Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.44 MB, 107 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
<b>TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y- DƯỢC </b>
<b>TRẦN THỊ KIM PHƯƠNG </b>
<b>THÁI NGUYÊN- 2022 <small> </small></b>
<b> </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2"><b>TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC </b>
<b>TRẦN THỊ KIM PHƯƠNG </b>
<b>HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN QUANG MẠNH </b>
<b>THÁI NGUYÊN- 2022</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">Tôi là Trần Thị Kim Phương, học viên K24 chuyên ngành Y học dự phòng, Trường Đại học Y - Dược Đại học Thái Nguyên, xin cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ luận văn nào khác.
Tơi xin hồn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này.
<i> Thái Nguyên, tháng 11 năm 2022 </i>
<b> Người viết cam đoan </b>
<i><b> Trần Thị Kim Phương </b></i>
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các thầy cô, bạn bè, gia đình.
<i><b>Với lịng biết ơn sâu sắc, tơi xin trân trọng cảm ơn: </b></i>
Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Khoa Y tế công cộng Trường Đại học Y - Dược Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện để tôi học tập và bảo vệ thành cơng khóa luận này.
Ban Giám hiệu, tập thể các Thầy Cô giáo trường THPT Phan Đình Phùng, TPHT, cùng toàn thể các đối tượng tham gia nghiên cứu đã tạo mọi điều kiện giúp tơi hồn thành khóa luận này.
Ban Giám đốc trung tâm kiểm soát bệnh tật, cùng toàn thể anh chị em đồng nghiệp, khoa sức khỏe sinh sản đã tạo điều kiện, giúp đỡ tơi hồn thành khóa luận này.
<i><b>Tơi xin bày tỏ lịng kính trọng và biết ơn: </b></i>
Tiến sỹ Nguyễn Quang Mạnh người thầy đã dìu dắt, giúp đỡ, hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận văn này.
Các Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sỹ trong hội đồng khoa học thông qua đề cương và bảo vệ luận văn, cùng tồn thể Thầy, Cơ Khoa Y tế cơng cộng đã tận tình giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến q báu cho tơi trong q trình nghiên cứu và hồn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè đồng nghiệp và học sinh đã giúp tơi trong q trình học tập và hoàn thành luận văn này.
Và cuối cùng, kết quả học tập này con xin Kính tặng mẹ thân yêu, và người cha quá cố, người đã sinh thành, nuôi dưỡng và luôn động viên, giúp đỡ con, cho con nghị lực và ý chí vươn lên.
Tơi xin trân trọng cảm ơn!
<i>Thái Nguyên, tháng 11 năm 2022 </i>
<b>Trần Thị Kim Phương </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">ĐẶT VẤN ĐỀ ... 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ... 4
1.1. Một số định nghĩa và khái niệm ... 4
1.2. Đặc điểm sức khỏe sinh sản vị thành niên ... 5
1.3. Một số nghiên cứu về thực trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên và các yếu tố liên quan ... 7
1.4. Một số đặc điểm về địa điểm nghiên cứu ... 22
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ... 24
2.1. Đối tượng nghiên cứu ... 24
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu... 24
2.3. Phương pháp nghiên cứu ... 24
2.4. Biến số nghiên cứu ... 26
2.5. Đo lường, đánh giá ... 28
2.6. Công cụ và kỹ thuật thu thập số liệu... 29
2.7. Hạn chế sai số ... 31
2.8. Phương pháp phân tích số liệu ... 31
2.9. Đạo đức nghiên cứu ... 31
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ... 33
3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu ... 33
3.2. Hành vi chăm sóc sức khoẻ sinh sản của vị thành niên ... 35
3.3. Một số yếu tố liên quan đến hành vi chăm sóc sức khoẻ sinh sản của vị thành niên ... 46
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN ... 54
4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu ... 54
4.2. Hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản của vị thành niên ... 55
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">KẾT LUẬN ... 71 KHUYẾN NGHỊ ... 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO ... 73 PHỤ LỤC
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">Bảng 3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (n=409) ... 33
Bảng 3.2. Đặc điểm gia đình của đối tượng nghiên cứu (n=409) ... 34
Bảng 3.3. Kiến thức của vị thành niên về sức khỏe sinh sản (n=409) ... 35
Bảng 3.4. Kiến thức của vị thành niên về tình dục an tồn (n=409) ... 36
Bảng 3.5. Thái độ của vị thành niên về quan hệ tình dục (n=409) ... 38
Bảng 3.6. Hành vi tình dục của vị thành niên ... 41
Bảng 3.7. Hành vi chia sẻ thông tin liên quan đến sức khỏe sinh sản. ... 41
Bảng 3.8. Hành vi tìm kiếm các thơng tin chăm sóc sức khỏe sinh sản ... 42
Bảng 3.9. Hành vi đến cơ sở y tế để được tư vấn chăm sóc sức khỏe sinh sản ... 42
Bảng 3.10. Nguồn cung cấp các thông tin sức khỏe sinh sản (n=409) ... 43
Bảng 3.11. Giáo dục sức khỏe sinh sản trong trường học (n=409) ... 44
Bảng 3.12. Liên quan giữa tuổi, giới của vị thành niên với hành vi về SKSS ... 46
Bảng 3.13. Liên quan giữa kết quả học tập, có người yêu với hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản ... 46
Bảng 3.14. Liên quan giữa tình trạng hơn nhân của bố mẹ và kinh tế gia đình với hành vi chăm sóc SKSS ... 48
Bảng 3.15. Liên quan giữa số con với hành vi CSSKSS ... 48
Bảng 3.16. Liên quan giữa trình độ học vấn và nghề nghiệp của mẹ với hành vi CSSKSS ... 49
Bảng 3.17. Liên quan giữa kiến thức với hành vi chăm sóc SSKSS ... 50
Bảng 3.18. Liên quan giữa thái độ với hành vi CSSKSS ... 51
Bảng 3.19. Liên quan giữa được tư vấn với hành vi CSSKSS ... 52
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">Biểu đồ 3.1. Kiến thức của vị thành niên về sức khỏe sinh sản ... 37 Biểu đồ 3.2. Thái độ của vị thành niên về quan hệ tình dục ... 39 Biểu đồ 3.3. Hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản của vị thành niên ... 42
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">Hộp 3.1. Nhận thức của học sinh về hậu quả có thai ngoài ý muốn và mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục ... 40 Hộp 3.2. Vai trị của Ban Giám hiệu, Giáo viên chủ nhiệm, Đồn thanh niên trong việc triển khai công tác chăm sóc SKSS cho VTN tại trường học ... 44 Hộp 3.3. Vai trò của bố mẹ, anh chị em ruột, cơ dì chú bác trong việc triển khai cơng tác chăm sóc SKSS cho VTN tại gia đình ... 47 Hộp 3.4 Vai trò của bàn bè trong thực hiện cơng tác chăm sóc SKSS cho VTN . 49 Hộp 3.5 Những khó khăn trong việc triển khai cơng tác chăm sóc SKSS cho vị thanh viên tại trường học ... 51 Hộp 3.6. Vai trò của các kênh truyền thông - Giáo dục sức khoẻ trong công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản cho học sinh của Nhà trường ... 52
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11"><b> ĐẶT VẤN ĐỀ </b>
Các ước tính của Liên hợp quốc chỉ ra rằng năm 2019 có khoảng 1,21 tỷ thanh thiếu niên từ 15 đến 24 tuổi, chiếm 15.5% dân số toàn cầu và con số này năm 2030 sẽ đạt 1.29 tỉ, chiếm khoảng 13.8%. Đặc biệt phần lớn tập trung tại các quốc gia có dân số trẻ, tốc độ tăng trưởng dân số nhanh, mặc dù vậy đây cũng là nhóm bao gồm nhiều quốc gia kém phát triển nhất [66]. Tại Việt Nam năm 2019 có khoảng 16% dân số từ 10 đến 19 tuổi tức 15.3 triệu người, trong đó 3.3% các em đã sinh con lần đầu khi chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, phần lớn tập trung chủ yếu tại Trung du miền núi phía bắc và Tây Nguyên [2]. Một trong những thực tế đặt ra là tình trạng quan hệ tình dục (QHTD) ở tuổi vị thành niên (VTN) mang tính phổ biến ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam với việc QHTD trước hơn nhân có xu hướng tăng và tuổi QHTD lần đầu có xu hướng giảm [26, 34].
QHTD sớm khi thiếu các kiến thức về sức khỏe sinh sản và các biện pháp tránh thai làm cho VTN gặp nhiều các nguy cơ như: mang thai ngoài ý muốn, nạo phá thai, mắc BLTQĐTD và HIV/AIDS.... Nghiên cứu cho thấy, tỉ lệ VTN có thai trong tổng số người mang thai tăng liên tục qua các năm: 2010 là 2,9%; 2011 là 3,1%; 2012 là 3,2%; với tỉ lệ phá thai tương ứng theo các năm: 2010 là 2,2%; 2011 là 2,4% và 2012 là 2,3% [25]. Mặc dù tỉ lệ QHTD của VTN tăng nhưng thực tế khảo sát cho thấy kiến thức về sức khỏe sinh sản của VTN còn rất hạn chế. Việc sử dụng các BPTT trong thực tế không đạt hiệu quả cao, chỉ có khoảng 20,7% VTN sử dụng BPTT trong lần QHTD đầu tiên [32]. Theo Phạm Thị Tâm và cs (2019), tỉ lệ VTN có kiến thức tốt về sức khỏe sinh sản là 77,2%, thái độ tốt về sức khỏe sinh sản là 58,2% và có 22,0% đã QHTD [30]. Theo Nguyễn Bá Nam và cs (2020), tỉ lệ VTN có kiến thức, thái độ và thực hành tốt về các vấn đề sức khỏe sinh sản (SKSS) lần lượt là 53,3%, 79,0% và 92,6% [20].
Có nhiều yếu tố liên quan đến hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">(CSSKSS) của VTN. Các yếu tố này tương đối phong phú và khác biệt giữa các nghiên cứu khác nhau. Nhìn chung các yếu tố liên quan có thể chia thành 5 nhóm bao gồm: yếu tố cá nhân (tuổi, giới, nơi ở, học lực…), yếu tố trường học (có giảng dạy, có sinh hoạt ngoại khóa về sức khỏe sinh sản…), yếu tố gia đình (kinh tế gia đình, hồn cảnh sống, tâm lý bố mẹ…), yếu tố bạn bè (bạn bè xúi giục...) và một số yếu tố khác (kinh tế xã hội, con duy nhất...). Nghiên cứu ở Makassar, Indonesia (2019) thấy kiến thức về SKSS có liên quan đến việc sử dụng các dịch vụ sức khỏe sinh sản (OR=1,74; 95%CI=1,040-2,911) [51]. Nếu học sinh tham gia đầy đủ các buổi giáo dục giới tính có kiến thức về SKSS VTN cao gấp 1,3 lần so với học sinh không tham gia đầy đủ. Bên cạnh đó, VTN khơng có cha mẹ quan tâm xem VTN đi đâu, làm gì cũng có khả năng QHTD trước hôn nhân cao gấp 2,2 lần những VTN có quan tâm của cha mẹ [10, 27, 35].
Tại Hà Tĩnh, đối tượng VTN và Thành niên chiếm 19.35% tức là gần 1/5 dân số toàn tỉnh. Đây cũng là nhóm đối tượng cần được quan tâm đến các vấn đề liên quan đến SKSS như có thai ngồi ý muốn, sinh đẻ sớm, hay phá thai. Theo số liệu của Trung tâm kiểm soát bệnh tật, năm 2018 tồn tỉnh có 29.074 trường hợp mang thai trong đó có 302 em đang trong độ tuổi VTN, chiếm tỉ lệ 1.04%, đồng thời cũng ghi nhận có 31 ca phá thai tại các cơ sở y tế trong tỉnh. Năm 2019 tỉ lệ các em có thai ở độ tuổi VTN có dấu hiệu tăng, chiếm 1.05% trường hợp có thai trên tồn tỉnh, trong đó ghi nhận 29 ca phá thai. Chúng tôi cho rằng trong thực tế số lượng trẻ VTN có thai và phá thai cịn lớn hơn nhiều, khi các em có thể lựa chọn các cơ sở phá thai ngồi cơng lập hoặc ngoại tỉnh.
Mặc dù vậy, các chương trình giáo dục sức khỏe tại địa phương cho đối tượng này là chưa hiệu quả. Khảo sát sơ bộ tại một số Trường Trung học phổ thông (THPT) tại Thành Phố Hà Tĩnh cho thấy, trong nhà trường giáo dục sức khỏe VTN được lồng ghép vào môn sinh học. Tuy nhiên, việc thực hiện khơng mang tính chất bắt buộc, tùy thuộc vào việc sắp xếp thời gian giảng dạy của giáo viên. Điều này khiến cho việc giáo dục sức khỏe sinh sản gặp nhiều khó khăn,
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">một phần vì chương trình học bắt buộc đã khá nhiều việc bố trí học các phần tự chọn hết sức khó khăn, phần khác năng lực của giáo viên ở lĩnh vực này cịn hạn chế, thậm chí nhiều giáo viên và phụ huynh không ủng hộ đưa các nội dung này vào giảng dạy tại nhà Trường.
Như vậy, thực trạng giáo dục sức khỏe sinh sản cho VTN nói chung và học sinh THPT trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh nói riêng là một vấn đề đáng được quan tâm, nghiên cứu để từ đó có những kế hoạch, phương án cải thiện thích hợp. Mặc dù vậy, chúng tôi ghi nhận trong thời gian qua chưa có nhiều nghiên cứu hay các tài liệu về vấn đề CSSKSS cho VTN. Trường THPT Phan Đình Phùng là 1 trong 3 trường THPT trên địa bàn TP, trường có số lượng học sinh đông nhất trong 3 trường và nằm trung tâm TP. Vì vậy, tìm hiểu hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản và tìm hiểu các yếu tố liên quan của đối tượng này sẽ là một bằng chứng khoa học quan trọng, làm cơ sở cho việc hoạch định các chính sách, chương trình liên quan đến chăm sóc sức khỏe sinh sản tuổi VTN ở TP HT nói riêng cũng như mục tiêu chung của kế hoạch hành động quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục vị thanh niên, thanh niên giai đoạn 2021-2025 là đẩy mạnh truyền thông tư vấn và tăng cường tăng cường cung cấp dịch vụ [3, 4]
<b>Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu: “Hành vi chăm </b>
<b>sóc sức khỏe sinh sản của vị thành niên Trường Trung học phổ thơng Phan Đình Phùng thành phố Hà Tĩnh và một số yếu tố liên quan” với các mục </b>
tiêu sau:
<i>1. Đánh giá hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản của vị thành niên Trường Trung học phổ thơng Phan Đình Phùng, thành phố Hà Tĩnh, năm học 2021- 2022. 2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản của vị thành niên Trường trung học phổ thơng Phan Đình Phùng Thành Phố Hà Tĩnh. </i>
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14"><b>CHƯƠNG 1 </b>
<b>TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. Một số định nghĩa và khái niệm </b>
<b>Sức khỏe sinh sản </b>
Sức khỏe sinh sản là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội mà không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật hay ốm đau liên quan đến hệ thống sinh sản [3].
<b>Chăm sóc sức khỏe sinh sản </b>
<i><b>Chăm sóc SKSS là sự phối hợp các biện pháp kỹ thuật dịch vụ nhằm nâng </b></i>
cao chất lượng sức khỏe sinh sản làm cho sự hoạt động và chức năng của bộ máy sinh sản được tốt hơn, khỏe mạnh hơn bao hàm cả sức khỏe tình dục (SKTD) mục đích là làm cho cuộc sống có chất lượng và hạnh phúc hơn bằng cách phòng ngừa và giải quyết các vấn đề SKSS [3].
Giáo dục SKSS VTN là giáo dục VTN về các vấn đề tình dục và SKSS, cùng với những khía cạnh khác nhau của vấn đề này (như thể chất, tình cảm, quan hệ xã hội…). Các nội dung giáo dục SKSS VTN thường được đề cập đến bao gồm các nội dung chính: tư vấn/giáo dục, dự phòng và điều trị (lâm sàng và cận lâm sàng). Có nhiều cách phân loại, nhưng nhìn chung các dịch vụ thơng thường bao gồm:
- Thông tin, giáo dục và truyền thông (về những thay đổi thể chất và tâm lý lứa tuổi VTN, vấn đề tình dục, phịng tránh HIV, dự phòng các vấn đề SKSS, sức khỏe tình dục (SKTD)).
- Tư vấn về các vấn đề SKSS, SKTD cho VTN, thanh niên. - Chăm sóc trước sinh và sau sinh cho VTN, Thanh niên.
- Phá thai an toàn và dịch vụ sau phá thai cho VTN, thanh niên.
- Dự phòng và điều trị bệnh lây truyển qua đường tình dục (BLTQĐTD), bao gồm HIV/AIDS.
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">- Dự phòng, điều trị và theo dõi bạo lực thể chất, tâm lý, tình dục, bạo lực trên cơ sở giới.
<b>Sức khỏe tình dục </b>
Sức khỏe tình dục là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội mà không chỉ đơn thuần là khơng có bệnh tật hay rối loạn chức năng liên quan đến tình dục. Nó địi hỏi một cách tiếp cận tích cực và tơn trọng đối với tình dục và các mối QHTD, cũng như khả năng có những trải nghiệm tình dục hài lịng và an tồn, khơng bị ép buộc, phân biệt đối xử và bạo lực [3].
<b>Tình dục an tồn </b>
Tình dục an tồn là tình dục khơng dẫn đến việc mang thai ngồi ý muốn và lây nhiễm các BLTQĐTD như: lậu, giang mai, HIV/AIDS... [3].
<b>Vị thành niên </b>
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), lứa tuổi VTN là từ 10 - 19 tuổi và thường được chia làm 3 giai đoạn: VTN sớm (10-13 tuổi), VTN giữa (14-16 tuổi) và VTN muộn (17-19 tuổi) [3]
<b>Tuổi dậy thì </b>
Tuổi dậy thì là mốc đánh dấu sự trưởng thành về mặt sinh học của cơ thể. Dậy thì là một quá trình thường kéo dài khoảng 3-4 năm và được chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn dậy thì và giai đoạn dậy thì hồn tồn. Đối với người Việt Nam; các em nữ dậy thì hồn tồn vào khoảng 13-14 tuổi, đánh dấu bằng chu kỳ kinh nguyệt đầu tiên. Các em nam dậy thì hồn toàn vào khoảng 14-15 tuổi, đánh dấu bằng lần xuất tinh không chủ động đầu tiên.
<b>1.2. Đặc điểm sức khỏe sinh sản vị thành niên </b>
<i><b>1.2.1. Những thay đổi về giải phẫu và sinh lý trong thời kỳ vị thành niên </b></i>
Sự phát triển cơ thể rõ rệt và dễ nhận thấy nhất là các dấu hiệu dậy thì. Tuổi dậy thì ở các em nữ thường sớm hơn và trong khoảng từ 10-15 tuổi, các em nam trong khoảng từ 12-17 tuổi. Trong giai đoạn dậy thì, các nội tiết tố sinh dục (estrogen và tetosteron) tăng dần, cơ quan sinh dục phát triển và cơ thể chuẩn bị
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">sẵn sàng cho hoạt động sinh sản. Biểu hiện rõ rệt ở các em nữ là hiện tượng kinh nguyệt và ở em nam là hiện tượng xuất tinh [4].
<i>- Dậy thì ở các em nữ </i>
Phát triển núm vú, quầng vú.
Mọc lông sinh dục: lông mu, lông nách
Tử cung, âm đạo, buồng trứng phát triển to ra, xương hông nở ra. Phát triển chiều cao nhanh chóng
Xuất hiện kinh nguyệt
Các tuyến bã hoạt động mạnh, xuất hiện trứng cá
<i>- Dậy thì ở các em nam </i>
Tinh hồn và dương vật to lên, da tinh hoàn sẫm màu lại. Thanh quản mở rộng, vỡ tiếng, yết hầu lộ ra
Tăng trưởng nhanh chóng về chiều cao, các xương dài phát triển, cơ bắp ở vai, ngực, cánh tay... to ra.
Xuất hiện lông mu, ria mép.
Có xuất tinh (thường là mộng tinh hay cịn gọi là “giấc mơ ướt”)
- Có khả năng tránh được ma túy, rượu và các chất gây nghiện. - Phát triển nhân cách tốt, được mọi người coi trọng.
- Có quyền được thơng tin đầy đủ, chính xác về sức khỏe/SKSS/SKTD. - Có quyền tiếp cận các dịch vụ chăm sóc SKSS/SKTD phù hợp và có chất lượng.
- Có quyền được đối xử bình đẳng, tơn trọng, khơng bị cưỡng bức, bạo hành. - Có quyền tự quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình trong
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">các vấn đề liên quan đến sức khỏe/SKSS/SKTD.
- Có quyền được lựa chọn kết hôn hay khơng, có QHTD hay khơng, khi nào, với ai, có con hay khơng… trên cơ sở được thông tin đầy đủ, được giáo dục về kỹ năng sống và phù hợp với pháp luật.
<b>1.3. Một số nghiên cứu về thực trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên và các yếu tố liên quan </b>
<i><b>1.3.1. Một số nghiên cứu về thực trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên </b></i>
<i>1.3.1.1. Các nghiên cứu trên thế giới </i>
Các ước tính của Liên hợp quốc chỉ ra rằng năm 2019 có khoảng 1,21 tỷ thanh thiếu niên từ 15 đến 24 tuổi, chiếm 15.5% dân số toàn cầu và con số này năm 2030 sẽ đạt 1.29 tỉ, chiếm khoảng 13.8%. Đặc biệt phần lớn tập trung tại các quốc gia có dân số trẻ, tốc độ tăng trưởng dân số nhanh, mặc dù vậy đây cũng là nhóm bao gồm nhiều quốc gia kém phát triển nhất [66].
QHTD sớm khi thiếu các kiến thức về SKSS và biện pháp tránh thai (BPTT) làm cho các VTN gặp nhiều các nguy cơ như: thai nghén ngoài ý muốn, nạo phá thai, mắc BLTQĐTD và HIV/AIDS .... Theo ước tính của WHO, mỗi năm có khoảng 374 triệu người mắc một trong 4 BLTQĐTD gồm chlamydia, lậu, giang mai và trichomonas [70]. Theo Bộ Y tế, trên thế giới bình quân mỗi ngày có khoảng 7.000 thanh thiếu niên, hay mỗi phút có 5 thanh thiếu niên tuổi 20-24 bị nhiễm HIV. Riêng khu vực Châu Á - Thái Bình Dương mỗi năm ước tính có khoảng 700.000 thanh thiếu niên bị nhiễm HIV. Báo cáo Khảo sát về tình trạng phá thai tại Mỹ năm 2013 cho thấy tỉ lệ phá thai ở nhóm tuổi dưới 15 tuổi và từ 15-19 tuổi tại Mỹ chiếm 0,3% và 11,4% trong tổng số các trường hợp phá thai; tương ứng với tỉ lệ 0,6/1.000 VTN (<15 tuổi) và 8,2/1.000 VTN (15-19 tuổi) năm 2013. Rõ ràng việc các VTN QHTD sớm và khơng an tồn đã để lại những hậu quả vô cùng nghiêm trọng cho bản thân VTN, cũng như là gánh nặng cho toàn xã hội [53].
Một nghiên cứu gần đây ở một vùng nông thôn ở Ethiopia cho thấy chỉ có 2/3
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">số VTN biết về chăm sóc SKSS, và 1/5 trong số họ sử dụng các dịch vụ chăm sóc có sẵn trong địa bàn. Nghiên cứu này cũng phân tích một số lý do tại sao VTN lại hạn chế kiến thức về SKSS. Đó là những rào cản về văn hố cho rằng đề cập đến vấn đề tình dục, SKSS là vi phạm đạo đức. Thiếu chia sẻ thông tin cũng là một thách thức ngăn cản VTN khó tiếp cận được với những kiến thức về SKSS [45].
Hơn thế nữa, khi cộng đồng, gia đình và xã hội khơng xem việc chăm sóc SKSS cho VTN là quan trọng thì sẽ khơng đầu tư đúng với nhu cầu cần có. Với thực trạng đó, cộng đồng nói chung và VTN nói riêng thường ngại ngùng khi nói chuyện, tìm hiểu về các vấn đề về SKSS/SIKTD dẫn đến thiếu hiểu biết và hạn chế tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sẵn có [45].
Cũng trong nghiên cứu này, liên quan đến kiến thức về mang thai và các BPTT, hơn một nửa số VTN biết về thời điểm có thể mang thai khi có QHTD. Khoảng 2/3 số VTN biết về các BPTT, và tỷ lệ VTN nam biết cao hơn nữ (69,3% so với 63,9%) [45].
Theo Fatuma A Ahmed và cs (2012) trên 368 người tại Ethiopian cho thấy có 23,4% đối tượng đã QHTD, trong đó khoảng 42,0% đối tượng có QHTD không được bảo vệ. Trong số những người QHTD không an toàn, đa số (84,2%) đã nghe nói về BPTT khẩn cấp và 75,0% đã từng sử dụng các BPTT khẩn cấp này [45]. Nghiên cứu của Laura M. Miller (2011) trên 692 đối tượng ở Pennsylvania, Edinboro, Mỹ cho thấy 83,0% đối tượng đã có kinh nghiệm QHTD, 74% đã nghe nói về ngừa thai khẩn cấp. Tuy nhiên, ít hơn một phần ba biết tình trạng đơn thuốc, tác dụng phụ phổ biến hoặc các cơ chế của BPTT khẩn cấp [59].
Nghiên cứu của Zhou Hong và cs tại Trung Quốc năm 2012 cho thấy 18,5% số người được hỏi đã QHTD; nam sinh đã QHTD nhiều hơn nữ sinh (p <0,001). Trong số các đối tượng đã QHTD, 43,1% nam sinh đã làm bạn gái có thai và 49,3% nữ sinh có thai ngồi ý muốn hầu hết đối tượng nghiên cứu còn thiếu kiến thức về SKSS và chỉ có 17,9% số người được hỏi biết thời điểm thích
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">hợp của việc phá thai [72]. Một trong những yếu tố quan trọng nhất dẫn đến tình trạng mang thai ngồi ý muốn, nạo phá thai khơng an tồn để lại hậu quả nặng nề về sức khoẻ ở VTN là thiếu kiến thức về SKSS và SKTD. Thêm vào đó nhiều VTN nữ mang thai, sinh đẻ khi còn ở độ tuổi đi học cũng là một nguyên nhân dẫn đến việc phải rời ghế nhà trường. Điều này dẫn tới trình độ học vấn thấp, kết hợp với sức khoẻ hạn chế sẽ góp phần làm cho vai trò của phụ nữ thấp kém hơn so với nam giới cả ở gia đình và xã hội [59].
Lebogang Seutlwadi nghiên cứu tại Nam Phi cho thấy trong số những phụ nữ từ 18-24 tuổi đang được sử dụng BPTT (89,1%) có 9,3% đã sử dụng thuốc tránh thai, 5,2% sử dụng dụng cụ tử cung (DCTC), 25,6% thuốc tiêm, 57,6% bao cao su (BCS) nam, 5,9% BCS nữ, và 8,9% phương pháp kép; các phương pháp khác được sử dụng là phương pháp tính ngày rụng trứng (7,0%), xuất tinh ngoài âm đạo (11,5%), và viên thuốc ngừa thai khẩn cấp (5,5%) [55].
Nghiên cứu của Yimer B. và cs (2019) ở Ethiopia (2019) thấy khoảng 2/3 (64,5%) số người tham gia báo cáo rằng họ đã từng QHTD. Gần một nửa (48,6%) số người tham gia hiện đang hoạt động tình dục báo cáo rằng họ đã thực hiện ít nhất một loại hành vi tình dục nguy cơ. Cụ thể, 42,7% cho biết bắt đầu cuộc sống tình dục sớm hơn, 32,2% có nhiều bạn tình hơn trong 12 tháng qua và 23,8% không bao giờ sử dụng BCS trong lần QHTD gần đây nhất [71].
Việc thay đổi thái độ về SKSS và tình dục của VTN là một q trình khó khăn và có nhiều thách thức hơn so với thay đổi về kiến thức. Các nghiên cứu tại các quốc gia khác nhau cho thấy thái độ của VTN về các BPTT và sử dụng các BPTT là khác nhau: trên thực tế cho thấy, tại một số quốc gia thì VTN đồng tình với nạo phá thai. VTN ngại sử dụng BPTT và QHTD khi sử dụng bia rượu là yếu tố làm tăng nguy cơ có thai. Theo Zhou Hong và cs thì 58,7% đối tượng nghiên cứu chấp nhận QHTD trước hơn nhân, 29,7% có thái độ tiêu cực đối với BPTT [72]. Aruda (2011) nghiên cứu thấy hầu hết VTN khơng chủ động tìm các BPTT trừ khi lo lắng về sự mang thai hoặc đã có QHTD một số lần mà chưa
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">dùng BPTT. Sử dụng BPTT hay khơng có thể do bạn tình, sợ có thai, hay do cha mẹ muốn bảo vệ con gái khỏi có thai, hoặc để điều hoà kinh nguyệt [48].
<i>1.3.1.2. Nghiên cứu tại Việt Nam </i>
Tại Việt Nam, SKSS VTN ngày càng trở lên quan trọng vì sự tăng nhanh của nhóm dân số này. Theo kết quả của tổng điều tra dân số Việt Nam năm 2009, trẻ VTN Việt Nam (từ 11-19 tuổi) ở nước ta có khoảng 16,2 triệu người, chiếm gần 20,0% dân số [42]. Một trong những thực tế đặt ra là QHTD trước hôn nhân (đặc biệt ở nhóm đối tượng VTN) đang có chiều hướng tăng lên ở Việt Nam. Theo Điều tra quốc gia về VTN và thanh niên Việt Nam (SAVY1), có khoảng 1/3 VTN nam ở thành thị và 1/2 VTN nữ ở nơng thơn có QHTD trước hôn nhân. Tuổi QHTD lần đầu của VTN có xu hướng giảm: nghiên cứu SAVY 1 cho tuổi QHTD lần đầu trung bình là 19,6 tuổi thì nghiên cứu SAVY2 cho tuổi QHTD lần đầu trung bình là 18,1 tuổi (18,2 ở nam và 18,0 ở nữ). Kết quả của SAVY2 cho thấy có 37% VTN thanh niên cho rằng có thể QHTD trước hơn nhân với tình huống “nếu cả hai cũng tự nguyện” làm việc đó [31, 32].
Đồng tình với quan điểm trên, nghiên cứu của Lê Đức Hạnh cũng chỉ ra rằng tỉ lệ học sinh đồng tình với QHTD trước hơn nhân chiếm tỉ lệ cao (47%). Học sinh tham gia nghiên cứu đã từng QHTD chiếm 12%.
Gần đây, nghiên cứu của Dương Minh Đức và cs 2019 về hành vi tình dục an tồn và một số yếu tố liên quan của VTN tại Hà Nội cho thấy tỷ lệ đối tượng từng có QHTD là 3,4% và tỷ lệ tăng dần theo tuổi. Trong đó, tỷ lệ có QHTD ở nhóm ≤16 tuổi là 2,1% và ở nhóm >16 tuổi là 5,8%. Học sinh có nhiều hành vi QHTD nguy cơ cao như có nhiều bạn tình và sử dụng rượu/ bia trước khi QHTD lần lượt là 18,1% và 15,5% [5].
Mặc dù độ tuổi QHTD lần đầu có dấu hiệu giảm, tuy nhiên kiến thức về chăm sóc SKSS và các BPTT của VTN nhìn chung chưa cao.
Nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành của trẻ VTN phá thai tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội của Hoàng Thị Hoa Lê và cs (2019) thấy kiến thức, thái độ
</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">và thực hành về SKSS của học sinh cịn thấp (53,2% có kiến thức đạt; 52,2% có thái độ đạt; 69,3% có thực hành đạt). Học sinh nữ có kiến thức cao hơn so với học sinh nam về kiến thức nhận biết dậy thì (95,3% và 85,2%), vệ sinh cơ quan sinh dục (80,5% và 69,7%), các BPTT (83,9% và 69,2%) đồng thời 74,7% học sinh cho rằng mong muốn QHTD là bình thường kể cả khi chưa cưới.
Nghiên cứu của Trần Thị Lệ (2019) thấy có 62,7% đối tượng có nhận thức chưa tốt về SKSS, có 35,3% biết nhưng chưa hiểu rõ, 2,0% có kiến thức tốt về SKSS. Phần đa đối tượng có hiểu biết chưa đúng về khả năng mang thai khi QHTD, BCS và thuốc tránh thai là hai biện pháp được hiểu biết nhiều nhất ), tỉ lệ đối tượng có thái độ đúng về phim ảnh, sách báo có nội dung tình dục và hành vi nạo phá thai mức trung bình lần lượt là 78,4% và 51,0%. Tỉ lệ đối tượng có thái độ đúng về cung cấp kiến thức các BPTT khá cao là 94,1%. Tỉ lệ đối tượng có thái độ đúng về QHTD trước hơn nhân chưa cao. Nhìn chung, tỉ lệ có thái độ đúng về SKSS cịn thấp 37,3% [15].
Theo nghiên cứu của Cao Ngọc Thành và cs (2017) nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành CSSKSS ở nữ VTN người dân tộc thiểu số, tỉnh Thừa Thiên Huế cho kết quả: Tỉ lệ VTN có kiến thức, thái độ, thực hành chung về CSSKSS chưa tốt chiếm khá cao theo tỉ lệ lần lượt là: 86,7%, 64,0%, 74,4%. Tỉ lệ trẻ VTN có QHTD là 3,8%, tỉ lệ trẻ VTN có sử dụng BPTT khi QHTD là 23,5%. Tỉ lệ trẻ VTN kết hôn sớm chiếm 51,9% trong số VTN đã kết hôn, tỉ lệ hôn nhân cận huyết là 25,9%. Tỉ lệ VTN mang thai là 2,7%. Tỉ lệ VTN nạo phá thai là 0,1% [36]
Kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Tâm và cs (2019) cho thấy tỉ lệ đối tượng có kiến thức tốt về SKSS là 77,2%, có thái độ đạt về SKSS là 58,2% và 22,0% đối tượng đã QHTD. Có 74,8% đối tượng đã QHTD lần đầu ở lứa tuổi 16-19. Có 95,0% đối tượng QHTD lần đầu là do tự nguyện hoặc bị thuyết phục. Khi QHTD, chỉ có 52,7% đối tượng thường xuyên sử dụng BPTT, đặc biệt có 22,9% đối tượng không bao giờ sử dụng các BPTT [30]
</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">Nghiên cứu của Barbara S.Mensch, Đặng Nguyên Anh và cộng sự có tiêu đề: “VTN và biến đổi xã hội ở Việt Nam”, tiến hành tại 19 xã và 5 phường của 16 huyện thuộc 6 tỉnh (Lai Châu, Quảng Ninh, Hà Tây, Quảng Nam- Đà Nẵng, Hồ Chí Minh và Kiên Giang) với 2.126 VTN&TN tuổi từ 13-22 (trong đó có 1.148 nữ và 978 nam) chỉ ra nhận thức của các VTN về các BPTT là chưa đầy đủ (đa số biết 2-3 BPTT hiện đại) [17].
Kết quả nghiên cứu tại trường THPT Phan Đăng Lưu Thành phố Hải Phòng của Phạm Thị Ngọc và cs cho thấy tỷ lệ học sinh đạt kiến thức, thái độ chung về SKSS VTN lần lượt là 63% và 52,9%. Việc thiếu kiến thức, thái độ và hành vi về BPTT hoặc sử dụng BPTT không đúng cách cũng dẫn đến hậu quả mang thai ngoài ý muốn và tăng tỉ lệ phá thai. Tỉ lệ VTN có thai trong tổng số người mang thai tăng liên tục qua các năm: 2010 là 2,9%; 2011 là 3,1%; 2012 là 3,2%; với tỉ lệ phá thai tương ứng là 2,2% năm 2010; 2,4% năm 2011 và 2,3% năm 2012 [16]. Sự thiếu hụt kiến thức về SKSS, kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ); tâm lý e ngại; sợ sệt giấu diếm hoặc gặp khó khăn trong tiếp cận dịch vụ y tế... đã làm cho nhiều trường hợp VTN phát hiện mình có thai muộn hoặc đi phá thai muộn. Đây là vấn đề cần được sự giáo dục quan tâm đúng mức của cha mẹ, thầy cô... cũng như tất cả các ban ngành, các cấp và toàn xã hội đều phải vào cuộc [22].
Nghiên cứu sâu vào thực trạng sử dụng các biện pháp phòng tránh thai, HIV/AIDS và các BLTQĐTD tại Việt Nam còn rất hạn chế; việc sử dụng các BPTT trong thực tế khơng đạt hiệu quả cao, chỉ có khoảng 20,7% VTN sử dụng BPTT trong lần QHTD đầu tiên [32]. Kết quả điều tra ở SAVY1 cho thấy hầu hết thanh thiếu niên (97,0%) biết ít nhất một biện pháp và trung bình biết đến 5,6/10 BPTT (ở SAVY2 trung bình biết 4/8 biện pháp) [31, 32]. Theo SAVY2, tính chung cả nước hay xét theo giới, theo nhóm tuổi, theo dân tộc thì tỉ lệ biết về các BPTT đều rất cao, hầu như mọi người được hỏi đều biết một BPTT nào đó (trên 97,0%); tuyệt đại đa số người được hỏi biết về thuốc uống tránh thai
</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">(92,0%) và BCS (95,0%). Tuy nhiên, sử dụng hiểu biết về tránh thai trong thực tế như thế nào và các BPTT có đáp ứng nhu cầu khơng mới là điều quan trọng nhất [32].
Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phong và cs (2013) tại trường Cao đẳng Y tế Hà Nội cho thấy có 99,3% đối tượng nghiên cứu biết ít nhất một BPTT: BCS (96,8%), viên thuốc tránh thai khẩn cấp (82,1%), viên thuốc tránh thai hàng ngày (53,9%). Có 65,2% đối tượng cho rằng BPTT khẩn cấp được dùng sau khi quan hệ không dùng các BPTT hỗ trợ; 73,9% đối tượng khơng biết chính xác thời điểm sử dụng. Có 91,9% đối tượng biết BCS được sử dụng cho các trường hợp muốn tránh thai tạm thời; 84,9% để phịng chống HIV và BLTQĐTD. Có 86,1% đối tượng biết viên thuốc tránh thai hàng ngày được sử dụng khi muốn tránh thai tạm thời và khơng có chống chỉ định; 41,1% đối tượng biết cách uống viên thuốc tránh thai hàng ngày. Về lý do lựa chọn các BPTT, nghiên cứu này cũng cho kết quả có 49,6% đối tượng nghiên cứu cho rằng “Các BPTT hiện nay có nhiều tác dụng phụ và nguy cơ”. Có 64,3% đối tượng khơng đồng ý với quan điểm “Sử dụng viên thuốc tránh thai khẩn cấp là sự lựa chọn tốt nhất cho các VTN có QHTD”; 64,9% đối tượng đồng ý với quan điểm “Tôi tin BCS là lựa chọn tốt nhất cho các bạn trẻ VTN”; 62,9% đối tượng nghiên cứu không đồng ý với quan điểm “Nếu một bạn sử dụng viên thuốc tránh thai hàng ngày, bạn đó khơng đứng đắn” [24].
Theo Trần Thị Lệ (2019) cho thấy: Tỉ lệ đối tượng nghiên cứu chia sẻ về dấu hiệu hành kinh lần đầu khá cao (66,7%), tỉ lệ đối tượng có tâm sự với bố mẹ về SKSS là 45,1%. Phần lớn các đối tượng đều khơng hoặc ít tiếp cận với thông tin về SKSS với tỉ lệ lần lượt là 51,0% và 47,0%. Khi nói chuyện với bố mẹ về SKSS phần lớn đối tượng đều cảm thấy khó nói (56,8%), cảm thấy bình thường chiếm 37,3%, 5,9% cảm thấy rất dễ dàng, thoải mái. Có 52,7% đối tượng nghiên cứu cảm thấy ngại, xấu hổ khi nói với người thân về SKSS, 35,7% sợ bố mẹ mắng và 7,1% là lí do khác. Tỉ lệ các đối tượng có sử dụng BPTT thường xuyên
</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">rất thấp (7,8%). BCS và thuốc uống tránh thai khẩn cấp là 2 BPTT được sử dụng phổ biến. Tỉ lệ học sinh có hành vi SKSS tốt rất thấp (7,8%) [15].
Nghiên cứu về những nơi cung cấp thông tin về SKTD và BPTT cho VTN chủ yếu là từ thông tin đại chúng chứ không phải từ nhà trường hay gia đình [43]. Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phong và cộng sự cho thấy nguồn thông tin về BPTT chủ yếu từ: báo chí, truyền hình (77,7%); gia đình (29,9%) [24]. Theo SAVY2, có 93,4% VTN và Thanh niên cho biết đã nhận được các thông tin về SKSS/TD qua các phương tiện truyền thông đại chúng. Tuy nhiên, thông tin về SKSS/SKTD được chuyển tải qua kênh này không chuyên sâu nên không thỏa mãn nhu cầu của VTN. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng: thầy, cô giáo cũng giúp trao đổi thông tin về SKSS cho cả VTN nam và nữ với tỷ lệ tương ứng là 22,9% và 21,9% hầu hết thanh thiếu niên đã nghe nói về mang thai hay KHHGĐ qua các nguồn thông tin khác nhau, chỉ có 7,0% người được hỏi cho biết họ chưa nghe về chủ đề này từ nguồn nào [32].
Kết quả nghiên cứu về nhu cầu trao đổi thông tin về SKSS và SKTD của VTN tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn cho thấy việc trao đổi giữa cha mẹ và con cái, giữa thầy cô giáo và học sinh về SKSS và SKTD còn khá hạn chế (tương ứng chỉ là 27,7% và 21,2%). Đa số VTN trao đổi chủ đề này với bạn bè (74%) hoặc trao đổi với anh chị em trong gia đình (28,2%). Theo nghiên cứu của Thị Mương cho thấy kiến thức về phòng tránh thai và các bệnh LTQĐTD của học sinh trường THPT Dân tộc nội trú tỉnh Ninh Thuận còn thấp, cần có chương trình giáo dục SKSS phù hợp với đặc tính của học sinh dân tộc thiểu số nội trú [18]. Theo nghiên cứu của Danh Thành Nho cho thấy sự khác biệt về kiến thức về các BPTT trước và sau khi thực hiện chương trình truyền thơng cho học sinh THPT [23]. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thúy và cộng sự 63,1% VTN được tự vấn về SKSS [37]. Theo nghiên cứu của Ngô Thị Hồng Uyên và các cộng sự cho thấy kiến thức, thái độ, thực hành của cha mẹ học sinh về giáo dục sức khỏe sinh sản cho trẻ vị thành niên chưa cao [41].
</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">Nghiên cứu của Diệp Từ Mỹ về nhu cầu truyền thông của thanh, thiếu niên 15-24 tuổi cho thấy đa số thanh, thiếu niên có nhu cầu được tư vấn về giới tính và SKSS (65,8%), trong đó cha mẹ được thanh, thiếu niên chọn làm đối tượng tư vấn viên về giới tính và SKSS nhiều nhất (34,3%), sau đó là các nhân viên tư vấn (33,1%). Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, nguồn thơng tin về giới tính và SKSS mà VTN thích là từ sách báo (31,4%), sau đó là nguồn nhà trường (17,9%) [19] . Kế hoạch hành động Quốc gia về CSSKSS, SKTD cho VTN, thanh niên giai đoạn 2020-2025 của Bộ Y tế (2020) có dẫn chứng: hiện nay VTN, thanh niên được thụ hưởng chất lượng cuộc sống cao hơn, có điều kiện tiếp cận thông tin dễ dàng hơn như máy tính (52,0%) và kết nối internet (49,0%). So sánh với năm 2009 thì các con số này lần lượt chỉ là 20,0% và 11,0%. Hơn 90% thanh thiếu niên trong độ tuổi 10-24 cho biết đã trao đổi và tiếp cận thông tin SKSS thông qua các kênh hiện đại như Internet, truyền hình và tin nhắn SMS trên điện thoại di động [3].
<i><b>1.3.2. Một số yếu tố liên quan đến hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên </b></i>
Các yếu tố liên quan đến hành vi về CSSKSS VTN trong các nghiên cứu tìm được tương đối phong phú và khác biệt. Nhìn chung các yếu tố liên quan bao gồm: yếu tố cá nhân (tuổi, giới, nơi ở, học lực…), yếu tố gia đình (kinh tế gia đình, hồn cảnh sống, tâm lý bố mẹ…), yếu tố bạn bè, nhà trường và xã hội.
<i>1.3.2.1. Yếu tố cá nhân </i>
Yếu tố cá nhân ảnh hưởng lớn tới kiến thức, thái độ, hành vi về CSSKSS VTN, đặc biệt là yếu tố giới. Một số nghiên cứu ở VTN nhỏ (12-15 tuổi) chỉ ra rằng có mối liên quan giữa giới tính với sự hiểu biết của học sinh về các dấu hiệu dậy thì, ở nam là 57,2% cao hơn ở nữ là 52,8%. Kiến thức, thái độ đúng về SKSS của nam (33.6% và 30,2%) cao hơn so với nữ (31,4% và 10,5%). Yếu tố tuổi cũng ảnh hưởng tới kiến thức, thái độ của VTN. Nghiên cứu tại trường Trung học cơ sở Ngô Tất Tố thấy có sự khác biệt giữa tỉ lệ đạt kiến thức và thái
</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">độ đúng với từng khối lớp. Đối với kiến thức, khối lớp 8 có tỉ lệ kiến thức đúng cao nhất (49,4%), thấp nhất là khối lớp 6 (7,0%), tuy nhiên, thái độ đúng ở khối lớp 6 lại cao nhất (27,1%) [10, 21]. Nghiên cứu ở VTN/Thanh niên 19-22 cũng chỉ ra, nam có hành vi QHTD cao gấp 6,9 lần nữ, nhóm VTN có quan điểm QHTD hiện đại có nguy cơ QHTD trước hôn nhân cao gấp 8,2 lần VTN có quan điểm truyền thống. Đối tượng nghiên cứu thuộc năm cuối có kiến thức về QHTD cao hơn các đối tượng năm thứ nhất và năm thứ hai. Tuy nhiên, đối tượng năm cuối lại có tỉ lệ QHTD trước hôn nhân cao hơn [35].
Theo Đỗ Thị Hồng, học sinh nam có kiến thức chưa tốt về SKSS VTN cao gấp 2,01 lần so với học sinh nữ; học sinh lớp 6 và 7 có kiến thức chưa tốt về SKSS VTN cao gấp 12,76 lần so với học sinh lớp 8 và 9; học sinh có học lực trung bình trở xuống có kiến thức chưa tốt về SKSS VTN cao gấp 8,84 lần so với học sinh có học lực khá, giỏi. Nghiên cứu của Yimer B. và cs (2019) thấy thanh thiếu niên có niềm tin hành vi kém về các vấn đề SKSS/SKTD có tỉ lệ tham gia vào các hành vi tình dục nguy cơ tăng 37,0% [71]. Theo Vongxay Viengnakhone và cs (2019) thì kiến thức về SKSS / SKTD có liên quan tích cực và có ý nghĩa với một số yếu tố: vị trí trường học (p<0,001), tham gia lớp SKSS/ SKTD ở trường (p <0,001), và hiểu biết về chức năng BCS và việc sử dụng BCS (p <0,001) [68].
Nghiên cứu ở Makassar, Indonesi (2019) thấy kiến thức về SKSS và các dịch vụ sẵn có (OR=1,74; 95%CI=1,040-2,911) có liên quan đến việc sử dụng các dịch vụ đó. Học sinh có trình độ hiểu biết cao có khả năng sử dụng các dịch vụ CSSKSS VTN cao gần gấp đôi so với những học sinh có trình độ hiểu biết thấp [51, 68]. Tuổi cũng là yếu tố liên quan đến kiến thức về tình dục và SKSS: thực tế cho thấy tuổi VTN càng thấp càng thiếu kiến thức về tình dục và SKSS. Fatuma A Ahmed (2012) nghiên cứu trên 368 người tại Ethiopian thấy những người chủ động QHTD có thái độ sử dụng BPTT khẩn cấp tốt hơn những người QHTD bị động (OR=0,33, 95%CI: 0,15- 0,71) [32]. Nghiên cứu của Zhou Hong
</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">và cs cho kết quả phân tích hồi quy đa biến: giới tính (OR=3,12, 95%CI: 2,39-4,11), điểm số của kiến thức (OR=0,74, 95%CI: 0,58-0,95) và thái độ đối với hoạt động tình dục (OR=0,09, 95%CI: 0,04-0,22) đã có một tác động đáng kể vào việc có hành vi tình dục [72]. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng cho thấy tỉ lệ có thai ngồi ý muốn ở lứa tuổi 18-19 cao nhất là 75,2% và thấp nhất ở nhóm tuổi 10-13 là 0,6% [11]
Nghiên cứu của Cao Ngọc Thành và cs cho kết quả: có mối liên quan giữa trình độ học vấn, giai đoạn VTN với kiến thức chung về CSSKSS VTN (p < 0,05). Có mối liên quan giữa dân tộc, trình độ học vấn, giai đoạn VTN với thái độ chung về CSSKSS VTN (p <0,05). Có mối liên quan giữa trình độ học vấn, giai đoạn VTN với tỉ lệ thực hành chung về CSSKSS VTN (p <0,05) [36]. Kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Tâm và cs (2019) đã xác định được một số yếu tố liên quan theo giới (OR=1,38; p<0,13) và cấp học (OR=2,04; p<0,001) với kiến thức; giới (OR=1,79, p <0,002) và cấp học (OR=1,67; p<0,001) với thái độ về SKSS. Về thực hành SKSS, nam giới có mong muốn QHTD trước hơn nhân cao gấp 3 lần nữ giới (p<0,001); đối tượng năm thứ 4 có mong muốn QHTD cao hơn đối tượng năm thứ nhất 1,6 lần (p<0,05). Những đối tượng có kiến thức và thái độ tốt và đã QHTD cao gấp 1,7–2 lần so với đối tượng có kiến thức và thái độ chưa tốt [30]. Theo Nguyễn Bá Nam và cs (2020): học sinh có học giỏi có kiến thức về SKSS đúng nhiều hơn nhóm cịn lại với OR=1,68; học sinh khối lớp 12 có kiến thức đúng và thái độ đúng nhiều hơn học sinh khối lớp 10 với OR lần lượt là 0,57 và 1,92. Học sinh nam có thực hành CSSKSS đúng nhiều hơn nữ với OR=0,36. Ngồi ra, những học sinh có kiến thức đúng sẽ thực hành đúng nhiều hơn nhóm học sinh có kiến thức chưa đúng với p=0,039 và OR=3,17 [20].
<i>1.3.2.2. Yếu tố nhà trường </i>
Nghiên cứu tại phương Tây đã dự báo có một số yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới hành vi tình dục của VTN bao gồm hoạt động giáo dục ở trường học. Ở trường trung học, VTN có thành tích học tập kém có nhiều khả năng tham gia
</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">vào các hoạt động tình dục hơn những người đạt được thành công học tập. Chương trình giáo dục giới tính làm giảm nguy cơ QHTD trước hôn nhân và hành vi nguy cơ có hại cho sức khoẻ. Những VTN/Thanh niên đang có người yêu có nguy cơ QHTD trước hơn nhân cao hơn nhóm hiện chưa có người u. Việc tiếp xúc với internet và các trang mạng xã hội khơng tốt, xem phim khiêu dâm, hình ảnh đồi truỵ là những yếu tố có ảnh hưởng rất lớn tới hành vi QHTD của VTN Mỹ. VTN cũng tìm hiểu kiến thức về SKSS từ nguồn sách báo, trang mạng xã hội. Nghiên cứu nhóm học sinh THPT Bắc Ninh, nguồn thông tin các em thương tìm hiểu nhất là internet (65,3%); sách báo, tạp chí và tờ rơi cũng là một nguồn thơng tin quan trọng để các em tìm hiểu thơng tin giáo dục giới tính (62,7%). Ngồi ra các chương trình giáo dục giới tính cũng là lựa chọn của nhiều học sinh (50,7%). Nghiên cứu khác cũng cho thấy những học sinh nhận thông tin từ các nguồn như internet, sách, báo, tài liệu, tivi, phim ảnh sẽ có kiến thức cao hơn so với những em không nhận thông tin từ các nguồn trên [10, 13].
Hiện nay, theo quy định của Bộ giáo dục và Đào tạo, nhà trường tổ chức các buổi giáo dục giới tính để cung cấp thêm các kiến thức về SKSS cho VTN. Việc tham gia đầy đủ các buổi giáo dục giới tính có ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ, thực hành về SKSS của VTN. Nghiên cứu cho thấy những học sinh tham gia đầy đủ các buổi giáo dục giới tính có kiến thức về SKSS VTN cao gấp 1,3 lần so với học sinh không tham gia đầy đủ [10]. Nghiên cứu cũng thấy nhóm VTN thường xuyên xem phim, tài liệu khiêu dâm có nguy cơ QHTD trước hôn nhân cao gấp 7,8 lần những VTN chưa từng xem [35]. Nghiên cứu tại Phòng Y tế trường học của Minguez M. và cs (2015) cho thấy: Học sinh sau khi nhận được tư vấn của nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe và giáo dục trong lớp về SKSS và sẵn sàng sử dụng phòng y tế cho các dịch vụ tư vấn về SKSS VTN [60]. Nghiên cứu của Mahmutovic Vranic S. (2019) về kiến thức và thái độ về các BLTQĐTD ở học sinh trung học ở Sarajevo (2019 ) khẳng định sự cần thiết của việc triển khai các chương trình giáo dục giới tính ở các lớp cuối cấp tiểu
</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">học hoặc các lớp đầu cấp THPT, nhằm nâng cao kiến thức về các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục và cải thiện SKSS và tình dục [57].
<i>1.3.2.3. Yếu tố gia đình </i>
Tại Ethiopia, 70,0% học sinh cơng nhận tầm quan trọng khi trao đổi thông tin về SKTD và sinh sản với cha mẹ. Tuy nhiên, chỉ có 36,7% học sinh đã từng thảo luận ít nhất một khía cạnh về vấn đề này với bố mẹ. Tỉ lệ trao đổi thông tin về vấn đề tình dục và sinh sản giảm 40,0% ở nam học sinh so với nữ học sinh. Học sinh lớp 12 có khả năng trao đổi thơng tin về vấn đề tình dục và sinh sản với cha mẹ cao gấp 1,6 lần so với học sinh lớp 9. Tỉ lệ thảo luận các vấn đề SKTD và sinh sản ở học sinh có kỹ năng đàm phán với bạn tình. Học sinh sử dụng BCS khi QHTD đầu tiên có khả năng trao đổi thông tin về các vấn đề sức khoẻ tình dục và sinh sản cao hơn 1,9 lần so với những người không sử dụng BCS. Có tới 74,7% học sinh ưa thích các đĩa về các vấn đề SKTD và sinh sản của VTN. Tỉ lệ học sinh cũng thảo luận về SKTD và sinh sản của mình với me, chị, em trai và bố tương ứng là 15,4%, 11,4%, 8,9%, 5,9%. Nhưng chỉ có 17,9% người bố và 25,4% người mẹ sẵn sang thảo luận về các vấn đề tình dục và sinh sản. Học sinh thảo luận với người mẹ về các vấn đề SKTD và sinh sản cao hơn 2,9 lần so với các thành viên khác trong gia đình [49].
Có mối quan hệ mật thiết giữa sự quan tâm của bố mẹ tới kiến thức, thái độ và hành vi SKSS VTN [44]. Thường xuyên trao đổi, tâm sự với cha mẹ về vấn đề SKSS giúp tăng cường kiến thức về vấn đề này cho đối tượng VTN, đồng thời giúp VTN có thái độ tích cực hơn, cởi mở hơn khi trao đổi, thảo luận về các vấn đề mắc phải trong cuộc sống có liên quan đến SKSS. Trong gia đình, VTN thường có xu hướng chia sẻ thông tin với người mẹ nhiều hơn so với người bố. Nhóm VTN khơng chia sẻ với mẹ về vấn đề giới tính có nguy cơ QHTD trước hôn nhân cao gấp 3,7 lần so với nhóm có chia sẻ với mẹ [44]. Một nghiên cứu ở Hải Dương chỉ ra rằng, sau khi đã kiểm sốt các yếu tố nhiễu như tuổi, giới tính, kinh tế hộ gia đình, những VTN khơng có sự quan tâm của cha mẹ đến tâm
</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">trạng có nguy cơ QHTD trước hôn nhân cao gấp 2,6 lần những VTN có sự quan tâm của cha mẹ đến tâm trạng. Tương tự, VTN khơng có cha mẹ quan tâm xem VTN đi đâu, làm gì cũng có khả năng QHTD trước hơn nhân cao gấp 2,2 lần những VTN có sự quan tâm của cha mẹ [10, 27, 35]. Nghiên cứu tại trường Trung học cơ sở Lạc Vệ, huyện Tiên Du cho thấy các yếu tố liên quan đến kiến thức SKSS VTN gồm: học vấn, bố/mẹ chủ động trao đổi thơng tin, tìm hiểu thông tin về SKSS qua bạn bè, sách báo, chương trình giáo dục giới tính (GDGT), internet. Các yếu tố liên quan đến thái độ SKSS VTN gồm: học vấn, chương trình GDGT, bố/mẹ chủ động trao đổi thơng tin, tìm hiểu thông tin trên tivi/đài [28].
Nghiên cứu của Mekonen M.T. và cs (2018) về truyền thông giữa phụ huynh và trẻ VTN về các vấn đề SKSS và tình dục và các yếu tố liên quan tại thị trấn Woldia, Đông Bắc Ethiopia (2018): chỉ có 205 người (30,4%) thảo luận về hai chủ đề SKSS/SKTD với cha mẹ trở lên. Trong phân tích hồi quy logistic, những bà mẹ có thể đọc và viết (OR=2,0; 95% CI: 1,3-3,1) và có chứng chỉ văn bằng (OR=2,0; 95%CI: 1,4- 2,9) có nhiều khả năng thảo luận về các vấn đề SKSS/SKTD với con cái của họ. Thanh thiếu niên đồng ý thảo luận về các vấn đề SKSS/SKTD (OR=2,5; 95% CI: 1,3-4,5), người có thơng tin SKSS/SKTD (OR=2,0; 95% CI: 1,4-2,9) và những người đã từng QHTD (OR=1,7; 95% CI: 1,1-2,6) có nhiều khả năng thảo luận về các vấn đề SKSS/SKTD khác nhau với cha mẹ của họ so với nhóm cịn lại [56].
Nghiên cứu của Yimer B. và cs (2019) về quan điểm của cha mẹ về mối tương quan tâm lý xã hội của hành vi SKSS và tình dục ở tuổi VTN ở Ethiopia (2019) cho kết quả: mối quan hệ cha mẹ-VTN có chất lượng cao (OR=0,53; 95% CI: 0,45-0,63) và hình thức ni dạy có thẩm quyền (OR=0,74; 95% CI: 0,61-0,92) có liên quan đến tỉ lệ tham gia vào các hành vi tình dục nguy cơ ở thanh thiếu niên thấp hơn. Tỉ lệ có hành vi tình dục nguy cơ cao hơn khoảng ba lần ở thanh thiếu niên cho rằng kiến thức của cha mẹ là kém (OR=2,97; 95% CI:
</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">1,51-4,25) và ở một mức độ nào đó (OR=3,00; 95% CI: 1,43-5,55) về SKSS/SKTD so với những trẻ có cha mẹ rất hiểu biết. Thanh thiếu niên có niềm tin hành vi kém về các vấn đề SKSS/SKTD có tỉ lệ tham gia vào các hành vi tình dục nguy cơ tăng 37,0% [71]. Theo Trần Thị Lệ (2019), trình độ học vấn của bố, trình độ học vấn của mẹ là các yếu tố có liên quan có ý nghĩa thống kê với kiến thức về SKSS của trẻ VTN (p<0,05) [15]. Nghiên cứu của Cao Ngọc Thành và cs cho kết quả: có mối liên quan giữa trình độ học vấn của mẹ, tình trạng chung sống trong gia đình với thực hành chung về CSSKSS VTN (p <0,05) [36].
<i>1.3.2.4. Yếu tố bạn bè </i>
VTN có nhận thơng tin về SKSS VTN từ bạn bè có khả năng có kiến thức đúng cao gấp 1,37 lần so với những VTN khơng có nhận thơng tin từ bạn bè. Như vậy, bạn bè là nguồn thông tin mà VTN dễ dàng tiếp cận nhất vì những người cùng trang lứa có thể dễ dàng truyền cho nhau hiểu biết và kinh nghiệm. Tuy nhiên, những đối tượng có bạn thân khuyến khích QHTD có khả năng QHTD cao gấp 12,3 lần so với đối tượng khơng có bạn thân khuyến khích QHTD [10, 27, 35].
<i>1.3.2.5. Một số yếu tố khác </i>
Nghiên cứu trên 4.769 đối tượng của Đại học Vũ Hán, Trung Quốc đưa ra kết luận kiến thức, thái độ và thực hành QHTD của nữ sinh là con một có sự khác biệt với nữ sinh có anh chị em. Đối tượng nghiên cứu là con một có điểm cao hơn về kiến thức liên quan đến SKSS, có khuynh hướng muốn đồng ý với tình dục trước hôn nhân, nhiều bạn tình, những người yêu ngồi hơn nhân (73,6% so với 61,4%; 24% so với 14%). Nữ sinh là con một ít có khả năng bị ép buộc QHTD hơn [65].
Theo Abajobir Amanuel Alemu và cs (2014), một số lý do VTN hạn chế kiến thức về SKSS: Đó là những rào cản về văn hố cho rằng đề cập đến vấn đề tình dục, SKSS là vi phạm đạo đức. Thiếu chia sẻ thông tin cũng là một thách
</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">thức ngăn cản VTN khó tiếp cận được với những kiến thức về SKSS. Hơn thế nữa, khi cộng đồng, gia đình và xã hội khơng đặt vấn đề CSSKSS cho VTN là quan trọng thì sẽ khơng đầu tư đúng với nhu cầu cần có. Với thực trạng đó, cộng đồng nói chung và VTN nói riêng thường ngại ngùng khi nói chuyện, tìm hiểu về các vấn đề về SKSS, sức khoẻ tình dục dẫn đến thiếu hiểu biết và hạn chế tiếp cận các dịch vụ CSSKSS sẵn có [47]. Nghiên cứu cho thấy có thai ở VTN liên quan tới tần suất QHTD, không sẵn có BPTT, VTN nhận thức được về BPTT nhưng tỉ lệ QHTD khơng an tồn vẫn cao do họ khơng chủ động sử dụng BPTT và bạn tình từ chối sử dụng. Một nghiên cứu khác cho thấy nữ VTN có QHTD trước tuổi 17 ít sử BPTT hơn. VTN có QHTD khơng sử dụng BPTT thường là xuất thân từ các gia đình nhiều thành viên, muốn có con, và xuất thân từ tầng lớp xã hội thấp hơn [62].
Theo Maria-Fabiana Reina và cs, các VTN từ nhóm kinh tế xã hội thấp đã có QHTD lần đầu tiên khi họ 12-15 tuổi, 67% có khơng sử dụng bất kỳ loại BPTT nào và khoảng 37,0% tiếp tục QHTD. Ngược lại, tất cả các VTN (100,0%) trong nhóm kinh tế xã hội cao và 63,0% ở nhóm kinh tế-xã hội trung lưu đã sử dụng BPTT trong lần đầu tiên của họ QHTD [64]. Nghiên cứu của Zhou Hong và cs cho kết quả: hồn cảnh gia đình (OR=1,66, 95%: 1,15-1,38) đã có một tác động đáng kể vào việc có hành vi tình dục [72].
Theo Larissa R. và cs: nữ VTN đã được một nhân viên y tế tư vấn về BPTT có sử dụng BPTT cao gấp 6,63 lần so với nhóm cịn lại (95% CI: 2,30 - 19,18) [54].
<b>1.4. Một số đặc điểm về địa điểm nghiên cứu </b>
Địa điểm nghiên cứu là Trường THPT Phan Đình Phùng, thành phố Hà Tĩnh. Trường được thành lập từ năm 1945, cơ sở vật chất khang trang, thiết bị cơ bản đáp ứng được nhu cầu dạy học hiện đại. Trường hiện có 102 cán bộ, giáo viên; trong đó có 29 cán bộ, giáo viên có trình độ thạc sĩ, 73 có trình độ đại học. Năm học 2020 - 2021 trường có 3 khối 10, 11, 12 với 39 lớp và tổng số học sinh là 1.454 học sinh. Trong những năm qua, tỉ lệ học sinh tốt nghiệp
</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">THPT luôn đạt 99,8%. Hằng năm, tỉ lệ số học sinh đỗ vào các trường đại học đạt tỉ lệ từ 72,0-73,0%.
Trong nhà trường, giáo dục SKSS VTN được yêu cầu lồng ghép vào môn Sinh học, môn giáo dục công dân. Tuy nhiên, việc thực hiện khơng mang tính chất bắt buộc, tuỳ thuộc vào việc sắp xếp thời gian giảng dạy của giáo viên. Thực tế, chương trình bắt buộc phải thực hiện đối với các môn học ở trường phổ thông hiện đang quá tải, khả năng lồng ghép giáo dục SKSS VTN vào chương trình giảng dạy có nhiều khó khăn. Hơn nữa, việc triển khai giáo dục lồng ghép SKSS VTN trong nhà trường còn gặp nhiều rào cản khác như năng lực của đội ngũ giáo viên về lĩnh vực này còn hạn chế; một số giáo viên, các bậc phụ huynh và cộng đồng chưa ủng hộ việc đưa các nội dung về SKSS VTN vào giảng dạy trong nhà trường.
Trường THPT Phan Đình Phùng đã phối hợp với Trung Tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Hà Tĩnh hằng năm, tổ chức sinh hoạt câu lạc bộ, truyền thông, tư vấn Chương trình giáo dục giới tính và SKSS trong trường học, có chương trình sinh hoạt ngoại khóa, sinh hoạt chuyên đề, câu lạc bộ, tổ chức hội thi tìm hiểu về phịng chống HIV/AIDS, phòng chống các tệ nạn xã hội, kiến thức, kỹ năng sống, tình yêu, tình bạn… được các em học sinh hưởng ứng nhiệt tình.
</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34"><b>CHƯƠNG 2 </b>
<b>ĐỐI TƯỢNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU </b>
<b>2.1. Đối tượng nghiên cứu </b>
- Học sinh Trường THPT Phan Đình Phùng, thành phố Hà Tĩnh năm học 2021-2022.
- Ban Giám hiệu, Giáo viên chủ nhiệm, Bí thư các chi đồn.
<b>2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu </b>
- Địa điểm nghiên cứu: Trường THPT Phan Đình Phùng, thành phố Hà Tĩnh. - Thời gian nghiên cứu: từ tháng 8/2021 đến 5/2022.
<b>2.3. Phương pháp nghiên cứu </b>
<i><b>2.3.1. Thiết kế nghiên cứu </b></i>
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp định lượng và định tính.
<i><b>2.3.2. Cỡ mẫu, chọn mẫu </b></i>
<i><b>* Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng </b></i>
Áp dụng cơng thức tính cỡ mẫu cho mơ tả cắt ngang, xác định một tỷ lệ
Trong đó:
n: cỡ mẫu tối thiểu cần có α: mức ý nghĩa thống kê
Z 1-α/2 (hệ số giới hạn tin cậy) =1,96, (mức ý nghĩa α=0,05) d: độ chính xác mong muốn (trong nghiên cứu này lấy d= 0,05)
p = 0,467 (Nghiên cứu của Nguyễn Bá Nam năm 2020 tỉ lệ học sinh có hành vi chưa tốt về CSSKSS là 46,7% [13]).
Thay số được cỡ mẫu tối thiểu n = 409.
<i><b>* Chọn mẫu nghiên cứu định lượng: sử dụng phương pháp chọn mẫu chùm </b></i>
</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35"><i><b>mẫu ngẫu nhiên hệ thống. </b></i>
Tổng số học sinh toàn trường năm học là 2021-2022 là 1.454, với số lượng học sinh khối lớp 10, 11 và 12 là tương đương nhau.
Lập danh sách toàn bộ học sinh trong trường, đánh số thứ tự từ 1-1.454. Lấy tổng số học sinh: cỡ mẫu ra hệ số k=3,8 (làm tròn 4)
Lấy ngẫu nhiên học sinh đầu tiên trong danh sách (i) (bằng phương pháp rút thăm ngẫu nhiên trong các số từ 1-4).
Học sinh tiếp theo sẽ là học sinh đứng trước (i) + hệ số k, lấy lần lượt cho đến khi đủ 409 học sinh tham gia nghiên cứu
Cỡ mẫu, chọn mẫu cho nghiên cứu định tính
<i><b>* Chọn mẫu nghiên cứu định tính </b></i>
Lấy số lượng đối tượng tham gia nghiên cứu định tính (đối tượng hỗ trợ) cho đến khi đạt mức “bão hịa thơng tin” trong nghiên cứu định tính. Cụ thể: chọn chủ đích 6 cuộc phỏng vấn sâu và 03 cuộc thảo luận nhóm.
- 01 cuộc phỏng vấn sâu với đại diện Ban giám hiệu
- 02 cuộc phỏng vấn sâu với đại diện 02 giáo viên chủ nhiệm của 02 lớp - 01 cuộc phỏng vấn sâu với đại diện ban bí thư đồn thanh niên trường - 02 cuộc phỏng vấn sâu với đại diện 02 bí thư của 02 lớp
- 01 cuộc thảo luận nhóm với 10 bạn học sinh nam - 01 cuộc thảo luận nhóm với 10 bạn học sinh nữ - 01 cuộc thảo luận nhóm với 10 giáo viên chủ nhiệm
</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36"><b>2.4. Biến số nghiên cứu </b>
<i><b>2.4.1. Định nghĩa một số biến số nghiên cứu </b></i>
Là hiểu biết của VTN về (i) sức khỏe sinh sản và (ii) tình dục an toàn
Phỏng vấn Bảng hỏi
Thái độ
Là quan điểm của VTN về (i) tinh dục và (ii) hậu quả tình các biện pháp tránh thai, (iii) chia sẻ thông tin liên quan đến SKSS, (iv) tìm kiếm các thơng tin, tài liệu liên quan đến chăm
<i>2.4.2.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu </i>
- Tuổi: tính theo năm sinh dương lịch
<b>- Giới: nam, nữ </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">- Lớp học: lớp 10, lớp 11, lớp 12 - Kết quả học tập năm học vừa qua - Sinh sống cùng gia đình
<i>2.4.2.2. Đặc điểm gia đình của đối tượng nghiên cứu: </i>
- Tình trạng hôn nhân của bố/mẹ - Số anh chị em
- Tình trạng học vấn của mẹ - Nghề nghiệp của mẹ
- Kinh tế gia đình
<i>2.4.2.3. Kiến thức về sức khoẻ sinh sản: </i>
- Dấu hiệu dậy thì - Khả năng có thai - Dấu hiệu khi có thai
<i>2.4.2.4. Kiến thức về tình dục an toàn: </i>
- Các biện pháp tránh thai
- Các bệnh lây truyền qua đường tình dục - Hậu quả khi có thai
<i>2.4.2.5. Thái độ của vị thành niên </i>
- Tình dục lứa tuổi học đường - Hậu quả tình dục khơng an tồn
<i>2.4.2.6. Hành vi của vị thành niên </i>
- Quan hệ tình dục
- Sử dụng các biện pháp tránh thai
- Tìm kiếm các thông tin, tài liệu về CSSKSS - Chia sẻ thơng tin liên quan đến chăm sóc SKSS - Tìm kiếm cơ sở y tế để được tư vấn SKSS
</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38"><i>2.4.2.7. Giáo dục sức khỏe sinh sản </i>
- Nguồn cung cấp thông tin
- Giáo dục SKSS trong nhà trường - Nhu cầu giáo dục sức khỏe sinh sản
- Loại hình và người thực hiện giáo dục SKSS.
<i>2.4.2.8. Cơng tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản </i>
- Vai trị của Ban Giám hiệu, Giáo viên chủ nhiệm, Đoàn thanh niên… - Vai trò của bố mẹ, anh chị em ruột, cơ dì chú bác…
- Vai trị của bàn bè…
- Những thuận lợi, khó khăn trong việc triển khai cơng tác chăm sóc SKSS tại trường học
<i><b>2.4.3. Nhóm biến số cho mục tiêu 2: </b>Phân tích một số yếu tố liên quan đến </i>
<i><b>hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản của vị thành niên </b></i>
- Liên quan giữa đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu với hành vi chăm sóc SKSS
- Liên quan giữa đặc điểm gia đình với hành vi chăm sóc SKSS - Liên quan giữa kiến thức với hành vi chăm sóc SKSS
- Liên quan giữa thái độ với hành vi chăm sóc SKSS
- Liên quan giữa giáo dục SKSS với hành vi chăm sóc SKSS
<b>2.5. Đo lường, đánh giá </b>
Mười chín câu hỏi (B1-B19) đo lường kiến thức của VTN, bao gồm: (i) sức khỏe sinh sản và (ii) tình dục an tồn. Mỗi câu trả lời đúng (1 điểm); trả lời không đúng (0 điểm). Tổng điểm tối đa là 19 điểm chia 03 loại: ≥ 80% (≥ 15 điểm) mức “Tốt”, 60-69% (11-14 điểm) mức “Trung bình” và <60% (<11 điểm)
<b>mức “Kém”. </b>
Sáu câu hỏi (C1-C6) đo lường thái độ của vị thành niên, bao gồm: (i) tình dục và (ii) hậu quả tình dục khơng an toàn. Mỗi câu hỏi được đánh giá bởi thang điểm Likert Scale (1, rất không đồng ý; 2, không đồng ý; 3, không rõ ràng; 4,
</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">đồng ý; và 5, rất đồng ý. Mỗi câu hỏi được cho điểm như sau:
Tổng điểm thái độ tối đa là 30 điểm chia 03 loại: ≥ 80% (≥ 24 điểm) mức “Tốt”, 60-69% (18-23 điểm) mức “Trung bình” và <60% (<18 điểm) mức
<b>“Kém”. </b>
Tám câu hỏi (D1-D8) đo lường hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản, bao gồm: (i) quan hệ tình dục và (ii) sử dụng các biện pháp tránh thai, (iii) tìm kiếm các thơng tin, tài liệu về chăm sóc SKSS, (iv) và (v) tìm kiếm cơ sở y tế để được tư vấn SKSS. Mỗi câu trả lời đúng tối đa (3 điểm); trả lời không đúng (0 điểm). Tổng điểm hành vi tối đa là 24 điểm chia 03 loại: ≥ 80% (≥ 19 điểm) mức “Tốt”, 60-69% (14-18 điểm) mức “Trung bình” và <60% (<14 điểm) mức “Kém”.
<b>2.6. Công cụ và kỹ thuật thu thập số liệu </b>
<i><b>2.6.1. Công cụ thu thập số liệu </b></i>
<i>1. Bảng hỏi để phỏng vấn học sinh. Phụ lục 1 </i>
<i>2. Bảng hướng dẫn thảo luận nhóm. Phụ lục 2 </i>
<i>3. Bảng hướng dẫn phỏng vấn sâu. (Dành cho giáo viên) Phụ lục 3 4. Bảng hướng dẫn phỏng vấn sâu. (Dành cho học sinh) Phụ lục 4 </i>
<i><b>2.6.2. Phương pháp thu thập số liệu </b></i>
<b>Bước 1. Liên hệ với nhà trường </b>
Nghiên cứu viên và Điều tra viên đến gặp Hiệu trưởng trường trình bày mục đích, mục tiêu và phương pháp nghiên cứu, cách thức tiến hành, xin sự ủng hộ và tạo điều kiện cho nghiên cứu được tiến hành. Sau khi được sự chấp thuận, nghiên cứu viên và điều tra viên liên hệ với cán bộ phụ trách, cán bộ đoàn, giáo
</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">viên chủ nhiệm để có danh sách học sinh và giáo viên đủ điều kiện tham gia nghiên cứu.
<b>Bước 2. Xây dựng thử nghiệm và hoàn thiện bộ câu hỏi </b>
Nghiên cứu viên tìm hiểu những thơng tin về đặc điểm của học sinh trường, tìm hiểu các nghiên cứu có trước và tham khảo các ý kiến của chuyên gia về lĩnh vực SKSS để xây dựng bộ câu hỏi tự điền với các nội dung phù hợp với các mục tiêu nghiên cứu. Thử nghiệm bộ câu hỏi trước khi thu thập số liệu chính thức.
<b>Bước 3. Tập huấn nội dung thu thập </b>
Nghiên cứu viên tập huấn cho điều tra viên và giám sát viên. Nội dung bao gồm: mục đích nghiên cứu, kế hoạch, qui trình thu thập số liệu qua bộ câu hỏi tự điền, phân công từng điều tra viên phụ trách thu thập thông tin ở từng nhóm đối tượng (theo lớp). Phân công và tập huấn cả đối tượng tham gia nghiên cứu định tính.
<b>Bước 4. Thu thập thơng tin và giám sát </b>
Kết hợp thu thập số liệu với buổi nói chuyện chuyên đề. Sau khi kết thúc buổi nói chuyện, điều tra viên đến từng lớp đã được phân công, giới thiệu, trao đổi, trả lời thắc mắc (nếu có), hướng dẫn cách ghi chép và đánh dấu vào phiếu khảo sát cho các đối tượng tham gia, phát phiếu trực tiếp cho từng đối tượng để đối tượng điền các thông tin cần thu thập có sẵn trên phiếu, hạn chế việc trao đổi thông tin khi ghi phiếu. Điều tra viên thu nhận và kiểm tra lại số lượng phiếu.
Với các đối tượng tham gia nghiên cứu định tính, điều tra viên phối hợp với Ban giám hiệu tiến hành sắp xếp, bố trí lịch cơng việc, hẹn và mời vào phịng riêng để phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm.
<b>Bước 5: Tổng hợp kết quả thu thập thông tin </b>
Tập hợp tất cả các phiếu phát vấn, kiểm tra về số lượng phiếu xem có đầy đủ như lúc phát ra khơng; kiểm tra các thơng tin có được điền, đánh dấu đầy đủ trên các phiếu không, ghi mã số phiếu chuẩn bị cho bước nhập số liệu vào phần mềm.
</div>