Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (57.04 MB, 113 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
Chun ngành : LUẬT HÌNH SỰ
Mã số : 5.05.14
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
PTS. Nguyên Văn Tuân
HÀ NỘI - 1996
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2"><small>MỤC LỤC</small>
<small>*%* ** KR Kk % kK *%</small>
Lời mở đầu
Chương thứ nhất
Toa án nhân dân các cấp từ năm 1945 đến 1998
Tồ án nhân dân các cấp theo pháp luật hiện hành
2.1. VỊ trí vai trị của tồ án nhân dân
2.2. Khái niệm. căn cứ và ý nghĩa của việc phân địnhthẩm quyền xét xử sơ thẩm hình sự của tồ án nhân dân
các cấp
<small>Chương thứ ba</small>
Thực tiễn áp dụng pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm
hình sự của Tồ án nhân dân các cấp và một số kiến nghị
3.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật về thẩm quyền xét xử
sơ thâm hình sự của Tồ án nhân dân các cấp
3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện thẩm quyềnxét xử sơ thâm hình sự của Tồ án nhân dân các cấp
<small>ed+eee)wt Aetá CÁ</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">VI, trong những nam gần day, cùng với việc đối mới mọi mặt của
xã hội chủ nghĩa".!
quá trình đổi mới hệ thống chính trị nhằm nâng cao hiệu lực quản
được Đảng và Nhà nước coi là một trong mười nhiệm vụ lớn trước
Tại hội nghị tập huấn công tác Tư pháp năm 1993, Thủ
tướng Võ Văn Kiệt chỉ rõ :" Cải cách Tư pháp bao gồm việc đổi
mới và hoàn thiện tổ chức, hoạt động của các cơ quan như toà án,Tư pháp, kiểm sát..."*. Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
<small>| "Văn Kiện Đại hội Dang toàn quốc lần thứ VII" - NXBCT Quốc gia - Hà Nội - 1991, Tr. 92 Xem bài trình bày của đồng chí Phan Văn Khai, Uy vién Bo Chính tri, Phó thu tướng Chính phu</small>
<small>truyền đạt Nghị quyết hội nghị làn thứ 8 Ban chấp hành trung ương Dang tại Hoi nghị cán bộ tồn</small>
<small>qc ngày 21/2/1995,</small>
<small>3 Xem "Hài phát biểu cua Thu tướng Võ Van Kiệt, Uỷ viên Bo Chính tri Ban Chấp hành Trung ương</small>
<small>Đang cong san Việt Nam, Thu tướng Chính phu tai Hoi nghị tập huấn chuyên dé cong tác Tư pháp</small>
<small>ngày 03/3/1993" - Trong cuốn Mot so bài nói và viết cua lãnh dao Dang và Nha nước tì về ngành</small>
<small>Tư pháp - Vien nghiên cứu Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp - trang 104.105.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">cho phù hợp tình hình mới trở thành yêu cầu bức xúc trong giai
nghiên cứu, các nhà khoa học cũng như các cơ quan áp dụng pháp
Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam (được Quốc hội thơng qua
là một bộ phận cấu thành của hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa.Pháp luật tố tụng hình sự điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinhtrong quá tỉnh điều tra, truy tố, xét xử... "nhằm phát hiện chính
xác, nhanh chóng và xử lý cơng minh, kip thời mọi hành vi phạm
tội... góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân giáo dục công dân nghiêm chỉnh
Quá trình từ khi khởi tố vụ án hinh sự đến khi xét xử là một
qua trinh phức tạp, bao gồm nhiều hoạt động, nhiều giai đoạn khácnhau. mỗi giai đoạn thể hiện một phần của hoạt động tố tụng trong
đó giai đoạn xét xử là giai đoạn rất quan trọng, mang tính quyết
định. Điều 10 Bo luật TTHS quy định "không ai có thể bị coi là có
<small>* Văn kien Đại hoi đại biểu toàn quốc Lin thứ VIII - NXBCT Quốc gia - Hà Nội - 1996, 1.132</small>
<small>NO</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">đã có hiệu lực pháp luật.
luật định một cách nghiêm ngặt, không được tuỳ tiện bo qua motthủ tục nào. Bộ luật tố tụng hình sự quy định chỉ tiết, chặt chẽ
cáo, kháng nghị và vụ án sẽ được xét xử lại.
các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và cho Tồ án nói riêngtrong hoạt động của mình. Một trong những chế định quan trọng
xét một phần nhất định liên quan đến thâm quyền xét xử cua Toa
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">an. Những công trinh nghiên cứu được dang trên các sách báo
Võ Thọ - "Một số vấn đề về luật tố tụng hình sự" - Trong đó tác giadé cập đến những vấn dé pho thơng của tố tụng hình sự, nhữngngun tác tố tụng, người tham gia tố tụng, các giai đoạn tố tụng,
Kim Qué trong " Những điều cần biết về điều tra, truy tố, xét xử và
caomới khái quát "vài nét về quá trình hình thành và phát triển của
phịng chống tội phạm thơng qua cơng tác xét xử của Toà án.
nghiên cứu cua dé tài này chỉ giới hạn nghiên cứu các vấn đề có
<small>“A a? ~ è , » wa » ` 2</small>
liên quan đến thấm quyền xét xử sơ thâm cua Tồ án.
Trước hết, mục đích của luận án là làm sáng tỏ quá trình
phát triển những quy định về thẩm quyền xét xử của Toà án gán
<small>3 Xem "Một số vấn dé về luật tố tụng hình sự" - NXB Pháp lý - Hà Noi 1985</small>
<small>° Xem : Lé Kim Quế Những điều cần biết vẻ điều tra, truy 16, xét xử và thi hanh án: NXB Pháp lý </small>
<small>-Ha Nor 1989</small>
<small>“Xem : Đăng Quang Phương Vài nét về quá trình hình thành và phat triển cua Toa an nhân dan </small>
<small>-BP se Vem aANTTN £m @ Nai</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">an nói riêng.
Mục dich và phạm vi nghiên cứu nói trên, đặt ra cho luận an
<small>ve , x Pig è z ° Pa ` 5 2 - SN</small>- Khái quát về thâm quyền xét xử sơ thâm hình sự cua Toa
án nhân dân các cấp từ năm 1945 đến trước khi có Bộ luật tố tụng
hinh sự (1988);
<small>r3 è z ° ` } Ss 3 ^ ˆ z _ A“</small>- Thâm quyền xét xử sơ thâm của Toà án nhân dân các cấptheo pháp luật hiện hành;
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩaMác - Lê nin, trong quá trình nghiên cứu, tác gia đã su
củng cố pháp chế xã hội chủ nghĩa, cải cách và đổi mới hệ thống
tư pháp ở nước ta. Nội dung của luận án được tác giả hồn thành
dua trén những thơng un chính thức đã được cơng bố, những baocáo của một số cơ quan pháp luật ở trung ương và địa phương.
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">trình thực hiện bản luận án này, tác gia đã tiến hành khảo sát, trao
Toà 4n nhân dân Thành phố Hà Nội và Toà án huyện, thị tinh Hàtay, đồng thời tác gia còn nghiên cứu thực tiễn cơng tác xét xử các
vụ án hình sự, đặc biệt là các vụ án được xét xử từ khi áp dụng Bọ
luật tố tụng hình sự (năm 1989) đến nay.
trên các sách báo pháp lý hiện nay.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng cácphương pháp :hệ thống, logic - pháp lý, lịch sử, so sánh... trong đósử dụng nhiều phương pháp lịch sử để phân tích đánh giá q trình
Luận án là cơng trình chun khảo đầu tiên, nghiên cứu một
án các cấp. Những kết luận và kiến nghị trong luận án có ý nghĩa
pháp luật cũng như việc áp dụng pháp luật. Luận án cũng có thể
dùng làm tài liệu tham khảo cho các lớp tập huấn cán bộ pháp lý,các trường giảng dạy pháp luật cũng như các cán bộ đang công tác
tại cơ quan pháp luật hiện nay.
Luận án được thực hiện với khối lượng phù hợp với các quyđịnh chung của Nhà nước bao gồm lời nói đầu, ba chương. kết
luận và danh mục các tài liệu tham khảo.
<small>6</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9"><small>< Z a’. ne a at Ñ 2 a aw 7 so. .. aX. xử -_</small>
hành pháp luật và thực hiện su quan lý cua mình đối với mọi tang
cấp thống trị. Các nhà nước chủ nô, Nhà nước phong kiến, đếnNhà nước tư sản đều có các tồ án để bảo vệ và duy trì quyền lựcthống trị, bắt các giai cấp khác phải phục tùng theo ý chí của giaicấp thống trị.
Hệ thống các Toà án nhân dân ở nước ta được hình thành vàphát triển gắn liên với những giai đoạn phát triển của cách mạng
nước ta. Các Tồ án nhân dân đãvà đang góp phần quan trọng vàosự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
chất lượng hoạt động và uy tin của hệ thống tư pháp trong Nhanước xã hội chủ nghĩa.
<small>~</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">cộng hồ non tre đứng trước nhiệm vụ cấp thiết là củng cố chínhquyền cách mạng, xây dung, bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, bao
vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, xoá bỏ hệ thốngpháp luật thực dân, phong kiến và xây dựng hệ thống pháp luật
Trong những ngày đầu sau khi gianh chính quyền, Chính
dựng Nhà nước dân chủ nhân dân. Toà án là một trong những bộphận quan trong cua bộ máy Nhà nước, là công cụ đắc lực để bao
vệ thành qủa cách mạng và bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhândân. Chính vì vậy ngày 13 - 9 - 1945 Chủ tịch Chính phủ lâm thời
quân sự», đánh dấu sự ra đời của Toà án ở nước ta.
<small>*~ Xem cơng hảo năm 1945. trang 20</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">đến nền độc lập của nước Việt nam dân chủ cộng hoà; trừ khi
26 - 4 - 1945 Chủ tịch Chính phủ cách mạng lâm thời Việt nam
an qn sự".
Đơng, Vĩnh n, Phúc Yên, Hưng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang; Toà
án quân sự Hải phòng xét xử các vụ án xảy ra tại thành phố Hải
phòng và các tinh Hải Dương, Kiến An, Quảng Yên, Hải Ninh ;Toà án quan sự tinh Thái nguyên xét xử các vụ án xảy ra tại tinhThái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn, Tuyên Quang, HàGiang, Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La; Toà án quân sự Ninh
bình xét xử các vụ án xảy ra tại Ninh Bình, Nam Định, Hà Nam,
Thái Bình: Tồ án quân sự Vinh xét xử các vụ án xảy ra tại ThanhHố, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình; Tồ ân quân sự Huế xét xử
các vụ án xảy ra tại Quang Trị, Thừa Thiên. Quang Nam (kể ca ĐàNăng).
<small>“ Xem công báo nam 1945, trang 27</small>
<small>Ụ</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">Toà án quân sự Quảng Ngãi xét xử các vụ án xảy ra tại các
Tân An, Cơn Đảo; Toà án quân sự Mỹ Tho xét xử các vụ án xảy ratại các tinh khác thuộc nam bộ.
29 - 9 - 1945 Chính phủ lâm thời Việt nam dân chu cộng hoa ra
các tinh Khánh Hoà, Dac Lắc, Đồng Nai, Phan Rang, Phan Thiết
Tồ án qn sự Quảng Ngãi, Kon Tum, Bình Định, Phú Yên
Đến ngày 28 - 12 - 1945 Chủ tịch chính phủ lâm thời Việt
quân sự tại Phan thiết và giao cho Uy ban nhân dân Trung bộ ấn
Thực tế cho thấy, trong những ngày đầu giành được chính
quyền cách mạng, Nhà nước Việt nam non trẻ đã rất chú trọng đến
xây dựng một bộ máy nhà nước nói chung và hệ thống Tồ án nói
<small>LẺ Xem công bio nam 1045, trang 19 - 20“Cong bao nam T945, trang 40 - $1</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">xét xử, nên trong thời gian này việc xét xử một số vụ án hình sự
thường (các vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng như : các tơi xâm
phạm trật tự an tồn xã hội...) được tạm thời giao cho các ban Tư
cấp tinh đảm nhiệm.
Trước tinh hình pháp luật cịn thiếu, nhà nước ta chủ trươngtạm thời cho phép Toà án áp dụng các quy định của pháp luật cũmiễn là không trái với nguyên tắc độc lập và chính thể dân chủcộng hoà (Sắc lệnh số 47 - SL ngày 10- 10 - 1945)1.
trương xây dựng văn bản pháp luật mới. Cùng với sự phát triển củanhà nước, pháp luật kiểu mới ở nhà nước dân chủ cũng được phát
tiếp đó ngày 14 - 2 - 1946 ký sắc lệnh số 21/SL bổ sung thẩmquyền của Tồ án qn sự. Nhu vậy, có thể nói tổ chức của Tồ
án qn sự ln được củng cố đáp ứng yêu cầu ngày càng cao củasứ mệnh bảo vệ Tổ quốc.
Tồ án Tư phap's, trong đó đã quy định cụ thể cách tổ chức hệ
<small>12 Điều 75 - sac lệnh số 63 - Cóng báo 1945, trang 26 - 27L3 Xem công báo năm 1945, trang 36, 37</small>
<small>I3 Xem công báo năm 1946, trane 70, 71. 134, 135. 136lŠ Xem công báo năm 1946, trang 70, 71, 134, 135. 136</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">Toà án.
quan hệ tố tụng giữa các Toà án với nhau.
thành lập Tồ án binh lâm thời, trụ sở đặt tại Hà nội. Toà án binh
"... những nhân viên các ngành chuyên môn trong khi quân đội,
phạm pháp có liên can đến quân đội..." va" những người thuộc bat
cứ hạng nào mà phạm pháp ở trong các đồn trại, quân y viện, nhàđề lao binh... hoặc phạm pháp làm thiệt hại đến quân đội".
Tồ án binh đều thuộc quyền qn pháp cục - Bộ quốc phòng”.
cõi nước Việt nam dân chủ cộng hoà".
Ngày 28 tháng 5 năm 1947, Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộtrương Bọ quốc phong đã ký Thông lệnh số 60 - TT gửi các cap chi
<small>12</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">tác chiến, một trong những tội sau này : phản quốc, gián điệp, cướp bóc, - nhũng nhiễu dân chúng...”
xử các nhân viên phạm pháp thuộc các cơ quan Trung ương của Bộquốc phòng và Bộ tổng chỉ huy, kể cả Trung đoàn trưởng trở lên”!„O
Mặc dù trên đây là những văn bản đầu tiên quy định các vấndé mang tính nguyên tắc nhưng đó là những vấn dé cơ bản làm
tiền đề cho những quy định khác của pháp luật tố tụng hình sự sau
và sơ cấp (điều 63); các nhân viên Thẩm phán đều do chính phủ bố
<small>IS - Xem "Cúc Toa án quân sir nắng cao chất lượng hiện gu vết Xự và đến tranh nhịng chêng tơi</small>
<small>phạm” - Parts Le Đức Thu. chanh an TAQSTW - Tạp chi TAND số 8/05</small>
<small>13</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">dân tham gia ý kiến nếu là việc tiểu hình , hoặc cùng quyết định
quyền dùng tiếng nói của mình trước Tồ án (điều 66); các phiêntồ đều phải công khai, trừ những trường hợp đặc biệt (điều 67).
Bước vào giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp, hệ
vụ mà Đảng và Nhà nước đã đề ra trong giai đoạn cách mạng này.
Trong thời gian này ở nước ta tồn tai các loại Toà ân : Toà ánquân sự, Toà án binh và hệ thống các Toà án Tư pháp.
- 1946 chỉ tồn tại đến năm 19501,
Tuy là Toà án cách mạng nhưng hệ thống và cơ cấu tổ chứccơ bản vẫn theo kiểu thời Pháp thống trị. Các cán bộ Tư pháp làm
việc trong các Toà án này chủ yếu là những người làm việc trong
bộ máy hành chính và Tư pháp của chế độ cũ, vì thế họ còn mangnặng quan điểm, tư tưởng của nền Tư pháp tư sản.
Bước sang năm 1950 là năm có nhiều biến đổi quan trọng vềtổ chức và hoạt động của hệ thống Toà án cách mang. Dang vàNhà nước ta tiến hành cái cách bộ máy Tư pháp, tăng cường tính
chất dân chủ trong hoạt động của Toà án, cải tiến luật tố tụng để
đam báo xét xử nhanh chóng, đỡ tốn phí cho nhân dân.
<small>F7 Nem cơng báo nam 1946, Trang 64. 71</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">25 - 5 - 1950 quy định đổi tên Toà án. Hệ thống Toà án tư pháp
"Toà án sơ cấp nay gọi là Toà án nhân dân huyện, Toà án đệ nhịcấp nay gọi là Toà án nhân dân tính, Hội đồng phúc án nay gọi là
đơn giản, đễ áp dụng để bảo đảm việc giải quyết được nhanh
chóng trong cả việc hình (án hình su) lẫn việc hộ (án dân sự). Mục
chủ trong tổ chức va hoạt động của toà án, tạo điều kiện cho nhândân tham gia vào hoạt động xét xử của Tồ án, đồng thời có điều
này cịn có mục đích tổ chức lại hệ thống Toà án cho gọn, nhẹ,thống nhất và hoạt động có hiệu quả nhằm đảm bảo cho Tồ ánnhân dân trở thành công cụ đắc lực, sắc bén của Nhà nước, bảo vệquyền lợi ích của nhân dân.
Trong năm 1950, Chủ tịch nước còn ra nhiều Sắc lệnh khácquy định về tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân. Thủ tướngchính phủ ra các thơng tư hướng dẫn, cu thể hố các Sac lệnh.
Theo thơng tư số 2] - TTg ngày 07 - 6 - 1950 của Thủ tướng chính
phù giải thích việc thi hành Sac lệnh số 130 SL ngày 05 6 I950 quy định liên hệ giữa Uy ban kháng chiến hành chính và các
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">-cơ quan chun mơn :"đối với ngành xử án - Uy ban có thể vạchđường lối cho một vụ án xét thấy quan trọng. Tuy nhiên Tồ án
<small>ä b¿ , 2 P “ ^ "Re m , % AC Z n WY kee</small>
ly do, Uy ban có thé giao cơng tổ viên khang cáo lên Toà an trên”!
(điều 1)20,
những vùng tạm bị địch chiếm đóng có thể thiết lập một tồ án gọi
là Toà án nhân dân vùng tạm bị chiếm?!. Tồ án nhân dân vùng
nhân dân tỉnh và Toà án quân sự. Các bản án đều được thi hànhngay. Về việc binh và hộ, Toà án nhân dân vùng tạm bị chiếm
thuộc quyền điều khiển của Toà án nhân dân tỉnh. Nếu quản hạt
<small>!Š - Xem cong báo nam 1950 - trang 301. 302</small>
<small>l1 „ Xem cong bao nam 1950; trang 302. 303, 305, 306</small>
<small>2". Xem cong báo nam 1950: trang 302. 303, 305, 306</small>
<small>Pry WLW os,</small>
<small>- Ac cong háo nau T950; trang 302, 3063, 305, 305</small>
<small>16</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">Đến năm 1953. Dang và nhà nước chủ trương tiến hành cuộc
chính quyền cách mang, Chủ tịch nước Việt nam dân chủ cộng hoa
hoặc phá hoại chính sách cải cách ruộng đất; xét xử những vụtranh chấp về tài sản, ruộn đất có liên quan đến các vụ án trên; xétxử những vu tranh cãi về phân định thành phần giai cấp. Các Tồ
an nhân dân đặc biệt khơng xét xử những việc hình (những vụ án
phức tạp và phải xét xử lâu dài thì do Uỷ ban hành chính liên khu
do Uy ban kháng chiến hành chính tỉnh lựa chọn, cịn một nửa do
nơng hội huyện cử ra. Khi làm xong nhiệm vụ thì các Toà án nhândân đặc biệt giải tán.
Sau khi miền bắc hồn tồn giải phóng, đất nước bước sang
giải đoạn cách mạng XHCN. Trong điều kiện. hoàn cảnh mới.
Dang và nhà nước chủ trương mở rộng dân chủ nên đã thống nhat
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">Tại hội nghị lan thứ 14 (tháng 11 - 1958) Ban chấp hành
nhân dân và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với chính
<small>x z reg ` an’ 2 ˆ 2 ` Z LÊN</small>
<small>quyền các cấp từ Trung ương đên cơ sở. Bộ máy nhà nước nói</small>
chung, Tồ án nhân dân nói riêng được tăng cường và cải cách
<small>thêm một bước.</small>
Tháng 4 - 1958 Quốc hội đã quyết định thành lập Toà án
nhân dân tối cao và Viện công tố trung ương (nay là Viện kiểm sát
nhân dân tối cao). Sau khi Quốc hội quyết định thành lập Tồ ánnhân dân tối cao và Viện cơng tố Trung ương, ngày 24 - 12 - 1958,
<small>và Tồ án.</small>
Khái qt chung q trình hình thành, phát triển về tổ chức,
Trong bước này chúng ta đã hoàn toàn bãi bỏ Toà án của chế độthực dân phong kiên. thiết lập những Toà án nhân dân mới, trong
</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">mạnh mẽ bọn phản cách mạng. Bước thứ hai là từ năm 1950 đến
hiện rõ nét cả trong tổ chức và hoạt động xét xử của Toà án nhândân. Tuy nhiên quá nhấn mạnh đến tính cách mạng, tính nhân dân
nêu nhiều cán bộ Tồ án khơng được chú trọng đào tạo về cơng tác
chun mơn, tuy vậy, thực tiễn cho thấy các Tồ án đã góp phầnquan trọng trong cơng cuộc bảo vệ và củng cố chính quyền cáchmạng, bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, ổn định tỉnh hình đấtnước, góp phần vào việc xây dựng một trật tự xã hội mới. Nhìn
kỳ đó.
DÂN CAC CAP TỪ NĂM 1959 DEN NĂM 1980
Sau chiến thắng Điện biên phủ (năm 1954), miền bắc nước ta
được hồn tồn giải phóng, cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân
đã hoàn thành, miền bắc đi theo con đường XHCN không qua giảiđoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Miền nam cịn tạm thời bị Mỹ
nhiệm vụ mới để cụ thể hoá đường lối chiến lược ma đại hội Dangtoàn quốc lần thứ II] đã vạch ra là : xây dựng chủ nghĩa xã hộimiền bác và đấu tranh giải phóng miền nam thống nhất đất nước.Dang ta chủ trương tăng cường nhà nước dân chủ nhân dan va tang
</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">cường sự lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền từ trung ương
bước, đồng thời Toà án nhân dân cũng đánh dấu một bước pháttriên mới.
thức thông qua bản Hiến pháp mới. Đây là bản Hiến pháp xã hội
pháp 1959, tại ky hop thứ nhất, Quốc hội nước Việt nam dân chucộng hồ khố II đã thong qua Luật tổ chức Tồ án nhân dân ngày26 - 7 - 1960. Lnật này đã cụ thể hoá những quy định về tổ chức,
1961 Uỷ ban thường vụ Quốc hội thong qua pháp lệnh quy định cu
án nhân dân địa phương.
Nhìn chung các ngun tac hoạt động xét xử của Toà án
nhân dân trước đây được quy định trong Pháp lệnh và Luật tổ chức
Toà án nhân dân đều được kế thừa, ghi nhận lại day đủ, chính xác,
rõ ràng hơn các Sắc lệnh trước đó. Ví dụ : ngun tắc mọi cơng
khai...
</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">Tồ án nhân dân tối cao, các Tồ án địa phương và Toà an quân
ân địa phương ở nước ta thời kỳ này, ngoài các Toà án nhân dântinh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp tương đương, các
sẽ do Hội đồng nhân dân khu tự trị quy định căn cứ vào Hiến pháp
Tồ án địa phương được giao cho Toà án nhân dân tối cao.
dân các cấp được ghi nhận cu thể và phù hợp với tinh hình chính
thực hiện thống nhất nước nhà”.
đối với các cấp Toà án như sau :
1.2.1. Tham quyền xét xử sơ thẩm hình su của Tồ án nhân
Điều 16 luật tơ chức Tồ án nhân dan năm 1960 quy định :
Toa án đó. Tồ án nhân dân huyện ... có nhiệm vụ phan xử những
việc hình sự nhỏ khơng phải mở phiên tồ”,
</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">thế Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức của Toà án nhân dân tốicao và tổ chức Toà án nhân dân địa phương ngày 23 - 3 - 1961 quy
định :” Toà án nhân dân cấp huyện có quyền phân xử những việc
trấn, xã phường và tuyên truyền pháp luật trong nhân dân.
quy định trên đã bảo đảm được phần lớn việc trấn áp và trừng trịkip thời kẻ phạm tội, đồng thời giảm bớt những vụ án phải đưa lênToà án nhân dân tỉnh trong điều kiện thơng tin, liên lạc rất nhiềukhó khăn.
Những việc hình sự nhỏ khơng phải mở phiên tồ là việc
Viện kiểm sát nhân dân. Toà án có thể thụ lý những việc đó căn cứ
vào báo cáo của Uy ban hành chính xã kiêm Tư pháp hoặc hồ sơ
do Công an huyện hay Viện kiểm sát nhân dân huyện chuyển sang.
Trong những hồ sơ đó chủ yếu là sự việc, chứng cứ đã rõ ràng vàphải dam bao yêu cầu chung của công tác xét xử là xử phạt đúng
<small>-- - Xem công báo nam T961 - trang 217</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">pháp và cũng không phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ.
Nếu sau khi nghiên cứu, xem xét hồ sơ vụ án mà Toà ánnhận thấy việc phạm pháp có tính chất nghiêm trọng thì Tồ án
người vi phạm.
yêu cầu các Toà án nhân dân huyện phải phát huy tốt hơn nữa vai
dân cấp huyện được trực tiếp thụ lý và xét xử là :- Tội trộm cắp, lừa đảo thông thường
- Tội tham ô hoặc đầu cơ tích trữ khơng có quy mơ lớn. sốtiền và tài sản tham ô hoặc giá trị hàng hố đầu cơ, tích trữ khơnglớn.
- To1 bn lậu
</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">- Tội đánh người thành thương không gây thành cố tật,
- Tội không tôn trọng luật lệ giao thông gây nên tai nạn làm
- Tội cưỡng bách giao cấu
-Tội có hành vi dam 6 (ối tiết)
- Tội xâm hại đến hạnh phúc của người khác gây tác hại
nghiêm trọng
- Tội đánh bạc
Ngồi ra cịn một số loại tội khác mà Toà án nhân dân cấptỉnh có thể giao cho Tồ án nhân dân cấp huyện xét xử, cụ thể là :
- Tội tuyên truyền xun tạc, chống phá chính sách khơng
nhưng khơng có tổ chức mà bị cáo khơng phải là phần tử nguy
</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">- Tội chữa thuốc, nạo thai gây chết người
- Tội thiếu tỉnh thần trách nhiệm gây thiệt hại cho tài sản củanhà nước, tài sản của Hợp tác xã hoặc gây tai nạn chết người.
- Toi không tôn trọng luật lệ giao thông gây nên tai nan làm
chết người
Thực tế công tác xét xử tồn tại trong thời gian này cho thấycác Toà án nhân dân cấp huyện bắt buộc phải thỉnh thị lên Toà ánnhân dân tỉnh (xin đường lối giải quyết) trước khi xét xử, đó lànhững vụ án mà việc định tội có thể dẫn đến dễ bị lẫn lộn, nhầm
lẫn về tội danh như tội đánh người thành thương, tội cố ý giếtngười chưa thành, tội cố ý gián tiếp giết người ... và những tội ít
Việc xét xử những vụ mà bị cáo phạm tội trong trường hợp
tái phạm (đã bị xử phạt bằng một bản án nay lại phạm tội mới), thìáp dụng hình phạt tội mới cũng khơng được vượt q 2 năm tù,
nhưng nếu bị cáo phải thụ hình cả tội cũ và tội mới , tổng hợp hình
dân tinh Hà tây về thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp huyệntrong việc xét xử những việc tái phạm thì giải thích như sau :
chức của Toà án nhân dân tối vao và tổ chức Toà án nhân dân địa
</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">quan trọng và ít phức tạp, cịn những việc quan trọng, phức tạp vànhững việc phải xử trên 2 năm tù thì Tồ án nhân dân tỉnh phải lấy
án mà thời gian bị cáo phải thụ hình về tội mới và tội cũ khơng
xác, Tồ án nhân dân cấp huyện phải báo cáo lên Toà án nhân dâncấp tỉnh mỗi khi gặp những loại việc này để nếu xét thấy cần thiếtthì Tồ án nhân dân cấp tinh ra quyết định lấy vu án lên để xét xửso thâm.
dân tinh, thành phố trực thuộc Trung ương
nhân dân tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương hoặc đơn vị hànhchính tương đương có quyền xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự... do pháp luật quy định thuộc thẩm quyền của các Toà án dé và
dân địa phương ngày 23 - 3 - 1961 cũng ghi nhận :” Toà án nhân
dân unh. Thành phố và cấp tương đương trực thuộc Trung ương có
</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">xét thấy vụ án thuộc loại quan trọng (như nhằm mục đích phục vụ
chính trị địa phương) hoặc những vụ án có nhiều tình tiết phức tạp
của Toà án nhân dân-cấp tỉnh theo điều 12 pháp lệnh quy định cụ
phương ngày 23 - 3 0 1961 quy định :" Toà án nhân dân cấp huyện
- Những việc có tính chất khó khăn, phức tạp hoặc có ảnh
này khơng nhất thiết Tồ án nhân dân cấp tỉnh phải lấy lên để xét
- Những việc phạm pháp hoặc những vu kiện tụng xét thấycần đưa ra xét xử để giáo dục cho cán bộ, nhân dân của nhiềuhuyện hoặc của toàn tỉnh.
Ngoài ra Tồ án nhân dân cấp tỉnh cịn phải căn cứ vào thực
Những vụ án mà bị cáo phạm nhiều tội, tổng hợp hình phạtbuộc bị cáo chấp hành phạt chung trên 2 năm tù và những vụ án
tuy phạm một tơi song phải áp dụng hình phạt trên 2 năm tù.
<small>~`- Xem cong bao num 1906, trang 11S</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">Ví dụ : Vụ Nguyễn Văn Ba (ở Đan phượng - Hà Tây) bị truytố về tội ” không tôn trọng luật lệ giao thông gây nên tai nạn làm
tội ” đánh bạc” cũng có khung hình phạt phải áp dụng trên | nam
Những vụ án mà bị cáo đã bị phạt từ nhưng cho hưởng antreo, lại tái phạm (phạm tội mới), hình phạt áp dụng cho tội mới
tội thì tổng số thời gian bị cáo phải thụ hình sẽ trên 2 năm tù, thì
Vi dụ : Vu Nguyễn Văn Sửu (ở Mỹ Đức - Hà tây), bi cáo da
bi xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội " trộm cap"
thời hạn tinh từ ngay-19 - 9 - 1966, đến tháng 1 - 1967, y lại phạm
tội ” đầu cơ tích trữ” có mức hình phat cả 2 tội là 27 tháng tù (trên
Nhìn chung, những hướng dẫn trên đây của Toà án nhân dântối cao đã giúp cho các Toà án nhân dân cấp huyện và cấp tỉnhbước đầu xác định rõ được những vụ án thuộc thẩm quyền xét xử
đúng pháp luật. đồng thời tránh tỉnh trạng sử quá nhẹ vì chưa nhận
<small>~* - Hỏ sơ lưu trữ cua Toa án tinh Hà Tây số 92 HS/196]</small>
<small>+4 š + = ` mm - a ‘ F —</small>
<small>Xem ho so li tũ số 12 TS/1967 của Toa an nhân dan tình Ha Tay</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">thức hết tính chất nghiêm trọng của vụ án hoặc xử lý quá nặng đối
với tội phạm nhất thời vì tham lam khơng có mục dich phan cách
trong các khu tự trị, các Toa án nhân dân khu tu trị được thành lập
Theo điều 2 Luật tổ chức Tồ án nhân dân năm 1960 thì ởcác khu tự trị Việt Bắc và Tây bac, tổ chức Toà án nhân dân dia
phương do Hội đồng nhân dân khu tự trị căn cứ vào Hiến pháp
năm 1959 và Luật tổ chức Toà án năm 1960 guy định. Ngày 02 - 3
cũng ban hành "điều lệ quy định cụ thể về tổ chức của Toà án nhândân các cấp trong khu tu trị Tây bác”. Điều lệ này được Uy ban
ngày 09 - 7 - 1963
Nội dung các Điều lệ quy định Toà án nhân dân khu tự trị có
thâm quyền xét xu:
+ Sơ thẩm những vụ án hình sự... thuộc tham quyền của Toaán nhân dân cấp dưới nhưng xét thấy quan trong hoặc phức tạp laylên để xử.
</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">+ Xử lại những vụ án do bản thân minh hoặc do Toà án nhândân cấp dưới đã xử mà bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp
luật nhưng Tồ án nhân dân tối cao giao cho xử lại.
các cấp trong khu tự trị Việt bắc và Tây bắc. Cơ cấu Tồ án khu tự
trị gồm có : Tồ án nhân dân khu, các Toà án nhân dân tỉnh, các
Toà án nhân dân Thị xã và huyện.
Ngoài chức năng, nhiệm vụ xét xử, Tồ án nhân dân khu cịncó nhiệm vụ xây dựng tổ chức Tư pháp trong khu và tổ chức việctuyên truyền, giáo dục pháp luật trong nhân dân; mở lớp huấn
của nhà nước. Đối với Toà án nhân dân tỉnh thì ngồi chức năng.
dựng tổ chức Tư pháp ở địa phương, huấn luyện cán bộ Tư pháp
cho thị trấn và xã; to chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong
nhân dân.
<small>3]</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">Điều 103 Hiến pháp năm 1959 của nước ta quy định :” Toàan nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Việt namdân chủ cộng hoà. Toà án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử
tối cao, Điều 2] Luật tổ chức Toà án nhân dân ngày 14 - 7 - 1960
dưới mà Toà án nhân dân tối cao lấy lên để xét xử".
các Toa án nhân dân địa phương ngày 23 - 3 - 1961 quy định :”
Toà án nhân dân cấp dưới nhưng Toà án nhân dân tối cao xét thấy
lực thi hành ngay, bị cáo khơng có quyền chống án". Những vụ án
là những vụ án mà bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, chứng
cứ rõ ràng, gây căm phan lớn trong nhân dân, dư luận quan chúng
đòi hỏi phải xử lý thật nghiêm khắc.
<small>are |I2</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">Ví dụ : Vụ án mà bị cáo đã có hành vi giết chết người, sau đó
của nhà nước...
đấu tranh, phịng chống tội phạm, bảo vệ quyền lợi chính đáng của
nhân dân, do đó có tác dụng phục vụ kip thời nhiệm vụ chính tnquốc gia.
án nhân dân cấp tinh, thành phố), nhưng Toà án nhân dân tối cao
quan đến nhiều cấp, nhiều ngành ở Trung ương mà Toà 4n tối cao
trong thời kỳ này, khi cách mạng đã chuyển sang giai đoạn xây
đang trở thành công cụ đắc lực bảo đảm cho việc bảo vệ và xâydựng chủ nghĩa xã hội.
1.2.5 Tham quyền xét xử hình sự của Toà án nhân dân đặc biệt
</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">Trước tình hình Miền nam vừa giải phóng, chế độ thực dân
câu kết thành 6 nhóm nap dưới sự điều khiển của Mỹ lén lút quaylại chống phá cách mạng. Thực tế xã hội còn rất nhiều phức tạpnhất là nạn đầu cơ tích trữ, lũng đoạn thị trường, gây khó khăn cho
Hội đồng chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà Miền nam Việtnam đã ban hành quyết định số 29 - QD cho phép thành lập Toà ánnhân dân đặc biệt. Theo quyết định này, Toà án nhân dân đặc biệtđược thành lập để xét xử bọn tội phạm là những tên tư sản mại bảnphạm tội lũng đoạn, đầu cơ tích trữ, phá rối thị trường, tàng trữ vũkhí, tài liệu địch, thơng đồng với bọn phản cách mạng tìm cách
những tên tiếp tay cho bọn phản cách mạng ở trong nước và ngoài
Sau khi Quốc hội của ca nước thống nhất, ngày 24 11
-1976, Uy ban thường vụ Quốc hội ra nghị quyết thành lập Toà án
nhân dân đặc biệt. Theo nghị quyết số 181 NQ/QHK6 ngày 23 1 - 1978 của Uy ban thường vụ Quốc hội, Toà án nhân dân đặc
-biệt được thành lập có thẩm quyền xét xử những toi phạm đặc -biệt
nghiêm trọng về trật tự xã hội xảy ra tại thành phố Hồ Chí Minh
<small>34</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">đối với những tội phạm như : giết người, cướp của, tống tiền, đối
trung ương đến huyện, thị xã phù hợp với điều kiện và đặc thù củachế độ chính trị, kinh tế - xã hội của nước ta trong giai đoạn này.
tham gia.
- Toà án nhân dân thực hiện chế độ hai cấp xét xử. Điều đó
ích chính đáng của nhân dân.
- Việc quản lý Tồ án nhân dân địa phương do Toà án nhândân tối cao đảm nhiệm, nhưng thực chất Toà án địa phương songtrùng trực thuộc. Toà án nhân dân tối cao chủ yếu quản lý về côngtác sap xếp bộ máy làm việc, số lượng biên chế, trình Uy ban
cùng cấp bầu ra.
nhất, và nhất là từ năm 1980 nhiệm vụ chiến lược đã được Đảng và
Nhà nước ta đề ra là thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược lớn : xây
dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc Việt nam xã hội chủnghĩa, do vậy địi hỏi các cơ quan pháp luật nói chung và Tồ án
kiên quyết trừng trị những tên lưu manh, côn đồ, những tên tái
nghĩa, tài sản của công dan,
33 - TC/TW ngày 21 - 1 1978 của Bộ chính trị - Ban chấp hành
vậy cấp huyện không chỉ đơn thuần là cấp hành chính mà cịn làcấp quản lý mọi mặt kinh tế - xã hội. Do đó, yêu cầu mở rộng
Ngày 18 - 12 - 1980 Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt nam khố VI, kỳ họp thứ 7 đã thơng qua Hiến pháp củanước Việt nam thống nhất.
Hiến pháp nam 1980 đã kế thừa và phát triển trên cơ sở Hiếnpháp năm 1959. Để cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm
<small>36</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">cong hồ xã hội chủ nghĩa Việt nam đã thơng qua luật tổ chức Toàán nhân dân ngày 03 - 7 - 1981.
<small>3 A r “ éz2 & x ~ ^" & ” `</small>triển Luật tô chức Toà án nhân dân năm 1960, thâm quyền cua Toàan nhân dân được quy định tại điều 36 của luật này và cụ thể như
<small>Sau :</small>
Điều 36 - Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1981 quy định :
" Các Toà án nhân dân quận, thị xã, huyện, thành phố thuộc unh
- Những tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia
- Những tội phạm hình sự khác có tính chất nghiêm trọng,
phức tạp, gây hậu quả lớn
- Những vụ án mà Toà án nhân dân tỉnh và cấp tương đương
So với luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1960, Luật tổ chức
cấp huyện, Thông tư liên ngành số 04 - TTLB ngày 06 - 2 - 1982của Toà án nhân dan tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - BOnội vụ - Bộ Tư pháp đã hướng dẫn cụ thể việc thực hiện thâm
quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện đối với những tội
</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">phạt từ 5 năm tù trở xuống nhưng đối với các tội tham ô, cướp giật
trở xuống, như vậy các Toà án nhân dân cấp huyện xét xử nhữngtội phạm về hình sự mà khung | của hình phat do luật quy định từ
Toà án nhân dân cấp huyện cũng được xét xử theo khung 2
đương với khung |. Đó là những trường hop sau :
- Tội phạm chưa bị phát giác mà kẻ phạm tội thành thật thútỘI VỚI co quan điều tra ;
giảm bớt tác hại của tội phạm ,
chữa thiệt hại hoặc tích cực sửa chữa thiệt hại đã xảy ra 3- Phạm tội gây thiệt hại khơng lớn,
thực tế áp dụng cho thấy một số vấn đề bất hợp lý, trường hợp Toàan nhân dân cấp huyện xét xử theo khung 2 có mức hình phạt trên
7 năm tù, song do vụ án có tính chất ít nghiêm trọng và có những
tinh tiết cho phép xử nhẹ tương đương với khung 1, như vay, mặc
áp dụng mức hình phạt dưới 7 năm tù. Như vậy là không khách