Tải bản đầy đủ (.doc) (10 trang)

Bài thu hoạch môn Triết học Lý luận và vai trò của lý luận Đối với thực tiễn... Ý nghĩa phương pháp luận...

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (177.48 KB, 10 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<i><b>Tên bài thu hoạch: Lý luận và vai trò của lý luận đối với thực tiễn? Ý nghĩa</b></i>

<b>phương pháp luận đối với việc khắc phục bệnh kinh nghiệm của đội ngũ cán bộlãnh đạo, quản lý ở nước ta? Liên hệ bản thân.</b>

<i>(Tài liệu mang tính tham khảo, học viên cần bổ sung kiến thức học tập)</i>

<b>BÀI LÀMI. MỞ ĐẦU </b>

Trong Diễn văn Khai mạc lớp học lý luận khóa I của trường Nguyễn Ái Quốc (nay là Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) ngày 7-9-1957, Hồ Chí Minh quan niệm “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trinh lịch sử”. Còn “lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin là sự tổng kết kinh nghiệm của phong trào công nhân từ trước đến nay của tất cả các nước”. Như vậy, Hồ Chí Minh quan niệm lý luận đã bao hàm sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Bởi lẽ, lý luận phải được tổng kểt từ kinh nghiệm thực tiễn. Khơng có kinh nghiệm thực tiễn, rõ ràng là khơng thể thể có lý luận. Nhưng kinh nghiệm thực tiễn tự thân chúng chưa phải là lý luận. Những kinh nghiệm thực tiễn này phải được tổng kết thành những kết luận mang tính khái qt cao có vai trò chỉ đường, dẫn dắt cho thực tiễn.

Lý luận được hình thành trên cơ sở khái quát kinh nghiệm thực tiễn, nhưng khơng phải cứ có kinh nghiệm thực tiễn là có được lý luận. Lý luận được hình thành thông qua hoạt động tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, khái quát lý luận của các nhà lý luận. Vì vậy, lý luận khơng thể ra đời một cách tự phát và ln phải được bổ sung, hồn thiện, phát triển bằng tổng kết những kinh nghiệm thực tiễn mới, phong phú bởi các nhà lý luận. Do tính độc lập tưong đối của mình, lý luận có thể phản ánh vượt trước các dữ liệu thực tiễn. Nhưng xét đến cùng, lý luận không thể không dựa trên cơ sở của kinh nghiệm thực tiễn. Xuất phát từ thực tiễn đó, việc nghiên cứu

<i><b>“Lý luận và vai trò của lý luận đối với thực tiễn? Ý nghĩa phương pháp luận</b></i>

<b>đối với việc khắc phục bệnh kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý</b>

<i><b>ở nước ta” là hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay.</b></i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

<b>II. NỘI DUNG1. Cơ sở lý luận</b>

<i><b>1.1. Khái niệm, đặc trưng lý luận</b></i>

Lý luận khoa học là hệ thống những tri thức được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của các sự vật, hiện tượng được biểu đạt bằng hệ thống nguyên lý, quy luật, phạm trù.

Những đặc trưng của lý luận:

<i>Thứ nhất, lý luận có tính hệ thống, tính khái qt cao, tính lơgíc chặt chẽ. Bởi</i>

lẽ, bản thân lý luận là hệ thống tri thức được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn.

<i>Thứ hai, cơ sở của lý luận là những tri thức kinh nghiệm thực tiễn. Khơng có</i>

tri thức kinh nghiệm thực tiễn thì khơng có cơ sở để khái quát thành lý luận.

<i>Thứ ba, lý luận có thể phản ánh được bản chất sự vật, hiện tượng. Bởi vì, lý</i>

luận phản ánh được mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của sự vật, hiện tượng.

<i><b>1.2. Khái niệm, đặt trưng và hình thức thực tiễn</b></i>

Thực tiễn là tồn bộ những hoạt động vật chất - cảm tính, có tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội.

Những đặc trưng của thực tiễn:

<i>Thứ nhất, thực tiễn khơng phải là tồn bộ hoạt động của con người mà chỉ là</i>

những hoạt động vật chất - cảm tính. Đó là những hoạt động mà con người phải sử dụng lực lượng vật chất, công cụ vật chất tác động vào các đối tượng vật chất để làm biến đổi chúng. VD: hoạt động đắp đê, cày ruộng, làm thủy lợi,v.v..

<i>Thứ hai, thực tiễn là những hoạt động mang tính lịch sử - xã hội của con người.</i>

Nghĩa là, thực tiễn là hoạt động chỉ diễn ra trong xã hội, với sự tham gia của đông đảo người trong xã hội.

<i>Thứ ba, thực tiễn là hoạt động có tính mục đích nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội</i>

phục vụ nhân loại tiến bộ. Như vậy, nói tới thực tiễn là nói tới hoạt động có tính tự giác cao của con người, khác với hoạt động bản năng thụ động của động vật.

Thực tiễn tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, ở những lĩnh vực khác nhau, nhưng gồm những hình thức cơ bản: hoạt động sản xuất vật chất; hoạt động chính trị -xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học. Trong đó:

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

<i>Hoạt động sản xuất vật chất là hình thức thực tiễn có sớm nhất, cơ bản nhất,</i>

quan trọng nhất. Bởi lẽ, ngay từ khi con người mới xuất hiện trên trái đất với tư cách là người, con người đã phải tiến hành sản xuất vật chất dù là giản đơn để đáp ứng nhu cầu tồn tại. Sản xuất vật chất biểu thị mối quan hệ của con người với tự nhiên và là phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội lồi người. Khơng có sản xuất vật chất, con người và xã hội lồi người khơng thể tồn tại và phát triển. Sản xuất vật chất còn là cơ sở cho sự tồn tại của các hình thức thực tiễn khác cũng như tất cả các hoạt động sống khác của con người.

<i>Hoạt động chính trị-xã hội là hình thức thực tiễn thể hiện tính tự giác cao của</i>

con người nhằm biến đổi, cải tạo xã hội, phát triển các thiết chế xã hội, các quan hệ xã hội,v.v.. Hoạt động chính trị - xã hội bao gồm các hoạt động, như: đấu tranh giai cấp; đấu tranh giải phóng dân tộc; đấu tranh cho hịa bình, dân chủ, tiến bộ xã hội; đấu tranh cải tạo các quan hệ chính trị-xã hội, nhằm tạo ra mơi trường xã hội dân chủ, lành mạnh, thuận lợi cho con người và xã hội phát triển. Thiếu hình thức thực tiễn này, con người và xã hội loài người cũng không thể phát triển bỉnh thường.

<i>Hoạt động thực nghiệm khoa học là hình thức đặc biệt của thực tiễn. Bởi lẽ,</i>

trong hoạt động thực nghiệm khoa học, con người chủ động tạo ra những điều kiện khơng có sẵn trong tự nhiên, xã hội để tiến hành thực nghiệm khoa học theo mục đích mà mình đã đề ra. Trên cơ sở đó, vận dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất vật chất, vào cải tạo chính xã hội, cải tạo các quan hệ chính trị-xã hội. Ngày nay, khi cách mạng khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, “tri thức xã hội phổ biến [wissen, knowledge] đã chuyển hóa đến mức độ nào thành lực lượng sản xuẩt trực tiếp” thì hình thức thực tiễn này ngày càng đóng vai trị quan trọng.

Ba hình thức thực tiễn này có quan hệ biện chứng, tác động, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau.

<b>2. Vai trò của lý luận đối với thực tiễn </b>

Thực tiễn không được soỉ đường, dẫn dắt, chỉ đạo bởi lý luận khoa học là thực tiễn mù quáng

Thực tiễn đúng đắn luôn phải được chỉ đạo, soị đường, dẫn dắt bởi một lý luận khoa học, nếu khơng thực tiễn đó sẽ là thực tiễn mù qng, mị mẫm, mất phương hướng, khơng có tính hướng đích. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở: “Thực tiễn khơng có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng”. Bởi lẽ, lý luận khoa học có vai trị tọ lớn đối với thực tiễn. Điều này thể hiện ở những điểm sau:

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<i>Thứ nhất, lý luận khoa học đóng vai trị soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn.</i>

Nhờ những đặc trưng ưu trội so với tri thức kinh nghiệm mà lý luận khoa học có vai trị hết sức to lớn đối với hoạt động thực tiễn của con người. Lý luận khoa học, thông qua thực tiễn của con người góp phần làm biến đổi thế giới khách quan và biến đổi chính thực tiễn. Lý luận khoa học vạch ra phương hướng, phương pháp cho hoạt động thực tiễn, nhằm biến đổi hiện thực khách quan theo hướng tiến bộ, có lợi cho con người. Nêu thực tiễn khơng được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi lý luận khoa học thì thực tiễn đó sẽ rơi vào mị mẫm, vịng vo, mất thời gian, tốn cơng sức, tiền của, khơng hiệu quả.

<i>Thứ hai, lý luận khoa học góp phân giáo dục, thuyết phục, động viên, tập hợp</i>

quần chúng để tạo thành phong trào thực tiễn rộng lớn của đơng đảo quần chúng. Lý luận khoa học góp phần định hướng cho quần chúng trong cuộc sống và trong thực tiễn. Do vậy, khi lý luận khoa học thâm nhập được vào đông đảo quần chúng sẽ tạo thành sức mạnh vật chất vĩ đại. Trên cơ sở đó tạo thành khối thống nhất giữa lý luận và quần chúng để cải tạo tự nhiên và xã hội phục vụ con người.

<i>Thứ ba, lý luận, nếu phản ánh đúng quy luật vận động, phát triển của sự vật,</i>

của thực tiễn sẽ góp phần dự báo, định hướng đúng đắn cho thực tiễn; giúp cho thực tiễn bớt mò mẫm, đỡ vòng vo; chủ động, tự giác hơn.

<i>Thứ tư, lý luận khoa học cung cấp cho con người những tri thức khoa học về tự</i>

nhiên, xã hội và về bản thân con người. Trên cơ sở những tri thức khoa học đó, con người có thể thơng qua hoạt động thực tiễn làm biến đổi tự nhiên, xã hội và bản thân phục vụ cho mục đích của mình.

<i>Thứ năm, lý ln có tính độc lập tương đối so với thực tiễn, do vậy, nó có thể</i>

thơng qua thực tiễn tác động trở lại thực tiễn, góp phần làm biến đổi thực tiễn. Lý luận có vai trị tác động tích cực đối với thực tiễn, một khỉ nó phản ánh đứng đắn hiện thực khách quan, thâm nhập được vào đông đảo quần chúng nhân dân và được con người vận dụng một cách sáng tạo, linh hoạt, phù hợp điều kiện thực tiễn, lịch sử - cụ thể. Nếu lý luận sai lầm, ảo tưởng, chủ quan, duy ý chí, giáo điều, kinh nghiệm,v.v.. sẽ tác động tiêu cực trở lại đối với thực tiễn.

Mức độ, hiệu quả tác động của lý luận đối với thực tiễn phụ thuộc vào nhiều

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

yếu tố, nhưng trước hết phụ thuộc vào tính đúng đắn, khoa học của lý luận; mức độ thâm nhập của lý luận vào quảng đại quần chúng nhân dân; vào sự vận dụng sáng tạo, đúng đắn lý luận hay không bởi đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý với tư cách là chủ thể của các hình thửc thực tiễn.

Ý nghĩa phương pháp luận được rút ra từ những phân tích trên là phải thấy được vai trò to lớn của lý luận khoa học. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở cán bộ, đảng viên: nếu khơng có lý luận thì dễ mắc phải bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa, khi ấy họ “chỉ bo bo giữ lấy những kinh nghiệm lẻ tẻ... cứ cắm đầu nhắm mắt mà làm, khơng hiểu rố tồn cuộc của cách mạng”. Khơng chỉ vậy, lý luận yếu kém, hoặc khơng có lý luận nhiều khi còn dẫn người cán bộ tới “những khuynh hướng sai lầm hoặc “tả” hoặc “hữu”... không đảm bảo được việc thi hành đúng chính sách của Đảng yà của Chính phủ”. Lý luận khoa học cách mạng, nhất là lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin có vai trị hết sức to lớn trong việc trang bị cho ngứời cán bộ quan điểm và phương pháp để nhận thức được bản chất sự vật; giúp cán bộ nâng cao lập trường, quan điểm của giai cấp vơ sản, có niềm tin đúng đắn vào thắng lợi của cách mạng, vào tương lai của chủ nghĩa xã hội. Trên tinh thần học tập tư tưởng Hồ Chí Minh mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý không ngừng học tập, nâng cao trình độ lý luận cho bản thân. Phải thấm nhuần lời dạy của V.LLênin: “Học, học nữa, học mãi”. Tuy nhiên, khi học tập lý luận không được tuyệt đối hóa lý luận; học tập lý luận thì phải liên hệ với thực tiễn đất nước và thời đại. Phải thấm nhuần chỉ dẫn của Chủ tịch HỒ Chí Minh: “Lý luận rất cần thiết nhưng nếu cách học tập khơng đúng thì sẽ khơng có kết quả. Do đó, trong lúc học tập lý luận, cần nhấn mạnh: lý luận phải liên hệ với thực tể”. Đồng thời phải ngăn ngừa, khắc phục bệnh “lười học tập lý luận” mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng đã đề ra.

<b>3. Ý nghĩa phương pháp luận đối với việc ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinhnghiệm của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý</b>

Kinh nghiệm thực tiễn đóng vai trị hết sức to lớn trong nhận thức cũng như trong thực tiễn của con người nói chung, của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng. Nhưng nếu trong hoạt động nhận thức cũng như thực tiễn tuyệt đối hóa kinh nghiệm, coi thường, hạ thấp lý luận, không chịu học tập lý luận thì sẽ mắc bệnh kinh

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

nghiệm. Biểu hiện của căn bệnh này rất đa dạng, như coi thường lý luận, coi thường học tập lý luận; cho kinh nghiệm là yếu tố duy nhất quyết định mọi thành công trong nhận thức và hoạt động thực tiễn; khơng đánh giá đúng vai trị của đội ngũ trí thức,v.v..

Bệnh kinh nghiệm, về bản chất là khuynh hướng tư tưởng và hành động tuyệt đối hóa kinh nghiệm thực tiễn cá biệt, cụ thể; biến chúng thành những kỉnh nghiệm phổ biến nhằm áp dụng những kinh nghiệm cá biệt này cho mọi trường hợp, mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh, hạ thấp, coi thưởng lý luận khoa học. Người mắc bệnh kinh nghiệm thường nhân danh đề cao thực tiễn để hạ thấp lý luận. Trên thực tế,“thực tiễn” mà họ đề cao là thực tiễn cục bộ, vụn vặt, chưa chỉnh thể, chưa toàn vẹn, chưa mang tính phổ biến, về thực chất, những người mắc bệnh kỉnh nghiệm khơng chỉ hạ thấp lý luận mà cịn hạ thấp cả thực tiễn.

Nguyên nhân của bệnh kinh nghiệm ở Việt Nam có nhiều, ví dụ như: ảnh hưởng tiêu cực của nền sản xuất nhỏ, lúa nước, theo mùa, theo chu kỳ; ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng gia trưởng, phong kiến; ảnh hưởng tiêu cực của những kinh nghiệm chiến tranh du kích quá lâu dài,v.v.. Nhưng nguyên nhân cơ bản, trực tiếp nhất là vi phạm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, không hiểu quan hệ biện chứng giữa lý luận với thực tiễn của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Để ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thì phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, như: thực hiện thành cơng cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước để khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của nền sản xuất nhỏ; khắc phục tư tưởng gia trưởng, phong kiến như: tuyệt đối hóa kinh nghiệm của người cao tuổi; tăng cường học tập nâng cao trình độ lý luận, phải quán triệt sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, hiểu và vận dụng đúng quan hệ biện chứng giữa lý luận với thực tiễn trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý. Đặc biệt, cùng với tổng kết thực tiễn, việc học tập, nâng cao trình độ lý luận cho cán bộ lãnh đạo, quản lý là rất quan trọng. Không phải ngẫu nhiên mà Đảng ta luôn nâng cao trình độ lý luận của mình cũng như của cán bộ, đảng viên trong quá trình đổi mới. Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Đảng mà khơng có lý luận cách mạng khoa học như người khơng có trí khơn, tàu khơng có

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

bàn chỉ nam. Thực chất đây là sự quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Bởi lẽ, khơng có trình độ lý luận thì khơng thể tổng kết kinh nghiệm một cách có lý luận và không thể định hướng cho công cuộc đội mới. Trong giai đoạn cam go của phong trào cách mạng, ví dụ như ngay sau sự sụp đổ của mơ hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xơ và Đơng Ầu, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết số 01 (28-3-1992) nêu rõ sự cần thiết phải đẩy mạnh việc học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong tất cả các văn kiện Đại hội, Đảng ta luôn khẳng định, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng. Đại hội XI đề ra nhiệm vụ: “Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả của cơng tác tư tưởng, tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Đại hội XII đặt ra nhiệm vụ đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính ưị, học tập nghị quyết của Đảng. Thực hiện nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của

Đảng chỉ rõ: “Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước” là biểu hiện của suy thối về tư tưởng chính trị. Đại hội XIII của Đảng đề ra yêu cầu: “Tiếp tục đổi mới việc học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng bâo đảm thiết thực, hiệu quả. Đổi mới căn bản chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo phương châm khoa học, thực tiễn, sáng tạo và hiện đại; đưa việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược đi vào nền nếp, nhất quán từ trung ương đến cơ sở, phù hợp với từng đối tượng, chú trọng chất lượng, hiệu quả”

<b>4. Liên hệ bản thân, đơn vị công tác</b>

Qua học tập và nghiên cứu chuyên đề về lý luận và vai trò của lý luận, bản thân nhận thấy rằng đơn vị mình cịn mắc phải một số biểu hiện xem nhẹ lý luận mắc phải căn bệnh kinh nghiệm được thể hiện:

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

<i>Thứ nhất, một số cán bộ thường thỏa mãn với vốn kinh nghiệm bản thân, họ</i>

cho rằng bằng kinh nghiệm có thể giải quyết được mọi vấn đề và họ luôn hạ thấp lý luận, ngại học lý luận, không chịu nâng cao trình độ lý luận, coi thường khoa học kỹ thuật, coi thường giới tri thức, thiếu nhìn xa trơng rộng, dễ bảo thủ trì trệ. Do khơng đánh giá đúng vai trò của tri thức lý luận, đội ngũ trí thức, cán bộ lý luận chỉ chú trọng đến những giá trị của những kinh nghiệm cá biệt, cụ thể. Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến coi thường việc học tập lý luận, không giải quyết đúng đắn và thỏa đáng mối quan hệ giữa lý luận với chính trị, giữa tính đảng với tính khoa học trong lý luận làm cho lý luận trở nên yếu kém và lạc hậu.

<i>Thứ hai, một số cán bộ mắc bệnh kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn</i>

thường rơi vào tình trạng mị mẫm, tùy tiện đối với việc thực thi các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, điều đó làm ảnh hưởng khơng nhỏ đến tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

<i>Thứ ba, bệnh kinh nghiệm của cán bộ còn thể hiện cả ở trong lý luận cũng như</i>

trong hoạt động thực tiễn. Điều này, thể hiện rõ nét ở chỗ nhiều cán bộ khi học tập, nghiên cứu lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng… đã tiếp thu, lĩnh hội và hiểu chúng qua lăng kính chủ quan, kinh nghiệm của cá nhân mình, thậm chí cịn kinh nghiệm hóa những ngun lý, lý luận. Vì vậy, ở khơng ít cán bộ cịn có thái độ đơn giản, qua loa, đại khái, nắm lý luận còn rời rạc, chắp vá. Nguyên nhân mắc bệnh kinh nghiệm của cán bộ là do tầm nhìn hạn chế bởi kinh nghiệm cũ, nên trong hoạt động lãnh đạo thiếu dự kiến, chỉ thấy việc trước mắt mà không thấy việc lâu dài, chỉ thấy việc cục bộ, bộ phận mà khơng thấy việc tổng thể, chỉ nhìn thấy cái riêng mà khơng thấy cái chung, chỉ nhìn thấy từng sự kiện riêng lẻ chứ khơng nhìn thấy mối liên hệ giữa các sự kiện, chấp hành, chỉ thị, nghị quyết của cấp trên thiếu chủ động, máy móc. Trước những sự việc mới nảy sinh trong thực tiễn, cán bộ thường lúng túng, thiếu phân tích, chọn lọc để vận dụng phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể của địa phương.

Để khắc phục bệnh kinh nghiệm đối với cán bộ, xin đề xuất một số giải pháp cơ bản sau:

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

<i>Một là, nâng cao trình độ nhận thức lý luận cho cán bộ, cụ thể là nâng cao</i>

phương pháp tư duy, từ tư duy kinh nghiệm lên tư duy khoa học, trước hết trang bị lý luận khoa học chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là tư duy biện chứng, vận dụng sáng tạo những hiểu biết ấy vào việc giải quyết các nhiệm vụ do thực tiễn đặt ra. Công việc này cần được xác định là việc lâu dài, từng bước, thường xuyên và liên tục, phải thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp mới có thể đạt được mục đích, u cầu đề ra.

<i>Hai là, đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, chun mơn</i>

nghiệp vụ cho cán bộ. Việc đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, chun mơn nghiệp vụ cho cán bộ, cần quan tâm tới những vấn đề như: Đổi mới nội dung chương trình; đổi mới phương pháp và đầu tư cơ sở vật chất đảm bảo cho quá trình đào tạo cán bộ chủ chốt; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy lý luận chính trị.

<i>Ba là, thực hiện đồng bộ chính sách cán bộ, dân chủ hóa trong Đảng và trong</i>

đời sống xã hội ở cơ sở.

<i>Bốn là, phát huy vai trị chủ động, tích cực, sáng tạo tự học, tự rèn luyện của</i>

cán bộ. Trước hết, cần nâng cao nhận thức tính tất yếu và vai trò của tự học, tự rèn luyện của họ, đồng thời xây dựng kế hoạch và nghiêm túc thực hiện kế hoạch tự học, tự rèn luyện kiến thức lý luận chính trị.

<i>Năm là, nâng cao năng lực tổng kết thực tiễn cho đội ngũ cán bộ thông qua</i>

định hướng đúng trong tổng kết thực tiễn nhằm đảm bảo tính khách quan, khoa học. Điều này địi hỏi mỗi cấp ủy cơ sở Đảng phải tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của mình, đồng thời phải hình thành thái độ khoa khọc đối với cơng tác tổng kết thực tiễn.

<b>III. KẾT LUẬN</b>

Như vậy có thể nói muốn khắc phục bệnh kinh nghiệm ở cán bộ lãnh đạo, quản lý là phải tuân thủ nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong nhận thức và hành động. Để làm tốt điều đó thì cần phải ra sức học tập, nâng cao trình độ lý luận cũng như chun mơn nghiệp vụ, phải có phương pháp học tập đúng đắn, học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn. Cụ thể với các yêu cầu cơ bản đó là: Phải

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

nhận thức đúng vai trò của lý luận, nắm bắt hệ thống lý luận khoa học, đặc biệt là tinh thần và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm chắc lý luận của các khoa học cơ bản và khoa học chuyên ngành; Phải vận dụng lý luận vào thực tiễn một cách sáng tạo; Khi thực tiễn thay đổi thì lý luận cũng phải thay đổi theo; Phải tích cực tu dưỡng, rèn luyện để có đủ các điều kiện về phẩm chất và năng lực để thống nhất giữa lý luận và thực tiễn; Phải có quan điểm thực tiễn đúng đắn, tích cực hoạt động thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn, tích cực sơ, tổng kết thực tiễn để rút kinh nghiệm, phát triển lý luận./.

<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO</b>

1. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình Cao cấp lý luận chính trị: Triết học Mác - Lênin, Nxb.Lý luận chính trị, H.2021.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2021.

</div>

×