Tải bản đầy đủ (.pdf) (23 trang)

Bài tập lớn Đặc trưng văn hóa vùng Nam Bộ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.11 MB, 23 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

BỘ NỘI VỤ

<b>TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI </b>

<b>TÊN ĐỀ TÀI: ĐẶC TRƯNG VĂN HOÁ VÙNG NAM BỘ </b>

<b>BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC HỌC PHẦN </b>

<b>Học phần: Cơ sở văn hóa Việt Nam </b>

<b>TP. Hồ Chí Minh - 2022 </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

<b>MỤC LỤC </b>

MỞ ĐẦU ... 2

1. Lý do chọn đề tài ... 2

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ... 2

3. Đối tượng nghiên cứu ... 3

4. Phạm vi nghiên cứu ... 3

5. Nhiệm vụ nghiên cứu ... 3

6. Phương pháp nghiên cứu ... 3

7. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài ... 3

NỘI DUNG ... 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN ... 4

1.1. Khái niệm Văn hoá ... 4

1.2. Lịch sử ... 5

1.3. Điều kiện tự nhiên ... 7

1.4. Dân số và sự phân bố dân cư ... 9

1.5. Văn hoá vật chất ... 11

Chương 2: DI TÍCH VÀ DANH THẮNG... 14

2.1. Di tích lịch sử ... 14

<i>2.1.1. Khu di tích Đồng Khởi ... 14 </i>

<i>2.1.2. Căn cứ Khu uỷ Sài Gòn – Gia Định tại Bến Tre ... 15 </i>

<i>2.2. Di tích tơn giáo – tín ngưỡng ... 17 </i>

2.3. Danh lam thắng cảnh... 19

<i>2.3.1. Chợ Bến Thành ... 19 </i>

<i>2.3.2. Vườn Quốc gia Tràm Chim ... 19 </i>

<i>2.3.3. Địa đạo Củ Chi ... 20 </i>

KẾT LUẬN ... 21

TÀI LIỆU THAM KHẢO... 22

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

<b>MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài </b>

Trong nền văn hoá chung của cộng đồng các dân tộc Việt nam thì mỗi dân tộc, mỗi vùng miền lại có nét văn hố riêng rất độc đáo, đa dạng và phong phú. Nam Bộ tuy là vùng đất tổ tiên ta mới khai phá lập nghiệp hơn 300 năm, nhưng văn hố của nơng thơn Nam Bộ bắt nguồn từ nền văn hố chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam có hơn 4000 năm lịch sử.

Vùng đất Nam Bộ được biết đến là vùng đất của sự bình dị, của những con người chân đất, nhiệt tình. Nơi đây cịn có những nét đặc trưng văn hố và các di tích lịch sử tiêu biểu như: Bến Nhà Rồng, nhà tù Côn Đảo, dinh Độc Lập, khu di tích Ĩc Eo - Ba Thê,… các danh thắng như núi Sập, đảo ngọc Phú Quốc, chợ nổi Cái Răng…, và một đặc trưng trong văn hóa ẩm thực Nam Bộ là những món ăn đậm chất dân dã: Chuột đồng xào sả ớt, lẩu mắm Cần Thơ, bánh pía Sóc Trăng.,.. thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước. Tuy nhiên, vẫn còn khá nhiều người chưa biết đến và hiểu rõ về vùng đất bình dị, dễ mến này.

Vì vậy, tơi chọn đề tài này, hi vọng người dân nắm bắt rõ văn hoá truyền thống, góp phần nâng cao ý thức trong việc bảo tồn phát huy các giá trị văn hoá, nhất là thế hệ trẻ hiện nay ở quê hương mình góp phần vào bảo tồn các giá trị nghệ thuật văn hố của Nam Bộ.

<b>2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu </b>

Tìm hiểu một cách khái quát về vùng văn hoá Nam Bộ ở nhiều khía cạnh khác nhau như là văn hố, tơn giáo, tín ngưỡng,… Từ đó, làm tăng lên sự hiểu biết về vùng văn hoá Nam Bộ cho người dân trong và ngoài nước Việt Nam.

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<b>3. Đối tượng nghiên cứu </b>

Đối tượng nghiên cứu là những đặc trưng văn hoá của vùng văn hoá Nam Bộ

<b>4. Phạm vi nghiên cứu </b>

Phạm vụ nghiên cứu là các tỉnh thuộc địa bàn của Nam Bộ như Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu thuộc miền Đông Nam Bộ và các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, Cần Thơ, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau thuộc miền Tây Nam Bộ và thanh phố Hồ Chí Minh.

<b>5. Nhiệm vụ nghiên cứu </b>

Phân tích những đặc trưng cơ bản về điều kiện tự nhiên, văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của vùng văn hóa Nam Bộ.

<b>6. Phương pháp nghiên cứu </b>

Để hoàn thành đề tài tôi sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích các nguồn thơng tin và phương thức thu nhập, tìm hiểu thơng tin từ Internet, sách báo.

<b>7. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài </b>

Giới thiệu và phát triển những đặc trưng của vùng văn hoá Nam Bộ, nâng cao tri thức và tầm hiểu biết của người dân đến vùng đất bình dị, thân thương, gần gũi.

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

<b>NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 . Khái niệm văn hoá </b>

Văn hoá là sản phẩm do con người sáng tạo, có từ thuở bình minh của xã hội lồi người. Ở phương Đơng, từ văn hố đã có trong đời sống ngơn ngữ từ rất sớm. Trong Chi Dịch, quẻ Bi đã có từ văn và hố: Xem dáng vẻ con người, lấy đó mà giáo hố thiên hạ Quan hổ nhân văn di hoá thành thiên hạ. Người sử dụng từ văn hố sớm nhất có lẽ là Lưu Hướng (năm 77-6 trước công nguyên), thời Tây Hán với nghĩa như một phương thức giáo hoá con người – văn trị giáo hoá. Văn hoá ở đây được dùng đối lập với vũ lực (phàm đấy việc võ là vì khơng phục tùng, dùng văn hố mà khơng sửa đổi, sau đó mới thêm chém giết). Ở phương Tây, để chỉ đối tượng mà chúng ta nghiên cứu, người Pháp, người Anh có từ culture chữ này lại có chung gốc Latinh là chữ cultus animi là trồng trọt tinh thần. Vậy chữ cultus là văn hoá với hai khía cạnh: trồng trọt, thích ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên và giáo dục đào tạo cá thể hay cộng đồng để họ khơng cịn là con vật tự nhiên, và họ có những phẩm chất tốt đẹp.

Tuy vậy, việc xác định và sử dụng khái niệm văn hố khơng đơn giản và thay đổi theo thời gian thuật ngữ văn hoá với nghĩa ‘canh tác tinh thần” được sử dụng vào thế kỉ XVII – XVIII bên cạnh nghĩa gốc là quản lí, canh tác nơng nghiệp.

Thực ra, văn minh là trình độ phát triển nhất định của văn hóa về phương diện vật chất, đặc trưng cho một khu vực rộng lớn, một thời đại, hoác cả nhân loại. Như vậy, vàn minh khác với văn hóa ở ba điểm : Thứ nhất, trong khi văn hóa có bề dày của q khứ thì văn minh chi là một

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

lát cất đồng đại. Thứ hai, trong khi văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất lẫn tinh thần thì vän minh chỉ thiên về khía cạnh vật chất, kỹ thuật. Thứ ba, trong khi văn hóa mang tính dân tộc rõ rệt thì văn minh thường mang ttính siêu dân tộc – quốc tế. Ví dụ nền văn minh tin học hay văn minh hậu công nghiệp và văn hóa Việt Nam, văn hóa Nhật Bản, văn hố Trung Quốc... Mặc dù giữa văn hóa và văn minh có một điểm gặp gỡ nhau đó là do con người sáng tạo ra.

<b>1.2. Lịch sử </b>

Nam Bộ trước đây là lãnh thổ của nước Phù Nam và Chân Lạp Năm 1623 chúa Nguyễn chính thức u cầu triều đình Chân Lạp để cho dân Việt mở rộng địa bàn khai phá trên những vùng đất thưa dân và để quản lý, chúa Nguyễn lập ở Pray Kor (vùng Sài Gòn ngày nay) một trạm thu thuế và mở một dinh điền ở Mơ Xồi. Vua Chân Lap đã chấp thuận đề nghị này. Vào thời điểm đó cư dân Việt đã có mặt ở hầu khắp miền Đơng Nam Bộ và Sài Gòn.

Thời chúa Nguyễn và nhà Tây Sơn, vùng đất này là xứ Gia Định (Gia Định thành), mới được khai khẩn từ thế kỷ 17. Năm 1698, xứ Gia Định được chia thành 3 dinh: Phiên Trấn, Trấn Biên và Long Hồ.

Vua Gia Long nhà Nguyễn gọi vùng này là Gia Định Thành, bao gồm 5 trấn: Phiên An (địa hạt Gia Định), Biên Hòa, Vĩnh Thanh (tức là Vĩnh Long và An Giang), Định Tường và Hà Tiên.

Năm 1834, vua Minh Mạng gọi là Nam Kỳ

Tháng 12 năm 1845 ba nước An Nam (Việt Nam), Xiêm (Thái Lan) và Miên (Campuchia) đã ký một Hiệp ước, trong đó thừa nhận 6 tỉnh Nam Kỳ thuộc Việt Nam. Năm sau, triều Nguyễn và Xiêm lại ký một Hiệp ước có nhắc lại điều đó. Đây là Hiệp ước mà sau này Cao Miên

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

cũng tham gia. Như vậy muộn nhất là đến năm 1845 các nước láng giềng với Việt Nam, trong đó có cả Campuchia đã ký các văn bản pháp lý chính thức cơng nhận vùng đất Nam Bộ là của Việt Nam.

Năm 1859, Pháp đánh chiếm thành Gia Định, mở đầu cuộc xâm lược đất Việt Nam.

Năm 1862, ngày 13 tháng 4, triều đình Huế cắt 3 tỉnh miền Đơng Nam Kỳ (Biên Hòa, Gia Định và Định Tường) nhượng cho Pháp.

Năm 1867, Pháp đơn phương tuyên bố toàn bộ 6 tỉnh Nam Kỳ là lãnh địa của Pháp. Từ đó, Nam Kỳ được hưởng quy chế thuộc địa, với chính quyền thực dân, đứng đầu là một thống đốc người Pháp.

Hiệp ước Quý Mùi (25 tháng 8 năm 1883) nhập thêm tỉnh Bình Thuận vào Nam Kỳ (thuộc địa Pháp) coi như trừ số tiền bồi thường chiến phí cịn lại mà triều đình Huế chưa trả hết, nhưng năm sau, Hiệp ước Giáp Thân (6 tháng 6 năm 1884) lại trả tỉnh Bình Thuận về cho Trung Kỳ.

Năm 1887, Nam Kỳ trở thành một vùng lãnh thổ nằm trong Liên bang Đông Dương. Năm 1933, quần đảo Trường Sa được sáp nhập vào Nam Kỳ thuộc Pháp.

Tháng 3 năm 1945 Thống sứ Nhật Nashimura đổi Nam Kỳ thành Nam Bộ.

Năm 1945, thời Đế quốc Việt Nam với chính phủ Trần Trọng Kim tuyên bố sáp nhập Nam Kỳ lại thành một bộ phận của nước Việt Nam độc lập. Sau khi Cách mạng Tháng Tám nổ ra, Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ đã ra mắt ngày 25 tháng 8 năm 1945 do Trần Văn Giàu làm Chủ tịch.

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

Thực dân Pháp nổ súng ở Sài Gòn ngày 23 tháng 9 năm 1945 rồi dần dần đánh rộng ra chiếm lại Nam Bộ. Chính phủ Nam Kỳ quốc được thành lập theo sự chỉ đạo của Pháp hòng tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam với tên Nam Kỳ Quốc.

Năm 1946, trước khi sang Pháp tìm kiếm một giải pháp hòa bình, Hồ Chí Minh đã viết thư gửi đồng bào Nam Bộ, ông khẳng định: "Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sơng có thể cạn, núi có thể mịn, song chân lý đó khơng bao giờ thay đổi!"

Không đánh bại được Việt Minh, Pháp phải dùng "giải pháp Bảo Đại", công nhận nền độc lập và sự thống nhất của Việt Nam. Cuối cùng ngày 22 tháng 5 năm 1949, Quốc hội Pháp chính thức bỏ phiếu thơng qua việc trả Nam Bộ cho Việt Nam. Nam Bộ trở thành lãnh thổ nằm trong Quốc gia Việt Nam.

<b>1.3. Điều kiện tự nhiên </b>

<i><b>1.3.1. Vị trí địa lý, địa hình và phạm vi lãnh thổ </b></i>

Nam bộ gồm các tỉnh như Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu thuộc miền Đông Nam Bộ và các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, Cần Thơ, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau thuộc miền Tây Nam Bộ và thanh phố Hồ Chí Minh.

Địa hình trên tồn vùng Nam Bộ khá bằng phẳng, phía tây giáp Vịnh Thái Lan, phía đơng và Đơng Nam giáp biển Đơng, phía bắc và Tây Bắc giáp Campuchia và phía đơng bắc giáp với Duyên Hải Nam Trung Bộ và Tây Ngun (miền Trung, Trung Bộ).

Đơng Nam Bộ có độ cao từ 0 - 986m, có cấu tạo địa chất chủ yếu là đất đỏ bazan và đất phù sa cổ. Khu vực đồng bằng sông nước ở đây chiếm

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

diện tích khoảng 6.130.000 ha cùng trên 4.000 kênh rạch với tổng chiều dài lên đến 5.700 km.

Tây Nam Bộ có độ cao trung bình gần 2m, chủ yếu là miền đất của phù sa mới. Có một số núi thấp ở khu vực miền tây tỉnh An Giang, miền Tây tỉnh Kiên Giang và Campuchia.

Hai hệ thống sông lớn nhất trong vùng là sông Đồng Nai và sông Cửu Long. Ngược với dịng Sơng Đồng Nai có lượng phù sa thấp, dịng sơng Cửu Long có lượng nước đổ về trung bình khoảng 4.000 tỷ mét khối và hàng năm vận chuyển khoảng 100 triệu tấn phù sa, giữ vai trò rất quan trọng đối cho đồng bằng sơng Cửu Long có diện tích 39.734 km². Cho đến nay, đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn là một vùng đất thấp, độ cao trung bình so với mặt biển chỉ vào khoảng 5 mét. Một số khu vực như tứ giác Long Xun, Đồng Tháp Mười và phía tây sơng Hậu đang tồn tại ở mức thấp hơn mặt biển, chính vì vậy mà hàng năm có tới 1 triệu ha bị ngâp nước mặn trong thời gian từ 2 đến 4 tháng. Các nhà nghiên cứu lịch sử về vùng đất này cho rằng, cách đây hàng triệu năm nơi này vốn là một vịnh lớn nhưng đã được bồi đắp dần bởi phù sa của sông Cửu Long.

Khu vực đồi núi chủ yếu tập trung ở phía đơng nam Bộ như núi Bà Rá (Bình Phước) cao 736 m, núi Chứa Chan (Đồng Nai) cao 839 m, núi Bao Quan (Bà Rịa – Vũng Tàu) cao 529 m, núi Thị Vải (Bà Rịa – Vũng Tàu) cao 461 m, núi Bà Đen (Tây Ninh) cao 986 m - nóc nhà của Miền Đơng và Nam Bộ... Khu vực phía tây có dãy Thất Sơn (An Giang) với núi Cấm cao 716 m - nóc nhà của Miền Tây và dãy Hàm Ninh (Kiên Giang).

<i><b>1.3.2. Khí hậu </b></i>

Nam Bộ nằm trong vùng đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa và cận xích đạo, nền nhiệt ẩm phong phú, ánh nắng dồi dào, thời gian

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

bức xạ dài, nhiệt độ và tổng tích ơn cao. Biên độ nhiệt ngày đêm giữa các tháng trong năm thấp và ơn hịa. Độ ẩm trung bình hàng năm khoảng từ 80 - 82% . Khí hậu hình thành trên hai mùa chủ yếu quanh năm là mùa khô và mùa mưa. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4. Về mùa vụ sản xuất có khác với khu vực Đồng bằng Bắc Bộ. Lượng mưa hàng năm dao động từ 966 – 1325 mm và góp trên 70 - 82% tổng lượng mưa trong suốt cả năm. Mưa phân bố không đều, giảm dần từ khu vực giáp ranh từ Thành phố Hồ Chí Minh xuống khu vực phía tây và Tây Nam. Ở khu vực Đơng Nam có lượng mưa thấp nhất. Khi xuất hiện cường độ mưa lớn xảy ra trên một số khu vực trong vùng, thường gây hiện tượng xói mòn ở những vùng gò cao. Khi mưa kết hợp với cường triều và lũ sẽ gây ngập úng, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của dân cư trong vùng. Vì hiện tượng biến đổi khí hậu chung, vùng Đồng bằng Nam Bộ trong thời gian tới có thể bị tác động rất lớn do các nguồn nước ở các sông bị cạn kiệt, đặc biệt là sông Mê Kông. Theo các nhà khoa học thì tới năm 2070, sự thay đổi thời tiết trong vùng sẽ tác động đến nguồn nước của đồng bằng sông Cửu Long, chủ yếu thông qua các dịng sơng vừa và nhỏ, các dịng chảy bị giảm thiểu đi.

<b>1.4. Dân số và sự phân bố dân cư </b>

Trong thời kỳ Phù Nam cường thịnh có nhiều nước nhỏ thuần phục với tư cách là những thuộc quốc hoặc chư hầu, trong đó có Chân Lạp.

Thời kỳ đó Chân Lạp gọi phần lãnh thổ Phù Nam trên vùng đất Nam Bộ là “Thuỷ Chân Lạp”. Đây là một vùng đồng bằng mới bồi lấp cịn ngập nước và sình lầy, dân cư thưa thớt. Theo thời gian, cộng đồng dân cư ở đây ngày một nhiều. Ngoài những người bản địa đã có mặt từ trước là những lưu dân từ nơi khác đến gồm có người Khmer, người Việt, Hoa, Chăm…

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

Người Khmer: Sau khi Chân Lạp chiếm Phù Nam cho đến thế kỷ XV, người Khmer từ nhiều nơi theo dòng Cửu Long về vùng đất Nam Bộ để tránh hoạ diệt tộc của vua chúa cầm quyền lúc đó và sự xâm lược, chiến tranh tàn phá của Xiêm La (Thái Lan ngày nay). Người Khmer phần lớn sinh sống ở trên vùng đất cao. Theo thống kê của một học giả người Pháp, đến giữa thế kỷ XIX, dân số Khmer ở Nam Bộ có 146.718 người.

Hiện nay đồng bào Khmer sống tập trung ở Đồng bằng sông Cửu Long, có khoảng 1,3 triệu người, nhiều nhất ở tỉnh Sóc Trăng (khoảng 400.000 người), tỉnh Trà Vinh 320.000 người, Kiên Giang 204.000 người, An Giang 85.000 người, Bạc Liêu trên 60.000 người, Thành phố Cần Thơ 20.000 người, Hậu Giang 22.000 người, Cà Mau 24.000 người, Vĩnh Long 21.000 người, các tỉnh cịn lại có bà con Khmer sinh sống.

Người Việt: Ngoài những cư dân đã có mặt trước đó, từ cuối thế kỷ XVI, nhất là thế kỷ XVII, XVIII và đầu thế kỷ XIX, người Việt ở miền Trung, miền Bắc đã di chuyển vào vùng Đồng Nai, Gia Định khai phá đất hoang, sinh cơ lập nghiệp và người Việt đã nhanh chóng trở thành bộ phận cư dân chủ đạo trong công cuộc khai khẩn vùng đất Nam Bộ. Hiện nay cư dân Việt chiếm tỷ lệ lớn nhất (93%) dân số toàn vùng, gần 28 triệu người, phân bố đều khắp tại các tỉnh, thành phố ở Nam Bộ.

Người Chăm: ở Đồng bằng sơng Cửu Long khơng nhiều, có khoảng 14.000 người. Năm 1834 thủ trấn phủ An Giang là Lê Đại Cương xét thấy con đường bộ từ Quang Hoá trở lên giáp sông lớn, phần nhiều là đất bỏ hoang, có thể trồng cây được, đã tâu lên vua Minh Mạng xin cho những người dân Chăm xiêu giạt được lưu lại tại đó mà cày cấy.

Người Hoa: Vào nửa sau thế kỷ XVII có những đợt di dân lớn từ miền Nam Trung Hoa đến Nam Bộ do những biến động sau khi Mãn

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

Thanh đánh bại nhà Minh. Hiện tại số người Hoa chủ yếu sống tập trung ở Thành phố Hồ Chí Minh (khoảng 400.000 người) và các tỉnh ĐBSCL. Ngồi 4 tộc người Việt, Khmer, Chăm, Hoa cịn có các tộc người Tày, Ngái, Mnơng, Xtiêng, Mường nhưng số lượng khơng nhiều.

Trong q trình phát triển, cộng đồng dân cư ở Nam Bộ đã gắn bó đoàn kết với nhau cùng khai khẩn đất đai, lao động sản xuất, chế ngự thiên tai, thú dữ để sinh tồn. Đến khi triều đình nhà Nguyễn thiết lập bộ máy hành chính quản lí vùng đất Nam Bộ thì tồn bộ cư dân ở đây sống trong luật pháp triều đình nhà Nguyễn. Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, đánh chiếm Nam Bộ, đồng bào Nam Bộ đã đứng lên chiến đấu chống quân xâm lược. Từ ngày có Đảng lãnh đạo, người dân Nam Bộ một lòng theo Đảng, đoàn kết bên nhau vượt lên mọi gian khổ, hy sinh, cùng nhân dân cả nước tiến hành hai cuộc kháng chiến trường kỳ đánh bại 2 đế quốc là Pháp và Mỹ và giành lại hoà bình độc lập thống nhất cho Tổ quốc cùng nhau xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc.

<b>1.5. Văn hoá vật chất </b>

<i><b>1.5.1. Nhà ở </b></i>

Người dân Nam Bộ đã tận dụng các sản vật tự nhiên làm vật liệu xây dựng cho ngôi nhà của mình. Ở Nam Bộ có ít bão tố, nhiều kênh rạch, con người phải dồn sự chăm chút cho ghe xuồng và vườn tược nên nhà của khá tạm bợ. Một ít cây làm cột, làm keo, một ít lá dứa vừa lợp mái, vừa thưng vách là đã có một ngơi nhà ấm cúng. Nhà ở của người Nam Bộ có ba loại chính: nhà đất cắt dọc theo ven lộ, nhà sàn cắt dọc theo kênh rạch, và nhà nổi trên sông nước.

<i><b>1.5.2. Trang phục </b></i>

Người nông dân Nam Bộ xưa thường mặc áo bà ba đen đi đồng bởi nó vừa sạch, vừa dễ giặt giũ. Bên cạnh đó, chiếc áo bà ba được xẻ hai

</div>

×