Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (350.72 KB, 11 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
<b>KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN---oOo---</b>
<i><b> Giảng viên hướng dẫn : Đào Thị Hữu</b></i>
<b> </b><i><b>Sinh viên thực hiện</b></i> <b>: Đỗ Quốc Khánh </b>
<i><b> Mã sinh viên</b></i> <b>: 1451020122</b>
<i><b> Lớp</b></i> <b>:CNTT 14-05</b>
<b>HÀ NỘI – 2021 </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2"><b>3.Tồn tại xã hội và tính độc lập tương đối của ý thức xã hội...4</b>
<b>II.Thực trạng cộng đồng người Việt Nam...5</b>
<b>1.Đánh giá chung...5</b>
<b>2.Điểm mạnh của cộng đồng người Việt hiện nay...5</b>
<b>III. Giải pháp nhằm phát triển ý thức cộng đồng người Việt...7</b>
<b>1.Nâng cao nhận thức cộng đồng...7</b>
<b>2.Khắc phục những hạn chế tồn đọng...7</b>
<b>IV. Liên hệ bản thân...8</b>
<b>C.Tổng kết...9</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3"><b>Chủ nghĩa duy vật lịch sử chỉ rõ rằng: “tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, ý</b>
<b>thức xã hội là phản ánh của tồn tại xã hội”. Phụ thuộc vào tồn tại xã hội, sự quyết định</b>
của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội thể hiện ở việc tồn tại xã hội là nguồn gốc, cơ sởkhách quan của sự hình thành, ra đời của ý thức xã hội (nghệ thuật, tư tưởng, chính trị,pháp quyền). Tồn tại xã hội quyết định nội dung, tính chất, đặc điểm của ý thức xã hộinói chung và của các hình thái xã hội nói riêng. Việc tồn tại xã hội thay đổi cũng kéo theosự thay đổi của ý thức xã hội. Mức độ, nhịp điệu của các bộ phần trong ý thức xã hội diễnra khác nhau. Có những bộ phận biến đổi nhanh hơn (bộ máy chính trị, pháp luật) cũngcó những bộ phận thay đổi chậm hơn (tín ngưỡng, tơn giáo, nghê thuật).
Tuy nhiên, ý thức xã hội cũng có tính độc lập tương đối, không bị quyết định bởitồn tại xã hội như việc ý thức xã hội thường lạc hậu so với tồn tại xã hội nhưng cũng cóthể vượt trước tồn tại xã hội. Cùng với đó thì ý thức xã hội cịn có tính kế thừa trong sựphát triển của mình. Trong quá trình phát triển của ý thức xã hội thì các hình thái xã hộisẽ tác động qua lại, ảnh hưởng và chi phối lẫn nhau. Cuối cùng là ý thức xã hội có thể tácđộng ngược trở lại đến tồn tại xã hội.
Trong bối cảnh tồn cầu hóa, hội nhập quốc tế, là một cộng đồng theo phươngthức cố kết cộng đồng đang trên đà hội nhập và phát triển, Việt Nam đã nhận thức rõđược nhiệm vụ của mình, phát huy tốt những điểm mạnh, khơi dậy những động lực xãhội, giải quyết tối ưu giữa cái cá nhân, cái cộng đồng với toàn dân tộc cũng như là giữadân tộc và quốc tế. Cùng với đó là hàng loạt sự phát triển vượt bậc về kinh tế, chính trị,văn hóa, để sánh vai với các nước khác trên thế giới nhưng vẫn đảm bảo cương lĩnh hịanhập chứ khơng hịa tan, giữ lại được văn hóa, bản sắc dân tộc. Tuy nhiên, song song vớiđó vẫn cịn nhiều vấn nạn, hạn chế cịn tồn đọng, mặt trái của ý thức xã hội theo hướngcố kết cộng đồng, …
<b>Do đó em đã chọn đề tài: “Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội và vận</b>
<b>dụng vào phát triển ý thức cộng đồng của người Việt hiện nay.” làm đề tài nghiên cứu</b>
cho bài thi kết thúc học phần. Dưới đây là bải tiểu luận theo góc nhìn chủ quan của bảnthân em.
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">Tồn tại xã hội được tạo thành bởi những yếu tố cơ bản như phương thức sản xuấtvật chất, điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh địa lý, dân số hay các quan hệ giữa người với tựnhiên, vật chất giữa con người với nhau. Ngoài những yếu tố cơ bản thì các yếu tố khácnhư quan hệ quốc tế, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc, quan hệ gia đình cũng là nhữngyếu tố đóng vai trò quan trọng trong tồn tại xã hội. Các yếu tố này tồn tại trong các mốiquan hệ thống nhất biện chứng, tác động lẫn nhau tạo thành điều kiện sinh tồn và pháttriển xã hội.
Tồn tại xã hội quyết định nội dung, bản chất, phát triển của ý thức xã hội. Khi tồntại xã hội thay đổi thì ý thức xã hội cũng sẽ thay đổi theo với những mức độ và nhịp điệukhác nhau. Ý thức xã hội sẽ mang tính giai cấp khi tồn tại xã hội còn phân chia giai cấp.
Phương thức sản xuấtĐiều kiện tự nhiên
Địa lý
Các mối quan hệ của con ngườiQuan hệ giai cấpCác hình thái xã hội
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5"><b>2. Ý thức xã hội.</b>
Theo chủ nghĩa duy vật lịch sử, ý thức xã hội là các mặt tinh thần của đời sống xã hội(quan điểm, nghệ thuật,..), là bộ phận hợp thành từ văn hóa tinh thần của xã hội. Văn hóatinh thần của xã hội mang nặng những dấu ấn đặc trưng của hình thái kinh tế - xã hội,của các giai cấp đã tạo ra nó. Ý thức xã hội quyết định bởi tồn tại xã hội và phản ánh tồntại xã hội đó trong những giai đoạn lịch sử nhất định.
Ý thức xã hội có thể được hiểu theo nhiều nghĩa tùy thuộc vào góc độ phân tích.Theo nội dung và lĩnh vực phản ánh xã hội, ý thức xã hội được cấu thành bởi các hìnhthái xã hội
Theo góc nhìn phản ánh thì ý thức xã hội được chia thành ý thức thông thường và ý thức lý luận:
- Ý thức thông thường: là những tri thức, những quan niệm của con người được hình thành một cách trực tiếp trong các hoạt động thường ngày nhưng chưa được hệ thống, tổng hợp hay khái quát.
- Ý thức lý luận: là những tư tưởng, những quan điểm được tổng hợp, hệ thống và khái quát thành các học thuyết xã hội dưới dạng các khái niệm, các phạm trù và các quy luật.
Ý thức xã hội
giáoNghệ
quyền
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">Ý thức xã hội thông thường phản ánh sinh động, trực tiếp các mặt khác nhau trong cuộcsống hàng ngày của con người. Ý thức xã hội thơng thường tuy ở một trình độ thấp hơn ýthức lý luận nhưng lại phong phú hơn ý thức lý luận. Những tri thức và kinh nghiệm củaý thức thông thường là chất liệu, cơ sở, tiền đề quan trọng cho sự hình thành ý thức lýluận.
Tồn tại xã hội không chỉ quyết định sự hình thành của ý thức xã hội mà cịn quyếtđịnh cả nội dung và hình thức biểu hiện của nó. Mỗi yếu tố của tồn tại xã hội có thể đượccác hình thái ý thức xã hội khác nhau phản ánh theo các góc độ khác nhau. Đồng thời,các hình thái ý thức này cũng sẽ tác động, ảnh hưởng ngược lại tồn tại xã hội. Đó đượcgọi là “tính độc lập tương đối của ý thức xã hội”
Sự tác động ngược trở lại của ý thức xã hội lên tồn tại xã hội là sự tác động nhiềuchiều với các phương thức phức tạp. Sự tác động này thể hiện ở mức độ phù hợp giữa tưtưởng với hiện thực. Sự xâm nhập của ý thức xã hội vào quần chúng có chiều sâu, chiềurộng phụ thuộc vào khả năng hiện thực hóa ý thức xã hội của các giai cấp. Như vậy, ýthức xã hội là thể thống nhất độc lập, tích cực và tác động ngược trở lại lên tồn tại xã hội.Có nhiều nguyên nhân khác nhau, ở đây ý thức xã hội là cái phản ánh còn tồn tạixã hội là cái được phản ánh. Cái được phản ánh là cái có trước và biến đổi nhanh, cáiphản ánh là cái có sau và thường biến đổi chậm hơn cái được phản ánh. Mặt khác, một sốbộ phận của ý thức xã hội, đặc biệt là trong các hiện tượng tâm lý xã hội đã ăn sâu vàotiềm thức con người nên nó có tính bảo thủ, sức duy trì rất lớn. Trong xã hội thường cólực lượng bảo thủ muốn duy trì những ý thức xã hội lạc hậu theo hướng bảo vệ lợi íchcủa mình.
Tác động
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7"><b>1. Đánh giá chung. </b>
Ở Việt Nam, mối quan hệ nhà – làng – nước, văn hóa làng xã hay cố kết cộngđồng là mối quan hệ đặc trưng, đóng vai trị cốt lõi trong văn hóa Việt Nam nói chung vàvăn hóa chính trị Việt Nam nói riêng. Hơn bất cứ đâu, nhà – làng – nước là nơi giao thoanhiều nhất giữa tất cả những hình thái xã hội, giữa những văn hóa, quan niệm, đức tinhay tư duy triết học, giữa nhà nước và cộng đồng. Chủ nghĩa cộng đồng Việt Nam truyềnthống giải quyết được tất cả các vấn đề của cộng đồng trong mối quan hệ nhà – làng –nước. Ở đây tồn tại một mối quan hệ vừa thống nhất, vừa đan cài nhưng cũng vừa cónhững mâu thuẫn.
Là một tổ chức chính nằm trong Nhà nước, làng cũng có nghĩa vụ phải đóng sưuthuế đối với Nhà nước. Nhà Nước vẫn sẽ can thiệp nếu cần thiết nhưng trong đa sốtrường hợp thì làng sẽ tự giải quyết những vấn đề trong cuộc sống của những cá nhânnằm trong đó. Dưới góc nhìn chính trị, “làng” trong văn hóa xã hội của Việt Nam nhưmột nhà nước thu nhỏ, có cá tính riêng, có cộng đồng cai quản, có cả các hình thức giaolưu, hợp tác, kết hợp với các làng khác tạo thành những thị trấn tương tự như những liênminh quốc gia. Cùng với đó là những quỹ cứu trợ cho những hộ có gia cảnh khó khăn, trẻem mồ côi, không nơi nương tựa, các quỹ hỗ trợ cho nạn nhân của chiến tranh cịn xót lạiđược hình thành từ thu nhập của những người trong làng, tạo nên một hệ thống an sinh.Khi giải quyết việc làng chủ nghĩa cộng đồng làng xã hướng đến lý tưởng: “tương trợ,đồn kết, cơng bằng”, tổ chức các sự kiện, các nghi lễ, phân biệt cũng như kết hợp giữacái riêng với cái cộng đồng, giữa “luật nước” và “lệ làng”..
Từ kiểu sống làng xã, người Việt xưa tư duy về Nhà nước tương tư như làng, nhàNước là tập hợp của nhiều làng, Vua là cha mẹ của dân, ai cũng thờ cúng tổ tiên, cũngmở hội xuống đồng,… Truyền thống làng xã không phải bắt nguồn từ Nho giáo mà làđược duy trì theo thời gian bởi cộng đồng người Việt.
<b>2. Điểm mạnh của cộng đồng người Việt hiện nay.</b>
Về cá nhân thì người Việt là một dân tộc có nhiều điểm mạnh như thơng minh,nhạy bén, ham học hoi, dễ làm quen, dễ nắm bắt những cái mới, thích nghi với nhữngmơi trường mới mẻ như trong bối cảnh hội nhập tồn cầu. Cùng với đó là đức tính cầncù, chăm chỉ trong cơng việc, những sản phẩm do lực lượng sản xuất tạo ra đều mangchất lượng tốt.
Về cộng đồng, là một cộng đồng theo mối quan hệ làng xã, người Việt đều cóchung quan niệm mang tính triết học, văn hóa, tâm linh rằng tất cả dân tộc Việt Nam đềulà đồng bào, đều từ cũng một nguồn cội. Trên cơ sở đó, người Việt coi nhau như anh em,dù sinh ra ở vùng miền nào, dù có đi về đâu cũng vẫn là con dân Việt Nam. Niềm tin nàyđã trở thành tín ngưỡng khi mà tất cả mọi người đều thờ cúng tổ tiên, đều hằng năm ăntết, nhớ về ngày Giỗ tổ Hùng Vương. Quyết định của UNESCO ngày 06/12/2012 nêu rõ:Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương thể hiện lịng tơn kính đối với các bậc cha ông, tổ tiên
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">Lịch sử đã cho thấy ý thức xã hội đã giúp người Việt thích nghi với hoản cảnh đểtồn tại và phát triển. Nhờ ý thức xã hội tốt, người Việt vẫn tồn tại như một dân tộc, mộtquốc gia độc lập cho đến ngày nay mà không bị đồng hóa trong cả những khoảng thờigian bị đơ hộ trong những khoảng thời gian rất dài trong khi nhiều nước khác trên thếgiới đã bị đồng hóa bởi nước đô hộ ngay khi mất đi Nhà nước vận hành, thậm chí là mấtđi cả tiếng mẹ đẻ.
<b>3. Hạn chế của cộng đồng người Việt.</b>
Hiện nay, trước bối cảnh toàn cầu bước vào thời kì cơng nghiệp 4.0. Là một cộngđồng theo mối quan hệ làng xã, người Việt Nam gặp phải rất nhiều khó khăn khi bướcvào thời kỳ hội nhập khi cục diện đưa đến những thay đổi sâu sắc, làm thay đổi nhiềumối quan hệ trong kinh doanh và sản xuất cũng như các mối quan hệ xã hội mà cộngđồng khơng kịp biến đổi để thích nghi.
Đi kèm với những điểm mạnh cá nhân là những hạn chế cịn kìm hãm sự phát triểncủa chính cộng đồng người Việt. Điển hình như tuy tiếp thu nhanh nhưng lại hời hợt,khơng đào sâu vào ngóc ngách của vấn đề. Thích ứng tốt nhưng lại thiếu sức sáng tạo, ítcó ham muốn khám phá những cái mới mà lại chỉ đi theo những lối đi an toàn. So vớiquốc tế thì kinh nghiệm cũng như trình độ của người Việt vẫn còn thua rất xa, nhất là ởnhững mảng như cơng nghiệp, cơng nghệ. Ngồi ra cịn có những thói hư tật xấu như tínhkhơn lỏi, ít giữ chữ tín, thiếu trách nhiệm.
Thái độ coi trọng cộng đồng là một nét tính cách đặc trưng của con người ViệtNam. Mặc dù tính cộng đồng cao là một nét tính cách có chứa nhiều giá trị, song bêncạnh đó cũng là những mặt hạn chế. Việc đề cao tính cộng đồng ức chế, kiềm hãm sựphát triển cá tính cá nhân vì cộng đồng sẽ khơng chấp nhận những cá nhân khác biệt,những cá tích khơng phù hợp với tiêu chuẩn cộng đồng. Những cái mới, những cái khácbiệt xuất hiện thường sẽ bị đè nén bởi những đánh giá, so sánh đến từ những quan niệm,những suy nghĩ từ cộng đồng. Không chỉ với cá nhân mà cộng đồng theo mối quan hệlàng xã cũng khó thích ứng với những thay đổi của thời đại khi mà những quan niệm,nghệ thuật, đức tin được bảo thủ, lưu giữ, truyền bá với mục đích chống lại những quanđiểm, tư tưởng tiến bộ hơn.
Tuy ý thức xã hội về cộng đồng của người Việt là rất cao nhưng ý thức về môitrường lại rất kém. Việt Nam là một nước đang phát triển, việc gây ảnh hưởng đến môitrường là điều không thể tránh khỏi song ý thức về môi trường của người Việt lại rất kémvăn minh. Các doanh nghiệp thì mặc kệ sự an tồn về môi trường để đặt lợi nhuận lên
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">trên. Các cá nhân thì lại có những hành động như xả rác bừa bãi làm ảnh hưởng đến môitrường.
<b>1.Nâng cao nhận thức cộng đồng. </b>
Để phát triển ý thức cộng đồng người Việt thì trước tiên phải bắt đầu từ nhận thứccủa từng cá nhân trong cộng đồng. Mỗi cá nhân trong cộng đồng đều cần nhận thức rõvai trị, vị trí, trách nhiệm của mình trong việc phát triển ý thức cộng đồng. Đồng thời họchỏi, tìm tòi và tiếp thu những cái mới, cái tiến bộ, nâng cao nhận thức của bản thân vềcơng nghệ nói riêng và về thế giới nói chung. Nhận thức rõ những điểm mạnh, nhữngtiềm năng của bản thân để từ đó phát triển hơn nữa, phát triển bản thân cũng chính là pháttriển cộng đồng.
Nhà nước cũng cần đẩy mạnh việc tuyên truyền những kiến thức xã hội, những tưtưởng, quan điểm tiến bộ, thay đổi những quan niệm, tiềm thức cũ nhằm loại bỏ những tưtưởng, nghệ thuật, đức tin, tâm lý bảo thủ gây cản trở việc phát triển những tư tưởng,nghệ thuật tiến bộ. Nâng cao và đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, cải tạo các mối quan hệtrong xã hội, phát triển ý thức xã hội bằng con đường phát triển kinh tế - xã hội, pháttriển khoa học – kỹ thuật. Đưa ra những chính sách hợp lý để việc hịa nhập khơng trởthành hịa tan. Tiếp tục cơng cuộc hội nhập, phát triển tồn diện trong thời kỳ tồn cầuhóa mà vẫn đảm bảo giữ được những giá trị cốt lõi trong ý thức xã hội. Cùng với đó làtạo điều kiện, khuyến khích những cá nhân, tổ chức sáng tạo để cho những cái mới, cáitiến bộ có cơ hội phát triển.
<b>2.Khắc phục những hạn chế tồn đọng.</b>
Tuy là một cộng đồng năng động, thông minh, nhiều điểm mạnh nhưng người Việtvẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục. Người Việt tuy thơng minh, lanh lợi nhưng khơngtồn diện mà chỉ gọi là khơn lỏi. Việc này trong nhất thời có thể làm hài lịng tâm lýngười khác nhưng khi nhìn từ góc nhìn logic, khoa học thì nó khơng giải quyết triệt đểđược vấn đề mà chỉ gác vấn đề lại nhất thời. Sự khôn lỏi của người Việt thể hiện rõ nhấtở việc dù cần cù, chăm chỉ nhưng người Việt lại chỉ muốn làm cho xong, làm tắt, làm ẩu,thiếu đi sự thỉ mỉ, nghiêm ngặt trong quy trình làm việc. Ngồi ra cịn thói lề mề, coitrọng bề ngồi, nước đến chân mới nhảy,.v.v
Tính nhất thời trong cách giải quyết vấn đề của người Việt còn được thể hiện ởđiểm mạnh là người Việt rất nhạy bén, thích tìm tịi, khám phá cái mới nhưng lại chỉ đểphục vụ tính tị mị hoặc để chạy theo những cái “nổi”, cái “nóng” trên thị trường nhấtthời chứ khơng đào sâu, tìm hiểu kỹ càng vấn đề. Từ đó dẫn đến những lỗ hổng về kiếnthức, kinh nghiệm, khả năng thực hành. Cùng với đó là lối học chạy, học vẹt, thiếu sángtạo, chỉ học, làm theo những thứ đã có sẵn chứ ít sáng tạo cái mới, ít đặt câu hỏi “tại saocần phải làm như thế?”, “tại sao lại làm theo phương pháp này?”, “tại sao lại giải quyếtvấn đề như thế?”,... Nếu khơng nhanh chóng lấp đầy những lỗ hổng về kiến thức, kinh
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">nghiệm thì rất khó để phát huy hết tiềm năng của người Việt nói chung và cải thiện ý thứcxã hội người Việt nói riêng.
<b>IV.</b>
Là sinh viên, em thấy bản thân mình cần nhìn nhận lại bản thân để nhận thức, xác định rõ được vai trị, trách nhiệm của cá nhân mình trong việc phát triển ý thức xã hội củacộng đồng. Hoàn thiện bản thân bằng việc học hỏi, rèn luyện bản thân cả về học vấn lẫn ýthức để góp phần nâng cao ý thức xã hội Việt Nam.
Bản thân em đang là một sinh viên theo học tại Đại học Đại Nam chuyên ngànhCông nghệ Thông tin. Em nhận thức được rằng ý thức xã hội theo hướng cố kết cộngđồng tuy có nhiều điểm mạnh, mang lại nhiều lợi ích cho phát triển cộng đồng nhưng kéotheo đó cũng là nhiều hạn chế kiềm hãm sự phát triển ý thức cộng đồng người Việt. Đểcải thiện, nâng cao một thứ mang tầm vóc to lớn như cộng đồng thì cần phải thay đổi từnhững cái nhỏ nhất. Nếu như mỗi người đều nhận ra những hạn chế và khắc phục hạn chếđó thì ý thức xã hội sẽ được cải thiện. Hiểu rõ điều đó, em cảm thấy mình phải có tráchnhiệm với xã hội. Do đó, em cần phải tiếp tục rèn luyện bản thân, nỗ lực học tập, nângcao kỹ năng, kiến thức và ý thức của bản thân.
Trong thời đại cách mạng thông tin bùng nổ hiện nay thì việc khai thác các thơngtin trở nên vô cùng dễ dàng. Việc tiếp nhận thông tin dễ dàng tạo tiền đề tất cả mọi ngườicó thêm nhiều cơ hội để trau dồi và cải thiện kỹ năng cá nhân. Theo đuổi và phát triểnnhững tiềm năng của bản thân bằng cách tìm hiểu và liên tục làm mới những thông tin vềkhoa học,công nghệ, kỹ thuật tiên tiến để ứng dụng và tìm ra những cái mới. Áp dụng cáckiến thức, lý thuyết đã học vào thực hành để từ đó phát triển năng lực của bản thân. Sửdụng những kiến thức, tư duy của bản thân để sáng tạo và thể hiện những sáng tạo củamình đúng thời điểm nhằm tạo những bước tiến mới cho xã hội. Nâng cao vị trí, vai trịcủa bản thân trong xã hội và góp phần cải thiện ý thức xã hội ngày càng tốt hơn.
</div>