Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (12.02 MB, 66 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
<b>KHOA CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ VÀ NGOẠI GIAO</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2"><b>KHOA CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ VÀ NGOẠI GIAO</b>
<b> </b>
Giáo viên hướng dẫn <b>: TS. Vũ Đồn Kết</b>
Nhóm thực hiện <b>: 04</b>
<b>Hà Nội – 2024</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3"><b>TÓM TẮT</b>
Với nền tảng là cơ sở lý thuyết về yếu tố “dân tộc” và yếu tố “quốc tế”, bài tiểu luận nhóm giữa kỳ đã tập trung làm rõ nhận thức và thực tiễn triển khai hai yếu tố này trong chính sách đối ngoại Việt Nam giai đoạn 1954 - 1960. Trong đó, phần đầu của tiểu luận cung cấp cơ sở lý thuyết về khái niệm và nội hàm của yếu tố “dân tộc” và yếu tố “quốc tế”, đi kèm với đó là các nhân tố tác động đến chính sách và khái quát về chính sách đối ngoại Việt Nam giai đoạn này. Trong phần tiếp theo, tiểu luận tập trung phân tích nhận thức về yếu tố “dân tộc” và yếu tố “quốc tế” trong chính sách đối ngoại Việt Nam 1954 - 1960 mà về cơ bản được thể hiện qua quan điểm của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời đánh giá mối quan hệ giữa hai yếu tố. Sau đó, tiểu luận làm rõ thực tiễn triển khai yếu tố “dân tộc” và yếu tố “quốc tế” trong chính sách, cụ thể qua việc Việt Nam (i) đấu tranh thi hành Hiệp định Genève, (ii) phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, (iii) phong trào “Đồng Khởi”, (iv) củng cố và phát triển quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa, (v) mẫu thuẫn Xô - Trung và (vi) củng cố quan hệ ngoại giao với Lào và Campuchia. Cuối cùng, tiểu luận kết thúc với một số đánh giá về mối tương quan giữa hai yếu tố “dân tộc” và “quốc tế” trong nhận thức và thực tế triển khai cùng một số đánh giá về tính hiệu quả từ hai góc độ này.
1
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4"><b>MỤC LỤC</b>
<b>MỞ ĐẦU...5</b>
1. Lý do chọn đề tài...5
2. Câu hỏi nghiên cứu...6
3. Giả thuyết nghiên cứu...6
4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu...6
5. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu...7
Mục tiêu nghiên cứu: nhằm phân tích nhận thức và thực tiễn triển khai của yếu tố “dân tộc” và yếu tố “quốc tế” trong chính sách đối ngoại Việt Nam 1954 - 1960...7
7. Phương pháp nghiên cứu...7
8. Bố cục của bài luận...8
<b>CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN...9</b>
1.1. Yếu tố “dân tộc” và yếu tố “quốc tế”...9
<i>1.2.3. Nhân tố Liên Xô - Trung Quốc...15</i>
<i>1.2.4. Bối cảnh và nội lực Việt Nam...17</i>
2
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">1.3. Chính sách đối ngoại Việt Nam giai đoạn 1954 - 1960...19 Tiểu kết chương 1...21
<b>CHƯƠNG 2 NHẬN THỨC VỀ YẾU TỐ “DÂN TỘC” VÀ YẾU TỐ“QUỐC TẾ” TRONG CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM...23</b>
<i>2.2.1. Quan điểm của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về yếu tố“quốc tế” trong chính sách đối ngoại Việt Nam:...272.2.2. Yếu tố “quốc tế” trong chính sách đối ngoại...30</i>
2.3. Mối liên hệ giữa yếu tố “dân tộc” và yếu tố “quốc tế”...35
<i>2.3.1. Nhâ Hn thIc của Hồ Chí Minh về mối liên hê H giJa yếu tố dântô Hc và yếu tố quốc tế...352.3.2. Mối liên hê H giJa yếu tố dân tô Hc và yếu tố quốc tế trong chủtrương và chính sách đối ngoại của Đảng...37</i>
Tiểu kết chương 2...39
<b>CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN TRIỂN KHAI CHÍNH SÁCH: YẾU TỐ“DÂN TỘC” VÀ YẾU TỐ “QUỐC TẾ” TRONG CHÍNH SÁCH ĐỐINGOẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954 - 1960...40</b>
3.1. Thực tiễn triển khai yếu tố “dân tộc” và yếu tố “quốc tế” chính sách đối ngoại Việt Nam giai đoạn 1954 - 1960...40
<i>3.1.1. Yếu tố “dân tộc”...40</i>
3
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">4.1. Mối tương quan giữa yếu tố “dân tộc” và yếu tố “quốc tế” trong nhận thức và thực tiễn triển khai...50
4.2. Tính hiệu quả nhìn từ góc độ nhận thức và thực tiễn triển khai...52
<i>4.2.1. Với nhiệm vụ xây dựng miền Bắc, tạo thế và lực cho cuộckháng chiến lâu dài...52</i>
<i>4.2.2. Với nhiệm vụ đấu tranh thi hành Hiệp định Genève...54</i>
Tiểu kết chương 4...56
<b>KẾT LUẬN...57</b>
4
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7"><b>MỞ ĐẦU1. Lý do chọn đề tài</b>
Ngày 07/05/1954, cả thế giới bất ngờ trước chiến thắng Điện Biên Phủ. Chiến thắng vang dội này đã buộc chính phủ Pháp phải ký kết Hiệp định Genève (07/1954) nhằm công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
Việc ký kết thành công Hiệp định Genève đã đưa Cách mạng Việt Nam bước vào thời kỳ phát triển với nhiều điều kiện thuận lợi đi kèm với nhiều khó khăn và thách thức. Hiệp định đã tạm thời chia cắt Việt Nam thành hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau. Trong khi miền Bắc được hồn tồn giải phóng, bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời tập trung hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, trở thành hậu phương chiến lược của cả nước, thì miền Nam vẫn đang bị kìm kẹp dưới sự thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai.
Sự chia cắt hai miền đã đặt ra bài toán lớn cho Đảng Lao động Việt Nam khi hoạch định chính sách, bao gồm chính sách đối ngoại để phù hợp với tình hình, điều kiện và bối cảnh thực tế của Việt Nam lúc bấy giờ. Nhận thức về yếu tố “dân tộc” và “quốc tế” trong giai đoạn này cần được áp dụng triệt để và hiệu quả nhằm đạt được lợi ích tối đa cho nhân dân.
Bằng biện pháp hồ bình, cụ thể hố chủ trương hồ bình thống nhất, một mặt, chính sách của Đảng cần đáp ứng tạo điều kiện hàn gắn vết thương chiến tranh và phục hồi mọi mặt ở miền Bắc và đối đầu với kẻ thù cụ thể của toàn thể nhân dân là chủ nghĩa đế quốc Mỹ, chủ nghĩa thực dân Pháp, bè lũ Ngơ Đình Diệm, đồng thời phát triển cách mạng ở miền Nam; mặt khác, chúng ta cũng cần tranh thủ sự ủng hộ và vận động đến từ quốc tế.
Để giải quyết vấn đề cam go này, chính sách đối ngoại của Đảng từ sau 1954 đến trước năm 1960 đã coi ngoại giao là một mặt trận chính nhằm đánh vào hậu phương quốc tế của Mỹ và mở rộng hậu phương quốc tế của Việt Nam, giúp Việt Nam tranh thủ sự ủng hộ mà nịng cốt là Liên Xơ, Trung Quốc, các nước Xã hội chủ nghĩa và các quốc gia ủng hộ Việt Nam. Có thể thấy, trong thời kỳ này, yếu tố “dân tộc” và yếu tố “quốc tế” đã được thể hiện thành thực tiễn khá rõ rệt thơng qua chính sách đối ngoại Việt Nam.
5
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">Mặt khác, nhận thấy tình hình có nhiều điều thay đổi và đấu tranh hồ bình khơng cịn là con đường đem lại thành công lớn nhất, từ sau năm 1960, Đảng Lao động Việt Nam đã chuyển hướng sang cổ vũ đấu tranh vũ trang, giành chính quyền về tay nhân dân.
Qua đó, nhận thấy rằng, chính sách đối ngoại Việt Nam giai đoạn 1954 - 1960 đã thể hiện tầm quan trọng lớn, là phương cách thúc đẩy Đảng, Nhà nước và nhân dân ta tiến gần hơn mục tiêu, lý tưởng. Song song với đó, để xây dựng tốt nhận thức và áp dụng thực tiễn chính sách, khơng thể khơng nói đến sự xuất hiện và tầm ảnh hưởng của hai yếu tố “dân tộc” và yếu tố “quốc tế” lên chính sách.
Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực và trong nước đã có nhiều sự thay đổi, song việc phân tích nhận thức và thực tiễn của yếu tố “dân tộc” và yếu tố “quốc tế” trong chính sách đối ngoại Việt Nam giai đoạn 1954 - 1960 vẫn mang ý nghĩa thiết thực và để lại nhiều kinh nghiệm quý báu. Có thể nói, đây là một đề tài mang tính cấp thiết.
Trên đây là lý do nhóm tác giả lựa chọn “Yếu tố “dân tộc” và yếu tố “quốc tế” trong chính sách đối ngoại Việt Nam từ 1954 - 1960: Nhận thức và thực tiễn triển khai” là đề tài nghiên cứu cho bài tiểu luận giữa kỳ của mình.
<b>2. Câu hỏi nghiên cứu</b>
Yếu tố “dân tộc” và “quốc tế” đã được thể hiện như thế nào qua nhận thức và thực tiễn triển khai chính sách đối ngoại Việt Nam từ 1954 - 1960?
<b>3. Giả thuyết nghiên cứu</b>
Với câu hỏi nghiên cứu “Yếu tố “dân tộc” và “quốc tế” đã được thể hiện như thế nào qua nhận thức và thực tiễn triển khai chính sách đối ngoại Việt Nam từ 1954 1960?”, nhóm tác giả đã đưa ra giả thuyết nghiên cứu rằng “Trong giai đoạn 1954 -1960, yếu tố "dân tộc" và yếu tố "quốc tế" đã thể hiện sự thống nhất trong từ nhận thức đến thực tiễn triển khai chính sách đối ngoại, mà trong đó yếu tố "quốc tế" có phần chi phối hơn so với yếu tố “dân tộc”.
<b>4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu</b>
Phạm vi thời gian: giai đoạn nghiên cứu 1954 - 1960.
6
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">Pham vi không gian: đề tài tập trung nghiên cứu nhận thức và thực tiễn yếu tố “dân tộc” và yếu tố “quốc tế”.
Đối tượng nghiên cứu: Chính sách đối ngoại Việt Nam giai đoạn 1954 - 1960.
<b>5. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu</b>
Mục tiêu nghiên cứu: nhằm phân tích nhận thức và thực tiễn triển khai của yếu tố “dân tộc” và yếu tố “quốc tế” trong chính sách đối ngoại Việt Nam 1954 - 1960.
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu như trên, bài tiểu luận xác định các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Phân tích và làm rõ về các vấn đề về lý thuyết và các nhân tố tác động tới chính sách đối ngoại Việt Nam giai đoạn 1954 - 1960.
- Phân tích về nhận thức yếu tố “dân tộc” và yếu tố “quốc tế” trong chính sách đối ngoại Việt Nam giai đoạn 1954 - 1960 cùng thực tiễn triển khai chính sách. - Đánh giá về nhận thức và triển khai yếu tố “dân tộc” và yếu tố “quốc tế” trong
chính sách đối ngoại Việt Nam giai đoạn 1954 - 1960.
- Đánh giá mối tương quan giữa yếu tố “dân tộc” và yếu tố “quốc tế’ trong chính sách đối ngoại Việt Nam 1954 - 1960.
<b>7. Phương pháp nghiên cứu</b>
Đề tài đã sử dụng các phương pháp cơ bản phổ biến trong nghiên cứu khoa học xã hội bao gồm:
Phương pháp luận: nghiên cứu dựa trên cơ sở quan điểm của Đảng và Nhà nước về đường lối chủ trương, nhiệm vụ chiến lược và quan hệ quốc tế.
Phương pháp lịch sử và logic: các nghiên cứu đều được bắt đầu từ lịch sử với bối cảnh chung của quốc gia, khu vực, quốc tế và sử dụng tư liệu, sự kiện, dữ liệu lịch sự chọn lọc để hệ thống hoá.
Phương pháp phân tích diễn dịch và phương pháp tổng hợp, phân tích: Nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích diễn dịch nhằm làm cho cách diễn đạt mạch lạc, rõ ràng. Phương pháp tổng hợp và phân tích sử dụng để thu thập và đánh giá các nguồn tài liệu liên quan đến đề tài.
7
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">Phương pháp tiếp cận hệ thống: nhóm tác giả đặt đối tượng nghiên cứu trong tổng thể các mối quan hệ quốc tế tại khu vực cũng như toàn cầu.
<b>8. Bố cục của bài luận </b>
Ngồi Tóm tắt, Lời mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo thì tiểu luận được chia thành 4 phần với nội dung chính như sau:
<b>Chương 1: Các vấn đề về lý thuyết và thực tiễn. Chương đầu tiên sẽ tập trung</b>
khái quát về yếu tố “dân tộc” và yếu tố “quốc tế” đồng thời liệt kê và phân tích một số nhân tố có tác động đến chính sách đối ngoại Việt Nam giai đoạn 1954 - 1960.
<b>Chương 2: Nhận thức về yếu tố “dân tộc” và yếu tố “quốc tế” trong chínhsách đối ngoại Việt Nam. Chương 2 tập trung làm rõ về yếu tố “dân tộc” và yếu tố</b>
“quốc tế” trong nhận thức của Việt Nam và chính sách đối ngoại cùng có một số đánh giá cơ bản về mối tương quan giữa yếu tố “dân tộc” và yếu tố “quốc tế”.
<b>Chương 3: Thực tiễn triển khai chính sách: yếu tố “dân tộc” và yếu tố“quốc tế” trong chính sách đối ngoại Việt Nam giai đoạn 1954 - 1960. Chương 3</b>
tập trung phân tích các biểu hiện của yếu tố “dân tộc” và yếu tố “quốc tế” từ nhận thức trong chính sách thành hành động triển khai thực tiễn.
<b>Chương 4: Đánh giá. Chương cuối sẽ tập trung đánh giá mối tương quan giữa</b>
yếu tố “dân tộc” và yếu tố “quốc tế” trong chính sách đối ngoại Việt Nam giai đoạn 1954 - 1960 cùng tính hiệu quả từ góc độ nhận thức và thực tiễn triển khai.
8
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11"><b>CHƯƠNG 1</b>
<b> CÁC VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN1.1. Yếu tố “dân tộc” và yếu tố “quốc tế”</b>
<b>1.1.1. Yếu tố “dân tộc”</b>
Yếu tố dân tô zc có thể được hiểu là lợi ích quốc gia dân tơ zc. Lợi ích quốc gia -dân tộc là một trong những nhân tố trọng tâm trong q trình hoạch định và triển khai chính sách đối nội cũng như đối ngoại. Lợi ích quốc gia và lợi ích dân tộc là hai phạm trù chia sẻ những điểm chung. Trong đó, lợi ích quốc gia là lợi ích chung của cộng đồng những người sống trên một đất nước, có chung nguồn gốc, lịch sử, phong tục, tập quán và phần nhiều còn chung cả tiếng nói, chữ viết , và nó thường được xác định<small>1</small> bởi đại diện của giai cấp cầm quyền. Còn lợi ích dân tộc là một phạm trù lớn bao gồm<small>2</small> cả yếu tố cho sự hình thành và tồn tại của quốc gia (có chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ) và sự phát triển của quốc gia về mọi mặt như đời sống vật chất lẫn tinh thần, sự nâng cao tiềm lực quốc gia, năng lực cạnh tranh của quốc gia đó trên trường quốc tế, đồng thời cũng là vị thế, vai trò của quốc gia đối với cộng đồng quốc tế.<small>3</small> So với lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc mang tính nhân dân thay vì giai cấp cầm quyền. Đối với Việt Nam, hai phạm trù này thường được kết hợp thành lợi ích quốc gia - dân tộc với cách hiểu là những nhu cầu cho sự tồn tại và phát triển của quốc gia được nhận thức và trở thành mục tiêu và công cụ trong phân tích và hoạch định, triển khai chính sách đối ngoại.<small>4</small>
Tóm lại, yếu tố "dân tộc”, hay chính là lợi ích quốc gia - dân tộc, là cơ sở của nhận thức, là nhân tố chủ quan chi phối trong chính sách đối ngoại. Giáo sư Vũ
<i>Dương Huân đã khẳng định “Lợi ích quốc gia và lợi ích dân tộc là khái niệm đồngnhất, được dùng để chỉ toàn bộ nhJng nhu cầu sống còn và phát triển của quốc gia,được lãnh đạo quốc gia nhận thIc dưới dạng mục tiêu chiến lược an ninh đối ngoại</i>
<small>Nội: Nhà xuất bản Thế giới, trang 63.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12"><i>chiến lược đối ngoại của quốc gia trong một giai đoạn lịch sử nhất định, là cơng cụcực kỳ quan trọng trong phân tích chính sách đối ngoại.”</i>
<b>1.1.2. Yếu tố “quốc tế”</b>
Yếu tố “quốc tế" trong chính sách đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu được nhóm tác giả nhìn nhận với đặc điểm của chủ nghĩa quốc tế vô sản và ý thức hệ, tư tưởng của hệ thống xã hội chủ nghĩa, trong đó đứng đầu là Liên Xơ. Yếu tố “quốc tế” trong chính sách đối ngoại Việt Nam được thể hiện qua phương hướng, chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ đối ngoại, không chỉ đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong nước mà còn cần hướng đến lợi ích của quốc tế, lợi ích chung của hệ thống, và phù hợp với đặc điểm xu thế chung của thời đại.
Yếu tố đầu tiên là chủ nghĩa quốc tế vô sản - là một hệ thống lý luận chỉ đạo giai cấp cơng nhân quốc tế về chính trị, tư tưởng, tổ chức và hành động trong quá trình cùng nhau thực hiện sứ mệnh mà lịch sử trao cho: đấu tranh xóa bỏ chủ nghĩa tư bản và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới. Kết hợp với chủ nghĩa quốc tế vô sản là chủ nghĩa Mác - Lênin dành sự quan tâm đặc biệt, nhấn mạnh về yếu tố “quốc tế”, đoàn kết quốc tế, trong đó khẳng định cùng với sự tổ chức và đồn kết của giai cấp vơ sản trong nước, thì giai cấp vơ sản giữa các thuộc địa cũng như giữa thuộc địa và chính quốc cũng cần liên kết và kết hợp để tạo thành một sức mạnh vô sản quốc tế, chống lại sự phản kháng của giai cấp tư sản và các thế lực phản động, phá bỏ sự liên kết của giai cấp tư sản. Quan điểm này thể hiện rõ nét nhất ở khẩu hiệu nổi tiếng do V.I. Lênin phát hiện và phát triển, khi cách mạng giải phóng dân tộc của các nước trên thế giới trở thành một phần không thể tách rời với cách mạng vô sản thế giới, từ quan điểm của Mác và Ăngghen, “Vô sản và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới liên hiệp lại”. Từ khẩu hiệu đúng đắn này, Lênin đã lãnh đạo, xây dựng và phát triển lực lượng ngày càng lớn mạnh và giành thắng lợi ở Cách mạng Tháng Mười Nga - cuộc cách mạng có ảnh hưởng đến mức “khơng có cuộc cách mạng nào nổ ra trong thời đại ngày nay lại không chịu sự ảnh hưởng sâu xa từ Cách mạng Tháng Mười Nga” (Đại tá, ThS. Đặng Văn Thi/TG 2022). Khi ra đi tìm đường cứu nước vào năm 1911, trên cơ sở nhận thức mới được mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười Nga 1917, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm tiếp cận đến Chủ nghĩa
10
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">Mác - Lênin, tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam. Chủ tịch<small>5</small> Hồ Chí Minh đã nghiên cứu kỹ lưỡng về các luận thuyết cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp với bối cảnh quốc tế, đặc điểm và nội lực của Việt Nam để đưa ra tư tưởng, đường lối phù hợp nhất với đặc điểm nước ta thời bấy giờ; vì thế, các chính sách, đường lối, mục tiêu trong chính sách đối ngoại Việt Nam đều chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt là tư tưởng về đồn kết vơ sản quốc tế của chủ nghĩa này. Nội dung cơ bản của chủ nghĩa quốc tế vô sản và chủ nghĩa Mác - Lênin được thể hiện rõ nét trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đồn kết quốc tế, trong đó, Người nhấn mạnh sự cần thiết của việc đồn kết quốc tế,
<i>xác định rõ ràng “Cách mạng Việt Nam là một phần của cách mạng thế giới. Ngay từkhi tìm thấy con đường cIu nước, Người cho rằng cách mạng Việt Nam chỉ có thểthành cơng khi thực hiện đoàn kết chặt chẽ với phong trào cách mạng thế giới” . <small>6</small></i> Kế thừa tinh thần của chủ nghĩa vơ sản, trong q trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã vận dụng sáng tạo, phát huy cao độ sự kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để đấu tranh giành tự do, độc lập dân tộc và xác định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, gắn liền phong trào giải phóng dân tộc của Việt Nam với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. <small>7</small>
Ý thức hệ của hệ thống xã hội chủ nghĩa cũng là một đặc điểm quan trọng tác động đến sự hình thành của yếu tố “quốc tế" trong chính sách đối ngoại Việt Nam giai đoạn này. Biểu hiện của yếu tố xã hội chủ nghĩa trong chính sách đối ngoại có thể được nhìn thấy ở đường lối chiến lược chung của cách mạng Việt Nam, được đề ra bởi Đảng Lao Động Việt Nam. Dựa trên những nguyên tắc chung về hình thức, phương pháp, bước đi theo kinh nghiệm của Liên Xô và các nước Xã hội Chủ nghĩa đi trước, Đảng chính thức hoạch định đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa, lãnh đạo miền Bắc bỏ qua giai đoạn phát triển chủ nghĩa tư bản đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội,
<small>5</small><sub>Th.s Ngô Văn Khoa. 2015. “Một số luận điểm về đoàn kết quốc tế Hồ Chí Minh | C. Mác; Ph. Ăngghen; V. I. </sub> <small>Lênin; Hồ Chí Minh.” Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. </small>
<small> </small>
11
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">củng cố và thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước xã hội chủ nghĩa khác, nhằm tranh thủ sự giúp đỡ và nguồn lực cần thiết cho Cách mạng Việt Nam. Liên hệ với tư<small>8</small> tưởng Hồ Chí Minh, Người cũng quan điểm về chủ nghĩa xã hội rất giản dị và sâu sắc:
<i>“Chủ nghĩa xã hội nghĩa là tất cả mọi người các dân tộc ngày càng ấm no, con cháuchúng ta ngày càng sung sướng". "Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu nước</i>
mở <small>i</small>rô zng, <small>i</small>nối <small>i</small>liền <small>i</small>từ <small>i</small>châu <small>i</small>† <small>i</small>sang <small>i</small>châu <small>i</small>Âu.
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">Trong <small>i</small>bối <small>i</small>cảnh <small>i</small>thế <small>i</small>giới <small>i</small>phân <small>i</small>hóa <small>i</small>thành <small>i</small>hai <small>i</small>phe, <small>i</small>chiến <small>i</small>trường <small>i</small>Việt <small>i</small>Nam <small>i</small>cũng
lược <small>i</small>của <small>i</small>thực <small>i</small>dân <small>i</small>Pháp <small>i</small>tại <small>i</small>Đơng <small>i</small>Dương <small>i</small>đang <small>i</small>có <small>i</small>dấu <small>i</small>hiê zu <small>i</small>
Hệ <small>i</small>quả <small>i</small>trước <small>i</small>tình <small>i</small>hình <small>i</small>đó <small>i</small>là <small>i</small>sự <small>i</small>ra <small>i</small>đời <small>i</small>của <small>i</small>Học <small>i</small>thuyết <small>i</small>domino. <small>i</small>Thuyết <small>i</small>domino
domino <small>i</small>chính <small>i</small>là <small>i</small>tiền <small>i</small>đề <small>i</small>giải <small>i</small>thích <small>i</small>cho <small>i</small>sự <small>i</small>can <small>i</small>thiệp <small>i</small>ngày <small>i</small>càng <small>i</small>sâu <small>i</small>của <small>i</small>Hoa <small>i</small>Kỳ <small>i</small>vào
<small> </small>
13
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">Chiến <small>i</small>tranh <small>i</small>Đông <small>i</small>Dương <small>i</small>và <small>i</small>Chiến <small>i</small>tranh <small>i</small>Việt <small>i</small>Nam <small>i</small>và <small>i</small>sau <small>i</small>này, <small>i</small>dẫn <small>i</small>đến <small>i</small>sự <small>i</small>tham <small>i</small>chiến
trực <small>i</small>tiếp <small>i</small>của <small>i</small>Quân <small>i</small>đội <small>i</small>Hoa <small>i</small>Kỳ <small>i</small>tại <small>i</small>chiến <small>i</small>trường <small>i</small>Đông <small>i</small>Dương.<small>12</small>
Sau <small>i</small>Hiệp <small>i</small>định <small>i</small>Genève <small>i</small>năm <small>i</small>1954, <small>i</small>Mỹ <small>i</small>chuyển <small>i</small>sang <small>i</small>áp <small>i</small>dụng <small>i</small>“chính <small>i</small>sách <small>i</small>linh
cơng <small>i</small>một <small>i</small>bước <small>i</small>chủ <small>i</small>nghĩa <small>i</small>thực <small>i</small>dân <small>i</small>mới <small>i</small>ở <small>i</small>miền <small>i</small>Nam <small>i</small>Việt <small>i</small>Nam.
Mỹ <small>i</small>khẳng <small>i</small>định <small>i</small>tính <small>i</small>chính <small>i</small>nghĩa <small>i</small>của <small>i</small>mình <small>i</small>bằng <small>i</small>cách <small>i</small>cho <small>i</small>rằng <small>i</small>hành <small>i</small>động <small>i</small>của
ta". <small>i</small>Kennedy <small>i</small>cũng <small>i</small>từng <small>i</small>lập <small>i</small>luận <small>i</small>rằng <small>i</small>nếu <small>i</small>Mỹ <small>i</small>không <small>i</small>hành <small>i</small>động <small>i</small>mạnh <small>i</small>mẽ <small>i</small>để <small>i</small>bảo <small>i</small>vệ
<small> </small>
<small>Team's Report on Covert Saigon Mission in '54 and '55,' pp. 53-66.</small>
14
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">một <small>i</small>đường <small>i</small>lối <small>i</small>đối <small>i</small>ngoại <small>i</small>đấu <small>i</small>tranh <small>i</small>hịa <small>i</small>bình.
<b>1.2.3. Nhân tố Liên Xơ - Trung Quốc● Liên Xơ</b>
Từ khi Mỹ chính thức phát động Chiến tranh Lạnh, Mỹ và Liên Xô luôn coi châu Âu là khu vực trọng tâm chiến lược trong cuộc đấu tranh nhằm hạn chế sức mạnh và phạm vi ảnh hưởng của đối phương. Trong bối cảnh đó, châu † - nơi đang diễn ra những cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân các nước thuộc địa được coi là “khu vực biên duyên” chiến lược. Ngày 30/01/1950, Liên Xơ đã hình thành quan hệ chính trị tồn diện với Việt Nam, ủng hộ chủ trương và đường lối khôi phục và xây dựng miền Bắc Việt Nam. Tuy nhiên, quan hệ này lại không đậm đà bằng quan hệ với các nước khác. Có thể lý giải bằng 2 lý do: Thứ nhất, sau khi Stalin mất, Khrushchev thi hành đường lối “chung sống hồ bình”. Vì mục tiêu và lợi ích của mình, Liên Xơ chủ trương hịa hỗn với chủ nghĩa đế quốc nhất là đế quốc Mỹ, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho xây dựng Chủ nghĩa Xã hội ở Liên Xô. Liên Xô e ngại phong trào giải phóng dân tộc sẽ như “đốm lửa cháy rừng”, cản trở hồ hỗn, ảnh hưởng đến mục tiêu chiến lược của Liên Xô. Thứ hai, trọng tâm chiến lược mới của Liên Xô là nhằm<small>15</small> củng cố khối Xã hội Chủ nghĩa ở Đông Âu, mà biểu hiện rõ nhất là việc thành lập khối SEV năm 1949 và tổ chức Hiệp ước Vacsava 1955, muốn giữ nguyên trạng châu Âu, thực hiện hồ hỗn Đơng - Tây, nên Liên Xô tránh những đối đầu căng thẳng với Mỹ và các nước phương Tây.<small>16</small>
<small>xuất bản Từ điển Bách khoa.</small>
15
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">Tuy nhiên, cùng với sự biến đổi của tình hình quốc tế, châu † dần trở thành địa bàn xung đột giữa hai siêu cường và là nơi diễn ra những cuộc đấu tranh gay gắt giữa hai hệ thống trên thế giới. Vị trí của bán đảo Đông Dương trong chiến lược của Mỹ và Liên Xô cũng dần thay đổi. Việt Nam từng bước trở thành địa bàn quan trọng trong các cuộc cạnh tranh quyền lực của hai siêu cường ở châu †. Song song với sự thay đổi về chiến lược Đông Dương của Mỹ, các nhà lãnh đạo Liên Xô cũng dần nhận thức được tầm quan trọng của Đơng Dương nói chung, Việt Nam nói riêng. Do vậy, Liên Xơ đã đi từ chỗ không can dự vào Đông Dương đến chỗ thể hiện sự ủng hộ của mình đối với Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Trong những năm 50, Liên Xô đã thông qua Trung Quốc để ủng hộ Việt Nam và từ những năm 60, Liên Xơ đã có sự viện trợ trực tiếp về kinh tế và quân sự cho Việt Nam. Bên cạnh đó, cả hai nước Việt – Xơ đều có chung lý tưởng, trong cùng một “phe” xã hội chủ nghĩa. Liên Xô, với tư cách là quốc gia đứng đầu của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, có trách nhiệm giúp đỡ cho Việt Nam – một quốc gia luôn tỏ ra kiên định với con đường chủ nghĩa xã hội và có mối quan hệ thủy chung với đất nước Xô Viết. Đây là những tiền đề quan trọng của mối quan hệ hữu nghị Việt – Xô thời kỳ này.
<b>● Trung Quốc</b>
Trong giai đoạn 1954 - 1960, vai trò của Trung Quốc trong viê zc trợ giúp Viê zt Nam thâ zm chí cịn lớn hơn Liên Xô, bởi trong giai đoạn này, Liên Xô chưa muốn công khai viê zc can thiê zp vào Viê zt Nam, nên mọi sự ủng hô z giúp đỡ đều thông qua Trung Quốc. Trong chuyến thăm Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Trung Quốc từ 24/06 đến 07/07/1955, Trung Quốc cam kết giúp đỡ Việt Nam 800 triệu nhân dân tệ khơng hồn lại cho Việt Nam. Quan hệ Việt - Trung giai đoạn cuối những năm 1950 đầu những năm 1960 được coi là gần gũi và thân thiết. Cụ thể là từ năm 56 đến năm 1963, viện trợ quân sự của Trung Quốc cho Việt Nam con số 320 triệu nhân dân tệ. <small>17</small>
Thơng qua đó, Trung Quốc cố gắng tranh thủ Việt Nam nhằm tăng ảnh hưởng và vị thế của mình ở khu vực này. Nhằm thực hiện đường lối này, Trung Quốc đã cố gắng thuyết phục Việt Nam chấp nhận tạm thời sự chia cắt làm hai miền bằng cách tập
<i><small>chống Mỹ, 1954-1975. N.p.: Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội.</small></i>
16
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">trung củng cố những thành quả mà cách mạng giành được ở Miền Bắc. Trung Quốc muốn tập trung vào giải quyết các vấn đề nội tại phức tạp của Trung Quốc sau khi chiến tranh Triều Tiên chấm dứt; đồng thời cũng e ngại việc Mỹ có thể can thiệp an ninh vào khu vực, làm căng thẳng tình hình, đe dọa an ninh của Trung Quốc.
Một trong những vấn đề quan trọng đối với Việt Nam giai đoạn này là vấn để thống nhất đất nước. Tháng 12/1955, trong buổi đón tiếp đồn đại biểu Tổng qn uỷ Việt Nam sang thăm và làm việc tại Trung Quốc, Đặng Tiểu Bình đã phát biểu ý kiến của mình về vấn đề thống nhất Miền Nam như sau: “Tình hình thực tế hiện nay là việc thống nhất Nam Bộ không phải là việc mấy năm mà là một việc trường kỳ. Muốn thống nhất thì chỉ có hai phương pháp, một là đánh, hai là tổng tuyển cử. Nhưng hiện nay, đánh thì khơng lợi mà tổng tuyển cử thì trước mắt cũng khó thành”.<small>18</small>
Như vậy, tóm lại, với tư cách là hai người anh em trong cùng một khối Xã hội Chủ nghĩa, Liên Xô và Trung Quốc đã tác động sâu sắc đến phương pháp, đường lối đấu tranh của đối ngoại Việt Nam. Bên cạnh đó, chính sách đối ngoại Việt Nam cũng đề ra nhiệm vụ gắn kết, củng cố mối quan hệ với hai quốc gia trên, nhằm tranh thủ sự trợ giúp, viện trợ, từ đó đẩy mạnh đấu tranh, đạt được mục tiêu cao nhất: thống nhất đất nước.
<b>1.2.4. Bối cảnh và nội lực Việt Nam</b>
Trải qua 9 năm kháng chiến nhằm bảo vê z nền đô zc lâ zp non trẻ trước sự tái chiếm của thực dân Pháp, Viê zt Nam đã đi đến thắng lợi sau cùng, chấm dứt mưu đồ xâm lược và mở ra mô zt thời kỳ hịa bình và xây dựng đất nước. Ngày 08/05/1954, Hội nghị Genève về Đông Dương khai mạc. Với vị thế của một dân tộc chiến thắng, đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hịa do Phó Thủ tướng kiêm quyền Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn đến tham dự hội nghị. Đây là lần đầu tiên nền ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ tham gia một hội nghị quốc tế lớn trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp.<small>19</small>
Hội nghị Genève chịu sự chi phối của năm nước lớn tham gia đàm phán, trong đó ảnh hưởng lớn nhất đến từ Mỹ. Vấn đề Đông Dương đã được quốc tế hóa trên mọi
<small>chống Mỹ, 1954-1975. N.p.: Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội. </small>
<small> </small>
17
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">phương diện. Ở đó, “các cường quốc đã tự thỏa thuận phần lớn các điều khoản trong hiệp định mà khơng cần tính đến phản ứng của các nước Đơng Dương”. Hội nghị vì<small>20</small> thế mà diễn ra hết sức phức tạp, với sự đấu tranh quyết liệt của đồn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sự dàn xếp của các nước lớn, nhất là xung quanh vấn đề phân vùng đóng quân, vấn đề tổng tuyển cử và thống nhất nước Việt Nam, vấn đề các lực lượng kháng chiến ở Lào và Campuchia...
Hiệp định không đáp ứng đầy đủ những yêu cầu do đoàn đại biểu Việt Nam đưa ra về các vấn đề như giới tuyến (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đề nghị giới tuyến ở vĩ tuyến 13 nhưng cuối cùng là 17) và thời hạn tiến hành tổng tuyển cử (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đề nghị thời hạn 6 tháng, cuối cùng thành 2 năm). Việt Nam Dân<small>21</small> chủ Cộng hòa vẫn chấp nhận ký Hiệp định Genève để lập lại hịa bình ở Đơng Dương, Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam vẫn chưa được hoàn thành, bởi sau khi Hiệp định Genève (07/1954) được ký kết, nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền ở vĩ tuyến 17, với hai chế độ chính trị, xã hội khác nhau.
Nhiệm vụ cách mạng được đề ra lúc này là tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền: khôi phục kinh tế,tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước. Miền Bắc trở thành hậu phương cho tiền tuyến miền Nam, nắm vai trò quyết định nhất đối với cách mạng cả nước, cịn miền Nam có vai trò quyết định trực tiếp trong cuộc đấu tranh vì mục tiêu thống nhất. Đây là đặc điểm lớn nhất, độc đáo nhất của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn 1954 - 1960.
Trong giai đoạn đầu, miền Bắc thực hiê zn công cuô zc khôi phục kinh tế, xây dựng đất nước sau chiến tranh. Miền Bắc liên tiếp tiến hành cải cách ruô zng đất và các kế hoạch 3 năm từ 1955 - 1957, 1958 - 1960. Còn về miền Nam, giai đoạn này thi hành và đấu tranh đòi thi hành hiê zp định Geneve và đấu tranh chính trị địi dân chủ và an sinh xã hơ zi.
Tình hình ở miền Nam, vào những năm 1957 – 1960, Mỹ và tay sai tăng cường dùng bạo lực khủng bố các phong trào đấu tranh của quần chúng, thực hiê zn chiến dịch
<small>Nghiên cứu lịch sử, số 9/2004, tr. 50 </small>
18
</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">“tố cô zng, diê zt cô zng”, làm thiê zt hại nă zng nề lực lượng cách mạng. Cuộc đấu tranh ở miền Nam địi hỏi phải có đường lối cách mạng mới. Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 1/1959) chính thức khẳng định con đường cách mạng bạo lực, chuyển cách mạng miền Nam tiến lên đấu tranh vũ trang. Tại Bến Tre, ngày 17/1/1960, phong trào “Đồng khởi” nổ ra, sau đó nhanh chóng đạt thắng lợi, dẫn đến sự ra đời của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960), đánh dấu bước ngoặt của cách mạng miền Nam, chuyển cách mạng từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công, từ khởi nghĩa từng phần tiến lên làm chiến tranh cách mạng.<small>22</small>
<b>1.3. Chính sách đối ngoại Việt Nam giai đoạn 1954 - 1960 </b>
Chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 1954 - 1960 đã hoạch định đường lối đối ngoại chú trọng vào việc đấu tranh thi hành Hiệp định Genève khi đế quốc Mỹ và chính quyền Ngơ Đình Diệm ra sức phá hoại hiệp định. Trong giai đoạn này, mặt trận ngoại giao được lãnh đạo Đảng và Nhà nước xem là một trong những mặt trận chính để đấu tranh cho dân tộc. Trong giai đoạn đầu, ta chủ trương đấu tranh hịa bình, nhưng đến cuối năm 1959 đầu năm 1960, ta đã chuyển sang bạo lực cách mạng, đưa cuộc chiến sang một giai đoạn cao trào mới.
Về <b>mũi nhọn đấu tranh</b> trong giai đoạn này, lãnh đạo Đảng đã xác định rõ kẻ thù lớn nhất đối với dân tộc ta là đế quốc Mỹ và tay sai của chúng. Nhân dân ta phải đứng dậy đấu tranh chống Mỹ và chính quyền Mỹ-Diệm, giành lại hồ bình, thống nhất, độc lập dân tộc. Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam 3/1955 chỉ rõ:
<i>“Kẻ thù cụ thể của toàn thể nhân dân ta hiện nay là chủ nghĩa đế quốc Mỹ, chủnghĩa thực dân Pháp và bè lũ Ngơ Đình Diệm. Đế quốc Mỹ là kẻ thù đầu sỏ và nguyhại nhất… Khẩu hiệu chính của chúng ta là củng cố hịa bình và thực hiện thốngnhất.”<small>23</small></i>
<b>Để đạt được mục tiêu đấu tranh nêu trên, Đảng ta hoạch định nhiệm vụ chiếnlược với ba nhiệm vụ lâu dài đối với dân tộc là thống nhất Tổ quốc, đưa miền Bắc tiến</b>
<small> </small>
<small>Đảng Lao động Việt Nam 3/55.</small>
19
</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">lên xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh đấu tranh chống lại kẻ thù ở miền Nam. Đây là nhiệm vụ xuyên suốt của nhân dân ta trong suốt giai đoạn kháng chiến.
<i>“Củng cố miền Bắc tIc là bồi dưỡng cơ bản của ta, xây dựng chỗ dựa vJngchắc cho nhân dân toàn quốc giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh củng cố hịa bìnhthực hiện thống nhất… Củng cố miền Bắc phải luôn chiếu cố miền Nam... Cần khắcphục tư tưởng rất sai lầm cho rằng để chiếu cố miền Nam nên hạ thấp yêu cầu củngcố miền Bắc, không chú ý chiếu cố đến miền Nam một cách chính đáng.”<small>24</small></i>
<i>(Nghị quyết Hội nghị Trung ương VIII "Về tình hình mới, nhiệm vụ mới và chínhsách mới của Đảng”</i> tháng 8/1955, <i>Văn kiện Đảng</i>, tập 16, trang 571-572)
Ở giai đoạn 1954 - 1960, lãnh đạo Đảng đã đưa ra <b>nhiệm vụ ngoại giao</b> là duy trì hịa bình và ổn định, đấu tranh thi hành hiệp định Geneva, tìm kiếm sự hỗ trợ quốc tế cho quá trình phục hồi và phát triển kinh tế sau chiến tranh, đặc biệt là tăng cường hợp tác với bất kỳ nước nào dựa trên nguyên tắc chung. Hoạt động ngoại giao với
<i>phương châm: “chống chính sách chiến tranh của đế quốc Mỹ, chống Mỹ tổ chIc khốixâm lược Đơng Nam Á, củng cố hồ bình ở Đơng Dương, bảo vệ hồ bình Đơng NamÁ và tồn thế giới” (Trích Văn kiện Đảng tồn tập, Tập 15, năm 1954, trang 304);"củng cố khơng ngừng tình đồn kết hJu nghị với Liên Xơ và Trung Quốc và các nướcdân chủ nhân dân. Trong hoạt động quốc tế và đấu tranh ngoại giao, thực hiện phốihợp chặt chẽ với các nước anh em” (Trích Văn kiện Đảng toàn tập, tập 16, 1955,</i>
trang 158)
Đảng ta với <b>chủ trương</b> đấu tranh hịa bình thống nhất, thực hiện Hiệp định Geneva với chủ trường hồ bình để chuẩn bị cho cuộc tổng tuyển cử vào năm 1956.
<i>“Nhiệm vụ công tác miền Nam nên dựa trên khẩu hiệu hịa bình, thống nhất, độclập, dân chủ và trên chính sách Mặt trận thống nhất rộng rãi để tranh thủ ảnh hưởngvà đồng tình rộng lớn, buộc ngụy quyền phải tuân theo hiệp định đình chiến, phảithừa nhận quyền tự do dân chủ nhân dân trong một hạn độ nào đó, phải tán thànhtổng tuyển cử để thống nhất nước nhà.”<small>25</small></i>
mới và chính sách mới của Đảng” tháng 8/55, trang 571-572.
<small>mới, nhiệm vụ mới và chính sách mới của Đảng” ngày 5-7/9/54, trang 35</small>
20
</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23"><i>(Nghị quyết Bộ chính trị “Về tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính sách mới củaĐảng” ngày 5-7/9/54, Văn kiện Đảng</i>, tập 9, trang 35)
Trong giai đoạn từ 1954 -1959, Đảng chủ yếu sử dụng đấu tranh ngoại giao bằng biện pháp hịa bình. Nhân dân cả nước đấu tranh chính trị, địi thi hành Hiệp định Geneva, tổ chức tổng tuyển cử hai miền và thống nhất đất nước. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã tiến hành củng cố và phát triển quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa, đồng thời cải thiện quan hệ với Lào, Campuchia và ủng hộ các phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân quốc tế.
Đến năm 1960, nhận thấy chính sách đấu tranh bằng phương pháp hồ bình khơng còn phù hợp và hiệu quả nữa, Đảng và nhà nước đã thay phương pháp đấu tranh hồ bình bằng bạo lực cách mạng, tạo ra một bước chuyển mới cho lịch sử Việt Nam với sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.
21
</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24"><b>Tiểu kết chương 1</b>
Ở chương 1 này, nhóm tác giả đã đề cập sơ lược về yếu tố "dân tộc” và yếu tố "quốc tế” trong giai đoạn 1954 - 1960. Với khía cạnh lý luận của hai yếu tố đó, nhóm tác giả đồng thời phân tích những nhân tố tác động đến chính sách đối ngoại Việt Nam giai đoạn này. Những nhân tố chính bao gồm: nhân tố bối cảnh Việt Nam lúc bấy giờ, nhân tố tình hình và xu thế thế giới, ngồi ra cịn có những nhân tố có tác động sâu sắc, trực tiếp nhất đến đường lối đối ngoại của nước ta là nhân tố Mỹ và nhân tố mâu thuẫn Xô-Trung. Lãnh đạo Đảng và nhà nước đã có những nhận thức đúng đắn về sự kết hợp giữa yếu tố "dân tộc” và "quốc tế” cùng với những thách thức và cơ hội từ bối cảnh lúc bấy giờ để để hoạch đường lối chính sách đối ngoại, chiến lược ngoại giao phù hợp, đúng đắn trong giai đoạn 1954 - 1960. Trong giai đoạn này, Đảng ta xác định kẻ thù là đế quốc Mỹ và tay sai của chúng; cuộc đấu tranh phải thực hiện nhiệm vụ kiến thiết miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên xã hội chủ nghĩa, tiến hành cách mạng ở miền Nam, giành lại hồ bình thống nhất đất nước; cùng với các chủ trương, biện pháp ngoại giao lấy hịa bình làm ngun tắc đấu tranh. Đó là cơ sở lý luận và thực tiễn làm cơ sở cho q trình nghiên cứu, phân tích yếu tố "dân tộc” và yếu tố "quốc tế” được thể hiện trong chính sách đối ngoại Việt Nam và thực tiễn triển khai trong giai đoạn 1954 - 1960.
22
</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25"><b>CHƯƠNG 2</b>
<b>NHẬN THỨC VỀ YẾU TỐ “DÂN TỘC” VÀ YẾU TỐ “QUỐC TẾ” TRONGCHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM</b>
<b>2.1. Yếu tố “dân tộc”</b>
<b>2.1.1. Quan điểm của Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh về yếu tố “dântộc” </b>
Yếu tố dân tộc trong chính sách đối ngoại Việt Nam giai đoạn 1954 - 1960 luôn được đặc biệt chú trọng, biểu hiện qua các chính sách, cơng tác ngoại giao với mục tiêu và chủ trương đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu, cụ thể ở một số văn kiện chính sách đối ngoại ở dưới đây:
Nghị quyết của Bộ Chính trị về Tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính sách mới của Đảng, điều 7: “Công tác ngoại giao và chính sách ngoại giao" trong phần
<i>“Nhiệm vụ cơng tác cụ thể và chính sách cụ thể của chúng ta”</i><small>26</small>
<i>“Từ nay, trong một thời gian nhất định, nhiệm vụ chung của Đảng ta là: đoànkết và lãnh đạo nhân dân đấu tranh thực hiện Hiệp định đình chiến, đề phịng và khắcphục mọi âm mưu phá hoại Hiệp định đình chiến, để củng cố hồ bình; ra sIc hồnthành cải cách ruộng đất, phục hồi và nâng cao sản xuất, tăng cường xây dựng quânđội nhân dân, để củng cố miền Bắc; giJ vJng và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trịcủa nhân dân miên Nam; nhằm củng cố hồ bình; thực hiện thống nhất, hồn thànhđộc lập, dân chủ toàn quốc.”</i>
Yếu tố dân tộc được thể hiện qua các khẩu ngôn như: "Mục tiêu đấu tranh của chúng ta là hồ bình, thống nhất, độc lập, và dân chủ"; "Châm ngơn chung của cuộc đấu tranh chính trị là củng cố hồ bình, thực hiện thống nhất, hồn thành độc lập và dân chủ trên khắp quốc gia"; "Chúng ta cam kết thực hiện mở rộng và củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất trên phạm vi toàn quốc".
Trong giai đoạn 1954 - 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có quan điểm rất rõ nét về vai trò của yếu tố dân tộc trong cuộc chiến tranh giành độc lập và tự do cho đất nước. Yếu tố “dân tộc” đóng vai trị quyết định trong sự tiến triển và thành công của cách mạng ở Việt Nam. Nhất là tại các quốc gia đang đối mặt với cuộc chiến chống lại
<small>tr.283</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">chủ nghĩa đế quốc và thực dân như Việt Nam trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, yếu tố “dân tộc” trở thành một yếu tố quan trọng đẩy mạnh sự phát triển của lịch sử. Người phát biểu: “…người ta sẽ khơng thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại và duy nhất của đời sống xã hội của họ” tức là chủ nghĩa dân tộc bản địa.
Hồ Chí Minh đặt vấn đề cần khai thác mạnh mẽ yếu tố dân tộc, tận dụng sức mạnh của tinh thần dân tộc trong cuộc chiến đấu giải phóng các dân tộc bị thuộc địa. Từ đó, Người đưa ra một kiến nghị mạnh mẽ với tính chủ động, khuyến khích và "phát động chủ nghĩa dân tộc bản địa nhân danh Quốc tế Cộng sản". Người tin rằng việc này sẽ giúp những người Cộng sản nắm bắt và phát huy hiệu quả, thực hiện "một chính sách có tính hiện thực tuyệt vời". Hơn nữa, Người đề xuất rằng "khi chủ nghĩa dân tộc của họ đạt được chiến thắng... chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ tự nhiên trở thành chủ nghĩa quốc tế".<small>27</small>
Hồ Chí Minh đã nhận thức rõ sự tương tác tất yếu giữa yếu tố dân tộc dưới chiều sâu quốc tế. Thực tế này đã giúp chủ tịch Hồ Chí Minh nhận ra mối liên kết và tác động tương hỗ giữa cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa, cũng như sự kết nối giữa phong trào cách mạng của một dân tộc với phong trào cách mạng toàn cầu. Do đó, đối với Người, việc hịa trộn các yếu tố dân tộc và quốc tế trong cách mạng của từng dân tộc là một không gian lịch sử không thể tránh khỏi.
<b>2.1.2. Yếu tố “dân tộc” được thể hiện qua các văn kiện</b>
Sau khi Hiệp định Genève (07/1954) được ký kết, nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền, với hai chế độ chính trị, xã hội khác nhau. Do đó, sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên cả nước chưa hoàn thành, nhân dân ta vừa phải hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế ở miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, vừa phải tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện hịa bình thống nhất nước nhà.
Chỉ thị của Bộ Chính trị ngày 26 tháng 11 năm 1954 Về việc gây một phong trào rộng lớn và mạnh mẽ của các tầng lớp nhân dân tồn quốc chống các hành động
<small>27</small><i><small>Hồ Chí Minh toàn tập</small></i><small> - Tập 1,tr320, 17, 513. Tư liệu - Văn kiện.</small>
<small> class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">
<i>trắng trợn của đối phương vi phạm Hiệp định Geneva:“Cuối cùng, chẳng nhJng phốihợp chặt chẽ cuộc đấu tranh giJa miền Bắc và miền Nam, mà còn phải biết tuyêntruyền, vận động ra thế giới, làm cho phong trào bảo vệ hồ bình thế giới ủng hộ cuộcđấu tranh của nhân dân ta. Đặc biệt là phải tranh thủ dư luận nhân dân Pháp, lôi kéocác tầng lớp trên của xã hội Pháp tương đối tiến bộ và chống Mỹ, tương đối tán thànhHiệp định đình chiến, tán thành duy trì và phát triển quan hệ giJa hai dân tộc Việt -Pháp, làm cho họ đồng tình và ủng hộ chúng ta.”<small>28</small></i>
Yếu tố dân tộc được thể hiện qua mục tiêu “ làm cho phong trào bảo vệ hồ bình thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân ta”.
Nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ bảy Mở rộng, họp từ ngày 3 đến ngày 12-3-1955: “<small>29</small> <i>Đẩy mạnh công tác ngoại giao, tăng cường đoàn kết hJu nghị vớicác nước bạn, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới là một trongnhJng công tác lớn trong năm nay. Củng cố khơng ngừng tình đồn kết hJu nghị vớiLiên Xô, Trung Quốc và các nước dân chủ nhân dân; thực hiện việc phối hợp chặt chẽvới các nước anh em trong hoạt động quốc tế và ngoại giao. Giao hảo với bất cInước nào cùng ta cơng nhận năm ngun tắc chung sống hồ bình. Kiên quyết và bềnbỉ dùng cách thương lượng để giải quyết mọi vấn đề tranh chấp quốc tế (đồng thời rasIc củng cố quốc phòng để sẵn sàng đập tan mọi kế hoạch gây chiến của đế quốc Mỹvà phe lũ hiếu chiến)”.</i>
Để thực hiện phương châm, chinh sách trên, cần chuẩn bị cử Đại sứ hay Đại biện đi các nước anh em mà ta chưa cử đến; chú trọng tranh thủ đặt quan hệ ngoại giao bình thường với hai Chính phủ nhà vua Lào và Cao Miên, với nước Pháp và các nước Đông Nam †.
Xúc tiến công tác tuyên truyền quốc tế, nhằm tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta.
Yếu tố dân tộc thể hiện qua chủ trương và mục tiêu “ nhằm tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta”.
</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">Thông cáo Hội nghị Trung ương lần thứ 15 (mở rộng) của Đảng Lao động Việt Nam Về kiểm điểm tình hình và đề ra nhiệm vụ đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà:
<i>“Hồ bình, thống nhất là nguyện vọng tha thiết nhất của toàn thể nhân dân ViệtNam hiện nay. Vì sự nghiệp cách mạng của Tổ quốc, vì quyền lợi của dân tộc. Chínhphủ ta trước sau như một vẫn tôn trọng Hiệp nghị Geneva, luôn ln có thái độ xâydựng trong việc thi hành hiệp nghị đó và đã nhiều lần có nhJng đề nghị cụ thể, hợptình hợp lý với chính quyền miền Nam nhằm tiến tới hồ bình thống nhất Tổ quốc.”</i>
Trong tun bố, Chính phủ Việt Nam ta rõ ràng thể hiện sự cam kết mạnh mẽ đối với nguyện vọng hoà bình và thống nhất của nhân dân. Điều này khơng chỉ là một cam kết chung chung mà còn là sự hướng dẫn chiến lược về cách Chính phủ đang tiếp cận các thách thức nội bộ, khẳng định không chỉ sự cam kết vì mục tiêu lớn của hồ bình và thống nhất mà cịn vì sự nghiệp cách mạng và quyền lợi cụ thể của dân tộc. Quan trọng hơn, Chính phủ tơn trọng Hội nghị Geneva, bày tỏ tầm quan trọng của quốc tế trong việc giải quyết tình hình nội địa. Thái độ xây dựng và hợp tác được đặc biệt nhấn mạnh, cho thấy sự chủ động và tích cực trong việc thi hành Hiệp nghị và hợp tác với cộng đồng quốc tế. Việc đưa ra đề nghị cụ thể và hợp tình hợp lý với chính quyền miền Nam là một biểu hiện của sự linh hoạt và khả năng đàm phán để đạt được mục tiêu hồ bình và thống nhất. Chính phủ thông qua tuyên bố này, không chỉ cam kết với nhân dân mà còn với quốc tế, tạo ra một kịch bản nền tảng cho việc giải quyết tình hình và phát triển quốc gia. Bằng cách này, nước ta khơng chỉ xác nhận mục tiêu mà cịn thể hiện sự quyết tâm và sẵn sàng hành động để thực hiện cam kết đó, nhằm mang lại một tương lai hồ bình và thống nhất cho Tổ quốc Việt Nam.
“Để thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, Hội nghị đề ra nhiệm vụ là: Đoàn kết toàn dân, ra sức đấu tranh nhằm thực hiện thống nhất nước nhà, trên cơ sở độc lập và dân chủ; ra sức củng cố miền Bắc và tích cực đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng một nước Việt Nam hồ bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh; góp phần bảo vệ hồ bình ở Đơng Nam † và thế giới"
Thông cáo đặt ra nhiệm vụ quan trọng của việc thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ. Bài phân tích sẽ tập trung vào những điểm chính của
</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">đoạn văn, làm rõ chiến lược và mục tiêu của nhiệm vụ được đề ra. Mục tiêu hàng đầu của Hội nghị là "Đoàn kết toàn dân" trong việc đấu tranh nhằm thực hiện thống nhất nước nhà. Sự đồn kết này khơng chỉ là một yếu tố chính để đối mặt với những thách thức nội và ngoại, mà còn là nền tảng cơ bản để xây dựng một quốc gia mạnh mẽ và bền vững. Tầm quan trọng của việc "củng cố miền Bắc" và "đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội" thể hiện chiến lược không chỉ nhằm mục tiêu quốc gia mà cịn liên quan đến xã hội. Q trình này khơng chỉ tăng cường sức mạnh kinh tế và quân sự mà còn mở rộng ảnh hưởng của miền Bắc lên toàn quốc, tạo nền tảng cho sự phát triển đồng đều và bền vững. Xây dựng "một nước Việt Nam hồ bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh" là một mục tiêu lớn, liên quan đến nhiều khía cạnh của xã hội. Điều này bao gồm khơng chỉ sự thống nhất về chính trị mà cịn về kinh tế, xã hội và văn hóa. Đồng thời, chú trọng đến tính dân chủ và độc lập cũng thể hiện ý chí xây dựng một quốc gia khơng chỉ mạnh mẽ mà cịn cơng bằng và phát triển. Mục tiêu "góp phần bảo vệ hồ bình ở Đơng Nam † và thế giới" thể hiện sự tầm nhìn và trách nhiệm quốc tế. Việc xây dựng một Việt Nam mạnh mẽ khơng chỉ mang lại lợi ích cho quốc gia mà cịn đóng góp tích cực vào sự ổn định và hịa bình tồn cầu. Thơng qua thơng cáo này, cho ta biết không chỉ là một tuyên bố mục tiêu mà còn là bản lộ chiến lược và định hình chiều sâu của việc thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ.
<b>2.2. Yếu tố “quốc tế”</b>
<b>2.2.1. Quan điểm của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về yếu tố “quốctế” trong chính sách đối ngoại Việt Nam:</b>
Tiếp thu tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin với khẩu hiệu hành động chiến lược của Tuyên ngôn: “Giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới hãy đoàn kết lại!” , yếu tố “quốc tế” trong chính sách đối ngoại Việt Nam đã được<small>30</small> chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng và quan tâm ngay từ thời gian đầu của cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định được lập trường đoàn kết quốc tế từ rất sớm
<small>30 PGS,TS NGUYỄN VIẾT THẢO, and PGS,TS NGUYỄN AN NINH. 2022. “Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa quốc tế vô sản.” Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. </small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30"><i>“Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cIu nhân loại, đem lại cho mọi người khôngphân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đồn kết, ấm no trênquả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui hồ bình hạnh phúc, tómlại là nền cộng hịa thế giới chân chính, xố bỏ nhJng biên giới tư bản chủ nghĩa chođến nay chỉ là nhJng vách tường dài ngăn cách nhJng người lao động trên thế giớihiểu nhau và yêu thương nhau'' .</i><small>31</small>
Tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh về đồn kết quốc tế nhấn mạnh khơng chỉ giải phóng cho dân tộc mình, mà cịn giải phóng cho các dân tộc bị áp bức, mang lại bình đẳng, cơng bằng cho quốc tế.
Trong tác phẩm “Đường Kách Mệnh” xuất bản năm 1927, chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định ba vấn đề chính về đồn kết quốc tế và tập hợp lực lượng cách mạng: “Một là, cách mạng Việt Nam phải đứng về phía phong trào cơng nhân và phong trào giải phóng dân tộc trên tồn thế giới mới có thể “đạp đổ” tất cả chủ nghĩa đế quốc trên toàn thế giới”; “Hai là, xác định rõ mối quan hệ giữa lợi ích dân tộc của cách mạng Việt Nam khi liên minh với phong trào cách mạng thế giới; giữa quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ quốc tế của cách mạng Việt Nam”; “Ba là, xác định rõ mối quan hệ giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng chính quốc là mối quan hệ có tác động qua lại, trong đó, cách mạng thuộc địa sẽ khơng “thụ động ngồi chờ” cách mạng chính quốc.” (PGS, TS. Nguyễn Văn Lan 2022). Lập trường và quan điểm này của Chủ tịch Hồ Chí Minh kết hợp với tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, đã trở thành cơ sở khoa học và nền tảng vững chắc cho sự xuất hiện của yếu tố quốc tế trong chính sách đối ngoại Việt Nam cũng như sự tác động của quốc tế trong thời gian Việt Nam trải qua liên tiếp hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Ngoài ra, Đảng ta cũng nhận định điều kiện không thể thiếu của sức mạnh “thời đại", những yếu tố “ngoại lực" (hay yếu tố “quốc tế”), thừa nhận những yếu tố này bổ sung sức mạnh cho yếu tố dân tộc, hay yếu tố “nội lực" trong chính sách đối ngoại Việt Nam. <small>32</small>
<small>31 Th.s Ngô Văn Khoa. 2015. “Một số luận điểm về đồn kết quốc tế Hồ Chí Minh | C. Mác; Ph. Ăngghen; V. I. Lênin; Hồ Chí Minh.” Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. </small>
<small> </small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">Trong giai đoạn 1954 - 1960, trước thực tiễn cách mạng Việt Nam và bối cảnh thế giới, Việt Nam đã thành cơng kí kết Hiệp định Genève và kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nhưng sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân ta chưa hoàn thành khi đế quốc Mỹ đã ngay lập tức thế chân Pháp, tiến hành chiến tranh ở Đơng Dương.
Khi đó, lập trường và tư tưởng của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa dân tộc và quốc tế chỉ rõ:
<i>"…điều đó thật rõ ràng khơng thể nào hạn chế nhJng hoạt động hiện nay vàtương lai của chúng tôi trong khuôn khổ dân tộc thuần tuý, rằng nhJng hoạt động đócó mn ngàn sợi dây liên hệ với cuộc đấu tranh chung của thế giới tiến bộ, rằng sựđoàn kết thực sự của phe xã hội chủ nghĩa và các dân tộc u chuộng hịa bình trênthế giới đối với chúng tơi cũng cần thiết khơng kém gì trước kia." </i>
(Hồ Chí Minh; Tuyển tập; T1 - Nhà xuất bản sự thật HN 1989).
Trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, Đảng ta đã nhấn mạnh sức mạnh của dân tộc bao gồm:
<i>“SIc mạnh vơ địch của Đảng ta chính là ở chỗ Đảng ta tuyệt đối trung thành vớichủ nghĩa Mác-Lênin, một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phục vụ tổ quốc, khơngngừng củng cố sự đồn kết nhất trí của mình chung quanh Trung ương Đảng và đồngchí Hồ-Chí-Minh, vị lãnh tụ kính mến của giai cấp cơng nhân và của dân tộc ta, đồngthời luôn tǎng cường sự đoàn kết quốc tế trên cơ sở chủ nghĩa quốc tế vô sản.” </i>
Câu nhận định này đã khẳng định sức mạnh của tinh thần quốc tế, đoàn kết quốc tế trên cơ sở chủ nghĩa quốc tế vô sản không thể tách rời với sức mạnh và tinh thần đồn kết dân tộc.
Có thể thấy, trong giai đoạn 1954 - 1960, quan điểm của Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh ln đánh giá cao và đặc biệt chú trọng đến yếu tố “quốc tế" trong cuộc kháng chiến chống đế quốc của dân tộc, dẫn đến sự xuất hiện của yếu tố “quốc tế" trong chính sách đối ngoại Việt Nam giai đoạn này.
<b>2.2.2. Yếu tố “quốc tế” trong chính sách đối ngoại● Vấn đề mối quan hệ với các nước Xã hội Chủ nghĩa</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">Xuyên suốt giai đoạn nghiên cứu 1954 - 1960, đối ngoại của Việt Nam thực hiện mục tiêu tăng cường tranh thủ sự ủng hộ của các nước dân chủ, các tổ chức tiến bộ và nhân dân yêu chuộng hồ bình thế giới; chủ trương đẩy mạnh đối ngoại và mối quan hệ bền chặt với các nước xã hội chủ nghĩa, thể hiện qua các câu khẩu hiệu thường được Chủ tịch Hồ Chí Minh hơ vang trong các phát ngôn, diễn văn tại đại hội, hội nghị.
<i>“... Tình đồn kết nhất trí giJa các nước trong phe xã hội chủ nghĩa đIng đầulà Liên Xô vĩ đại mn năm! Tình đồn kết nhất trí giJa các đảng cộng sản và côngnhân trên thế giới muôn năm!...” </i>
(Trích “Diễn văn Bế mạc Đại hội Đại biểu tồn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam” của Chủ tịch Hồ Chí Minh).
Trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, Đảng đã xác định đường lối chung của Đảng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc là:
<i>“đoàn kết toàn dân, phát huy tinh thần yêu nước nồng nàn và truyền thống phấnđấu anh dũng, lao động cần cù của nhân dân ta, đồng thời tăng cường đoàn kết vớicác nước xã hội chủ nghĩa anh em do Liên Xô đIng đầu, để đưa miền Bắc tiến nhanh,tiến mạnh, tiến vJng chắc lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm no hạnh phúc ởmiền Bắc và củng cố miền Bắc thành cơ sở vJng mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiệnhồ bình thống nhất nước nhà, góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa, bảo vệ hồbình ở Đơng - Nam Á và thế giới".</i>
Nhận thức của Đảng Lao động Việt Nam về vấn đề quan hệ chặt chẽ với các nước xã hội chủ nghĩa đã thể hiện qua yếu tố “quốc tế” trong báo cáo chính trị đã
<i>được thể hiện qua những định hướng như “đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩaanh em do Liên Xơ đIng đầu” </i>và “<i>góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa, bảo vệhoà bình ở Đơng - Nam Á và thế giới”. </i>
Một trong những đặc điểm nổi bật nhất của yếu tố “quốc tế” trong chính sách đối ngoại Việt Nam giai đoạn 1954 - 1960 chính là chuyến thăm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồn đại biểu chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đến các nước xã hội chủ nghĩa: Liên Xô, Trung Quốc, Mông Cổ vào năm 1955, sau đó là chuyến thăm tới
</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Ấn Độ và Myanmar. Trong chuyến đi Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định Việt Nam là một thành viên tích cực trong khối xã hội chủ nghĩa, quyết tâm đấu tranh vì hồ bình, độc lập dân tộc, dân chủ, vì sự tiến bộ của nhân loại. (TS. Đinh Đức Duy Phó Trưởng khoa Xây dựng Đảng 2019). Tại chuyến thăm Trung Quốc năm 1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã có bài phát biểu xúc động về tinh thần đoàn kết và mối quan hệ hữu hảo giữa Trung Quốc và Việt Nam:
<i>“Việt Nam và Trung Quốc là hai nước anh em. Tình hJu nghị chân thành và sâuxa giJa nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc đã có từ lâu. Nhân dân ViệtNam ngày nay đang ra sIc đấu tranh củng cố hịa bình, thực hiện thống nhất, hoànthành độc lập và dân chủ. Cuộc đấu tranh đó đã được và ln ln được sự khuyếnkhích ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân Trung Quốc” . <small>33</small></i>
Bài phát biểu đã khẳng định tình hữu nghị, sự gắn bó khăng khít của Việt Nam và Trung Quốc, phát triển mối quan hệ Việt - Trung qua chuyến thăm của Đồn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam, dẫn đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh đến Trung Quốc. Ngoài chuyến thăm, trong giai đoạn này còn xuất hiện một số đặc điểm mang yếu tố “quốc tế” đáng chú ý khác có thể kể đến như: Tại Hội nghị 81 Đảng Cộng sản và Công nhân Quốc tế tại Matxcova (11/1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có phát biểu
<i>và khẳng định: </i>
<i>“Cuộc đấu tranh để bảo vệ và củng cố hịa bình thế giới là một cuộc đấu tranhgiai cấp chống chủ nghĩa đế quốc hiếu chiến và quyết định thắng lợi trong cuộc đấutranh ấy chủ yếu là do sự đoàn kết phấn đấu của quần chúng nhân dân u chuộnghịa bình thế giới”<small>34</small></i>.
Phát biểu này cũng như chuyến thăm đã tranh thủ lên án mạnh mẽ âm tính phi nghĩa của Mỹ và chính quyền Ngơ Đình Diệm phá hoại Hiệp định Genève, đồng thời kêu gọi được sự ủng hộ một Việt Nam hồ bình, thống nhất từ cộng đồng quốc tế; hay Trong bài viết đăng trên tạp chí Những vấn đề hồ bình và chủ nghĩa xã hội số 2/1960, mang tên “Ba mươi năm hoạt động của Đảng”; Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định:
<small>33</small><i><small>Hồ Chí Minh với Quảng Tây</small></i><small>. 2006. N.p.: Nxb nhân dân Quảng Tây, tr. 226</small>
</div>