệm NCTNVPPL (hay trong các văn bản pháp lý quốc tế trước đây thường được phản ánh băng thuật ngữ “juvenile offender” và ngày nay
là cụm từ “children in conflict with the law”) là khái niệm dùng dé chỉ những
người dưới 18 tuổi có hành vi cau thành một vi phạm pháp luật. Trong dé tài này, ở một số nội dung các tác giả còn đề cập đến thuật ngữ “thanh thiếu niên
phạm pháp”. Đây có thể xem là khái niệm rộng hơn khái niệm NCTNVPPL vì
có những quốc gia quy định độ tuổi này lên đến 21 tuổi hoặc hơn.
<small>Trong pháp luật Việt Nam, khái nệm NCTN được định nghĩa và sử dụng</small> với sự khác biệt nhất định so với chuẩn mực pháp lý quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia khác. Thuật ngữ này được sử dụng cả trong lĩnh vực dân sự, theo đó Bộ
luật dân sự Việt Nam năm 2015 quy định NCTN là người dưới 18 tuổi (Điều
21). Trong khi đó các đạo luật quan trọng về hình sự của Việt Nam hầu như
không sử dụng thuật ngữ NCTN. Một số đạo luật hình sự trước đây như BLHS
năm 1999, BLTTHS năm 2003 đều sử dụng thuật ngữ “NCTN” để chỉ người
dưới 18 tuổi phạm tội. Tuy nhiên khi được sửa đổi vào năm 2015, với tinh thần đi trước đón đầu định hướng xây dựng Luật trẻ em là nâng độ tudi của trẻ em lên tới đưới 18 tuôi, các đạo luật trong lĩnh vực hình sự này đã không tiếp tục sử dụng thuật ngữ NCTN mà chuyền sang dùng thuật ngữ “người dưới 18 tuổi”. Cụ
thé theo BLHS năm 2015 đây là những “người dưới 18 tuổi phạm tội”, còn theo <small>BLTTHS năm 2015 họ là “người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18</small>
<small>* Xem: Section 102(5)(B) và các quy định khác của Luật cải cách tư pháp người chưa thành niên của Mỹ. Đăng</small>
<small>tải tại: gress.øgov/l I5/plaws/publ385/PLAW-I1Spubl385.pdf</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">tuổi”. Những tên gọi này khơng làm thay đơi bản chất vốn có của khái niệm NCTN trong lĩnh vực tư pháp hình sự, vì thực chất độ ti của nhóm chủ thé này vẫn giữ nguyên. Trên thực tế cũng như trong khoa học pháp lý hình sự, thuật ngữ này vẫn tiếp tục được sử dụng và vẫn được hiểu là thuật ngữ dùng dé chỉ người dưới 18 tuôi. Trong lĩnh vực luật hành chính, NCTN bị xử lý vi phạm hành chính là những người từ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện hành vi vi phạm hành chính hoặc hành vi có dấu hiệu của tội phạm nhưng NCTN chưa đủ tuổi chịu TNHS theo Điều 12 BLHS năm 2015.
Một van đề nữa cần được thông nhất nhận thức trong dé tài này là khái
niệm “vi phạm pháp luật của người chưa thành niên”. Ở bình diện pháp luật
quốc tế, các văn bản pháp luật trước đây thường gọi hành vi này là vi phạm của NCTN (thuật ngữ tiếng Anh thường được sử dung là juvenile offences hoặc juvenile delinquents). Sau này, pháp luật quốc tế và các quốc gia có xu hướng
<small>sử dụng thuật ngữ “trai với pháp luật” (conflict with the law) hoặc “hành vi</small> phạm pháp của người trẻ tuổi” (delinquent behaviours) để chỉ những hành vi
này. Nhìn chung pháp luật quốc tế thể hiện cách nhìn cũng như sử dụng thuật ngữ có tính chất dung hịa về khái niệm này để phù hợp với thực tiễn quy định
về tội phạm và vi phạm khác nhau ở các quốc gia, đồng thời cũng làm nhẹ đi sự gay gắt của xã hội đối với các vi phạm của NCTN. Cách gọi đó cũng bớt đi tính miệt thị và sự dán nhãn xấu cho trẻ em vi phạm pháp luật, vì đã không
dùng thuật ngữ “chưa thành niên” (juvenile). Các chuẩn mực pháp lý quốc tế về tư pháp NCTN cũng khuyến nghị các quốc gia khơng tội phạm hóa các hành
vi bị nhìn nhận là xấu vì tình trạng đang là trẻ em của người thực hiện hành vi
(status offences) như bỏ học, trốn tiết, đi chơi qua đêm, quan hệ tình dục ở tuổi
<small>chưa thành niên, v.v...</small>
Hiện nay có cách hiểu và quy định không giống nhau về VPPL (VPPL) ở
các hệ thống pháp luật, trong đó ở một số quốc gia có sự phân định giữa tội phạm và vi phạm hành chính trên cơ sở tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi (ví dụ như Việt Nam, Nga, Đức, Canada...), trong khi ở nhiều quốc gia khác chỉ có khái niệm tội phạm và quy định tội phạm bao gồm cả các
hành vi vi phạm nhỏ, có tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kê, thường
được gọi là tội vi cảnh (ví dụ như các nước Anh, Pháp,...). Trong 5 hệ thống pháp luật được nghiên cứu ở đề tài này, chỉ pháp luật Việt Nam có quy định tách biệt về vi phạm hành chính của NCTN, các quốc gia còn lại đều quy định chung
</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">về các vi phạm của NCTN (bao gồm cả những hành vi có tính chất vi cảnh và tội nghiêm trọng) cũng như các van dé về xử lý chúng trong một thé thống nhất.
Vì vậy, dé tránh việc thiếu thống nhất trong cách hiểu và tiếp cận van dé, dé tài nay sử dung thuật ngữ giống như cách được thé hiện trong pháp luật quốc tế, theo đó thuật ngữ “vi phạm pháp luật của người chưa thành niên” được dùng để bao hàm tất cả khái niệm tội phạm và vi phạm hành chính do NCTN thực
hiện ở cả hai kiểu hệ thống pháp luật nói trên. Trong những phân tích dưới đây
hoặc ở các chuyên đề có liên quan đến từng hệ thống pháp luật cụ thé được
<small>nghiên cứu so sánh, tùy từng trường hợp các tác giả sẽ sử dụng các thuật ngữ “viphạm pháp luật” hoặc “tội phạm” một cách phù hợp.</small>
1.2. Khái niệm triết lý xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luật
“Triết lý là quan niệm chung và sâu sắc nhất của con người về những vấn
dé nhân sinh và xã hội ””. Như vậy triết lý là quan niệm chung, là suy luận, ý
niệm về những van đề nhân sinh và xã hội. Cụ thé hơn triết lý có thé được hiểu
là những quan niệm, cách nhìn nhận có tính chất nền tảng, cốt lõi cho hành
động, lỗi sống của con người hoặc cho cách ứng phó, phương sách của một cộng đồng đối với những vấn đề của con người, của cuộc sống, được đúc rút có chọn lọc bởi trải nghiệm, được phát biểu ngắn gọn, xúc tích. Ví dụ như một tín điều,
một kim chỉ nam cho cách xử thế, cho hành động hay lối sống của một cá nhân
hay một cộng đồng. Khái niệm triết lý được định nghĩa phổ biến và được công
nhận rộng rãi là hệ thống tư tưởng của con người nhằm lý giải và định hướng
cho hành động về đời sống của con người và vũ trụ mà con người đang sống. “Những triết lý này được đúc kết từ thực tiễn của đời sống và vũ trụ xoay quanh cuộc sống con người... Một triết lý đúng đắn, có giá trị thường sẽ được áp dụng trong lĩnh vực tương ứng với tam quan trọng cao.” Triết lý có trước, được kiểm chứng rồi mới có thé trở thành chân lý khoa học. Triết lý có thé là những suy
luận, suy tư sâu xa hoặc là những lẽ thường về con người, về cuộc sống. Ví dụ điển hình trong đời sống của người Việt Nam là những triết lý như “nhân chi sơ <small>tính bản thiện” hay “đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại”, v.v...</small>
Nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn đã chỉ ra triết lý là bộ phận cốt
<small>lõi và quan trọng của văn hóa. Triệt lý trong mơi nên văn hóa thường gân gũi,</small>
<small>” Nguyễn Như Y (Chủ biên), Dai tir điển tiếng Việt, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung tâm ngơn ngữ và văn hóa</small>
<small>Việt Nam, NXB. Văn hóa thơng tin, tr. 1707.</small>
<small>Xem: hffps://www.ngoaingucongdong.com(triet-ly-la-g1-mot-so-triet-ly-trong-glao-duc/, truy cập ngày30/7/2022.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">gan bó trực tiếp với đời sống hàng ngày của con người. Triết lý được truyền tải qua giáo dục của nhà trường, giáo dục của gia đình, tiếp thu qua kinh nghiệm, học hỏi ở bạn bè, v.v...Các triết lý là sự khái qt hóa kinh nghiệm và khơng
phải là lý luận nên dễ hiểu, dé vận dụng, sát với tâm thức, ban sắc, tính cách của
cộng đồng nên dễ đi sâu vào lòng người, dễ tiếp thu và định hướng cho hoạt động”. Như vậy có thê nói triết lý về những vấn đề nhân sinh và xã hội rất đa dạng vì những vấn đề về con người và cuộc sống rất phong phú. Trong phạm vi đề tài nay, chúng tôi chỉ bàn đến triết lý xử ly NCTN VPPL. Đó là những triết lý về việc
giải quyết van dé trách nhiệm pháp ly của NCTN VPPL từ cả góc độ pháp lý va <small>góc độ tâm lý, xã hội; từ cả lợi ích của NCTN VPPL và lợi ích chung của cộng</small>
đồng. Theo ching tơi, triết lý xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luật là những quan điểm, tư tưởng chủ dao, cốt lõi trong việc nhìn nhận, đánh giá, quan tâm, đưa ra biện pháp để giải quyết thấu đáo và hợp lý các vấn đề pháp lý của
họ. Cụ thể hơn đó là những quan điểm, tư tưởng định hướng cho việc hoạch định
chính sách, xây dựng và thực thi pháp luật dé xử lý các vấn dé pháp lý của người chưa thành niên vi phạm pháp luật. Đó là những hệ tư tưởng hay quan điểm cốt
<small>lõi của giới luật học nói chung, của các nhà tội phạm học và hình sự học nói</small> riêng, của nhà làm luật và những nhà hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực tư pháp
NCTN về nguyên nhân và các giải pháp phịng, chống vi phạm hành chính và tội
phạm của NCTN; về sự cần thiết, mục đích và cách xử ly NCTN VPPL; về
nguyên tắc xử lý NCTN VPPL; về vai trò của các thiết chế tư pháp và xã hội trong xử lý NCTN VPPL. Những triết lý này làm nên một phần cơ sở cho sự hình
thành và phát triển các mơ hình tư pháp NCTN, các hệ thống tư pháp NCTN va <small>có ảnh hưởng lớn tới việc ban hành và thi hành các chính sách, các đạo luật và các</small>
văn bản pháp luật có liên quan khác về tư pháp NCTN ở các quốc gia’.
Xử lý NCTN VPPL không thuần túy là việc xây dựng pháp luật và áp dụng trách nhiệm pháp lý đúng và tương xứng để công lý được thực thi. Đối
tượng NCTNVPPL với những đặc điểm riêng xuất phát từ lứa tuổi và tâm, sinh
<small>lý, với yêu câu được tiép cận một cách nhạy cam, thân thiện và dựa trên quyên</small>
<small>7 Xem: Lương Đình Hải (2020), Văn hóa, triết lý và triết học, truy cập tại: Văn hóa, triết lý và triết hoc*</small>
<small>(vass.gov.vn), ngày 11/5/2022.</small>
<small>* Xem ví du như: Đào Lệ Thu (2022), “Triết lý xử li NCTN phạm tội trong lập pháp của Canada — Liên hệ vớiViệt Nam và những dé xuất”, Ti ap chi Luật học, s6 9; Susan Reid, Rebecca Bromwich (2019), Youth and theLaw, Edmond Montgomery Publications Limited, Canada; Hoàng Xuân Châu, “Các triết lý phổ biến trong xửlí NCTN phạm tội trên thế giới - Kinh ngiệm của Anh, xứ Wales và gợi ý cho Việt Nam”, Tap chí Luật học,số 2 /2021; Harry R. Dammer, Jay S. Albanese, Comparative Criminal Justice Systems, Wadworth Cengage</small>
<small>Learning, Firth Edition, 2014.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">khiến việc xử lý họ cũng trở nên phức tạp hơn và cần nhiều nỗ lực hơn. Việc xử lý đó giống như một cuộc đấu tranh cả về mặt pháp lý và về mặt xã hội, tâm ly,... dé NCTN VPPL có thé nhận ra cái xấu, cái sai, cái trái pháp luật và có thê
thiết lập cho mình ý thức cũng như kỉ luật trong cuộc sống: bên cạnh đó dé cộng
đồng, xã hội có thể nhận thức đúng và có tắm lịng, có trách nhiệm trong việc chung tay xử lý và cải tạo NCTN VPPL. Triết lý xử lý NCTN VPPL vì vậy luôn mang hơi thở của cuộc đấu tranh tạo dựng lại ý thức song thién, sống có kỉ luật và có ý thức tuân thủ pháp luật cho NCTN VPPL; đồng thời bồi đắp tinh thần cảm thông và lòng trắc ấn cho cộng đồng trước vấn đề của NCTN VPPL.
Triết lý xử lý NCTN VPPL là một trong những cơ sở cốt lõi cho sự hình thành và phát triển của lĩnh vực tư pháp đối với NCTN. “Tư pháp đối với
<small>NCTN” dưới góc độ lý luận là một tập hợp các nghiên cứu liên ngành tâm lýhọc, tội phạm học, khoa học luật hình sự và tư pháp hình sự. Mảng nghiên cứu</small> liên ngành này có đối tượng nghiên cứu là NCTN VPPL (hoặc có nguy cơ <small>VPPL), NCTN là người bị buộc tội hoặc là người bị hại, người làm chứng.</small>
Phạm vi các vẫn đề được nghiên cứu của lĩnh vực tư pháp đối với NCTN bao gồm: các khái niệm, nguyên tắc và mô hình tư pháp đối với NCTN nhìn từ cả
hai góc độ lý luận và chuẩn mực pháp lý quốc tế cũng như pháp luật quốc gia; sự phát triển của NCTN và những khía cạnh tâm lý của NCTN vi phạm pháp <small>luật/phạm tội hoặc có nguy cơ vi phạm pháp luật /pham tội cũng như của NCTN</small> là nạn nhân, nhân chứng của tội phạm trong mối quan hệ với việc phòng ngừa <small>và xử lý NCTN vi phạm pháp luật /phạm tội; bảo vệ NCTN nói chung khỏi cácnguy cơ xâm hại và NCTN là nạn nhân và nhân chứng của tội phạm; xử lýNCTN vi phạm pháp luật và phạm tội, trong đó chú trọng nghiên cứu các biện</small> pháp xử lý thay thé cho tư pháp chính thống; các thủ tục tố tụng và thiết chế tư
pháp hình sự bảo đảm tiếp cận nhạy cảm và vì lợi ích tốt nhất của NCTN. Dưới góc độ thực tiễn, tư pháp đối với NCTN là một phan của hệ thống tư pháp trong đó điều chỉnh, xử lý NCTN vi phạm pháp luật/phạm tội hoặc NCTN bị buộc tội.
Các nội dung thuộc phạm vi điều chỉnh của tư pháp đối với NCTN khá rộng và phức hợp: từ phòng ngừa việc vi phạm pháp luật của NCTN đến can thiệp sớm
trong những trường hợp có yếu tơ nguy cơ cao, từ xử lý chuyên hướng đến truy tố và xét xử, từ thi hành án và bảo đảm các điều kiện giam giữ đến tái hòa nhập cộng đồng đối với NCTN đã chấp hành án xong. Trợ giúp pháp lý cho NCTN
trong các thủ tục pháp lý cũng là những nội dung trong hệ thống phức hợp đó.
</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">Khái niệm tư pháp đối với NCTN theo cách tiếp cận mang tính phức hợp này bao gồm hệ thống các quy định pháp luật có liên quan đến NCTN vi phạm pháp luật, hệ thống các cơ quan áp dụng pháp luật về NCTN (bao gồm cả đội ngũ cán bộ thực thi pháp luật) cũng như các yếu tố xã hội khác tham gia vào các hoạt động bảo vệ lợi ích của NCTN trong việc tiếp cận công lý”.
Như vậy triết lý xử lý NCTN VPPL là một trong những cơ sở cốt lõi, kim chỉ nam cho các hoạt động từ xây dựng pháp luật đến thực hiện pháp luật
về NCTN, từ phòng ngừa (với ý nghĩa là phòng ngừa tái phạm và can thiệp sớm dé ngăn chặn nguy cơ VPPL) đến xử lý VPPL của NCTN. Các triết lý này luận giải cho những ưu tiên về chính sách cũng như pháp luật đối với NCTN VPPL. Trong đó, sự ra đời hay thay đổi của chính sách hình sự nói chung và
chính sách hình sự đối với NCTN phạm tội nói riêng cũng chịu sự chi phối của
các triết lý này. Có sự ảnh hưởng đó bởi vì chính sách hình sự đối với NCTN phạm tội thé hiện quan điểm, tư tưởng, đường lối của Dang (cầm quyên), chính sách pháp luật của Nhà nước trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm do
NCTN thực hiện'?. Dé tài nghiên cứu chỉ giới hạn trong việc tìm hiểu bản chất
và sự thể hiện của các triết lý này trong thực tiễn lập pháp của một số quốc gia, trong đó có Việt Nam, từ đó đưa ra những đề xuất liên quan đến hoàn thiện
pháp luật Việt Nam về xử lý NCTN VPPL.
Triết lý xử lý NCTN VPPL - với bản chất là hệ thống tư tưởng, quan niệm, lối suy nghĩ, sự luận bàn về nội dung và cách thức xử lý NCTN VPPL -mang tính chủ quan và ln cần có thực tiễn kiểm chứng để có thê trở thành chân lý khoa học hoặc bị phủ định. Dù các triết lý xử lý NCTN VPPL có thé
được dựa trên nhiều yếu tố khách quan và khoa học, chúng vẫn thê hiện lăng
<small>kính chủ quan của các nhà luật học, người xây dựng chính sách và pháp luật</small> cũng như người làm công tác thi hành và áp dụng pháp luật, vẫn phát sinh và
được định hình bởi một số yếu tố mang tính kinh nghiệm, tính thực tiễn hoặc tính ý chí. Các triết lý khi được hình thành từ càng nhiều yếu tố tồn tại khách quan thì sẽ càng phản ánh đúng vai trò, chức năng của hệ thống tư pháp (cả chính thống và phi chính thống) trong việc xử lý NCTN VPPL, càng phù hợp và
phát huy được ý nghĩa đối với thực tiễn xây dựng và thực hiện pháp luật về NCTN. <small>° Xem: UNICEF-B6 Tư pháp (2009), Thuật ngữ tư pháp người chưa thành niên, Hà Nội, tr. 98.</small>
<small>'° Xem: Trương Quang Vinh, “Chính sách hình sự áp dụng đối với NCTN phạm tội — Từ lich sử lập pháp đến</small>
<small>quy định trong BLHS năm 2015”, trong sách: Trường Dai học Luật Hà Nội (2019), Luật học Viét Nam </small>
<small>-Những van dé đương đại (Sách chuyên khảo), NXB. Tư pháp, tr. 565-593.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">1.3. Các yếu tơ định hình triết lý xử lý người chưa thành niên vi
<small>phạm pháp luật</small>
Trước hết, nhân sinh quan là một yếu tố định hình triết lý xử ly NCTNVPPL. “Nhân sinh quan là quan niệm về cuộc đời, thành hệ thống bao gồm lí tưởng, lẽ sống, lối sống, v.v...”'" Nhân sinh quan cũng được hiểu là cách nhìn nhận đời sống, công việc, xã hội, lịch sử, dựa theo lợi ích của giai cấp mình. Nhân sinh quan do đó bao gồm cả quan niệm về nguyên nhân cho những
<small>xử sự của con người và sự nhìn nhận tính đúng, sai cũng như hệ quả của hành vi</small>
của con người. Như vậy có thể hiểu nhân sinh quan của các nhà luật học hay làm công tác pháp luật trong thực tiễn là khởi nguồn cho cách suy nghĩ, quan niệm, đánh giá của họ về VPPL của NCTN, về cách thức xử lý NCTNVPPL, về vai trò của nhà nước và thành tố xã hội trong việc giải quyết các vấn dé của NCTNVPPL, trong đó có vấn đề trách nhiệm pháp lý của họ. Một nhân sinh quan tiễn bộ, tích cực và có cơ sở sẽ là tiền đề tốt dep cho những triết lý xử lý
NCTNVPPL nhân văn, thấu cảm và phù hợp.
Bên cạnh đó, văn hóa có vai trị bồi đắp cho các triết lý. Một nhà nghiên
cứu đã nhận định văn hóa dân tộc là nguồn sữa bất tận nuôi dưỡng và phát
triển các triết lý. “Một nên văn hóa càng phát triển thì số lượng và chiéu sâu của các triết lý càng lon” va “các triết lý phát triển và mở rộng đến đâu thi
chúng mở đường, tạo hướng, dựng khuôn mẫu cho các hành vi, giao tiếp và hoạt động để tạo ra những giá trị văn hóa mới, mơi trường văn hóa mới, sản
phẩm văn hóa mới ”'Š.
Yếu tố tiếp theo có thê ké đến là truyền thống. Truyền thống là hệ thống
những giá trị tinh thần và vật chất, hữu hình và vơ hình, những phong tục, tập
qn, thói quen, hành vi, việc làm thuộc lao động, lối sống, lối tổ chức của một
<small>dân tộc, một xã hội đã được gia đình và xã hội tích lũy từ đời này sang đời khác</small>
và đã được truyền lại cho nhau từ những người sống trong cùng một thời đại,
một thế hệ, tức là những người cùng thời, tới những người thuộc các thế hệ sau,
thế hệ tương lai. Truyền thống, theo nghĩa chung được hiểu là những hiện tượng văn hóa — xã hội, bao gồm tư tưởng tình cảm, tập quán, thói quen, phong tục, lối sống, cách ứng xử được hình thành trong những điều kiện lịch sử nhất định,
<small>được bảo tôn qua năm tháng trong đời sông vat chat va tinh thân của các cộng</small>
<small>'! Nguyễn Như Ý (Chủ biên), Đại tir điển tiếng Việt, Bộ Giáo duc và Đào tạo, Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa</small>
<small>Việt Nam, NXB. Văn hóa thơng tin.</small>
<small>'? Xem: Lương Dinh Hải (2020), 4.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">đồng xã hội khác nhau và có thé chuyển giao từ thế hệ này qua thế hệ khác. Truyền thống tương thân tương ái cũng như truyền thống sẻ chia, cảm thơng chính là cội nguồn cho tư tưởng tư pháp phục hồi cũng như tư pháp dựa trên cộng đồng trong xử lý NCTNVPPL. Ví dụ như truyền thống văn hóa gia đình, cộng đồng của những tộc người thổ dân ở New Zealand, trong đó có người Maori đã là nền tảng cho triết lý tư pháp phục hồi, thể hiện rõ nét nhất ở mơ hình “họp nhóm gia đình” đã được xem là điển hình trên thé giới ”. Hay có thé thay hệ thống tư pháp NCTN của Việt Nam chịu ảnh hưởng khá sâu sắc của những triết lý văn hóa, đạo đức truyền thống, đó là sự kết hợp giữa văn hóa hướng thiện và khoan dung - kết quả của những tư tưởng Nho giáo và Phật giáo — với triết lý “hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau”.
Ngồi ra, một yếu tố nữa cũng có ảnh hưởng quan trọng tới triết lý xử lý NCTNVPPL là quan điểm về vai trò của giáo dục và các phương thức khác trong việc hình thành và phát triển các phâm chất của con người, đặc biệt là của
thế hệ trẻ. Nếu nhìn nhận vai trị cốt yếu của giáo dục và coi trọng các giá trị
như tơn trọng, dân chủ, nhân văn... thì triết lý xử ly NCTNVPPL sẽ trở nên mềm
dẻo, thân thiện; nhưng nếu có cách nhìn khắc nghiệt hoặc thậm chí cực đoan về điều chỉnh suy nghĩ, hành vi của con người thì sẽ cho ra triết lý theo kiểu “yêu
cho roi cho vọt”. Vi dụ khi xem xét hệ thống tư pháp NCTN cua Anh và xứ
Wales, Charles Taylor nhận định giáo dục cần được xem là yêu tố trung tâm và là cách ứng phó của hệ thơng tư pháp đối với VPPL của NCTN. Chính vì vậy ơng cho răng cần duy trì tiếp cận phúc lợi và thiết lập hệ thống trường học an
toàn (Secure Schools) cho những NCTN phạm các tội nghiêm trọng ”. Nhìn chung các triết lý xử lý NCTNVPPL đều xuất phát từ tư tưởng nhân văn hay chủ nghĩa nhân văn trong giáo dục con người. Tư tưởng nhân văn là hệ thống quan điểm, lý luận về con người, xuất phát từ sự tôn trọng giá trị, nhân phâm con
<small>người, yêu thương con người, tin vào sức sáng tạo vô biên của con người, col'3 Bộ Văn hóa, Thẻ thao và Du lịch, Vụ Gia đình, “Khái niệm truyền thống, giá trị truyền thống, gia đình, tại:</small>
<small>http://giadinh. bvhttdl. gov. vn/khai-niem-truyen-thong-gia-tri-truyen-thong-gia-dinh/, truy cập: 06/08/2022.</small>
<small>'“ Xem: Carolyn Henwood, Stephen Stratford (2014), New Zealand Gift to the World — The Youth Justice</small>
<small>Family Group Conference, Wellington: The Henwood Trust.</small>
<small>'S Xem: Đào Lệ Thu, “Tu pháp người chưa thành niên của Việt Nam và sự nhận diện từ những mơ hình tư phápngười chưa thành niên phố biến trên thé giới”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế Tu pháp với người chưathành niên — Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam, tô chức tại Trường Đại học Luật Hà Nội, tháng</small>
<small>'* Xem: Ministry of Justice (2016), Review of the Youth Justice System in England and Wales, by Charles</small>
<small>Taylor, truy cap 22/7/2022.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">quyền con người được phát triển tự do hạnh phúc va lợi ich của con người là tiêu chuẩn đánh giá các quan hệ xã hội ”.
Triết lý xử lý NCTNVPPL còn chịu sự chi phối của các yếu tố chính trị và kinh tế. Quan điểm chính trị của một nhà nước, của các đảng phái chính tri có
<small>ảnh hưởng tới suy nghĩ, tư tưởng của giới luật nói riêng và của nhà nước, xã</small>
hội nói chung về sự cần thiết và cách thức xử lý NCTNVPPL. Một nhà nghiên cứu về tư pháp NCTN đã nhận định xu thế quan điểm chính trị đóng một vai trò quan trọng trong cuộc tranh luận về cách xử lý hành vi của những người trẻ và theo ông xu thế ay diễn đi diễn lại cuộc tranh luận giữa chủ đề “luật pháp và lệnh trừng phạt” với chủ đề “xử lý chuyển hướng và các chiến lược thay thế”'3.
Có thê thấy rõ sự chi phối này qua sự hình thành và lan tỏa của triết lý phúc lợi khi mà nhà nước ở thời điểm đó áp dụng học thuyết “cha mẹ nhân dân”, tự cho
mình đóng vai trị là người thay thé cho bố mẹ dé của NCTN dé giáo dục, cải
tạo và chăm sóc họ. Trong thực tiễn tư pháp NCTN ở Việt Nam, triết lý của chủ nghĩa cộng sản trong việc hình thành và phát triển thế hệ trẻ có ảnh hưởng sâu sắc. Đặc biệt khi nhìn lại những bước phát triển của tư pháp NCTN Việt Nam có thê nhận thấy sự ảnh hưởng và tư tưởng chỉ đạo của những chính sách đối với trẻ em của Đảng. Chính phủ Việt Nam đã sớm thé hiện những lí tưởng <small>cộng sản trong việc xây dựng các chương trình giáo dục và hành động mang</small>
tính xã hội hóa đối với thanh thiếu niên”. Bên cạnh đó, sự phát triển của nền
kinh tế cũng góp phần định hình những quan niệm về xử lý NCTNVPPL. Một nền kinh tế chưa phát triển với sự thiếu thốn về cơ sở vật chất dành cho việc cải tạo và giáo dục NCTNVPPL sẽ khơng thé có có cơ sở cho triết lý phúc lợi. Trong khi điều kiện kinh tế đó lại thúc đây triết lý dựa trên cộng đồng trong
việc chuyển vai trò chủ đạo trong xử lý NCTNVPPL sang cho chủ thé khác
ngồi nhà nước, vì triết lý này tạo ra cơ chế xử lý thay thế tư pháp chính thơng
của nhà nước và do đó bớt đi được một gánh nặng cho ngân sách quốc gia. Một
nghiên cứu đã chỉ ra “về mặt lý thuyết, việc sử dụng triết lý trừng phạt sẽ giảm <small>'7 Xem: Nguyễn Thị Hương (2007), 7 tung nhân văn truyền thống Việt Nam từ thé kỷ X đến thé kỷ XIV, NXB.</small>
<small>Lao động — xã hội, Hà Nội.</small>
<small>'8 Xem: Smith, R. (2014), Youth Justice: Ideas, Policy, Practice, 3" edition, London, UK: Routledge.</small>
<small>'° Xem: Dao Lệ Thu, “Tu pháp người chưa thành niên của Việt Nam và sự nhận diện từ những mơ hình tư phápngười chưa thành niên phố biến trên thé giới”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế Tu pháp với người chưathành niên — Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam, tô chức tại Trường Đại học Luật Hà Nội, tháng</small>
<small>6/2019.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36"><small>đi khi mà công chúng trở nên thát vọng về sự tôn kém kinh tê găn với các chính</small>
<small>tử kề bl 20</small>
<small>sách trừng tri...”</small>
Một yếu tố khác góp phần định hình triết lý xử lý NCTNVPPL là sự phát
triển của tội phạm học và các khoa học có liên quan đến tư pháp hình sự. Những
thay đơi về mặt tư tưởng trong các lý thuyết về nguyên nhân tội phạm đã khiến những người cấp tiễn hình thành các triết lý kiểm sốt xã hội và tư pháp hình sự mới ở thé ki 19. Vào dau thé ky này, các nhà cải cách tư pháp hình sự tiến bộ mong muốn vị thế khoa học va tìm cách củng cố những điểm tương đồng giữa thuyết xác định nhân quả của khoa học tự nhiên và thuyết này của khoa học xã
<small>hội. Tội phạm học đã vay mượn cả phương pháp luận và thuật ngữ từ ngành y</small>
khoa. Tội phạm học tích cực khăng định những thuyết khoa học về hành vi lệch chuẩn, chuyên hướng nghiên cứu về người phạm tội theo một cách khoa học và tìm cách xác định các yếu tô gây ra tội phạm và VPPL. Theo PGS. TS. Dương Tuyết Miên, có nhiều học thuyết của các học giả trên thé giới nghiên cứu về van
đề NCTN thực hiện VPPL (trong đó có tội phạm) mà tiêu biểu là thuyết gan nhãn và thuyết nhóm khác biệt. Học giả tiêu biéu cho thuyết gan nhãn là Frank Tannenbaum, Howard Becker. Thuyết gán nhãn là lý thuyết dựa trên hành vi của
cá nhân để gán nhãn. Thuyết này cho rằng hành vi của cá nhân lệch lạc hay
<small>khơng cũng như có phải là tội phạm hay khơng là do phản ứng của các cá nhân</small> khác trong xã hội nhiều hơn là tự thân hành vi đó biểu hiện và các cá nhân khác <small>gan cho hành vi mà cá nhân đã thực hiện cái nhãn là hành vi lệch lạc hoặc tội</small>
phạm.”'. Học giả tiêu biểu cho Thuyết nhóm khác biệt là Edwin Sutherland. Tư tưởng chính của Thuyết nhóm khác biệt là người phạm tội đã học việc phạm tội thơng qua nhóm khác biệt qua quá trình tiếp xúc, giao tiếp với những người khác và những người này có ảnh hưởng nhất định đối với việc gây ra tội phạm.
Sutherland đã nhẫn mạnh vai trò của học lại từ xã hội được giải thích như là ngun nhân của tội phạm. Ơng cho răng tất cả những hành vi có ý nghĩa của
COn người chăng qua là sự học lại và hành vi phạm tội là một hình thức của hành vi cũng khơng nằm ngồi phạm trù đó””. Như vậy những nhà tội phạm học cải
cách cho rằng hành vi phạm tội được xác định thay vì được lựa chọn, làm giảm <small>trách nhiệm đạo đức của các chủ thê đôi với hành vi của họ và cô găng thay đôi°° Jacqueline A. Meyers (1999), The Determinants of Juvenile Justice Policy in France and Germany, Ph.D. in</small>
<small>Public Policy and Administration, Center for Public Policy, Virginia Commonwealth University, tr. 9.</small>
<small>*! Xem: Dương Tuyết Miên (2022), Tôi phạm học đương đại, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr. 134.? Xem: Dương Tuyết Miên (2022), 71-4, tr. 129.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">người phạm tội thay vì trừng phạt họ”. Nhiều cơng trình nghiên cứu ngày nay cho rằng các thuyết trên là cơ sở nền tảng của việc áp dụng biện pháp xử lý chuyên hướng đối với NCTN vi phạm pháp luật.” Chính vi vậy cách suy nghĩ của các nhà tội phạm học về VPPL của NCTN giống như cách chân đoán bệnh và điều trị bệnh trong y khoa. Triết lý xử lý NCTNVPPL lúc này là tư tưởng điều trị thay vì trừng phạt. Ngày càng nhiều các chuyên gia khoa học xã hội đã áp dụng các phương pháp tương tự y khoa để “điều trị” những người phạm tội và ni dưỡng lý tưởng “phục hồi” trong các chính sách tư pháp hình sự. Một lý
tưởng phục hồi phát triên mạnh mẽ địi hỏi một niềm tin vào tính dé uốn nắn của
hành vi con người và sự đồng thuận cơ bản về các hướng thay đổi phù hợp của con người. Tư tưởng “cải tạo dé phục hồi” đã thắm nhuan trong nhiều cải cách
tư pháp hình sự tiễn bộ như việc thiết kế các chế định quản chế và tạm tha, các
bản án khơng xác định và tịa án dành cho NCTN, đồng thời thúc đây các chính sách cởi mở, khơng chính thức và rất linh hoạt.
Ngồi ra, sự phát triển của các nghiên cứu tâm lý học về NCTN cũng tạo cơ sở cho những quan điểm tích cực, cấp tiễn về xử lý NCTNVPPL. Mang tâm lý học về NCTN và VPPL của họ đã cho thấy những ảnh hưởng lớn của các yếu
tố nguy cơ và bảo vệ trong quá trình phát triển của các em dé thay được sự cần thiết phải có các biện pháp xử lý hiệu quả. Những thành tựu nghiên cứu tâm lý học này đã giúp các nhà tư pháp hình sự định hình những triết lý xử lý như cải
tạo, phục hồi”.
Bên cạnh đó, các yếu tơ xã hội như sự bình ồn hay bất 6n của xã hội cũng
khiến nhà nước và giới luật có quan điểm mềm dẻo hoặc cứng rắn đối với việc xử lý, răn đe phịng ngừa người có hành vi VPPL, trong đó có NCTN. Thực tiễn
dau tranh phịng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác ở Việt Nam đã cho thấy điều đó. Trong những năm vừa qua (thời gian trước và sau khi BLHS và
BLTTHS năm 2015 được ban hành), nhiều ý tưởng và ý kiến, thái độ đối với <small>°3 Xem: Juvenile Justice: History and </small>
<small>Philosophy, truy cap 15/8/2022.</small>
<small>Xem: Robert L.Marsh and Steven B. Partrick (2006), Chapter 25- Juvenile Diversion Program, trong sach:Handbook of Juvenile Justice, Theory and Practice, Taylor and Francis Group, tr 473-489; Kirk HeilbRun,Naomi E.Sevin GoldsTein and Richard E. Reeding (2005), Juvenile deliquency prevention, asessment andintervention, Oxford University Press, tr 161-178; ChristopherJ.Scheck (2017), Encyclopedia of JuvenileDelinquency and Justice, Wiley Blackwell; Andrew McGrath (2008), “The effect of Diversion from Court: Areview of the evidence”, Psychiatry, Psychology and Law, Vol. 15 No. 2, tr. 317-339.</small>
<small>Xem: Trường Đại học Luật Ha Nội (2020), Giáo trình Tư pháp đối với người chưa thành niên, NXB. Tư</small>
<small>pháp, tr. 53-99.24</small>
<small>25</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">những vấn đề về xử lý NCTN phạm tội ở Việt Nam đã được đưa ra và thể hiện. Những ý kiến, thái độ đó đến từ các đại biểu Quốc hội, giới truyền thông, các
<small>nhà khoa học xã hội và khoa học pháp lý và cả những cán bộ thực thi pháp luật.</small>
Các ý kiến tập trung vào những vấn đề về chính sách hình sự và đường lối xử lý
hình sự đối với NCTN phạm tội. Phần lớn những tranh luận có liên quan đến phạm vi chịu trách nhiệm hình sự (TNHS) của NCTN phạm tội. Nhiều ý kiến <small>ủng hộ một phạm vi giới hạn hơn các tội phạm mà NCTN phải chịu TNHS,</small>
trong khi một số khác vẫn luận giải cho sự cần thiết duy trì cách quy định về ti chịu TNHS như trong BLHS năm 19995. Có quan điểm còn cực đoan khi cho rang cần xử lý trẻ em theo cùng một đường lối giống như các chủ thé đã
thành niên, không quan tâm đến sự phát triển tự nhiên của thời niên thiếu. Quan
điểm đó có lẽ là kết quả của sự lo lắng trước một vài vụ án đặc biệt nghiêm trọng và gây xôn xao dư luận thời gian vừa qua’’. Một số ý kiến khác có vẻ ủng
hộ việc thực hiện một chính sách xử lý đúng mức déi với tội phạm cua NCTN VỚI mong muốn bảo vệ trật tự và an toàn xã hội, đề cao việc bảo vệ các lợi ích
cơng hơn quyền lợi của NCTNỶ. Như vậy triết lý phòng ngừa cũng đang trở nên
<small>đáng chú ý trong tư pháp NCTN ở Việt Nam.</small>
Từ góc độ tư pháp hình sự, triết lý xử lý NCTNVPPL nhìn nhận và quan niệm về việc xử lý dựa trên những lý giải về nguyên nhân của VPPL của NCTN
và đặc điểm phát triển của NCTN, dựa trên thực tiễn của tình hình VPPL của
<small>NCTN, dựa trên mức độ hiệu quả của những biện pháp xử lý hiện tại, dựa trên</small>
quan điểm về vai trò của các chủ thể trong xã hội đối với việc xử lý NCTNVPPL
(bao gồm cả các chủ thê thi hành và áp dụng pháp luật nhân danh nhà nước).
Cuối cùng, một yếu tố nữa góp phần định hình và phát triển các triết lý xử lý NCTNVPPL cả trên bình diện quốc tế và quốc gia là các chuẩn mực pháp lý
quốc tế, được thể hiện rõ nét trong nhiều văn kiện pháp lý quốc tế về tư pháp <small>°° Xem vi dụ như các ban tin về thảo luận của các đại biểu quốc hội chuyên trách về hai phương án quy địnhtuổi chịu trách nhiệm hình sự, truy cập ngày 12/5/2019 tại: </small>
<small>Vi du như những ý kiến về việc cần áp dung hình phạt tù chung thân hoặc thậm chi tử hình đối với Lê VănLuyện, người chưa thành niên đã giết 4 thành viên của một gia đình tại Bắc Giang năm 2011, thơng tin truy</small>
<small>cập ngày 12/5/2019 tại https:/giaoduc.net.vn/Xa-holBan-an-du-luan-danh-cho-sat-thu-Le-Van-Luyen-post12977.gd</small>
<small>Vi du xem: Pham Minh Tuyên, Phong ngừa tội phạm người chưa thành niên của Toa án thơng qua hoạt</small>
<small>động xét xử các vụ án hình sự - Kết quả, những bat cập hạn chế và nguyên nhân, truy cập ngày 8/5/2019, tại:</small>
<small> page _1d=27677461&pers 1d=28346379&folder_id=&item_id=96168833&p_details=1</small>
<small>28</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">NCTN. Các quy phạm và chuan mực quốc tế về tư pháp đối với NCTN được xác lập tập trung và chuyên biệt trong một số văn bản pháp lý sau: Hướng dẫn của LHQ về phòng ngừa phạm pháp ở NCTN (Hướng dẫn Riyadh); Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của LHQ về thực hiện tư pháp đối với NCTN (Quy tắc Bắc Kinh); Quy tắc của LHQ về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do (Quy tắc Havana); Chiến lược mẫu và biện pháp thực tiễn của LHQ về xóa bỏ bạo lực đối với trẻ em trong lĩnh vực phòng ngừa tội phạm và tư pháp hình sự. Ngồi ra cịn có một số văn bản pháp lý quốc tế chung khác cũng chứa đựng những quy phạm hoặc chuẩn mực liên quan đến tư pháp đối với NCTN như: Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị; Cơng ước chống tra tan va
những hành động đối xử hoặc trừng phạt khác mang tính độc ác, vô nhân đạo
hay hạ nhục; Quy tắc tối thiểu của Liên Hợp quốc về các biện pháp không giam giữ (Quy tắc Tokyo); Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên Hợp quốc về việc đối
xử đối với tù nhân (Quy tắc Mandela); Những nguyên tắc và hướng dẫn của
LHQ về tiếp cận trợ giúp pháp lý trong các hệ thống tư pháp hình sự; Nguyên tắc cơ bản của LHQ về sử dụng các chương trình tư pháp phục hồi trong những
vấn đề hình sự, v.v...”
Ra sốt các văn bản đó có thé thấy các quy phạm và chuẩn mực quốc tế <small>tập trung vào các nội dung: phòng ngừa NCTN vi phạm pháp luật; ghi nhận</small>
quyền của NCTN vi phạm pháp luật; thực hiện tư pháp đối với NCTN, trong đó có xử lý và thi hành án đối với NCTN vi phạm pháp luật, xử lý chuyển hướng và tư pháp phục hồi đối với NCTN. Vi dụ như về phòng ngừa NCTN vi phạm pháp
luật, Hướng dẫn Riyadh xác định những chính sách và biện pháp phòng ngừa NCTN phạm pháp nên liên quan đến một số yếu tố trong đó bao gồm những triết lý và cách tiếp cận chuyên biệt về phòng ngừa phạm pháp NCTN có mục đích
giảm động cơ, nhu cầu, cơ hội và điều kiện của vi phạm pháp luật của NCTN. Về thực hiện tư pháp đối với NCTN, Quy tắc Bắc Kinh cũng xây dựng các tiêu chuẩn tối thiểu về tư pháp NCTN ở tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng
hình sự (điều tra, truy tố, xét xử và quyết định các biện pháp xử phạt) và với những thủ tục tố tụng nhạy cảm (bắt, tạm giam), đồng thời đưa ra những biện pháp thay thé cho tư pháp chính thơng như xử lý chuyển hướng, xử lý ngoài hệ <small>°° Xem những phân tích cụ thể về các chuẩn mực pháp lý quốc tế này trong Đào Lệ Thu (2020), Chương |</small>
<small>“Khái quát về tư pháp đôi với người chưa thành niên”, Giáo trinh Tư pháp doi với người chưa thành niên củaTrường Đại học Luật Ha Nội, NXB. Tư pháp, tr. 40-46.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">thong tư pháp chính thống, xử ly không đưa vào các cơ sở giam giữ...”” Quy tắc Havana đã thiết lập các chuẩn mực tối thiểu để bảo vệ NCTN bị tước tự do nhằm giảm những ảnh hưởng tiêu cực do việc giam giữ và tạo điều kiện để các em này được tái hòa nhập cộng đồng nơi sinh sống. Theo Quy tac Havana, NCTN bi
giam giữ theo lệnh bắt hoặc khi chờ xét xử được giả định là vô tội và sẽ được đối <small>xử như người vơ tội (Item 17). Bởi vì việc tước tự do chỉ được xem là biện pháp</small>
cuối cùng và trong thời hạn ngắn nhất thích hợp nên các tòa án và cơ quan điều tra buộc phải dành ưu tiên tối da có ngay giải pháp cho các vụ án như vậy.
Các quy phạm và tiêu chuẩn được đưa ra trong các văn kiện pháp lý quốc tế này tạo thành một khung pháp lý có tính chất bắt buộc ở một số khía cạnh và có tính chất khuyến nghị (luật mềm) ở những khía cạnh khác, định hướng cho các quốc gia trong việc theo đuôi các triết lý xử lý NCTN VPPL và hiện thực
hóa trong hệ thống pháp luật của họ.
1.4. Các triết lý xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luật điển hình Triết lý đầu tiên cần được nói đến là triét lý phúc lợi dựa trên học thuyết pháp lý Parens priae”” một học thuyết có nguồn gốc từ thời trung cơ trong đó
nêu lên rang Hồng gia Anh có thé can thiệp vào các van dé gia đình nếu cha me
khơng thê hoặc khơng muốn chăm sóc cho lợi ích (an sinh) của đứa trẻ. Triết lý
<small>này xác định nhà nước như cha mẹ của trẻ em và NCTN, vì vậy phải chăm lo</small>
cho phúc lợi của NCTN phạm tội. Triết lý phúc lợi tạo nên tảng tư tưởng cho mơ
hình đầu tiên về tư pháp NCTN là mơ hình phúc lợi hay mơ hình cải tạo với
quan điểm xử lý dựa trên đặc điểm của cá nhân với sự chăm lo của Nhà nước,
được hình thành ở Anh theo Luật về trẻ em năm 1908 và được phát triển ở các
nước theo truyền thống Common Law như Anh, Mỹ vào những năm dau của thé
kỉ 20. Với triết lý đó, tiễn trình tư pháp được chuyền từ việc xem xét lỗi của <small>người phạm tội chưa thành niên sang tìm phương hướng giáo dục thơng qua việc</small>
xử lý cải tạo thay thé cho trừng phạt. Một ý tưởng khác cũng nổi lên cùng thời điểm đó là thiếu niên cần được đối xử như những cá nhân có cả nhu cầu và quyền mà nhà nước cần bảo vệ ”. Triết lý phúc lợi còn xuất phát từ nền tang lý
<small>*° Các biện pháp thay thế cho tư pháp chính thống là những biện pháp thực hiện bởi các chủ thé ngồi hệ thốngtư pháp chính thống và sử dụng các cách thức khơng chính thống dé xử lý vi phạm pháp luật do NCTN gâyra, như sử dụng các cơ chế tại cộng đồng.</small>
<small>3' Thuật ngữ Latinh có nghĩa là cha mẹ của quốc gia.</small>
<small>3 Richard J. Terrill (2016), World Criminal Justice Systems — A Comparative Survey, Ninth Edition, New</small>
<small>York: Anderson Publishing.</small>
</div>