Tải bản đầy đủ (.doc) (23 trang)

Lý luận về nhà nước trong tác phẩm “nguồn gốc của gia Đình, của chế Độ tư hữu và của nhà nước” của Ăngghen Ý nghĩa trong việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Ở nước ta hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (208.66 KB, 23 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<b>NGHĨA TRONG VIỆC XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁPQUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY </b>

<b><small>I. HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA TÁC PHẨM</small></b>

Ăngghen viết tác phẩm ''Nguồn gốc của gia đình của chế độ tư hữu và củanhà nước'' trong hai tháng từ cuối tháng Ba đến cuối tháng Năm 1884, nhân cónhững cơng trình nghiên cứu của nhà Nhân chủng học người Mỹ H.Moócgan;cùng với việc nghiên cứu lịch sử nhà nước Hylạp, Rôma, Giécmanh.

Trong thời điểm này chủ nghĩa đế quốc phát triển tương đối hồ bình, đồngthời cũng là thời kì giai cấp vơ sản tập hợp lực lượng để chuẩn bị cho nhữngcuộc cách mạng sắp tới.

Tình hình kinh tế, chính trị- xã hội nước Đức cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20diễn ra hết sức phức tạp:

Về kinh tế: nước Đức vẫn là nước kém phát triển so với các nước đã tiếnhành cách mạng tư sản như Anh, Pháp, Hà lan.

Về chính trị- xã hội: giai cấp tư sản Đức vừa yếu kém về kinh tế vừa bạcnhược về chính trị, nó mang tính hai mặt, một mặt muốn làm cách mạng để xoábỏ chế độ phong kiến quân chủ, mặt khác lại sợ lực lượng cách mạng đang lên-sợ giai cấp vơ sản, do đó giai cấp tư sản Đức hèn nhát, cải lương, thoả hiệp vớigiai cấp phong kiến.

Trong khi đó, giai cấp vơ sản Đức cịn nhiều hạn chế: chưa ý thức mộtcách rõ ràng vai trị lịch sử của mình, chưa được tổ chức chặt chẽ và còn bị ảnhhưởng của các tư tuởng cơ hội, thoả hiệp, cải lương xâm nhập. Trong điều kiệnđó xuất hiện các luận thuyết sai lầm của Bachopen, của Lecnan khi giải thích vềlịch sử gia đình.

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

Từ các lý do nêu trên đã thôi thúc Ăngghen viết tác phẩm “Nguồn gốc củagia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”.

Lúc đầu Ăngghen đề nghị in tác phẩm của mình trong tạp chí lí luận hợppháp “Thời mới” của đảng dân chủ xã hội Đức nhưng về sau ông bỏ kế hoạch vìnhận thấy tác phẩm sẽ khơng được ấn hành do khuynh hướng chính trị của nó.Cuốn sách đã được ra mắt ở Xuyrich vào đầu tháng Mười năm 1884. Thời gianđầu, bọn cầm quyền Đức gây trở ngại cho việc phát hành, nhưng về sau nhữngkhó khăn đó đã được khắc phục và tác phẩm được tiếp tục xuất bản những lần tiếp theo,với các thứ tiếng khác nhau như tiếng Xecbi, Balan, Rumani, Italia, Đan mạch;Ăngghen đã hiệu đính các bản dịch tiếng Italia, Đan mạch.

Tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước''tiếp tục được xuất bản lần thứ tư có sửa đổi và bổ sung vào cuối năm 1891 ởStútgát. Khi Ăngghen còn sống, tác phẩm được xuất bản lần thứ năm vào năm1892 và lần thứ sáu vào năm 1894, nhưng nội dung khơng có gì thay đổi sovới lần xuất bản thứ tư. Tác phẩm của Ăngghen được xuất bản bằng tiếng Ngalần đầu tiên ở Pêtécbua vào năm 1894. Về sau tác phẩm nhiều lần được xuấtbản bằng tiếng Nga và những tiếng khác.

<b><small>II. KẾT CẤU CỦA TÁC PHẨM</small></b>

Tác phẩm gồm có lời tựa cho hai lần xuất bản (lần thứ nhất năm 1848, lầnthứ hai năm 1891) và 9 chương:

- Chương I: Những giai đoạn văn hoá tiền sử;- Chương II: Gia đình;

- Chương III: Thị tộc I-rơ-qua;- Chương IV: Thị tộc Hy Lạp;

- Chương V: Sự ra đời của Nhà nước A-ten;- Chương VI: Thị tộc và Nhà nước ở La Mã;

- Chương VII: Thị tộc của người Kentơ và của người Giéc Manh;

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

- Chương VIII: Sự hình thành Nhà nước ở người Giéc Manh;- Chương IX: Thời đại dã man và thời đại văn minh.

Tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước''

<i><b>được in trong C.Mác và Ph. Ăngghen, Tồn tập, Tập 21 , Nxb Chính trị quốcgia, Hà Nội, 1995 (từ trang 41 đến trang 265).</b></i>

<b><small>III. NHỮNG QUAN ĐIỂM DUY VẬT LỊCH SỬ VỀ NHÀ NƯỚC CỦAĂNGGHEN TRONG TÁC PHẨM</small></b>

<b>1. Quan điểm duy vật lịch sử về vấn đề nhà nước.</b>

<i><b> Đây là một trong những vấn đề chủ yếu được Ăngghen trình bày trong tác</b></i>

phẩm và thể hiện sự phát triển sâu sắc những quan điểm của Mác về nhà nước. Vấnđề nhà nước được Ăngghen trình bày rõ qua chương V đến chương IX của tácphẩm, trong đó những kết luận quan trọng được chỉ ra trong chương IX “thời đại dãman và thời đại văn minh”.

<i><b>1.1. Tính tất yếu của nhà nước</b></i>

Trong xã hội nguyên thuỷ chưa có sự xuất hiện của nhà nước, qua phân tíchcác thị tộc Irơqua, thị tộc Hylạp, Ăngghen đã khẳng định ở xã hội đó chưa có cơ sởđể hình thành nhà nước. Ăngghen viết: “Căn cứ theo Mcgan, tơi đã mơ tả lại chếđộ đó một cách chi tiết, vì ở đây, chúng ta có dịp nghiên cứu tổ chức của một xãhội chưa từng biết đến nhà nước”<small>1</small>.

Tuy nhiên ông cũng chỉ ra rằng vẫn có các cơ quan điều hành chung của xãhội. Đặc điểm của các cơ quan đó là các tù trưởng, tộc trưởng, liên minh các thiếtchế xã hội tự nguyện nảy sinh để điều hành xã hội. (Ăngghen phân tích từ trang142 đến trang 147).

Về bản chất nó khác với bản chất nhà nước sau này: nó khơng có qn đội,cơng an, cảnh sát, quan tồ và nhà tù...thế mà mọi việc đều trơi chảy. Ăngghen viết:

<small>1 C.Mác v Ph.à Ph.Ăngghen, To n tà Ph. ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật H Nà Ph. ội 1995, tr 145- tr 146.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

“Với tất cả tính ngây thơ và giản dị của nó, chế độ thị tộc đó quả là một tổ chức tốtđẹp biết bao! Khơng có qn đội, hiến binh và cảnh sát, khơng có q tộc, vuachúa, tổng đốc, trưởng quan và quan tồ, khơng có nhà tù, khơng có những vụ xửán, thế mà mọi việc đều trơi chảy”<small>2</small>.

Ăngghen khẳng định trong q trình vận động, phát triển của xã hội, nhữngthiết chế của xã hội cộng sản nguyên thuỷ tất yếu bị phá vỡ, thay thế vào đó mộtthiết chế phù hợp hơn đó là nhà nước. Ông viết: “Quyền lực của cộng đồng nguyênthuỷ đó nhất định phải bị đập tan- và nó đã bị đập tan...Đã làm suy yếu xã hội thịtộc không có giai cấp và đã đưa xã hội đó đến chỗ diệt vong. Và bản thân xã hộimới, trong suốt hai nghìn năm trăm năm tồn tại, vẫn khơng phải là cái gì khác màchỉ là sự phát triển của cái thiểu số nhỏ, một sự phát triển bằng mồ hôi nước mắtcủa tuyệt đại đa số những người bị bóc lột, áp bức và hiện nay xã hội đó vẫn là nhưvậy, trên một mức độ lớn hơn bao giờ hết”<small>3</small>.

Như vậy, Ăngghen đã khẳng định một xã hội để hình thành nhà nước phải cónhững cơ sở của nó, nhà nước khơng phải là thứ quyền lực từ bên ngoài áp đặt vào.

<i><b>1.2. Về nguồn gốc nhà nước</b></i>

Ăngghen đã phê phán quan điểm duy tâm về nguồn gốc của nhà nước: nhànước không phải là một quyền lực từ bên ngồi áp đặt vào xã hội, khơng phải làhiện thực của ý niệm đạo đức hay là hình ảnh và hiện thực của lý tính như Hêghenkhẳng định. Ông viết: “Nhà nước quyết không phải là một quyền lực từ bên ngồiáp đặt vào xã hội, khơng phải là “hiện thực của ý niệm đạo đức” là “hình ảnh vàhiện thực của lý tính” như Hêghen đã khẳng định”<small>4</small>.

Nhà nước nảy sinh trong xã hội; theo Ăngghen, nhà nước ra đời do hai nguồn gốc:Nguồn gốc sâu xa: xuất phát từ nguồn gốc kinh tế, đó là kết quả của sự phâncông lao động xã hội, chế độ chiếm hữu tư nhân tư liệu sản xuất. Ăngghen viết:

<small>2 C.Mác v Ph.à Ph.Ăngghen, To n tà Ph. ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật H Nà Ph. ội 1995, tr 147.</small>

<small>3 C.Mác v Ph.à Ph.Ăngghen, To n tà Ph. ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật H Nà Ph. ội 1995, tr 150.</small>

<small>4 C.Mác v Ph.à Ph.Ăngghen, To n tà Ph. ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật H Nà Ph. ội 1995, tr 252.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

“Nó đã bị sự phân công và hậu quả của sự phân công ấy- tức là sự phân chia của xãhội thành giai cấp- phá tan. Nó đã bị nhà nước thay thế”<small>5</small>.

Về nguồn gốc trực tiếp: biểu hiện về mặt chính trị xã hội, dẫn đến sự phâncông xã hội thành giai cấp và mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được dẫn đếnsự ra đời của nhà nước để duy trì xã hội trong một “trật tự” nhất định. Từ mâuthuẫn giai cấp khơng thể điều hồ được đã dẫn tới giai cấp thống trị đã buộc các cơquan đứng đầu thị tộc, bộ lạc dần dần xa rời nhân dân đối lập với lợi ích của nhândân và trở thành cơ quan áp bức nhân dân. Ăngghen viết: “Nhà nước là sản phẩmcủa một xã hội đã phát triển tới một giai đoạn nhất định; nó là sự thú nhận rằng xãhội đó bị lúng túng trong một mối mâu thuẫn với bản thân mà không sao giải quyếtđược, rằng xã hội đó đã bị phân thành những mặt đối lập khơng thể điều hồ mà xãhội đó bất lực không sao loại bỏ được. Nhưng muốn cho những mặt đối lập đó,những giai cấp có quyền lợi kinh tế mâu thuẫn nhau đó, khơng đi đến chỗ tiêu diệtlẫn nhau và tiêu diệt luôn cả xã hội trong một cuộc đấu tranh vơ ích, thì cần phải cómột lực lượng cần thiết, một lực lượng rõ ràng là đứng trên xã hội, có nhiệm vụlàm dịu bớt sự xung đột và giữ cho sự xung đột đó nằm trong vịng “trật tự”. Và lựclượng đó, nẩy sinh ra từ xã hội, nhưng lại đứng trên xã hội và ngày càng tách khỏixã hội, chính là nhà nước”<small>6</small>.

Sau này khi nghiên cứu quan điểm trên đây của Ăngghen, Lênin đã nhấnmạnh rằng Nhà nước là sản phẩm của những mâu thuẫn giai cấp khơng thể điềuhồ được. Và chỉ rõ tư tưởng của Ăngghen về việc Nhà nước có thể “làm dịu” mâuthuẫn, xung đột trong xã hội khơng có nghĩa Nhà nước là cơ quan điều hồ mâuthuẫn giai cấp. Rõ ràng nhà nước khơng phải là một quyền lực từ bên ngoài áp đặtvào xã hội, không phải là “hiện thực của ý niệm đạo đức” là “hình ảnh và hiện thựccủa lý tính” như Hêghen khẳng định.

<i><b>1.3. Về đặc trưng của nhà nước</b></i>

<small>5 C.Mác v Ph.à Ph.Ăngghen, To n tà Ph. ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật H Nà Ph. ội 1995, tr 251.</small>

<small>6 C.Mác v Ph.à Ph.Ăngghen, To n tà Ph. ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật H Nà Ph. ội 1995, tr 252- tr 253.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

Ăngghen đã chỉ ra hai đặc trưng cơ bản của nhà nước, để phân biệt nhà nướcvới các tổ chức trong xã hội. Đặc trưng của nhà nước được Ăngghen phân tích mộtcách sâu sắc, ơng cho rằng nhà nước có đặc trưng phân chia dân cư theo địa vực vàthiết lập quyền lực công cộng.

Đặc trưng thứ nhất của nhà nước được Ăngghen phân tích và ông cho rằngnhà nước có đặc trưng phân chia dân cư theo địa vực cư trú tức là phân chia theolãnh thổ; nhà nước quản lý thần dân theo lãnh thổ chứ không theo huyết thống.Ăngghen viết: “So với tổ chức hệ tộc trước kia thì đặc trưng thứ nhất của nhà nướclà ở chỗ nó phân chia thần dân của nó theo địa vực...Cách tổ chức những cơng dâncủa nhà nước theo địa vực họ cư trú như thế, là một đặc điểm chung của tất cả cácnhà nước”<small>7</small>. Ăngghen cũng chỉ ra đó là kết quả của sự đấu tranh gay go và lâu dàimới xác lập được, Ông viết: “Cho nên chúng ta thấy tổ chức đó hình như là điều tựnhiên; nhưng chúng ta đã thấy rằng cần phải trải qua một cuộc đấu tranh gay go vàlâu dài như thế nào thì tổ chức đó mới được xác lập, ở Aten và ở La Mã, thay chotổ chức cũ theo thị tộc”<small>8</small>.

Đặc trưng thứ hai của nhà nước là sự thiết lập một quyền lực công cộng đặcbiệt, bản thân nhà nước là một bộ máy là cơ quan quyền lực chính trị, gắn với nó làcơng cụ đặc biệt- tổ chức ra lực lượng vũ trang, nhà tù... và khơng cịn trực tiếp làdân cư tự tổ chức thành lực lượng vũ trang nữa. Ăngghen viết: “Đặc trưng thứ haicủa nhà nước là sự thiết lập một quyền lực cơng cộng, khơng cịn trực tiếp là dâncư tự tổ chức thành lực lượng vũ trang nữa. Quyền lực cơng cộng đặc biệt đó là cầnthiết, vì từ khi có phân chia xã hội thành giai cấp thì khơng thể có tổ chức vũ trangtự hoạt động của dân cư được nữa...Quyền lực công cộng đó đều tồn tại trong mỗinhà nước”<small>9</small>.

<small>7 C.Mác v Ph.à Ph.Ăngghen, To n tà Ph. ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật H Nà Ph. ội 1995, tr 253.</small>

<small>8 C.Mác v Ph.à Ph.Ăngghen, To n tà Ph. ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật H Nà Ph. ội 1995, tr 253</small>

<small>9 C.Mác v Ph.à Ph.Ăngghen, To n tà Ph. ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật H Nà Ph. ội 1995, tr 253- tr 254.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

Để duy trì quyền lực cơng cộng đó, nhà nước cần phải huy động sự đóng gópcủa cơng dân đó là thuế. Ăngghen viết tiếp: “Để duy trì quyền lực cơng cộng đó,cần phải có sự đóng góp của cơng dân đó là thuế má...Nắm được quyền lực côngcộng và quyền thu thuế, bọn quan lại, với tư cách là những cơ quan của xã hội,được đặt lên trên xã hội” <small>10</small>. Sau này quyền thu thuế được tách ra thành đặc trưngriêng của nhà nước.

<i><b>1.4. Về bản chất của nhà nước</b></i>

Một điểm đặc biệt quan trọng mà trong tác phẩm “nguồn gốc các gia đình củachế độ tư hữu và của nhà nước”, Ăngghen đã chỉ ra, đó là về bản chất giai cấp củanhà nước. Đi từ nguồn gốc ra đời của nhà nước và những đặc trưng cơ bản của nhànước trong xã hội có đối kháng giai cấp, ơng đã chỉ rõ nhà nước mang bản chất củamột giai cấp, khơng có nhà nước phi giai cấp. Nhà nước là công cụ áp bức của giai cấpnày với giai cấp khác và nhà nước bao giờ cũng của một giai cấp nhất định- giai cấp đóthống trị xã hội bằng kinh tế- quyền lực kinh tế. Vì vậy nhà nước mang bản chất củamột giai cấp tổ chức ra nó, khơng thể có một nhà nước chung chung phi giai cấp.Ăngghen viết: “Vì nhà nước nảy sinh từ nhu cầu phải kiềm chế những sự đối lậpgiai cấp; vì nhà nước đồng thời cũng nảy sinh ra giữa cuộc xung đột của các giaicấp ấy, cho nên theo lệ thường, nhà nước là nhà nước của giai cấp có thế lực nhất,của cái giai cấp thống trị về mặt kinh tế và nhờ có nhà nước mà cũng trở thành giaicấp thống trị về mặt chính trị và do đó có thêm được những phương tiện mới đểđàn áp và bóc lột giai cấp bị áp bức”<small>11</small>.

Theo quan điểm của Ăngghen thì khi phân tích cơ cấu xã hội- giai cấp củamột xã hội cụ thể, chúng ta có thể chỉ ra được nhà nước trong xã hội ấy là của giaicấp nào. Trong xã hội cũ dựa trên sự đối kháng giai cấp, chỉ có các nhà nước củagiai cấp chủ nô, giai cấp phong kiến, giai cấp tư sản. Không có cái gọi là nhà nướcphi giai cấp, nhà nước điều hoà mâu thuẫn giai cấp như những kẻ xuyên tạc chủ

<small>10 C.Mác v Ph.à Ph.Ăngghen, To n tà Ph. ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật H Nà Ph. ội 1995, tr 254.</small>

<small>11 C.Mác v Ph.à Ph.Ăngghen, To n tà Ph. ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật H Nà Ph. ội 1995, tr 255.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

nghĩa Mác tuyên truyền. Ăngghen còn khẳng định thêm: “Nhà nước là mộttổ chức của giai cấp hữu sản, dùng để bảo vệ giai cấp này, chống lại giaicấp khơng có của”<small>12</small>.

Tuy nhiên, theo Ăngghen có những trường hợp ngoại lệ, trong chừng mựcnào đó nhà nước ở vị trí trung lập, đại diện cho một số giai cấp nhất định, nó phảnánh thế cân bằng tạm thời giữa các giai cấp và cuộc đấu tranh giai cấp sẽ phá vỡ thếcân bằng đó. Theo Ăngghen nhà nước tựa hồ như của hai giai cấp cơ bản, đó là nhànước của thời kỳ mà trong đó cuộc đấu tranh của những giai cấp ấy đang ở thế“bình quân”, cân bằng tạm thời. Song những trường hợp này không tồn tại lâu dài.Chẳng hạn như chế độ quân chủ chuyên chế ở thế kỷ XVII và XVIII, chế độBônapáctơ của đế chế I, II, đế chế dân tộc Giécmanh mới thời Bixmác. Ăngghenviết: “Cũng có trường hợp ngoại lệ là có những thời kỳ trong đó những giai cấpđang đấu tranh lẫn nhau lại gần đạt được một thế bình qn khiến cho chính quyềnnhà nước, tựa hồ một kẻ trung gian giữa các bên, lại tạm thời có được một mức độđộc lập nào đó đối với cả hai giai cấp. Chẳng hạn như chế độ quân chủ chuyên chếở thế kỷ XVII và XVIII đã giữ thế thăng bằng giữa bọn quý tộc và giai cấp tư sản;như chế độ Bônapáctơ của Đế chế I và đặc biệt là của Đế chế II ở Pháp, đã đẩy giaicấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, rồi lại đẩy giai cấp tư sản chống lại giai cấp vơsản”<small>13</small>.

Ví dụ như nhà nước Cămpuchia hiện nay cũng là biểu hiện của thế cân bằngđó, theo quy luật nó sẽ bị phá vỡ thế cân bằng ấy khi đấu tranh về lợi ích của cácgiai cấp nổ ra.

Tư tưởng của Ăngghen về bản chất của Nhà nước đã được Lênin trình bày rấtchi tiết và sâu sắc trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng”.

Trong quá trình phân tích về nguồn gốc, bản chất giai cấp của nhà nước,Ăngghen ln gắn những vấn đề đó với giai cấp và đấu tranh giai cấp. Theo lơgíc

<small>12 C.Mác v Ph.à Ph.Ăngghen, To n tà Ph. ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật H Nà Ph. ội 1995, tr 256.</small>

<small>13 C.Mác v Ph.à Ph.Ăngghen, To n tà Ph. ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật H Nà Ph. ội 1995, tr 255.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

trình bày của mình, Ăngghen xác định giai cấp là một phạm trù lịch sử gắn liền vớigiai đoạn phát triển kinh tế nhất định và theo đó thì nhà nước- sản phẩm trực tiếpcủa đấu tranh giữa các giai cấp- cũng là có tính lịch sử.

<i><b>1.3. Về vấn đề nhà nước tiêu vong</b></i>

Về tư tưởng nhà nước tiêu vong, nhà nước không tồn tại vĩnh viễn mà khikhơng cịn giai cấp thì nhà nước cũng tự tiêu vong. Theo Ăngghen, nhà nước làmột phạm trù lịch sử, q trình ra đời, tồn tại của nó gắn với những điều kiện nhấtđịnh, khi những điều kiện đó mất đi thì nhà nước cũng tiêu vong. Ăngghen viết:“Giai cấp tiêu vong thì nhà nước cũng khơng tránh khỏi tiêu vong theo. Xã hội sẽtổ chức lại nền sản xuất trên cơ sở liên hiệp tự do và bình đẳng giữa những ngườisản xuất, sẽ đem toàn thể bộ máy nhà nước xếp vào cái vị trí thật sự của nó lúc bấygiờ: vào viện bảo tàng đồ cổ, bên cạnh cái xa kéo sợi và cái rìu bằng đồng”<small>14</small>.

Tuy nhiên, Ăngghen chưa bàn về vấn đề nhà nước tự tiêu vong mà sau nàytrong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng”, Lênin đã bảo vệ và phát triển tưtưởng của Ăngghen về vấn đề nhà nước tiêu vong, Lênin chỉ ra rằng chỉ có nhànước vơ sản mới tự tiêu vong được và để nó tự tiêu vong thì phải có đầy đủnhững điều kiện cần thiết.

Mặc dù trong tác phẩm “nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và củanhà nước”, Ăngghen chưa có điều kiện đi vào phân tích q trình tiêu vong của nhànước nhưng ông đã vạch ra những mâu thuẫn vốn có trong các chế độ xã hội cũ,khiến nó không thể tồn tại mà phải thay thế bằng chế độ xã hội cao hơn. Kết thúc

<b>tác phẩm của mình, Ăngghen đã chỉ ra những điều mà xã hội có giai cấp trong thời</b>

đại văn minh đã làm được và những mâu thuẫn giai cấp sâu sắc của nó và để kếtluận, Ăngghen đã trích ra một xét đốn của Moócgan: “Sự diệt vong của xã hộiđang đứng sừng sững trước mặt chúng ta một cách đe doạ như là sự kết thúc củamột quá trình lịch sử mà của cải là mục đích cuối cùng và duy nhất. Vì một quá

<small>14 C.Mác v Ph.à Ph.Ăngghen, To n tà Ph. ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật H Nà Ph. ội 1995, tr 258.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

trình phát triển như vậy đang chứa đựng những yếu tố làm cho chính nó bị tiêudiệt... Đó sẽ là một sự hồi sinh- nhưng dưới một hình thức cao hơn- của tự do, bìnhđẳng và hữu ái của những thị tộc thời cổ”<small>15</small>.

<b>2. Quan điểm của Ăngghen về một số nội dung của chủ nghĩa duy vật lịchsử trong tác phẩm.</b>

<i><b>2.1. Về giai cấp và đấu tranh giai cấp. </b></i>

Ăng ghen đã nghiên cứu phân tích trên lập trường duy vật về sự hình thànhgiai cấp trong xã hội, đã chỉ ra những điều kiện kinh tế đã phá vỡ tổ chức hệ tộc, bộlạc ngay từ giai đoạn cao các thời đại dã man và sự loại bỏ hồn tồn các tổ chứcđó khi xuất hiện thời đại văn minh. Ăng ghen đã luận chứng một cách khoa học vềsự hình thành giai cấp gắn liền với sự phát triển các lực lượng sản xuất, của nhữngcuộc phân công lao động xã hội lớn. Trong tác phẩm nguồn gốc của gia đình, củachế độ tư hữu và của nhà nước”, Ăngghen đã trình bày rõ ba lần phân cơng laođộng xã hội lớn dẫn tới sự hình thành các giai cấp khác nhau trong xã hội vănminh.

Sự phân công xã hội lớn đầu tiên là chăn nuôi tách khỏi trồng trọt, việc chăn

<i>nuôi và coi giữ gia súc là ngành lao động chủ yếu của một số bộ lạc tiên tiến.</i>

Những bộ lạc du mục tách rời khỏi bộ phận còn lại của những người dã man. Vậtphẩm chủ yếu mà các bộ lạc du mục trao đổi với những bộ lạc lân cận là gia súc,gia súc trở thành hàng hoá. Ăngghen viết: “Những bộ lạc du mục tách rời khỏi bộphận còn lại của những người dã man: Đó là sự phân cơng xã hội lớn đầu tiên.Những bộ lạc du mục không những sản xuất nhiều thức ăn hơn những người dãman khác, mà những thức ăn do họ sản xuất ra cũng có nhiều loại hơn. Khơngnhững họ có nhiều sữa, nhiều sản phẩm làm bằng sữa và nhiều thịt hơn, mà cịn códa thú, len, lơng dê cũng như có một số lượng sợi và hàng diệt ngày càng tăng, vì

<small>15 C.Mác v Ph.à Ph.Ăngghen, To n tà Ph. ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật H Nà Ph. ội 1995, tr 265.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

khối lượng nguyên liệu đã tăng lên. Vì vậy mà lần đầu tiên, đã có thể có sự trao đổiđều đặn”<small>16</small>.

Về thành tựu các công nghiệp trong giai đoạn này, Ăngghen chỉ ra có 2 thànhtựu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đó là khung dệt và nấu quặng, chế tạo đồ kimloại (nhưng chưa biết khai thác sắt). Từ sự phân công xã hội lớn đầu tiên đã làmcho sản xuất tăng lên trong tất cả các ngành, sức lao động của con người “có khảnăng sản xuất được nhiều sản phẩm hơn số sản phẩm cần thết cho sinh hoạt củahọ”. Sự phát triển của sản xuất đẻ ra nhu cầu phải thu hút những sức lao động mớivà chiến tranh đã cung cấp những sức lao động mới, đó là tù binh bắt được trongchiến tranh bị biến thành nô lệ. Ăngghen đi đến khẳng định: “Trong những điềukiện lịch sử lúc đó, sự phân cơng lao động xã hội lớn đầu tiên, do tăng năng xuấtlao động, tức là tăng của cải và do mở rộng lĩnh vực hoạt động sản xuất, nhất địnhphải đưa đến chế độ nô lệ. Từ sự phân công xã hội lớn đầu tiên, đã nẩy sinh sựphân chia lớn đầu tiên trong xã hội thành 2 giai cấp: chủ nô và nô lệ, kẻ bóc lột vàngười bị bóc lột”<small>17</small>.

Sự phân cơng xã hội lớn đầu tiên đã làm thay đổi sự phân lao động trong giađình. Việc tìm kiếm thức ăn cho những đàn gia súc của gia đình cá thể được traocho người đàn ông, người đàn ông đảm nhiệm việc sản xuất ra công cụ và sử dụngcông cụ để tìm kiếm thức ăn cho gia súc. Theo đó, sự thống trị của người đàn ơngtrong gia đình trở nên tất yếu.

Phân tích tiếp sự phát triển của thời đại dã man, Ăngghen đã chỉ ra sự phâncơng lớn lần thứ hai, đó là: thủ cơng nghiệp đã tách khỏi nơng nghiệp, từ đó xuất

<i>hiện nền sản xuất hàng hoá. Vào giai đoạn cao của thời đại dã man, con người biết</i>

sử dụng sắt và chỉnh những công cụ bằng sắt đã làm cho của cả tăng nhanh và cácngành nghề phát triển theo hướng ngày càng chun mơn hố. Ăngghen viết: “Củacải tăng lên nhanh chóng nhưng với tư cách là của cải các cá nhân, nghề dệt, nghề

<small>16 C.Mác v Ph.à Ph.Ăngghen, To n tà Ph. ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật H Nà Ph. ội 1995, tr 237- tr 238.</small>

<small>17 C.Mác v Ph.à Ph.Ăngghen, To n tà Ph. ập, tập 21, Nxb CTQG, Sự thật H Nà Ph. ội 1995, tr 240.</small>

</div>

×