Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (19.67 MB, 225 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
<small>1 </small>
<small>2 </small>
<b>LỜI CAM ĐOAN </b>
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật. Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật.
Tôi cũng xin hứa rằng: luận án này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác.
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2023
Nghiên cứu sinh
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4"><b>LỜI CẢM ƠN </b>
Tôi bày tỏ lời cảm ơn trân trọng nhất dành cho Bố, Mẹ, anh, chị và gia đình nhỏ của tơi. Tất cả họ là những người mang lại niềm vui, động lực và điểm tựa để tôi thực hiện những hồi bão trong cuộc sống.
Tơi gửi sự biết ơn trân trọng nhất tới tất cả Thầy, Cô đã tận tình truyền đạt kiến thức và các chuyên viên cũng như các nhân viên hành chính của Khoa Sau Đại học - Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh đã hỗ trợ tơi trong suốt thời gian tôi tham gia học tập tại Trường. Đặc biệt, tơi dành sự tơn kính cao nhất đối với thầy PGS. TS. Nguyễn Thuấn với sự tận tình và lịng nhiệt huyết. Những hướng dẫn, góp ý và tình cảm của Thầy đã giúp tơi có được sự tự tin và lịng quyết tâm phải hồn thành luận án.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn các cán bộ quản lý, đồng nghiệp, bạn bè tại trường Đại Học Tài Nguyên và Môi Trường Thành phố Hồ Chí Minh đã quan tâm, động viên, khun bảo và góp ý cho tơi trong suốt q trình học tập và nghiên cứu.
Xin trân trọng cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2023
Nghiên cứu sinh
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5"><b>TÓM TẮT </b>
Luận án nghiên cứu tác động của tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến mật độ carbon dioxide (CO2) đối với phúc lợi con người (Carbon instensity of well-being-CIWB). Nghiên cứu này đề cập tác động của tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng và vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi đến CIWB trong cùng một mơ hình.
Sau khi thực hiện lược khảo các lý thuyết và các nghiên cứu trước đây về CIWB, luận án nhận thấy CIWB là cách thức rất có giá trị để hiểu sự liên kết giữa phát triển và sự bền vững, "cân bằng giữa phúc lợi con người với các tác động đến môi trường lý sinh" (Dietz, Rosa và York, 2009). Ngồi ra, với cách tính bằng lượng khí thải CO2 so với phúc lợi con người, chỉ số CIWB đã cung cấp một thông tin rất quan trọng là sự hy sinh về môi trường cho việc đạt được mục tiêu về phúc lợi con người. Do đó, nghiên cứu về CIWB gắn liền với các hoạt động kinh tế sẽ cho thấy rõ quan điểm về phát triển bền vững hơn. Bên cạnh đó, việc xem xét tác động của tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến CIWB trong cùng một mơ hình là một nghiên cứu rất hiếm thấy trong lĩnh vực phát triển bền vững nếu không kể những nghiên cứu mà nghiên cứu sinh (Nguyễn Thuấn & Đặng Bắc Hải, 2021 và Đặng Bắc Hải, Nguyễn Thuấn & Trần Thị Diễm Nga, 2023) đã thực hiện. Ngồi ra, luận án cịn phát hiện thêm: nghiên cứu về sự thay đổi qua thời gian của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến CIWB và nhóm quốc gia có độ nhạy với CIWB được chọn làm mẫu nghiên cứu cũng rất hiếm nghiên cứu nào đề cập đến. Cụ thể hơn, nghiên cứu về sự thay đổi qua thời gian của tiêu thụ năng lượng tác động đến CIWB có thể tìm thấy qua vài nghiên cứu của: Sweidan (2017) và Nguyễn Thuấn và Đặng Bắc Hải (2021) nhưng nghiên cứu về sự thay đổi qua thời gian của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động đến CIWB thì hiếm tìm thấy hơn. Vì vậy, luận án đã đề xuất các hướng nghiên cứu:
- Nghiên cứu tác động của tác động của tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến CIWB.
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">- Nghiên cứu về sự thay đổi riêng rẻ qua thời gian của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và của tiêu thụ năng lượng tác động đến CIWB.
Tiếp theo, luận án đã mô hình hố các hướng nghiên cứu đã đề ra và giới hạn phạm vi nghiên cứu là nhóm quốc gia có độ nhạy với CIWB và trong giai đoạn 2000-2019.
Luận án đã sử dụng các kiểm định để kiểm tra các khuyết tật trong các mô hình và sau đó thực hiện ước lượng bằng mơ hình hồi quy Prais–Winsten đơn vị chéo chuỗi thời gian với sai số chuẩn điều chỉnh dữ liệu bảng (Panel-corrected Standard Error-PCSE) và kỹ thuật tự hồi quy bậc nhất (AR1) do Beck và Katz (1995). Kết quả nghiên cứu của luận án đã chỉ ra tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tác động đến CIWB một cách có ý nghĩa thống kê. Cụ thể hơn: tăng trưởng kinh tế và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tác động làm giảm CIWB, ngược lại, tiêu thụ năng lượng tác động làm tăng CIWB. Ngoài ra, trong các biến kiểm sốt đưa vào mơ hình thì chỉ có biến đơ thị hố tác động làm giảm CIWB một cách có ý nghĩa thống kê, trong khi hai biến phụ nữ tham gia lao động và giáo dục thì chưa tìm thấy bằng chứng tác động đến CIWB. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu sự thay đổi qua thời gian của FDI tác động đến CIWB đã cho thấy các hệ số tác động của FDI hầu hết là số âm nhưng chỉ giai đoạn 2007-2019 là có ý nghĩa thống kê. Ngược lại, kết quả nghiên cứu sự thay đổi qua thời gian của tiêu thụ năng lượng tác động đến CIWB thì các hệ số tác động của tiêu thụ năng lượng luôn là số dương với độ lớn giảm dần qua thời gian và có ý nghĩa thống kê trong toàn bộ giai đoạn nghiên cứu từ 2000-2019.
Với các kết quả nghiên cứu đạt được, luận án đã đưa ra những gợi ý chính nhằm giúp các quốc gia thuộc nhóm quốc gia có thu nhập trung bình với các đặc điểm: dân số đơng và mức phát thải CO2 bình qn theo đầu người cao giảm thiểu được khí thải CO2 ra môi trường và nâng cao phúc lợi con người. Bên cạnh đó, luận án cũng trình bày những hạn chế và đề xuất hướng nghiên cứu trong tương lai.
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7"><b>DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ... xiv</b>
<b>Chương 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI ... 1</b>
1.1. Lý do nghiên cứu ... 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu ... 10
1.3. Câu hỏi nghiên cứu ... 11
1.4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu ... 11
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu ... 11
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu ... 12
1.4.3. Dữ liệu nghiên cứu ... 13
1.5. Phương pháp nghiên cứu ... 14
1.5.1. Phương pháp thu thập, thống kê và tổng hợp tài liệu ... 14
1.5.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng ... 14
1.6. Ý nghĩa của nghiên cứu ... 15
1.6.1. Ý nghĩa khoa học ... 15
1.6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận án ... 15
1.7. Điểm mới của luận án ... 16
1.8. Kết cấu của luận án nghiên cứu ... 17
<b>Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT ... 18</b>
2.1. Các khái niệm sử dụng trong luận án ... 18
2.1.1. Khái niệm Carbon dioxide (CO2) ... 18
2.1.2. Khái niệm phúc lợi con người ... 19
2.1.3. Khái niệm mật độ CO2 đối với phúc lợi con người (CIWB) ... 20
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">2.1.4. Khái niệm tăng trưởng kinh tế ... 23
2.1.5. Khái niệm tiêu thụ năng lượng ... 24
2.1.6. Khái niệm vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ... 25
2.2. Lược khảo các lý thuyết ... 26
2.2.1. Mơ hình IPAT và STIRPAT ... 26
2.2.2. Lý thuyết đường cong Kuznet về môi trường ... 28
2.2.3. Lý thuyết hiện đại hoá sinh thái ... 30
2.2.4. Lý thuyết sản xuất liên tục ... 31
2.2.5. Các lý thuyết khác ... 32
2.3. Lược khảo các cơng trình nghiên cứu trước ... 36
2.3.1. Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với CO2 và với phúc lợi con người ... 36
2.3.2. Mối quan hệ giữa tiêu thụ năng lượng với CO2 và với phúc lợi con người ... 41
2.3.3. Mối quan hệ giữa vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với CO2 và với phúc lợi con người ... 50
2.3.4. Tác động của tăng trưởng kinh tế đến mật độ CO2 đối với phúc lợi con người (CIWB) ... 57
2.3.5. Tác động của tiêu thụ năng lượng đến mật độ CO2 đối với phúc lợi con người (CIWB) ... 68
2.3.6. Tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến mật độ CO2 đối với phúc lợi con người (CIWB) ... 72
2.3.7. Mối quan hệ riêng rẻ giữa đơ thị hố, giới và giáo dục với CO2 và với phúc lợi con người ... 74
2.4. Đề xuất các hướng nghiên cứu ... 79
2.4.1. Nghiên cứu tác động của tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến mật độ CO2 đối với phúc lợi con người (CIWB) tại nhóm quốc gia đã đề cập trong giai đoạn (2000-2019)-Hướng nghiên cứu thứ nhất ... 79
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">2.4.2. Nghiên cứu riêng rẻ sự thay đổi qua thời gian về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tiêu thụ năng lượng tác động đến mật độ CO2 đối với phúc lợi con người (CIWB) tại nhóm quốc gia đã đề cập trong giai đoạn
(2000-2019)- Hướng nghiên cứu thứ hai: ... 80
<b>Chương 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU ... 83</b>
3.1. Quy trình nghiên cứu ... 83
3.2. Phương pháp nghiên cứu ... 85
3.2.1. Phân tích thống kê mơ tả ... 85
3.2.2. Phân tích hồi quy Prais-Winsten đơn vị chéo thời gian với sai số chuẩn hiệu chỉnh dữ liệu bảng (PCSE) ... 85
3.2.3. Các mơ hình nghiên cứu ... 88
3.3. Các kiểm định ... 98
3.3.1. Kiểm định nghiệm đơn vị ... 98
3.3.2. Kiểm định phụ thuộc chéo ... 98
3.3.3. Kiểm định tự tương quan ... 99
3.3.4. Kiểm định phương sai sai số thay đổi ... 99
3.3.5. Kiểm định hiện tượng nội sinh ... 99
3.3.6. Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến ... 100
4.1.1. Một số đặc điểm về nhóm nước nghiên cứu ... 105
4.1.2. Thống kê mô tả các biến số ... 115
4.2. Kiểm định tính dừng ... 116
4.3. Nghiên cứu tác động của tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến mật độ CO2 đối với phúc lợi con người (CIWB) (Mơ hình 3.1’) ... 117
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">4.3.1. Kiểm định sự phụ thuộc chéo ... 117
4.3.2. Kiểm định phương sai sai số thay đổi ... 117
4.3.3. Kiểm định tự tương quan ... 117
4.3.4. Kiểm định hiện tượng nội sinh trong mơ hình ... 118
4.3.5. Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến ... 118
4.3.6. Kết quả hồi quy tác động của tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng và vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi đến CIWB (Mơ hình 3.1’) ... 119
4.3.7. Kiểm tra tính vững ... 124
4.4. Nghiên cứu sự thay đổi qua thời gian của FDI tác động đến CIWB (Mơ hình 3.2b) ... 125
4.4.1. Kiểm định sự phụ thuộc chéo ... 125
4.4.2. Kiểm định phương sai sai số thay đổi ... 126
4.4.3. Kiểm định tự tương quan ... 126
4.4.4. Kiểm định đa cộng tuyến ... 126
4.4.5. Kết quả hồi quy sự thay đổi qua thời gian của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động đến CIWB (Mơ hình 3.2b) ... 127
4.4.6. Kiểm tra tính vững ... 131
4.5. Nghiên cứu sự thay đổi qua thời gian của tiêu thụ năng lượng tác động đến CIWB (Mơ hình 3.3b) ... 132
4.5.1. Kiểm định sự phụ thuộc chéo ... 132
4.5.2. Kiểm định phương sai sai số thay đổi ... 132
4.5.3. Kiểm định tự tương quan ... 132
4.5.4. Kiểm định đa cộng tuyến ... 133
4.5.5. Kết quả hồi quy sự thay đổi qua thời gian của tiêu thụ năng lượng
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">5.2.1. Gợi ý về chính sách tăng trưởng kinh tế ... 142
5.2.2. Gợi ý về chính sách tiêu thụ năng lượng ... 143
5.2.3. Gợi ý về chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi ... 144
5.2.4. Gợi ý về chính sách đơ thị hố ... 145
5.3. Hạn chế của nghiên cứu ... 145
5.4. Hướng nghiên cứu trong tương lai ... 146
<b>DANH MỤC CÁC NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ XUẤT BẢN TẠI CÁC TẠP CHÍ VÀ NHÀ XUẤT BẢN VÀ CÁC BÁO CÁO TẠI CÁC HỘI THẢO VỀ KINH TẾ ... 148</b>
<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO ... 150</b>
<b>PHỤ LỤC ... 180</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12"><b>DANH MỤC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ </b>
Trang Hình 2.1: Đồ thị mối quan hệ giữa môi trường và tăng trưởng kinh tế ... 29 Hình 2.2: Tác động của tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng và vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi đến CIWB ... 79 Hình 2.3: Nghiên cứu sự thay đổi qua thời gian về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động đến CIWB ... 80
<i>Hình 2.4: Nghiên cứu sự thay đổi qua thời gian về tiêu thụ năng lượng tác động đến </i>
CIWB ... 81 Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu ... 84 Hình 4.1: Lượng khí thải CO2 của nhóm nước nghiên cứu trong giai đoạn 2000-2019 ... 106 Hình 4.2: Tuổi thọ trung bình của người dân ở nhóm nước nghiên cứu trong giai đoạn 2000-2019... 107 Hình 4.3: Hình mật độ CO2 đối với phúc lợi con người (CIWB) ở nhóm nước nghiên cứu trong giai đoạn 2000-2019 ... 108 Hình 4.4: GDP bình quân theo đầu người ở nhóm nước nghiên cứu trong giai đoạn Hình 4.7: Đơ thị hố ở nhóm nước nghiên cứu trong giai đoạn 2000-2019 ... 112 Hình 4.8: Phụ nữ tham gia lao động ở nhóm nước nghiên cứu trong giai đoạn
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">Hình 4.11: Các hệ số độ co giãn về tác động ước tính của tiêu thụ năng lượng đến CIWB cụ thể qua từng năm trong giai đoạn 2000-2019 ... 135
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14"><b>DANH MỤC BẢNG </b>
<b> Trang</b>
Bảng 1.1: Các điểm mới của luận án ... 16
Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với CO2 ... 37
Bảng 2.2: Tóm tắt các nghiên cứu về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phúc lợi con người (tuổi thọ trung bình) ... 40
Bảng 2.3: Tóm tắt các nghiên cứu về mối quan hệ giữa tiêu thụ năng lượng với CO2 ... 44
Bảng 2.4: Tóm tắt các nghiên cứu về mối quan hệ giữa tiêu thụ năng lượng với phúc lợi con người ... 48
Bảng 2.5: Tóm tắt các nghiên cứu về mối quan hệ giữa vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với CO2 ... 52
Bảng 2.6: Tóm tắt các nghiên cứu về mối quan hệ giữa FDI với phúc lợi con người ... 56
Bảng 2.7: Tóm tắt các nghiên cứu xem xét tác động sự thay đổi qua thời gian của tăng trưởng kinh tế đến CIWB ... 60
Bảng 2.8: Tóm tắt các nghiên cứu về tác động của tăng trưởng kinh tế (không đề cập đến sự thay đổi qua thời gian) đến CIWB ... 63
Bảng 2.9: Tóm tắt các nghiên cứu về tác động của tiêu thụ năng lượng đến CIWB theo hai hướng ... 70
Bảng 2.10: Tóm tắt các nghiên cứu về tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến CIWB ... 72
Bảng 3.1: Định nghĩa các biến trong mô hình ... 91
Bảng 3.2: Định nghĩa các biến trong mơ hình ... 94
Bảng 4.1: Thống kê mơ tả các biến số ... 115
Bảng 4.2: Kiểm định tính dừng cho các biến sử dụng nghiên cứu ... 116
Bảng 4.3: Kiểm định sự phụ thuộc chéo giữa các quốc gia trong mơ hình ... 117
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">Bảng 4.4: Kiểm định phương sai sai số thay đổi trong mơ hình ... 117
Bảng 4.5: Kiểm định tự tương quan trong mơ hình ... 117
Bảng 4.6: Kiểm định nội sinh biến tăng trưởng kinh tế trong mơ hình ... 118
Bảng 4.7: Kiểm định đa cộng tuyến trong mơ hình ... 118
Bảng 4.8: Kết quả hồi quy tác động của tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng và FDI đến CIWB bằng phương pháp Prais-Winten với PCSE ... 119
Bảng 4.9: Kết quả hồi quy tác động của tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng và FDI đến CIWB của nhóm nước có GDP bình qn theo đầu người cao hơn GDP bình qn theo đầu người của tồn bộ mẫu nghiên cứu bằng phương pháp FGLS ... 124
Bảng 4.10: Kiểm định sự phụ thuộc chéo giữa các quốc gia trong mơ hình ... 125
Bảng 4.11: Kiểm định phương sai sai số thay đổi trong mơ hình ... 126
Bảng 4.12: Kiểm định tự tương quan trong mơ hình ... 126
Bảng 4.13: Kiểm định đa cộng tuyến trong mơ hình ... 126
Bảng 4.14: Kết quả ước lượng mơ hình (3.2b) bằng phương pháp hồi quy Prais-Winsten với PCSE ... 127
Bảng 4.15: Kết quả ước lượng sự thay đổi qua thời gian của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến CIWB tại nhóm nước có GDP bình qn theo đầu người cao hơn GDP bình quân theo đầu người của toàn bộ mẫu nghiên cứu bằng phương pháp FGLS ... 131
Bảng 4.16: Kiểm định sự phụ thuộc chéo giữa các quốc gia trong mơ hình ... 132
Bảng 4.17: Kiểm định phương sai sai số thay đổi trong mô hình ... 132
Bảng 4.18: Kiểm định tự tương quan trong mơ hình ... 132
Bảng 4.19: Kiểm định đa cộng tuyến trong mơ hình ... 133
Bảng 4.20: Kết quả ước lượng mô hình (3.3b) bằng phương pháp hồi quy Prais-Winsten với PCSE ... 134
Bảng 4.21: Kết quả ước lượng sự thay đổi qua thời gian của tiêu thụ năng lượng đến CIWB tại nhóm nước có GDP bình qn theo đầu người cao hơn GDP bình quân theo đầu người của toàn bộ mẫu nghiên cứu bằng phương pháp FGLS ... 137
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16"><b>DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT </b>
AR(1) <b>: First-Order Auto Regression </b>
ARDL : Autoregressive Distributed Lag
ASEAN : Association of Southeast Asian Nations BRICS : Brazil, Russia, India, China, and South Africa CO2 : Carbon Dioxide
CIWB : Carbon Intensity of Well-Being
Cup-BC : Continuously Updated and Bias Corrected Cup-FM : Continuously updated and Fully Modified CV : Coefficient of Variation
DN : Doanh Nghiệp
DOLS : Dynamic Ordinary Least Square
EBRD : European Bank for Reconstruction and Development EC : Energy Consumption
EF : Ecological Footprint
EIWB : Ecological Intensity of Human Well-being EKC : Environmental Kuznets Curve
EWEB : Environmental Efficiency of Well-Being FDI : Foreign Direct Investment
FGLS : Feasible General Least Square
FMOLS : Fully Modified Ordinary Least Square GDP : Gross Domestic Product
GHGs : Greenhouse Gas Emissions GMM : Generalized Method of Moments GNP : Gross National Product
HDI : Human Development Index HPI : Human Poverty Index
IPAT : Impacts Population Affluence, and Technology IV2SLS : Instrumental Variable Two-Stage Least Square
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">IMF :<i><b><small> </small></b></i>International Monetary Fund
IPCC : Intergovernmental Panel on Climate Change LE : Life Expectancy at Birth
LLC : Levin Lin and Chu
LR : Labor Force Participation Rate MENA : Middle East and North Africa MICs : Middle Income Countries
MPI :<small> </small>Multidimensional Poverty Index MYS :
NASA :<small> </small>National Aeronautics and Space Administration
Non-OECD : Non- Organization for Economic Cooperation and Development NREC : Non Renewable Energy Consumption
OECD : Organization for Economic Cooperation and Development OLS : Ordinary Least Square
PCSE : Panel-Corrected Standard Errors PHH : Pollution Haven Hypothesis<small> </small>
PMG : Pooled Mean Group PRL : Partial Linear Regression
REC : Renewable Energy Consumption SNA : System National Account
SOR : Shahbar, Omay and Rouband
STIRPAT : Stochastic Impacts by Regression on Population, Affluence, and Technology
UNCTAD : United Nations Conference on Trade and Development<small> </small>
UNDP : United Nations Development Programme UR : Urban Population Rate
USD : United States dollar
WECD : World Commision on Environment & Development WHO : World Health Organization
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18"><b>Chương 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI </b>
<i>Chương 1 nhằm mục đích giới thiệu tổng quan về luận án nghiên cứu. Cụ thể, chương này trình bày bối cảnh nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu của luận án, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu, điểm mới và kết cấu của luận án. </i>
<b>1.1. Lý do nghiên cứu </b>
Biến đổi khí hậu mà hậu quả chính là sự nóng lên tồn cầu và mực nước biển dâng đã tạo nên các hiện tượng thời tiết cực đoan hiện nay. Đây là một trong những thách thức lớn nhất mà nhân loại đang phải đối mặt. Bởi vì, biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh thái, tài nguyên môi trường và cuộc sống của con người. Việc gia tăng lượng carbon dioxide (CO2) trong khí quyển từ q trình đốt cháy nhiên liệu hóa thạch là nguyên nhân chính cho những thay đổi trong khí hậu của chúng ta kể từ cuộc Cách mạng Công nghiệp. Báo cáo mới nhất của IPCC (2018) cho thấy nhân loại chỉ còn hơn một thập kỷ để giảm một nửa lượng khí thải và đến khoảng giữa thế kỷ phải cắt giảm hoàn toàn lượng khí thải, nếu chúng ta muốn tránh nhiệt độ trung bình tồn cầu tăng lên hai độ. Nhiệt độ trung bình tăng hai độ sẽ khiến các vùng trên trái đất khơng cịn là nơi sinh sống của con người và dẫn đến thiệt hại về nông nghiệp, làm trầm trọng thêm tình trạng đói nghèo và thiếu lương thực. Cuối cùng, nếu không giảm lượng khí thải CO2 một cách đầy đủ có thể dẫn đến sự suy giảm đáng kể về phúc lợi đối với hầu hết mọi người trên thế giới.
Tổ chức Y tế Thế giới-WHO (2018) báo cáo rằng có 4.2 triệu ca tử vong sớm trên thế giới vào năm 2016 là do ơ nhiễm khơng khí xung quanh. Con số này dự kiến có thể còn tăng lên do 9/10 dân số thế giới sống ở những nơi có chất lượng khơng khí nguy hại. Suy thối mơi trường gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và có thể tìm thấy qua nhiều tài liệu. Ơ nhiễm khơng khí nghiêm trọng ngoài trời là nguyên nhân làm gia tăng các bệnh mãn tính (ví dụ như bệnh hen suyễn, bệnh tim và ung thư phổi) (Apergis, Bhattacharya & Hadhri, 2020 và Kampa & Castanas, 2008) và tăng tỷ lệ tử vong sớm (Pope, Ezzati & Dockery, 2009). Một số nghiên cứu thì cho rằng
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">suy thối mơi trường làm tăng khả năng mắc các bệnh lây truyền qua đường nước (Comrie, 2007) chẳng hạn: sốt rét và sốt xuất huyết (Hales & các cộng sự, 2002 và Tanser, Sharp & Le Sueur, 2003). Bên cạnh đó, Haines và các cộng sự (2006) cho rằng suy thối mơi trường làm tăng sự biến đổi trong hệ sinh thái và làm tăng khả năng xảy ra lũ lụt và hạn hán. Kết quả là, suy thối mơi trường có thể gây ra những thay đổi bất lợi trong sản xuất lương thực và chất lượng nước, góp phần làm tăng tỷ lệ tử vong, đặc biệt là ở nhóm trẻ sơ sinh, ở nhóm người già và ở nhóm người nghèo. Wen và Gu (2012) và Wang và các cộng sự (2014) nhận thấy rằng chất lượng không khí ảnh hưởng nghiêm trọng đến tuổi thọ của nhóm người già. Đây là nhóm những người có ít có khả năng đối phó với sự suy thối mơi trường do các bệnh khác đi kèm. Tương tự, Majeed và Ozturk (2020) đã chứng minh rằng các quốc gia có mức độ suy thối mơi trường cao hơn thì có tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh lớn hơn và ngược lại. Vì vậy, chính sách kiểm soát phát thải về carbon và phát triển nền kinh tế carbon thấp trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết ở các quốc gia trên toàn thế giới trong giai đoạn hiện nay.
Lý thuyết đường cong Kuznets (EKC) đã chỉ ra mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và suy thối mơi trường có dạng hình chữ U ngược: suy thối mơi trường tăng lên khi quá trình phát triển tiếp diễn, sau đó đạt đến một bước ngoặt và sẽ giảm xuống (Grossman & Krueger, 1991). Kilic và Balan (2018), Mosconi và các cộng sự (2020), Sahoo, Gupta và Srivastava (2021), Shahbaz và Sinha (2019) và Rahman, Nepal và Alam (2021) đã dựa vào 3 đặc tính kinh tế: hiệu ứng quy mô, hiệu ứng thành phần và hiệu ứng công nghệ để lý giải cho các nhánh đối nghịch của quan hệ này. Bên cạnh đó, lý thuyết hiện đại hố sinh thái cho rằng: (1) Thị trường và cơng nghiệp hóa đóng vai trò quan trọng trong cải cách về môi trường (Mol, Spaargaren & Sonnenfeld, 2009), (2) thay đổi công nghệ và phát triển công nghệ, (3) chuyển tải ý thức xã hội mạnh mẽ hơn vào trong các hoạt động tiêu dùng “xanh hóa” và trong khắp người dân
<i><b>toàn cầu (Mol, 2002 và Mol & các cộng sự, 2009). Hay nói cách khác, tăng trưởng </b></i>
<i><b>kinh tế, phát triển công nghệ và ý thức về môi trường xã hội được xem là những </b></i>
nhân tố thiết yếu trong việc chuyển đổi sản xuất. Những quá trình biến đổi này giúp
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">phi vật chất hóa nền kinh tế vì cần ít tài nguyên thiên nhiên hơn để phát triển xã hội (Mol & các cộng sự, 2009). Chính vì các vấn đề này, các học giả (Dietz, Rosa & York, 2012; Jorgenson & Dietz, 2015 và Knight & Rosa, 2011) đã đưa ra ý tưởng về sự bền vững được khái niệm hoá thành hiệu quả môi trường đối với phúc lợi (environmental efficiency of being- EWEB) (environmental efficiency of well-being- EWEB) và phát triển khái niệm nêu trên bằng nhiều cách đo lường khác nhau nhằm xem xét những tác động đến môi trường và phúc lợi con người do các hoạt động kinh tế gây ra.
Gần đây, các nhà nghiên cứu đã phát triển một chỉ số đại diện cho sự bền vững
<i><b>kinh tế, đó là “ Mật độ carbon dioxide đối với phúc lợi con người- Mật độ CO2 đối </b></i>
<i><b>với phúc lợi con người (Carbon intensity of well-being-CIWB)” (Briscoe & các </b></i>
cộng sự, 2021; Givens, 2017; Givens, 2018; Jorgenson, 2014; Jorgenson, 2015; Jorgenson & Givens, 2015; McGee & các cộng sự, 2017 và Wang & các cộng sự, 2022). CIWB tích hợp đồng thời các phương pháp đo lường về kết quả mơi trường (khí thải CO2) và phúc lợi con người (tuổi thọ trung bình) vào thành một biến số duy nhất và được đưa ra đầu tiên bởi Jorgenson (2014). Giải thích vì sao kết quả mơi trường được đo lường cụ thể bằng khí thải CO2 trong cách tính CIWB, Jorgenson (2014) cho rằng đây là yếu tố chính gây ra biến đổi khí hậu. Hơn nữa, khí thải CO2 cịn có khả năng thay đổi đáng kể chất lượng cuộc sống của thế hệ tương lai trên toàn cầu (IPCC, 2014; 2018). Bên cạnh đó, CIWB được sử dụng để so sánh giữa các mức độ phát triển khác nhau ở các quốc gia. CIWB tăng cho biết quốc gia đó ít đạt được sự phát triển bền vững. Ngược lại, CIWB giảm cho thấy quốc gia đó đã đạt được sự cân bằng về tuổi thọ cao hơn và lượng khí thải thấp hơn (Jorgenson, 2014). Ngoài ra, Givens (2017) cho rằng các quốc gia có tuổi thọ trung bình cao và lượng khí thải CO2 thấp hơn sẽ được xếp vào nhóm Goldemberg. Đây là nhóm mà nhu cầu cơ bản của con người có thể được đáp ứng ở mức năng lượng tối thiểu (Goldemberg & các cộng sự, 1985). Các quốc gia ở nhóm Goldemberg có thể đóng vai trị là mơ hình phát triển cho các quốc gia kém phát triển hơn (thường là các quốc gia có mức phát thải CO2 thấp) trong việc cải thiện phúc lợi của con người, mà không cần đi theo con đường
</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">hủy hoại môi trường giống như một số quốc gia phát triển hơn và cho cả các quốc gia có mức phát thải cao (thường là các nước thuộc nhóm tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế-OECD), nếu muốn theo đuổi sự phát triển bền vững (Global Commons Institute, 2003 và Meyer, 2000).
Như vậy, về mặt hình thức CIWB tăng lên là điều khơng mong muốn ở các quốc gia, điều này cũng tương tự như CO2. Tuy nhiên, về mặt nội dung thì nghiên cứu về CO2 hoặc nghiên cứu về phúc lợi con người thì chỉ phản ánh một khía cạnh về mơi trường hoặc xã hội. Trong khi đó, nghiên cứu về CIWB sẽ thể hiện đồng thời hai khía cạnh mơi trường và xã hội. Hơn nữa, thơng qua cách tính của CIWB như Jorgenson (2014) đưa ra thì chỉ số CIWB cịn cho biết một thông tin quan trọng là sự hy sinh về môi trường cho việc đạt được mục tiêu về phúc lợi con người. Do đó, nghiên cứu về CIWB gắn liền với các hoạt động kinh tế sẽ cho thấy rõ quan điểm về phát triển bền vững hơn.
Hiện nay, các quốc gia phát triển đã nổ lực cắt giảm được một phần khí thải nhà kính như đã cam kết theo Nghị định thư Kyoto. Trong khi đó, các quốc gia đang phát triển vẫn tiếp tục gia tăng phát thải ra môi trường (World Resource Institute, 2019). Thay thế cho Nghị định thư Kyoto, Hiệp định Paris có hiệu lực với cam kết các nước phát triển sẽ hỗ trợ tài chính cho các nước đang phát triển trong việc giảm khí thải ra mơi trường và nâng cao năng lực của các nước này nhằm đối phó với các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, kịch bản giảm khí thải tại các nước đang phát triển trở nên nghiêm trọng hơn những gì mọi người đang nghĩ.
Các nước đang phát triển đang dần trở thành nơi gia công các ngành công nghiệp sử dụng nhiều carbon từ các nước phát triển (Malik & Lan, 2016). Điều này được thể hiện qua nghiên cứu của UNCTAD (2018) báo cáo rằng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn cầu vào các nước đang phát triển đạt 0.6675 nghìn tỷ USD vào năm 2019. Bên cạnh đó, các quốc gia đang phát triển luôn khao khát nhu cầu về tăng trưởng kinh tế với bất kỳ chi phí mơi trường nào. Vì vậy, ở các quốc gia này, một lượng lớn năng lượng đang được khai thác để đạt được mục tiêu tăng trưởng cao và đồng thời lượng khí thải CO2 và chất thải cơng nghiệp ra môi trường cũng gia tăng
</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">theo (Kasman & Duman, 2015; Sapkota & Bastola, 2017; Sebri & Ben-Salha, 2014 và Raffin & Seegmuller, 2014).
Các kết quả trên cho thấy các quốc gia đang phát triển thường vì cái lợi ngắn hạn mà lãng quên những tác hại lâu dài do biến đổi khí hậu gây ra (Dong & các cộng sự, 2018 và Hasan, Nahiduzzaman & Aldosary, 2018). Do đó, việc ưu tiên phát triển tại các quốc gia đang phát triển trong giai đoạn này thông qua các yếu tố tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng và thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là rất cần thiết hơn so với vấn đề khẩn cấp cần giải quyết hay vấn đề giảm thiểu khí thải nhà kính như đã cam kết (Wang & Wang, 2017 và Wu, Zhu & Zhu, 2018).
Hiện nay, các quốc gia có thu nhập trung bình (Middle Income Countries-MICs) đang có sự thay đổi cơ cấu mạnh mẽ từ phát triển kinh tế dựa vào nông nghiệp sang phát triển kinh tế dựa vào công nghiệp. Kết quả là, tổng sản lượng đạt được chiếm 40% tổng sản lượng toàn cầu (World Bank, nd) và cải thiện về phúc lợi con người thông qua thơng qua tuổi thọ trung bình tăng lên 7 năm trong giai đoạn 1990-2015 (Tabutin & Masquelier, 2017), MICs dần trở thành động lực chính trong tăng trưởng kinh tế tồn cầu. Thêm vào đó, theo Ngân hàng Thế giới cho rằng tăng trưởng và phát triển bền vững tại MICs có tác động lan tỏa tích cực đến các quốc gia còn lại trên thế giới bao gồm xóa đói giảm nghèo, bất bình đẳng về giới, ổn định tài chính quốc tế và các vấn đề xuyên biên giới toàn cầu, bao gồm biến đổi khí hậu, phát triển năng lượng bền vững, an ninh lương thực, nước và thương mại quốc tế.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện tại MICs đang phải đối mặt với tình thế tiến thối lưỡng nan với tiêu thụ năng lượng nhiều cho các hoạt động, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi gia tăng mạnh và kèm theo đó lượng khí thải CO2 cũng gia tăng. Cụ thể, về tiêu thụ năng lượng, Namahoro và các cộng sự (2021) cho rằng các quốc gia thuộc có thu nhập trung bình đã góp phần đáng kể làm gia tăng tổng năng lượng tiêu thụ trên toàn cầu từ 292.246 triệu Btu năm 1980 lên 575.578 triệu Btu năm 2106 với mức tăng trung bình là 1.96 lần. Về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, Benli và Acar (2022) thống kê rằng các nền kinh tế thuộc các quốc gia có thu nhập trung bình chiếm 44,5% dịng vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi toàn cầu vào năm 2019, so với
</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">36% vào năm 2016. Trong khi đó, tỷ trọng của các nền kinh tế phát triển trong dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn cầu năm 2019 giảm xuống còn 52% trong tổng số. Cuối cùng là khí thải CO2, tổng lượng khí thải CO2 của MICs chiếm tỷ trọng 43.38% trên toàn thế giới, tăng gần 50% trong suốt giai đoạn 1990-2010 (World Bank, 2013). Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay, World Bank (nd) cho rằng các quốc gia có thu nhập trung bình chiếm tỷ trọng 60% lượng khí thải CO2 trên toàn cầu. Song song đó, Taghizadeh-Hesary và các cộng sự (2020) đã phát họa thêm lượng phát thải CO2 theo đầu người tăng từ 2 tấn vào năm 1991 lên gần 3,8 tấn vào năm 2018 tại các quốc gia có thu nhập thấp và thu nhập trung bình. Đồng thời, EBRD (2018) cũng kết luận rằng ô nhiễm môi trường tính trên một đơn vị GDP của các nước thu nhập trung bình cao hơn các nước có thu nhập cao và các nước có thu nhập thấp. Mặt khác, MICs được biết như là quê hương của khoảng 73% dân số trên toàn thế giới sống trong có hồn cảnh khó khăn (Sohag & các cộng sự, 2017) điều này có thể dẫn đến phúc lợi người dân tại đây sẽ giảm xuống.
Mục tiêu về sự bền vững là giảm thiểu tác động đến mơi trường và tối đa hóa phúc lợi con người (Dietz & các cộng sự, 2009 và Prescott-Allen, 2001). Do đó, nếu khơng có các chiến lược phát triển bền vững phù hợp về các hoạt động kinh tế trong việc cắt giảm lượng khí thải CO2 và nâng cao phúc lợi con người thì có thể làm hỏng sự thành cơng của q trình phát triển đã đạt được trước đây của MICs nói chung hoặc từng quốc gia thuộc MICs nói riêng. Một trong những minh chứng thể hiện điều này có thể tìm thấy thông qua nghiên cứu của Taghizadeh-Hesary và các cộng sự (2020). Các tác giả đã tìm thấy nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ tử vong ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình ln cao hơn tỷ lệ tử vong ở các quốc gia có thu nhập trung bình cao trong giai đoạn 1991–2018 là do khí thải CO2 gia tăng.
Với các vấn đề được nêu ra ở trên cho thấy nghiên cứu tác động của tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến mật độ carbon dioxide đối với phúc lợi con người (CIWB) theo hướng tích cực hay tiêu cực thật sự là rất cần thiết tại các quốc gia thuộc MICs. Để từ đó có thể điều chỉnh lại các chính sách về tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng, thu hút vốn đầu tư trực tiếp
</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">nước ngồi và các chính sách khác sao cho phù hợp với định hướng phát triển bền vững của các quốc gia này.
Hơn nữa, dựa vào các nghiên cứu trước đây, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng và vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi với khí thải CO2, với phúc lợi con người và với mật độ carbon dioxide đối với phúc lợi con người (CIWB) đã được thực hiện theo các hướng như sau:
<b>Thứ nhất, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng và vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi riêng rẻ với khí thải CO2, với phúc lợi con người, bao gồm: </b>
<b>Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với khí thải CO2, với phúc lợi con người </b>
- Thứ nhất, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với khí thải CO2 có thể tìm thấy qua các nghiên cứu của: Osadume và University (2021), Mikayilov và các cộng sự (2018), Trần Hà Quyên (2022), Turedi & Turedi (2021), Shahbaz và các cộng sự (2019) và Võ Hồng Đức và Hồ Minh Chí (2021).
- Thứ hai, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phúc lợi con người có thể tìm thấy qua các nghiên cứu của: Kuswanto (2021), Nguyễn Thuấn và các cộng sự (2020), Omar (2020) và Gurler và Ozsoy (2019)
<b>Mối quan hệ giữa tiêu thụ năng lượng với khí thải CO2, với phúc lợi con người </b>
- Thứ nhất, mối quan hệ giữa tiêu thụ năng lượng với khí thải CO2 có thể tìm thấy qua các nghiên cứu của: Khan và các cộng sự (2020), Lê Hoàng Nghiêm và các cộng sự (2021), Mirza và các cộng sự (2022), Nguyễn Thị Cẩm Vân và Lê Quốc Hội (2022), Nguyễn Thuấn và các cộng sự (2020), Trần Hà Quyên (2022) và Turedi & Turedi (2021)
- Thứ hai, mối quan hệ giữa tiêu thụ năng lượng với phúc lợi con người có thể tìm thấy qua các nghiên cứu của: Dương Minh Hà và Nguyễn Hoài Sơn (2021), Dương Minh Hà và các cộng sự (2016), Kalt và các cộng sự (2019), Kumar và các cộng sự (2021) và Lekana và Ikiemi (2021).
</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25"><b>Mối quan hệ giữa vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với khí thải CO2, với phúc lợi con người </b>
- Thứ nhất, mối quan hệ giữa vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi với khí thải CO2 có thể tìm thấy qua các nghiên cứu của: Demena và Afesorgbor (2020), Nie và các cộng sự (2022), Tô Hoàng Anh và các cộng sự (2019) và Võ Hồng Đức và Hồ Minh Chí (2021).
- Thứ hai, mối quan hệ giữa vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với phúc lợi con người qua các nghiên cứu của: An và Yeh (2021), Ganic (2019), Nguyễn Thị Phương Hoa (2002) và Trần Trọng Hùng (2006).
<b>Thứ hai, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với mật độ carbon dioxide đối với phúc lợi con người (CIWB), bao gồm: </b>
<b>Tác động của tăng trưởng kinh tế đến mật độ CO2 đối với phúc lợi con người (Carbon Intensity of well-being-CIWB) </b>
- Theo không gian, tác động của tăng trưởng kinh tế đến CIWB có thể tìm thấy qua các nghiên cứu của: Jorgenson (2014) nghiên cứu tại nhóm các nước thuộc châu Phi, nhóm các nước thuộc châu Á và Nam Trung Mỹ và nhóm các nước thuộc Bắc Mỹ, châu Âu và châu Đại Dương, Jorgenson (2015) nghiên cứu tại nhóm các nước thuộc các quốc gia hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) và nhóm các nước khơng thuộc các quốc gia hợp tác và phát triển kinh tế (Non-OECD), Jorgenson và Givens (2015) nghiên cứu tại nhóm các nước thuộc các quốc gia hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) và nhóm các nước khơng thuộc các quốc gia hợp tác và phát triển kinh tế ở châu Phi, châu Á và Mỹ La tinh, Sweidan (2017) nghiên cứu tại các quốc gia thuộc Trung Đông và Bắc Mỹ, Nguyễn Thuấn và Đặng Bắc Hải (2021) và Đặng Bắc Hải, Nguyễn Thuấn và Trần Thị Diễm Nga (2023) nghiên cứu tại 9 quốc gia có thu nhập trung bình thấp hơn, Greiner và Mc Gee (2019) nghiên cứu tại nhóm các nước phát triển và tại các nhóm nước kém phát triển, Givens (2017) và Givens (2018) lần lượt nghiên cứu tại 29 quốc gia có thu nhập cao và 51 quốc gia có thu nhập thấp, Mc Gee và các cộng sự (2017) nghiên cứu tại 153 quốc gia. Trong khi đó, Feng và Yuan
</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">(2016) và Li và các cộng sự (2019) nghiên cứu tại Trung Quốc, Jorgenson và các cộng sự (2017) và Briscoe và các cộng sự (2021) nghiên cứu tại Mỹ.
- Theo sự thay đổi qua thời gian của tăng trưởng kinh tế tác động đến CIWB có thể tìm thấy qua các nghiên cứu của: Đặng Bắc Hải, Nguyễn Thuấn và Trần Thị Diễm Nga (2023), Greiner và Mc Gee (2019), Jorgenson (2014), Jorgenson và Givens (2015), Sweidan (2017) và Givens (2018).
<b>Tác động của tiêu thụ năng lượng đến mật độ CO2 đối với phúc lợi con người (Carbon Intensity of well-being-CIWB) </b>
- Theo không gian, tác động của tiêu thụ năng lượng đến CIWB có thể tìm thấy qua các nghiên cứu của: Sweidan (2017) nghiên cứu tại các quốc gia thuộc Trung Đông và Bắc Mỹ, Nguyễn Thuấn và Đặng Bắc Hải (2021) và Đặng Bắc Hải, Nguyễn Thuấn và Trần Thị Diễm Nga (2023) nghiên cứu tại 9 quốc gia có thu nhập trung bình thấp hơn, Briscoe và các cộng sự (2021) và Jorgenson và các cộng sự (2017) nghiên cứu tại Mỹ.
- Theo sự thay đổi qua thời gian của tiêu thụ năng lượng tác động đến CIWB có thể tìm thấy qua các nghiên cứu của: Nguyễn Thuấn và Đặng Bắc Hải (2021) và Sweidan (2017).
<b>Tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến mật độ CO2 đối với phúc lợi con người (Carbon Intensity of well-being-CIWB) </b>
Tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi đến CIWB thì chỉ mới tìm thấy qua các nghiên cứu theo không gian, bao gồm các nghiên cứu của: Nguyễn Thuấn và Đặng Bắc Hải (2021) và Đặng Bắc Hải, Nguyễn Thuấn và Trần Thị Diễm Nga (2023) nghiên cứu tại 9 quốc gia có thu nhập trung bình thấp hơn và Ergas và các cộng sự (2021) nghiên cứu tại 70 quốc gia.
Tổng hợp lại các nghiên cứu trên cho thấy: tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là các biến số rất quan trọng tác động đến khí thải CO2, đến phúc lợi con người và đến mật độ CO2 đối với phúc lợi con người (CIWB). Có thể nói, trong số các nghiên cứu trên thì những nghiên cứu về CIWB là một hướng nghiên cứu phù hợp với khái niệm phát triển bền vững hơn so với những
</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">nghiên cứu riêng rẻ về khí thải CO2 hoặc về phúc lợi con người. Tuy nhiên, số lượng nghiên cứu về các hoạt động kinh tế tác động đến CIWB cịn rất hạn chế. Vì vậy, luận án nhận thấy còn các “khoảng trống” trong các nghiên cứu về CIWB ở trên như sau: Thứ nhất, so với các nhánh nghiên cứu khác thuộc lĩnh vực phát triển bền vững như khí thải CO2 hoặc phúc lợi con người (tuổi thọ), nghiên cứu về CIWB còn rất hạn chế.
Thứ hai, xuất phát từ việc mẫu được lựa chọn để nghiên cứu có thể dẫn đến khả năng xảy ra hiện tượng nội sinh trong mơ hình hay mơ hình có chứa biến nội sinh (Heckman, 1976; 1979). Vì vậy, nghiên cứu về tác động của tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng và vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi đến CIWB trong cùng một mơ hình hiếm được tìm thấy trong tổng quan.
Thứ ba, hiếm có một nghiên cứu nào nghiên cứu về sự thay đổi qua thời gian của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động đến CIWB.
Thứ tư, rất ít tìm thấy một nghiên cứu nào của các tác giả hoặc nhóm tác giả nghiên cứu về sự thay đổi qua thời gian của tiêu thụ năng lượng tác động đến CIWB. Thứ năm, chọn mẫu nghiên cứu bao gồm các quốc gia thuộc nhóm quốc gia có thu nhập trung bình với các đặc điểm: dân số đơng và mức phát thải CO2 bình quân theo đầu người cao là rất hiếm.
Như vậy, chính các khoảng trống này đã nói lên sự cần thiết cần phải có thêm nghiên cứu thực nghiệm khác về tác động của tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến CIWB tại các quốc gia thuộc MICs, đặc biệt là tại các quốc gia thuộc MICs với các đặc điểm: dân số đông và mức phát thải CO2 bình quân theo đầu người cao.
<b>1.2. Mục tiêu nghiên cứu </b>
<b>Mục tiêu nghiên cứu tổng quát: Đánh giá được tác động của tăng trưởng </b>
kinh tế, tiêu thụ năng lượng và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến mối quan hệ giữa lượng khí thải carbon và phúc lợi con người tại các quốc gia thuộc nhóm quốc gia có thu nhập trung bình với các đặc điểm: dân số đơng và mức phát thải CO2 bình qn theo đầu người cao là cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp có liên quan nhằm giảm
</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">thiểu được khí thải CO2 ra mơi trường và nâng cao phúc lợi con người trong quá trình phát triển
<b>Mục tiêu cụ thể: </b>
Luận án có ba mục tiêu cụ thể như sau:
(1) Nghiên cứu tác động của tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến CIWB.
(2) Nghiên cứu về sự thay đổi riêng rẻ qua thời gian của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và tiêu thụ năng lượng tác động đến CIWB.
(3) Đề xuất các gợi ý chính sách nhằm giúp các quốc gia thuộc nhóm quốc gia có thu nhập trung bình với các đặc điểm: dân số đông và mức phát thải CO2 bình quân theo đầu người cao giảm thiểu được khí thải CO2 ra mơi trường và nâng cao phúc lợi con người.
<b>1.3. Câu hỏi nghiên cứu </b>
(1) Tác động của tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến CIWB như thế nào?
(2) Sự thay đổi riêng rẻ qua thời gian của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tiêu thụ năng lượng có tác động đến CIWB khơng?
(3) Những gợi ý chính sách nào nhằm giúp các quốc gia thuộc nhóm quốc gia có thu nhập trung bình với các đặc điểm: dân số đông và mức phát thải CO2 bình quân theo đầu người cao giảm thiểu được khí thải CO2 ra mơi trường và nâng cao phúc lợi con người?
<b>1.4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 1.4.1. Đối tượng nghiên cứu </b>
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận án là tác động của tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến CIWB và sự thay đổi qua thời gian của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, của tiêu thụ năng lượng tác động đến CIWB tại các quốc gia thuộc nhóm quốc gia có thu nhập trung bình với các đặc điểm: dân số đơng và mức phát thải CO2 bình quân theo đầu người cao.
</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29"><b>1.4.2. Phạm vi nghiên cứu </b>
Phạm vi nghiên cứu về không gian: luận án nghiên cứu tác động của tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến CIWB và sự thay đổi qua thời gian của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, của tiêu thụ năng lượng tác động đến CIWB tại các quốc gia thuộc nhóm quốc gia có thu nhập trung bình với các đặc điểm: dân số đông và mức phát thải CO2 bình quân theo đầu người cao. Nhóm quốc gia này (nhóm quốc gia có độ nhạy với CIWB) được lựa chọn dựa trên tiêu chí như sau:
- Thứ nhất, các quốc gia này thuộc nhóm quốc gia có thu nhập trung bình (Middle Income Countries-MICs) với phân loại thu nhập theo đầu người từ 1,025 USD- 12,695 USD (World Bank, 2021).
- Thứ hai, khí thải CO2 theo đầu người hàng năm trong 5 năm (2015-2019) của các quốc gia này đều cao hơn trung bình mức phát triển bền vững ở 1.5<sup>o</sup>C (1,1 tấn/người) (Chancel, 2021).
- Thứ ba, các nước thu nhập trung bình được phân loại nằm ở giữa các nước có thu nhập thấp và các nước có thu nhập cao. Dựa vào số liệu thống kê dân số của World Bank năm 2021 mà luận án tính tốn dân số trung bình của các nước có thu nhập thấp và các nước có thu nhập cao phổ biến ở mức khoảng 20.5 triệu. Do đó, các quốc gia được chọn vào mẫu nghiên cứu phải có dân số từ 20 triệu dân trở lên.
Kết quả là, luận án lựa chọn nhóm quốc gia có độ nhạy với CIWB bao gồm 21 quốc gia: Algeria, Argentina, Brazil, Trung Quốc, Colombia, Ai Cập, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Ma Rốc, Mexico, Peru, Nga, Nam Phi, Iran, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Ukraine, Uzbekistan, Venezuela và Việt Nam. Mặt khác, đa số các nước này cũng luôn là những lựa chọn rất thường xuyên trong những nhóm mẫu khác nhau qua những nghiên cứu liên quan đến phát triển bền vững gần đây, chẳng hạn: Ertugrul và các cộng sự (2016), Rahman và các cộng sự (2021), Nguyễn Thuấn và Đặng Bắc Hải (2021), Đặng Bắc Hải, Nguyễn Thuấn và Trần Thị Diễm Nga (2023), Egras và các cộng sự (2021), Wang và các cộng sự (2022), Givens (2018), McGee và các cộng sự (2017) và Greiner và McGee (2019).
</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Luận án nghiên cứu tác động của tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến CIWB và sự thay đổi qua thời gian của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, của tiêu thụ năng lượng tác động đến CIWB dựa trên số liệu về nhóm quốc gia có độ nhạy với CIWB trong giai đoạn 2000-2019. Hơn nữa, giai đoạn 2000-2019, dữ liệu về các quốc gia nghiên cứu được các tổ chức thống kê cung cấp đầy đủ. Ngoài ra, giai đoạn này cũng được xem là sự khởi đầu đối với các quốc gia trên thế giới khi ý thức tiêu dùng “xanh hoá” được lồng ghép vào các hoạt động kinh tế thơng qua việc cắt giảm khí thải nhà kính được thể hiện trong nghị định thư Kyoto và Hiệp định Paris.
Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Luận án nghiên cứu tác động của tăng trưởng, tiêu thụ năng lượng và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến đến CIWB và sự thay đổi qua thời gian của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, của tiêu thụ năng lượng tác động đến CIWB tại nhóm quốc gia có độ nhạy với CIWB, trong đó tập trung vào phân tích: - Tác động của tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến CIWB.
- Sự thay đổi qua thời gian của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, của tiêu thụ
<b>năng lượng tác động đến CIWB. </b>
- Đưa ra các gợi ý về các chính sách có liên quan nhằm giảm thiểu được khí thải CO2 ra môi trường và nâng cao phúc lợi con người.
<b>1.4.3. Dữ liệu nghiên cứu </b>
Luận án sử dụng dữ liệu thứ cấp, được thu thập từ các tổ chức cung cấp số liệu thống kê uy tín. Cụ thể như sau:
Để có được biến số về CIWB luận án sử dụng dữ liệu khí thải CO2 thu thập từ Earth System Science Data và dữ liệu tuổi thọ trung bình được thu thập từ United Nations Population và World Bank.
Dữ liệu về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Diễn đàn thương mại và phát triển của Liên hiệp quốc (United Nation Conference of Trade and Development- UNCTAD).
</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">Dữ liệu về tiêu thụ năng lượng được thu thập từ U.S. Energy Information Administration (EIA) và Energy Institute Statistical Review of World Energy.
Dữ liệu về GDP bình quân đầu người, về đơ thị hố và về phụ nữ tham gia lao động được thu thập từ World Bank.
Dữ liệu về trình độ giáo dục được thu thập từ Barro và Lee (2015), Lee và Lee (2016) và Institute for Management Research Radboud University.
<b>1.5. Phương pháp nghiên cứu </b>
Các phương pháp sử dụng để thực hiện nghiên cứu bao gồm:
<b>1.5.1. Phương pháp thu thập, thống kê và tổng hợp tài liệu </b>
Thu thập, tổng hợp các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài. Đặc biệt là, mối quan hệ giữa các hoạt động kinh tế với khí thải CO2, với phúc lợi con người và với mật độ CO2 đối với phúc lợi con người (CIWB). Từ đó, luận án xác định những vấn đề còn tồn tại nhằm tập trung nghiên cứu sâu.
Thu thập, tổng hợp các số liệu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu từ các tổ chức có uy tín trên thế giới: Earth System Science Data, United Nations Population World Bank, UNCTAD, U.S. Energy Information Administration (EIA) và Energy Institute Statistical Review of World Energy, Barro và Lee (2015), Lee và Lee (2016) và Institute for Management Research Radboud University.
<b>1.5.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng </b>
Phương pháp phân tích thống kê mơ tả: nhằm phân tích mơ tả thực trạng tăng trưởng, tiêu thụ năng lượng và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cùng các biến số kinh tế xã hội khác, đặt trong tương quan so sánh với mật độ carbon đối với phúc lợi con người (CIWB) ở các quốc gia.
Phương pháp phân tích mơ hình hồi quy Prais–Winsten đơn vị chéo chuỗi thời gian với sai số chuẩn điều chỉnh dữ liệu bảng (Panel-corrected Standard Error-PCSE) và kỹ thuật tự hồi quy bậc nhất (AR1) do Beck và Katz (1995) đề xuất để tiến hành phân tích nhằm: thứ nhất, đo lường tác động của tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến CIWB; thứ hai, đo lường sự thay đổi
</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32"><b>riêng rẻ qua thời gian của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, của tiêu thụ năng lượng tác động đến CIWB. </b>
<b>1.6. Ý nghĩa của nghiên cứu 1.6.1. Ý nghĩa khoa học </b>
Tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là các yếu tố quan trọng dẫn đến sự thay đổi về môi trường và phúc lợi con người. Sự hiểu biết về “chiều tác động” (tích cực hay tiêu cực) cũng như độ lớn của tác động (mạnh hay yếu) cho phép kiểm chứng tình hình phát triển của nhóm nước nghiên cứu đang ở giai đoạn nào trong các lý thuyết: lý thuyết hiện đại hoá sinh thái, lý thuyết sản xuất liên tục…
Phân tích tác động của tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến CIWB; sự thay đổi qua thời gian của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, của tiêu thụ năng lượng đến CIWB tại nhóm nước nghiên cứu góp phần bổ sung thêm vào trong tổng quan nghiên cứu liên quan đến CIWB. Hơn nữa, các kết quả nghiên cứu cũng góp phần củng cố, nâng cao cơ sở lý luận và kiểm chứng các hoạt động kinh tế tại các quốc gia nghiên cứu có phù hợp với hướng phát triển bền vững hay không.
<b>1.6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận án </b>
Luận án đã sử dụng mơ hình hồi quy Prais–Winsten đơn vị chéo chuỗi thời gian với sai số chuẩn điều chỉnh dữ liệu bảng (Panel-corrected Standard Error-PCSE) để xác định tác động của tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến CIWB tại nhóm nước nghiên cứu là tích cực hay tiêu cực. Việc xác định này giúp các quốc gia nghiên cứu thấy được các chính sách hiện tại có phù hợp với mục tiêu giảm lượng khí thải CO2 ra môi trường và gia tăng phúc lợi cho người dân hay khơng. Từ đó, những chính sách nào chưa hiệu quả thì lập tức điều chỉnh kịp thời.
Là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị cho các nhà khoa học, nhà quản lý và hoạch định chính sách trong lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường.
</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33"><b>1.7. Điểm mới của luận án </b>
Góp thêm vào nghiên cứu học thuật trên nhiều khía cạnh khác nhau:
Thứ nhất, đề cập đến mật độ carbon dioxide đối với phúc lợi con người (CIWB) còn rất hạn chế trong lĩnh vực phát triển bền vững so với khí thải CO2 hoặc phúc lợi con người (tuổi thọ)
Thứ hai, nghiên cứu tác động của tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến CIWB trong cùng một mơ hình rất hiếm được tìm thấy trong lĩnh vực phát triển bền vững.
Thứ ba, nghiên cứu về sự thay đổi qua thời gian của vốn đầu trực tiếp nước ngoài tác động đến CIWB ít được các học giả trên thế giới đề cập.
Thứ tư, nghiên cứu về sự thay đổi qua thời gian của tiêu thụ năng lượng tác động đến CIWB mới tìm thấy qua nghiên cứu của Sweidan (2017) và Nguyễn Thuấn và Đặng Bắc Hải (2021).
Thứ năm, nhóm 21 quốc gia thuộc MICs với tư cách là một nhóm riêng thì hiếm có nghiên cứu nào chọn làm mẫu nghiên cứu.
Bảng 1.1: Các điểm mới của luận án
1 Mật độ CO2 đối với phúc lợi con người (CIWB)
Còn rất hạn chế trong lĩnh vực phát triển bền vững so với khí thải CO2 hoặc phúc lợi con người (tuổi thọ)
2 Nghiên cứu tác động của tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng và thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
<b>đến CIWB trong cùng một mơ hình </b>
Rất hiếm tìm thấy nghiên cứu tương tự cả
<b>trong và ngoài nước </b>
3 Nghiên cứu về sự thay đổi qua thời gian của vốn đầu tư trực tiếp nước tác động đến CIWB
Ít được các học giả trên thế giới đề cập.
</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34"><b>STT Điểm mới Diễn giải </b>
4 Nghiên cứu về sự thay đổi qua thời gian của tiêu thụ năng lượng tác
Hiếm có nghiên cứu nào sử dụng mẫu nghiên cứu này
<b>1.8. Kết cấu của luận án nghiên cứu </b>
Kết cấu luận án gồm 5 chương như sau: Chương 1: Tổng quan đề tài.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5: Kết luận và đề xuất hướng nghiên cứu mới.
</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35"><b>Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT </b>
<i>Nội dung chương này sẽ trình bày các vấn đề: các khái niệm, các lý thuyết, các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu và đề xuất các mơ hình nghiên cứu. </i>
<b>2.1. Các khái niệm sử dụng trong luận án 2.1.1. Khái niệm Carbon dioxide (CO2) </b>
Tìm cách đo lường biến đổi khí hậu là rất phức tạp vì có nhiều yếu tố góp phần vào các biểu hiện khác nhau của biến đổi khí hậu và sự nóng lên tồn cầu. Người ta đã xác định rõ rằng phát thải khí nhà kính (GHGs) là tác nhân chính gây ra sự thay đổi và nóng lên như trên. Theo European Commission (n.d.), khí nhà kính là nguyên nhân chính gây ra biến đổi khí hậu vì những khí này góp phần gây ra hiệu ứng nhà kính. Đóng góp lớn nhất cho hiệu ứng nhà kính chắc chắn là carbon dioxide (CO2). Theo NASA (n.d.), CO2 là một loại khí hấp thụ nhiệt phát ra do các hoạt động khác nhau của con người từ việc đốt cháy nhiên liệu hóa thạch ở các mỏ carbon hóa thạch như dầu, khí đốt và than đá, các nhiên liệu sinh học có nguồn gốc lâm nghiệp, từ thay đổi quá trình sử dụng đất và từ các quá trình tự nhiên như phun trào núi lửa. Mặc dù, các khí nhà kính khác cũng góp phần gây ra biến đổi khí hậu, nhưng chúng dường như không đáng kể so với lượng CO2 dồi dào.
Các khí nhà kính khác, chẳng hạn như khí mê-tan, có thể mạnh hơn CO2, nhưng theo European Commission (n.d.), khí mê-tan có thời gian tồn tại trong khí quyển thấp hơn nhiều so với CO2. Những loại khí thải khác, chẳng hạn như oxit nitơ, hoạt động tương tự như CO2 nhưng được thải ra với lượng thấp hơn nhiều. Theo Center for Climate and Energy Solutions (n.d.), CO2 chiếm khoảng 76 phần trăm tổng lượng khí thải nhà kính, trong khi khí mê-tan chiếm khoảng 16 phần trăm và oxit nitơ ở mức khoảng 6 phần trăm tương ứng.
Ngoài ra, sự gia tăng lượng khí thải CO2 cũng là một trong những nguyên nhân chính gây ra nhiều vấn đề sức khỏe ảnh hưởng trực tiếp đến phúc lợi con người. Các nhà khoa học đã xác định rằng lượng khí thải carbon dioxide có tác động tiêu
</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">cực đối với sức khỏe (Jerumeh, Ogunnubi và Yusuf, 2015 và Onanuga và Onanuga, 2014).
Luận án này có đề cập đến ơ nhiễm, vì ơ nhiễm có quan hệ mật với nhiều vấn đề như: biến đổi khí hậu, phúc lợi con người và đốt cháy nhiên liệu hóa thạch từ các mỏ dầu, khí đốt và than đá. Hơn nữa, dữ liệu đo lường ô nhiễm là khí thải CO2 ln có sẵn ở mỗi quốc gia dưới dạng: tổng phát thải của quốc gia hoặc phát thải bình quân theo đầu người của một quốc gia. Các loại khí nhà kính khác góp phần vào ô nhiễm, nhưng hầu hết các tài nghiên cứu trước đây (Acaravci & Ozturk, 2010; Chan & Wong, 2020; Danish & các cộng sự, 2017 và Xue & các cộng sự, 2014) chủ yếu sử dụng khí thải CO2 (bình qn theo đầu người) như một chỉ số về ô nhiễm liên quan đến tăng trưởng kinh tế. Do đó, luận án cũng sử dụng khí thải CO2 (bình qn theo đầu người) để đo lường ô nhiễm như các nghiên cứu trên.
<b>2.1.2. Khái niệm phúc lợi con người </b>
Lamb và Steinberger (2017) cho rằng phúc lợi con người là một thuật ngữ cịn có nhiều ý kiến khác nhau. Các thuật ngữ như chất lượng cuộc sống, mức sống, phúc lợi, tiện ích, thỏa mãn cuộc sống, đáp ứng nhu cầu, nghèo đói và hạnh phúc thường được sử dụng thay thế cho phúc lợi con người mà khơng cần thảo luận rõ ràng về tính đặc biệt của chúng (Schaafsma, 2020).
Khái niệm về phúc lợi con người đã phát triển theo thời gian. Theo McGillivray và Clarke (2008) cho rằng các khía cạnh như: phát triển con người, nhu cầu của con người và tâm lý của con người được đưa vào trong khái niệm phúc lợi con người. Ngồi ra, các vấn đề như bình đẳng và tính bền vững cũng ngày càng được lồng ghép trong q trình phân tích phúc lợi con người.
Có nhiều phương pháp khác nhau để đo lường mức độ phúc lợi con người, trong đó GDP (Gross Domestic Product) theo đầu người (hay GNP (Gross National Product) theo đầu người) là chỉ số đơn giản nhất để đại diện cho phúc lợi con người. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng GDP theo đầu người (hay GNP theo đầu người) có những hạn chế nhất định. Bởi, GDP theo đầu người (hay GNP theo đầu người) chỉ là một chỉ số hạch toán đơn thuần về kinh tế nhưng lại được sử dụng để
</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">đo lường mức độ phúc lợi con người, trong khi phúc lợi con người liên quan đến tất cả các khía cạnh của cuộc sống của người dân. Vì vậy, bản chất đa chiều của phúc lợi con người giờ đây đã trở nên phổ biến trong các cuộc thảo luận.
Một số chỉ tiêu đang được sử dụng phổ biến chẳng hạn: HDI (Human Development Index) đo lường phúc lợi con người (well-being) và hai chỉ tiêu HPI (Human Poverty Index) và MPI (Multidimensional Poverty Index<small>)</small> đo lường sự nghèo đói người dân (thiếu thốn về phúc lợi -ill-being) ở một quốc gia (Schaafsma, 2020). Tuy nhiên, tổng quan về các nghiên cứu liên quan đến phúc lợi con người thì HDI được các học giả sử dụng rộng rãi (Dietz & các cộng sự, 2012) hơn các chỉ số
<b>còn lại để đo lường phúc lợi con người. Gần đây, trong một số nghiên cứu nổi lên </b>
việc sử dụng tuổi thọ trung bình (đơn vị tính: số năm sống) thay thế HDI dùng để đo phúc lợi con người (Dietz & các cộng sự, 2012; Jorgenson, 2014; McGee & các cộng sự, 2017). Lý giải cho việc sử dụng này, Dietz và các cộng sự (2012) cho rằng tuổi thọ trung bình sẽ là một thước đo phản ảnh về phúc lợi một cách bao qt hơn (mặc dù có thể chưa hồn hảo). Bởi vì, tuổi thọ trung bình vừa phản ảnh trực tiếp các điều kiện sức khỏe của xã hội, chẳng hạn như tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và sự trường tồn và vừa phản ánh gián tiếp các quá trình sức khỏe như giáo dục trước khi sinh và trình độ dân trí cao. Ngồi ra, tuổi thọ trung bình cũng phản ánh về khía cạnh cơng bằng. Bên cạnh đó, Wang và các cộng sự (2022) cho rằng tuổi thọ trung bình phản ánh chính xác sự cải thiện về y tế và chăm sóc sức khỏe, trình độ phát triển cũng như điều kiện sống vật chất của người dân ở một quốc gia. Vì vậy, luận án sẽ sử dụng tuổi thọ trung bình (đơn vị tính số năm) để đo lường phúc lợi con người.
<b>2.1.3. Khái niệm mật độ CO2 đối với phúc lợi con người (CIWB) </b>
Khái niệm về tính bền vững của một quốc gia là tương đối phức tạp. Nhiều quốc gia với lượng khí thải CO2 thấp nhất có vẻ bền vững về mặt môi trường. Tuy nhiên, những quốc gia như thế này thì thường lại có tỷ lệ dân số cao đang khó khăn trong việc thoả mãn nhu cầu cơ bản. Do đó, các quốc gia này chưa thể xem là hình mẫu để các quốc gia khác noi theo. Mặt khác, hình mẫu về một quốc gia phát triển bền vững cũng không đúng trong trường hợp mà nhiều quốc gia hiện nay có mức
</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">phúc lợi người dân cao và cơ sở hạ tầng ổn định nhưng lại có tỷ lệ tiêu thụ và mức phát thải ơ nhiễm bình qn trên đầu người tương đối cao. Vì vậy, tiếp cận về CIWB là cách thức rất có giá trị để hiểu sự liên kết giữa phát triển và sự bền vững, "cân bằng giữa phúc lợi con người với các tác động đến môi trường lý sinh" (Dietz, Rosa & York, 2009).
Trong khi có ý kiến cho rằng sử dụng tài nguyên thiên nhiên có thể tạo ra được phúc lợi về vật chất cho con người nhưng bản chất chính xác về mối quan hệ giữa môi trường và xã hội ln vẫn là một câu hỏi mở. Do đó, việc nắm bắt về một quốc gia và người dân sẽ đạt được gì và mất cái gì khi khai thác tài nguyên thiên nhiên sử dụng sẽ dẫn đến sự hiểu biết thấu đáo về tính bền vững. Nghiên cứu về CIWB là một phần trong tổng quan tài liệu về hiệu quả môi trường đối với phúc lợi khi xem xét các mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và phúc lợi con người.
Dietz và các cộng sự (2012) là các tác giả đầu tiên đưa ra và sử dụng thước đo mật độ sinh thái đối với phúc lợi con người (Ecological intensity of human well-being-EIWB) nhằm đo lường cách thức một quốc gia sử dụng tài nguyên thiên nhiên để có thể tạo ra được phúc lợi cho người dân ở quốc gia đó. Thay vì đánh giá bao nhiêu năng lượng sẽ được sử dụng hoặc bao nhiêu khí nhà kính được thải ra trên một đơn vị thu nhập thì EIWB cho biết bao nhiêu áp lực tạo ra môi trường đo bằng dấu chân sinh thái (Ecological footprint- EF) so với một đơn vị phúc lợi con người đo bằng tuổi thọ trung bình của con người.
Tuy nhiên, Lamb và các cộng sự (2014) cho rằng EF là một chỉ tiêu tổng hợp gồm nhiều áp lực gây ra cho môi trường dẫn đến EIWB khơng thuyết phục để đo lường về tính bền vững. Do đó, các tác giả đề nghị nên thay thế dấu chân sinh thái bằng thành phần khác gây áp lực về môi trường rõ ràng hơn. CO2 là lượng khí thải góp phần rất lớn gây ra sự biến đổi khí hậu tồn cầu- một hiện tượng sinh vật lý mà nó cịn có khả năng làm thay đổi nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của thế hệ tương lai trên thế giới (IPCC, 2014; 2018). Vì vậy, Jorgenson (2014) đã thay thế thành phần EF trong EIWB bằng khí thải CO2 và tạo ra chỉ tiêu mới mật độ CO2 đối với
</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">phúc lợi con người ( Carbon intensity of well-being- CIWB). Sử dụng cách tính bằng tỷ lệ khí thải CO2 do con người tạo ra so với phúc lợi con người, CIWB cho biết lượng khí thải CO2 ra môi trường là cái giá phải trả để có được một cuộc sống chất lượng. Ngồi ra, dựa vào CIWB còn giúp khám ra một vấn đề quan trọng giữa phúc lợi và mơi trường, đó là mối quan hệ không mong muốn: nổ lực tăng chất lượng cuộc sống thường dẫn đến căng thẳng mơi trường lớn hơn và lượng khí thải tạo ra cũng nhiều hơn (Fanning & O’Neill, 2019; Jorgenson & Givens, 2015 và Mazur, 2011).
CIWB có những gợi ý quan trọng cho phát triển bền vững (Li & các cộng sự, 2019). CIWB tăng sẽ cho biết quốc gia đó ít đạt được sự phát triển bền vững. Ngược lại, CIWB giảm sẽ cho thấy quốc gia đó đã đạt được sự cân bằng về tuổi thọ cao hơn và lượng khí thải thấp hơn (Jorgenson, 2014). Một cách cụ thể hơn, Wan và các cộng sự (2022) cho rằng CIWB thấp là do tốc độ cải thiện phúc lợi cao hơn tỷ lệ gia tăng của CO2 trên đầu người. Điều này rất quan trọng đối với cho việc lý giải trong những trường hợp cả CO2 trên đầu người và tuổi thọ đều gia tăng nhưng CIWB lại giảm. Ngoài ra, Givens (2017) cho rằng các quốc gia có tuổi thọ trung bình cao và lượng khí thải CO2 thấp hơn sẽ được xếp vào nhóm Goldemberg. Đây là nhóm mà nhu cầu cơ bản của con người có thể được đáp ứng ở mức năng lượng tối thiểu (Goldemberg & các cộng sự, 1985). Các quốc gia ở nhóm Goldemberg có thể đóng vai trị là mơ hình phát triển cho các quốc gia kém phát triển hơn (thường là các quốc gia có mức phát thải CO2 thấp) trong việc cải thiện phúc lợi của con người, mà không cần phải đi theo con đường hủy hoại môi trường giống như một số quốc gia phát triển hơn và cho cả các quốc gia có mức phát thải cao (thường là các nước thuộc nhóm tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế-OECD), nếu muốn theo đuổi sự phát triển bền vững (Global Commons Institute, 2003 và Meyer, 2000).
Như vậy, chỉ số CIWB đo bằng lượng khí thải CO2 so với phúc lợi con người (tuổi thọ trung bình) được xem là chỉ báo để điều chỉnh kịp thời quá trình phát triển của các quốc gia theo hướng bền vững. Do đó, luận án cũng sử dụng cách thức đo lường CIWB này. Tuy nhiên, theo Dietz và các cộng sự (2012) và Jorgenson (2014) để tránh giá trị CIWB tính ra bị chi phối bởi giá trị của tử số (CO2) hoặc giá trị của
</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">mẫu số (tuổi thọ trung bình) thì cần bổ sung vào tử số hoặc mẫu số một giá trị khơng đổi, điều này được trình bày chi tiết ở Chương 3.
<b>2.1.4. Khái niệm tăng trưởng kinh tế </b>
Tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi trong khoa học kinh tế, cách hiểu về tăng trưởng kinh tế ngày càng đầy đủ và hoàn thiện theo thời gian. Đến nay, hầu hết các nhà kinh tế đều thừa nhận khái niệm tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập hay sản lượng thực tế được tính cho toàn bộ nền kinh tế trong một thời gian nhất định, thường là một năm. Nội hàm tăng trưởng kinh tế là tăng lên về sản lượng trong một thời gian nhất định (Trần Thọ Đạt, 2010). Sự gia tăng này biểu hiện ở quy mô và tốc độ. Tăng trưởng kinh tế có thể biểu hiện bằng số tuyệt đối (quy mô tăng trưởng) hoặc số tương đối (tỷ lệ tăng trưởng). Quy mô tăng trưởng biểu thị sự tăng nhiều hay ít, cịn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự tăng nhanh hay chậm qua các thời kỳ. Như vậy, bản chất của tăng trưởng kinh tế là phản ánh sự thay đổi về lượng của nền kinh tế. Những sự thay đổi này chứa đựng hai thuộc tính là mặt số lượng và mặt chất lượng.
Mặt số lượng của tăng trưởng kinh tế là biểu hiện bên ngoài của sự tăng trưởng, được thể hiện ngay trong khái niệm về tăng trưởng và được phản ánh thông qua các chỉ tiêu đánh giá quy mô và tốc độ tăng trưởng thu nhập. Mặt chất lượng của tăng trưởng kinh tế là thuộc tính bên trong của quá trình tăng trưởng kinh tế, thể hiện qua các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đạt được mặt số lượng của tăng trưởng và khả năng duy trì nó trong dài hạn. Như vậy nếu xét về mặt số lượng của tăng trưởng, những câu hỏi thường đặt ra: tăng trưởng được bao nhiêu? Nhiều hay ít? Nhanh hay chậm? thì những câu hỏi về chất lượng lại là: khả năng duy trì các chỉ tiêu tăng trưởng thế nào? Cái giá phải trả cho việc đạt được các chỉ tiêu đó là bao nhiêu? Nhấn mạnh thuộc tính nào của tăng trưởng kinh tế và ở mức độ nào tuỳ thuộc vào sự lựa chọn mơ hình kinh tế phát triển quốc gia và mục tiêu đặt ra trong mỗi giai đoạn phát triển cụ thể.
Có hai cách đo lường tăng trưởng kinh tế:
<i>Cách 1: Theo hệ thống tài khoản quốc gia (System National Account -SNA) </i>
tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về mặt lượng của các chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt
</div>