Tải bản đầy đủ (.doc) (71 trang)

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SECPENTIN VÀ PHÂN BÓN THANH HÓA.DOC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (323.75 KB, 71 trang )

MỤC LỤC
MỤC LỤC ........................................................................................................ 1
LỜI MỞ ĐẦU .................................................................................................. 1
Chương I:
Hiệu quả kinh doanh và những chỉ tiêu đánh giá ........................................ 2
I. Khái niệm hiệu quả kinh doanh ........................................................................ 2
II. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp .................... 6
1. Các chỉ tiêu chung ......................................................................................... 6
2. Chỉ tiêu cụ thể ............................................................................................... 7
2.1.Doanh thu ................................................................................................ 7
2.2.Lợi nhuận ................................................................................................. 8
2.3.Tỷ suất lợi nhuận ..................................................................................... 9
2.4. Hiệu quả sử dụng lao động ................................................................... 10
2.5. Hiệu quả sử dụng tài sản cố định ......................................................... 11
2.6. Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động ....................................................... 11
2.7. Nộp ngân sách nhà nước: ..................................................................... 12
III. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp ...... 12
1. Các nhân tố bên ngoài .................................................................................. 12
2.Các nhân tố thuộc nội bộ doanh nghiệp: ....................................................... 18
IV. Hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp cổ phần trong nền kinh tế
thị trường .............................................................................................................. 20
1. Đặc điểm của các doanh nghiệp sau cổ phần hóa ......................................... 20
2.Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của các công ty cổ phần hóa. ............. 22
3.Tình hình hiệu quả kinh doanh của các công ty sau cổ phần hóa ................... 23
4.Các yếu tố cải thiện hiệu quả kinh doanh của các công ty cổ phần ................ 24
Chương II:
Thực trạng hiệu quả kinh doanh của công ty cổ phần Secpentin và Phân
bón Thanh Hóa .............................................................................................. 27
I. Tổng quan về công ty cổ phần Secpentin và Phân bón Thanh Hóa ........... 27
1.Lịch sử hình thành và phát triển công ty ....................................................... 27
2.Lĩnh vực kinh doanh và sản phẩm cung cấp ................................................. 29


3.Cơ cấu tổ chức và quản lý của công ty .......................................................... 29
4.Một số đặc điểm về kỹ thuật của công ty ...................................................... 34
II. Thực trạng hiệu quả kinh doanh của công ty cổ phần Secpentin và Phân
bón Thanh Hóa. .................................................................................................... 45
1. Kết quả kinh doanh trong giai đoạn 2007-2009 ............................................ 45
2.Hiệu quả kinh doanh ..................................................................................... 47
3.Các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh của công ty ........................... 51
Chương III.
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty cổ phần
Secpentin và Phân bón Thanh Hóa ............................................................. 57
I. Phân tích ma trận Swot của công ty ............................................................... 57
II. Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh cảu công ty cổ phần
Secpentin và Phân bón Thanh Hóa .................................................................... 59
1. Nâng cao năng lực quản lý. .......................................................................... 59
2.Củng cố chiến lược Marketing ...................................................................... 63
3.Nâng cao công nghệ- kỹ thuật ....................................................................... 64
4.Nâng cao hiệu quả huy động vốn và sử dụng vốn ......................................... 65
Kết Luận ......................................................................................................... 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 68
LỜI MỞ ĐẦU
Kinh tế thị trường là việc tổ chức nền kinh tế xã hội dựa trên cơ sở một nền sản
xuất hàng hóa .Thị trường luôn mở ra cơ hội kinh doanh mới nhưng đồng thời cũng
chứa đựng những nguy cơ đe dọa cho các doanh nghiệp.Để có thể đứng vững trước
quy luật cạnh tranh khắc nghiệt của thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp luôn phải
vận động,tìm tòi một hướng đi cho phù hợp.Việc đứng vứng này chỉ có thể khẳng
định bằng cách kinh doanh có hiệu quả.
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế là một chỉ tiêu chất lượng tổng
hợp. Đánh giá hiệu quả kinh doanh chính là quá trình so sánh giữa chi phí bỏ ra và
kết quả thu về với mục đích đã được đặt ra và dựa trên cơ sở giải quyết các vấn đề cơ
bản của nền kinh tế thị này : Sản xuất cái gì?sản xuất như thế nào?và sản xuất cho ai?

Do đó việc nghiên cứu và xem xét vấn đề nâng cao hiệu quả kinh doanh là một đòi
hỏi tất yếu đối với doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh hiện nay.
Vì vậy trong quá trình thực tập tại công ty cổ phần Secpentin và phân bón
Thanh Hóa,với những kiến thức đã tích lũy được cùng với sự quan tâm giúp đỡ tận
tình của các cô chú tại công ty và đặc biệt là sự góp ý,hướng dẫn của thầy giáo – PGs
Nguyễn Tiến Dũng đã giúp em thực hiện đề tài : “MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG
CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SECPENTIN
VÀ PHÂN BÓN THANH HÓA”
Nội dung chuyên đề bao gồm các phần sau:
Chương I : Hiệu quả kinh doanh và những chỉ tiêu đánh giá
Chương II: Thực trạng hiệu quả kinh doanh của công ty cổ phần Secpentin và
Phân bón Thanh hóa.
Chương III: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty cổ
phần Secpentin và Phân bón Thanh Hóa.
1
Chương I:
Hiệu quả kinh doanh và những chỉ tiêu đánh giá
I. Khái niệm hiệu quả kinh doanh
Nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, việc nâng cao hiệu quả của hoạt
động sản xuất kinh doanh luôn là một vấn đè được đặt lên hàng đầu. Nó là yếu tố
quyết định đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp trước sự cạnh tranh
khốc liệt của thị trường như hiện nay.
Vậy hiệu quả kinh doanh là gì?
Trước hết ta tìm hiểu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là gì và như thế
nào thì được gọi là hiệu quả?
Hoạt động kinh doanh theo luật định, là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả
các công đoạn của quá trình đầu tư, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện trên
thị trường nhằm mục đích sinh lời.
Hoạt động kinh doanh có thể được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau, chẳng
hạn:

Theo tính chất của hoạt động, chúng ta có hoạt động sản xuất( sản phẩm hoặc
dịch vụ) và hoạt động thương mại.
Theo bản chất kinh tế,chúng ta có các doanh nghiệp công nghiệp, thương
nghiệp, nông nghiệp, tài chính…
Bản chất của hoạt động sản xuất kinh doanh là tạo ra giá trị cho các loại sản
phẩm hoặc dịch vụ, đây được xem là nhiệm vụ hàng đầu nếu không muốn nói là duy
nhất của hoạt động sản xuất kinh doanh.Một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh mà
không tạo ra giá trị thì sẽ không có lý do để tồn tại. Hay nói cách khác, tạo ra giá trị
là nhiệm vụ sống của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh.
2
Thế còn hiệu quả là gì? Và thế nào là hiệu quả kinh doanh là gì?
Ngày nay, khi đề cập đến vấn đề hiệu quả, người ta vẫn chưa có một khái niệm
thống nhất. Bởi vì xét trên mỗi lĩnh vực khác nhau,với những góc độ xem xét khác
nhau thì người ta có những khái niệm khác nhau về hiệu quả,và thông thường khi nói
đến hiệu quả của một lĩnh vực nào đó thì người ta gắn ngay tên của lĩnh vực đó liền
ngay sau hiệu quả. Ở đây, chúng ta chỉ xem xét các vấn đề hiệu quả trên lĩnh vực
kinh tế.
Hiệu quả kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu
kinh tế tại một thời kì nào đó.Nếu đứng trên phạm vi từng yếu tố riêng lẻ thì chúng ta
có phạm trù hiệu quả kinh tế, và xem xét vấn đề hiệu quả trong phạm vi doanh
nghiệp thì hiệu quả kinh tế chính là hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Hiểu theo
mục đích cuối cùng thì hiệu quả kinh tế là hệ số giữa kết quả thu về và chi phí bỏ ra
để được hiệu quả đó.
Đối với một doanh nghiệp,vấn đề hiệu quả kinh doanh luôn được đặt lên hàng
đầu.Nó là yếu tố đầu tiên và tiên quyết đến thành công hay sự tồn tại của một doanh
nghiệp. Tại sao lại có thể nói như vậy?
Theo em, hiệu quả kinh doanh của một hiện tượng( hoặc một quá trình )kinh tế
là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài
lực,vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định. Nếu áp dụng cho phương diện
doanh nghiệp, tức là một doanh nghiệp có mức hiệu quả kinh doanh cao cũng có

nghĩa là với cùng một mức nguồn lực như nhau. Doanh nghiệp đó sẽ tạo ra được
nhiều hàng hóa dịch vụ hơn các doanh nghiệp khác, như vậy mức lợi nhuận của
doanh nghiệp so với doanh nghiệp khác tinh theo cùng một mức nguồn lực sẽ cao
hơn. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến sự thành công của doanh nghiệp.
Hay cũng có thể hiểu theo một cách khác: “ Hiệu quả sản xuất kinh doanh là
các chỉ tiêu tổng hợp, đánh giá sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh sự khai
thác các nguồn lực một cách tốt nhất phục vụ các mục tiêu kinh tế của doanh
nghiệp”.
3
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế,nó phản ánh trình độ sử dụng các
nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp để hoạt động sản xuất,kinh doanh đạt hiệu quả
cao nhất với mức chi phí thấp nhất.Bên cạnh đó hiệu quả cũng phải gắn liền với việc
thực hiện mục tiêu của doanh nghiêp và được thể hiện qua công thức :
Hiệu quả kinh doanh(H)=
Với quan niệm trên, hiệu quả kinh doanh không chỉ là sự so sánh giữa chi phí
đầu vào và kết quả nhận được ở đầu ra; hiệu quả kinh doanh được hiểu trước tiên là
việc hoàn thành mục tiêu, nếu không hoàn thành mục tiêu thì không thể có hiệu quả
và để hoàn thành mục tiêu ta cần sử dụng nguồn lực như thế nào?
Trong thực tế hiệu quả sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp đạt được
trong các trường hợp sau:
Kết quả tăng, chi phí giảm.
Kết quả tăng, chi phí tăng nhưng tốc độ tăng của chi phí nhỏ hơn tốc độ tăng
của kết quả.
Nói tóm lại, ở tầm vĩ mô hiệu quả kinh doanh phản ánh đồng thời các mặt của
quá trình sản xuất kinh doanh như: Kết quả kinh doanh,trình độ sản xuất tổ chức,tổ
chức sản xuất và quản lý, trình độ sử dụng của yếu tố đầu vào…Đồng thời nó yêu
cầu sự phát triển của doanh nghiệp theo chiều sâu.
Có thể nói hiệu quả kinh doanh là thước đo ngày càng trở nên quan trọng hơn
đối với sự phát triển của một doanh nghiệp nói riêng và sự tăng trưởng của toàn bộ
nền kinh tế nói chung và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh

tế của doanh nghiệp trong các thời kỳ. Sự phát triển tất yếu đó đòi hỏi hơn nữa các
doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả kinh doanh, đây là mục tiêu cơ bản nhất của
doanh nghiệp.
Đối với công ty cổ phần Secpentin và phân bón Thanh hóa, hiệu quả kinh doanh
đạt được trước hết được biểu hiện qua sản lượng và chất lượng các loại quăng, bột
quăng, phân bón…Bên cạnh đó,còn phụ thuộc vào chi phí nguồn lực như chi phí
4
phương tiện vận tải, chi phí về bảo hành, bảo dưỡng, xăng dầu… và các chi phí khác
( chi phí nhân công, chi phí bán hàng, chi phí quản lý…)
Vai trò của hiệu quả kinh doanh đối với một doanh nghiệp như thế nào?
Không một ai có thể phủ nhận vai trò quan trọng của hiệu quả kinh doanh đối
với doanh nghiệp.
Sản xuất cái gì?Sản xuất như thế nào?Sản xuất cho ai? Sẽ không thành vấn đề
đáng quan tâm nếu nguồn lực không bị hạn chế.Một doanh nghiệp có thể sản xuất vô
tận hàng hóa, sử dụng thiết bị máy móc, nguyên vật liệu , lao động một cách bừa bãi
cũng không sao nếu nguồn lực là vô tận.Nhưng thực tế, mọi nguồn lực trên trái đất
như đất đai, khoáng sản, hải sản, lâm sản… là một phạm trù hữu hạn và ngày càng
khan hiếm do con người khai thác và sử dụng chúng.Bên cạnh đó là sự gia tăng ngày
càng nhanh của dân số thế giới khiến cho của cải đã khan hiếm lại càng khan hiếm
hơn theo cả nghĩa tuyệt đối và tương đối của nó. Khan hiếm cũng đồng nghĩa với
việc đòi hỏi và bắt buộc con người phải nghĩ đến việc lựa chọn kinh tế,khan hiếm
tăng lên dẫn đến việc lựa chọn kinh tế tối ưu ngày càng phải đặt ra nghiêm túc và gay
gắt.Tuy nhiên đây mới chỉ là điều kiện cần của sự lựa chọn kinh tế.
Điều kiện đủ cho sự lựa chọn kinh tế là sự phát triển kĩ thuật sản xuất Kỹ thuật
sản xuất phát triển đem lại cho người làm kinh tế nhiều sự lựa chọn về sản phẩm hơn
với cùng một giá trị nguồn lực nhất định.Sự lựa chọn đúng đắn sẽ mang lại cho
doanh nghiệp hiệu quả kinh doanh cao nhất, lợi ích lớn nhất.Đây cũng là sự kết thúc
cho giai đoạn phát triển kinh tế theo chiều rộng và thay vào đó là giai đoạn phát triển
kinh tế theo chiều sâu.Nói một cách khái quát đó là do sự nâng cao hiệu quả kinh
doanh.

Như vậy, nâng cao hiệu quả kinh doanh tức là nâng cao khả năng sử dụng các
nguồn lực có hạn trong sản xuất,đạt được sự lựa chọn tối ưu.
Hoạt động trong nền kinh tế thị trường, môi trường cạnh tranh gay gắt, trong
cuộc cạnh tranh đó có nhiều doanh nghiệp trụ vững, phát triển sản xuất, nhưng không
ít doanh nghiệp đã thua lỗ,giải thể, phá sản. Để có thể trụ lại trong cơ chế thị
5
trường,các doanh nghiệp luôn phải nâng cao chất lượng sản phẩm,giảm chi phí sản
xuất, nâng cao uy tín…nhằm tới mục tiêu tối đa lợi nhuận.Trong nền kinh tế thị
trường như hiện nay,các doanh nghiệp phải có được lợi nhuận và đạt được lợi nhuận
càng cao càng tốt. Do vậy, đạt hiệu quả kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh doanh
luôn là vấn đề được quan tâm của doanh nghiệp và trở thành điều kiện sống còn để
doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường.
Trông bối cảnh toàn cầu hóa thương mại, và việc Việt Nam gia nhập WTO thì
cơ hội phát triển cho công ty Cổ Phần Secpentin và phân bón Thanh Hóa lại càng
nhiều.Nhưng cơ hội luôn đi đôi với những thách thức,thách thức ở đây chính là sự
cạnh tranh. Việt Nam gia nhập WTO đồng nghĩa với việc cạnh tranh sẽ ngày càng
khốc liệt hơn.Điều đó bắt buộc công ty phải nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình
nếu như không muốn bị tụt hậu và bị đối thủ cạnh tranh loại khỏi thương trường.
II. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Hệ thống chỉ tiêu này được áp cho hầu hết các doanh nghiệp trong việc đánh giá
hiệu quả kinh doanh. Tuy nhiên, phụ thuộc vào tình hình của từng doanh nghiệp mà
có thể áp dụng một trong số các chỉ tiêu trong hệ thống sau.
1. Các chỉ tiêu chung
Hiệu quả kinh doanh = .
Kết quả đầu ra có thể được đo bằng chỉ tiêu hiện vật như số lượng sản xuất sản
phẩm sản xuất ra tính theo đơn vị của sản phẩm sản xuất ra hay có thể được tính
bằng đơn vị giá trị như tiền hoặc các đơn vị giá trị khác.
Chi phí đầu vào cũng vậy, có thể được đo bằng chỉ tiêu hiện vật như số lượng
nguyên vật liệu cần cho sản xuất, số lượng nguyên liệu để sản xuất. Nhưng cũng có
thể được đo lường bằng đơn vị giá trị mà cụ thể là số tiền chi trả cho việc mua các

yếu tố đầu vào cho sản xuất…
Ý nghĩa: Hiệu quả kinh doanh phản ánh số kết quả đầu ra đạt được trên một
đồng chi phí đầu vào phục vụ cho sản xuất kinh doanh.Điều này cũng cho thấy, cùng
6
với một lượng chi phí cho sản xuất doanh nghiệp nào hiệu quả sản xuất cao hơn sẽ
cho nhiều kết quả đầu ra hơn.
2. Chỉ tiêu cụ thể
2.1.Doanh thu
Doanh thu là luồng tiền thu được sau khi doanh nghiệp bán các sản phẩm và
dịch vụ của mình
Trong kinh tế học, doanh thu thường được xác định bằng giá bán nhân với sản
lượng:
Doanh thu = Sản lượng tiêu thụ*Giá bán.
Doanh thu là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh kết quả kinh doanh
của doanh nghiệp. Doanh thu tăng góp phần làm chi lợi nhuận tăng.
Theo công thức trên. Doanh thu tăng trong 3 trường hợp:
- Sản lượng tiêu thụ tăng, giá bán giữ nguyên hoặc giảm nhưng tỷ lệ
giảm của giá thấp hơn tỷ lệ tăng của sản lượng tiêu thụ. Điều này
chúng ta thường hay gặp khi doanh nghiệp thực hiện chiến lược
khuyến mãi giảm giá sản phẩm, điều này khiến cho lượng sản
phẩm tiêu thụ sẽ tăng lên và doanh thu vẫn tăng.
- Giá tăng, sản lượng tiêu thụ không đổi hoặc giảm nhưng tỷ lệ giảm
của sản lượng thấp hơn so với tỷ lệ tăng của giá. Điều này chúng ta
thường gặp khi một loài hàng hóa nào đó khủng hoảng về nguồn
cung hoặc là độc quyền. Ví dụ như xăng dầu và điện. Trong một số
thời gian về trước, do sự khan hiếm dầu mỏ kéo theo giá dầu thô
tăng lên nên giá xăng dầu tại Việt Nam tăng lên dù sản lượng tiêu
thụ xem như là không đổi, điều này khiến doanh thu về xăng dầu
tăng lên đáng kể.
7

- Giá tăng, sản lượng tăng. Điều này là điều ít gặp trong nền kinh tế thị trường
nhưng không có nghĩa là không xảy ra. Hầu hết nó diễn ra trong các loại hàng hóa
độc quyền ví dụ như điện, nước….
Tuy nhiên,nói như vậy không có nghĩa khi doanh thu tăng lên đã chứng tỏ
doanh nghiệp làm ăn hiệu quả. Doanh thu tăng nhiều khi do giá bán trên thị trường
tăng nhưng giá bán tăng có thể do một số tác động như lạm phát, đầu cơ…những yếu
tố này làm cho doanh thu tăng nhưng hoạt động kinh doanh được xem là không hiệu
quả.
Hơn nữa khi doanh thu tăng lên do sản lượng tăng, nhưng cũng vì vậy kéo theo
chi phí sản xuất cũng lên.Nếu tốc độ tăng của chi phí sản xuất lớn hơn tốc độ tăng
của doanh thu điều này làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp giảm.Điều này cho thấy
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không hiệu quả.
Vì thế, khi đánh giá chỉ tiêu doanh thu của doanh nghiệp phải có sự xem xét
một cách đồng bộ tất cả những vấn đề trên.
2.2.Lợi nhuận
Trong kế toán,lợi nhuận là phần chênh lệch giữa giá bán và chi phí sản xuất.Có
sự khác nhau như vậy,bởi vì trong kế toán, họ chỉ quan tâm đến các chi phí bằng tiền,
mà không kể các chi phí cơ hội như trong kinh tế học
Trong kinh tế học, lợi nhuận là phần tài sản mà nhà đầu tư nhận được sau quá
trình đầu tư khi đã trừ đi các chi phí liên quan đến đầu tư đó.bao gồm cả chi phí cơ
hội.Hay chính là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí.
Lợi nhuận= Doanh thu – Chi phí.
Một doanh nghiệp trên thị trường muốn tối đa hóa lợi nhuận sẽ chọn mức sản
lượng mà tại đó doanh thu biên bằng chi phí biên.Tức là doanh thu khi bán thêm một
đơn vị sản phẩm bằng chi phí thêm vào khi làm thêm một đơn vị sản phẩm.
Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp biểu hiện kết quả của quá trình sản
xuất kinh doanh. Nó phản ánh đầy đủ các mặt số lượng và chất lượng hoạt động của
8
doanh nghiệp, phản ánh kết quả việc sử dụng các yếu tố cơ bản như lao động, vật tư,
tài sản cố định..

Lợi nhuận là nguồn vốn quan trọng để tái sản xuất mở rộng nền kinh tế quốc
dân và doanh nghiệp. Bởi vì lợi nhuận là nguồn hình thành nên thu nhập của ngân
sách nhà nước, thông qua việc thu thuế thu nhập doanh nghiệp, trên cơ sở đó giúp
cho nhà nước phát triển nền kinh tế- xã hội. Mộ bộ phận lợi nhuận khác, được để lại
để doanh nghiệp thành lập các quỹ, tạo điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao
đời sống người lao động.
Theo công thức ta nhận thấy, lợi nhuận tăng trong 3 trường hợp
- Doanh thu tăng
- Chi phí giảm
- Doanh thu tăng, chi phí tăng nhưng tốc độ tăng của doanh thu cao hơn tốc độ
tăng của chi phí sản xuất.
Cũng như doanh thu, khi đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp bằng chỉ tiêu lợi nhuận, chúng ta cũng cần phải xem xét một cách đồng bộ các
vấn đề liên quan.
Nếu xét trên phương diện thu được lợi nhuận từ việc tăng doanh thu do tổng sản
lượng tiêu thụ tăng thì đây là một tín hiệu tốt và doanh nghiệp được đánh giá là kinh
doanh có hiệu quả.
Nhưng nếu xét trên phương diện lợi nhuận tăng từ việc tăng doanh thu do giá
bán thì chúng ta cung cần phái xem xét trong bối cảnh như thế nào? Lạm phát, đầu
cơ….Nếu việc tăng giá bán vì những lí do như lạm phát và đầu cơ..thì hiệu quả sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp thực sự là chưa tốt mặc dù lợi nhuận vẫn tăng.
2.3.Tỷ suất lợi nhuận
a. Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu
P
1
= x 100%
9
Chỉ tiêu này cho biết hiệu quả của doanh nghiệp đã tạo ra được bao nhiêu đồng
lợi nhuận từ một trăm đồng doanh thu bán hàng.
Trị số của chỉ tiêu này tính ra càng lớn, chứng tỏ khả năng sinh lợi của vốn càng

cao và hiệu quả kinh doanh càng lớn và ngược lại.
Tuy nhiên, như trình bày ở trên, doanh thu trong một số trường hợp nó lại
không đánh giá chính xác những gì đang diễn ra ở doanh nghiệp.Do đó khi sử dụng
chỉ tiêu này để đánh giá hiệu quả kinh doanh cần phải xem xét tất cả các khía cạnh
trên.
b.Tỷ suất lợi nhuận theo chi phí
P
2
= x 100%
Chỉ tiêu này cho thấy cứ 100 đồng chi phí kinh doanh thì có bao nhiêu đồng lợi
nhuận thu được.
Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng tốt.
Tuy nhiên, việc so sánh lợi nhuận thu được với chi phí kinh doanh con phải tính
đến những yếu tố làm tăng lợi nhuận nhưng không phản ánh chính xác hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp như đã phân tích ở trên.
c.Tỷ suất lợi nhuận theo vốn kinh doanh
P
3
= x100%
Chỉ tiêu này cho thấy cứ 100 đồng vốn kinh doanh thì thu được bao nhiêu đồng
lợi nhuận.
Chỉ tiêu này càng lớn so với các kỳ trước hay so với các doanh nghiệp khác,
chứng tỏ khả năng sinh lợi của doanh nghiệp càng cao,hiệu quả kinh doanh càng lớn
và ngược lại.
2.4. Hiệu quả sử dụng lao động
a. Năng suất lao động bình quân
10
Năng suất lao động bình quân =
Chỉ tiêu này phản ánh kết quả đạt được của một lao động trong thời gian nhất
định.

Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng lao động càng cao và ngược
lại.
2.5. Hiệu quả sử dụng tài sản cố định
a. Sức sản xuất của tài sản cố định
Sức sản xuất của tài sản cố định =
Chỉ tiêu này phản ánh một đơn vị tài sản cố định bình quân mang lại mấy đơn
vị doanh thu thuần.
Sức sản xuất của tài sản càng lớn thì hiệu quả sử dụng tổng tài sản càng tăng và
ngược lại.
b.Sức sinh lợi của tài sản cố định
Sức sinh lợi của tài sản cố định =
Chỉ tiêu này cho biết 1 đơn vị nguyên giá bình quân tài sản cố định mạng lại
mấy đơn vị lợi nhuận thuần trước thuế.
Sức sinh lợi càng lớn thì hiệu quả sử dụng tài sản cố định càng cao và ngược
lại.
2.6. Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động
a. Sức sản xuất của vốn lưu động
Sức sản xuất của vốn lưu động =
Chỉ tiêu này phản ánh một đơn vị tài sản lưu động bình quân đem lại mấy đơn
vị tổng doanh thu thuần.
Sức sản cuất của vốn lưu động càng lớn, hiệu quả sử dụng tài sản lưu động càng
tăng và ngược lại.
11
b.Sức sinh lợi của vốn lưu động
Sức sinh lợi của vốn lưu động =
Chỉ tiêu sức sinh lợi của vốn lưu động cho biết 1 đơn vị lưu động bình quân
đem lại mấy đơn vị lợi nhuận thuần trước thuế.
Sức sinh lợi của vốn lưu động càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu
động càng cao và ngược lại.
2.7. Nộp ngân sách nhà nước:

Phần nộp ngân sách Nhà Nước được trích ra từ lợi nhuận của doanh nghiệp, và
nó là một khoản bắt buộc phải thực hiện đối với mọi doanh nghiệp hoạt động trong
nền kinh tế quốc dân.Khoản nộp ngân sách càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp làm ăn
có hiệu quả, thu được nhiều lợi nhuận.
Đối với các công ty cổ phần, chỉ tiêu quan trọng nhất là những chỉ tiêu về hiệu
suất lợi nhuận của doanh nghiệp.
III. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
1. Các nhân tố bên ngoài
a. Môi trường kinh tế và xu hướng thị trường
Thực trạng nền kinh tế và xu hướng trong tương lai có ảnh hưởng đến hiệu quả
kinh doanh và thành công của doanh nghiệp. Các nhân tố chủ yếu mà các doanh
nghiệp thường phân tích là : Khủng hoảng của nền kinh tế,tốc độ tăng trưởng của nền
kinh tế, lãi suất, tỷ giá hối đoái và tỷ lệ lạm phát…
Các cuộc khủng hoảng kinh tế,suy giảm kinh tế đã ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt
động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Cuộc khủng hoảng kinh tế năm
2008 khiến nhiều quốc gia trên thế giới bị ảnh hưởng nặng nề và Việt Nam cũng chịu
những ảnh hưởng không nhỏ. Sự khan hiếm về đầu vào cũng như gặp khó khăn trong
công đoạn tiêu thụ sản phẩm có những tác động không nhỏ đến hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp.
12
Trong những giai đoạn khác nhau, nền kinh tế cũng có tốc độ tăng trưởng khác
nhau theo các giai đoạn thịnh vượng, suy thoái, phục hồi sẽ có những ảnh hưởng nhất
định đến chi tiêu, tiêu dùng.Khi nền kinh tế ở trong giai đoạn tăng trưởng cao, khi đó
cơ hội để kinh doanh càng lớn bởi vì nó thu hút được nhiều nhà đầu tư, tạo điều kiện
mở rộng các hoạt động của doanh nghiệp.Nhưng khi nền kinh tế có tốc độ tăng
trưởng thấp cũng là biểu hiện của một nền kinh tế sa sút. Khi đó, lượng tiêu thụ hàng
hóa giảm và ảnh hưởng rất lớn đến doanh thu cũng như hiệu quả của doanh nghiệp.
Mức lãi suất cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế
của doanh nghiệp. Bởi vì mức lãi suất có ảnh hưởng nhất định đến khả năng vay vốn
của doanh nghiệp.Một doanh nghiệp không thể hoạt động nếu không có vốn. Vì vậy,

một doanh nghiệp khi kinh doanh sẽ cần phải vay vốn. Tuy nhiên,khi lãi suất trên thị
trường tài chính có xu hướng tăng lên sẽ làm cho việc vay vốn của doanh nghiệp trở
nên khó khăn hơn và chính việc tăng lãi suất là một yếu tố làm tăng chi phí của doanh
nghiệp do chi phí trả lãi tăng. Điều này khiến cho hiệu quả kinh doanh giảm xuống.
Chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái cũng có thể tạo ra một vận hội tốt cho
doanh nghiệp nhưng cũng có thể là nguy cơ cho sự phát triển của chúng.
Trên thực tế, nếu lạm phát cao thì việc kiểm soát giá cả và tiền công có thể
không làm chủ được.Do đó cũng gây tăng chi phí cho doanh nghiệp do ảnh hưởng
đến tiền công và chi phí sản xuất.
Công ty cổ phần Secpentin và phân bón Thanh Hóa cũng là một doanh nghiệp
hoạt động trong nền kinh tế quốc dân nên cũng chịu nhiều ảnh hưởng của nền kinh tế
trong nước thông qua các yếu tố của nền kinh tế.
b. Môi trường luật pháp, chính trị
Sự ổn định về chính trị, sự nhất quán về các quan điểm, chính sách lớn hơn luôn
là sự hấp dẫn các nhà đầu tư. Hệ thống luật pháp được xây dựng và hoàn thiện sẽ là
cơ sở kinh doanh ổn định và đạt hiệu quả cao.
13
Các chính sách chi tiêu của chính phủ cũng có ảnh hưởng không ít đến doanh
nghiệp,nếu chính phủ chi tiêu nhiều cho cơ sở hạ tầng,giao thông vận tải sẽ tạo điều
kiện thuận lợi cho giao thương buôn bán, thúc đấy phát triển kinh tế, tạo điều kiện
thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Các Luật lao động, quy chế tuyển dụng, đề bạt, chế độ hưu trí, trợ cấp thất
nghiệp… cũng có những ảnh hưởng không nhỏ đến doanh nghiệp.
Tóm lại môi trường chính trị- luật pháp có ảnh hưởng rất lớn đến việc nâng cao
hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bằng cách tác động đến hoạt động doanh
nghiệp thông qua hệ thống công cụ, luật pháp,công cụ vĩ mô…
Đối với công ty cổ phần Secpentin và phân bón Thanh Hóa cũng vậy,ảnh hưởng
của các yếu tố trên hầu hết đều quan trọng nhưng có ảnh hưởng nhiều nhất chính là
những chính sách chi tiêu của chính phủ hay những chính sách luật về đầu tư cũng
quan trọng không kém.

c. Môi trường văn hóa , xã hội
Thái độ tiêu dùng,tỷ lệ kết hôn và sinh đẻ, tháp tuổi luôn là một ảnh hưởng rất
quan trọng đối với hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp.
Thái độ tiêu dùng của khách hàng là một vấn đề mà bất cứ doanh nghiệp nào
cũng quan tâm. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến lượng hàng hóa mà doanh nghiệp có
thể tiêu thụ được do đó nó ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp.
Tỷ lệ kết hôn và sinh đẻ, tháp tuổi cũng vậy, với những hình thái khác nhau
luôn cho ra những nhu cầu khác nhau về hàng hóa, sản phẩm, bắt buộc doanh nghiệp
phải có những hoạt động kinh doanh hợp lí mới thu được hiệu quả cao nhất.
Trình độ dân trí ngày càng cao một mặt mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp về
một đội ngũ lao động tri thức có năng suất lao động cao hơn, đồng thời cũng thách
thức các doanh nghiệp hơn nữa phải nâng cao chất lượng sản phẩm do yêu cầu của
người dân đối với sản phẩm của doanh nghiệp cũng tăng lên.
14
Trên địa bàn huyện Nông Cống và tỉnh Thanh Hóa,các vấn đề về lao động trên
địa bàn luôn cần được quan tâm để đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất.Bên cạnh đó
công ty cần phải nắm bắt và nghiên cứu sao cho phù hợp với sức mua, thói quen tiêu
dùng, mức thu nhập bình quân của tầng lớp dân cư.Những yếu tố này tác động một
cách gián tiếp lên quá trình sản xuất cũng như công tác Marketing và cuối cùng là
hiệu quả kinh doanh của công ty.
d. Nhân tố tự nhiên
Đối với bất kỳ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì các yếu tố tự nhiên đều có
ảnh hưởng nhất định.Các nhân tố tự nhiên ở đây bao gồm các nguồn lực tự nhiên,địa
hình, đất đai, thời tiết, khí hậu…
Các nhân tố như thời tiết, khí hậu…có ảnh hưởng rất lớn đến quy trình công
nghệ ,tiến độ thực hiện kinh doanh của doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp
kinh doanh các mặt hàng mang tính mùa vụ như may mặc, nông ,lâm,thủy sản…Với
những điều kiện thời tiết, khí hậu nhất định thì doanh nghiệp phải có những chính
sách phù hợp với những điều kiện đó.Khi các nhân tố này mất ổn định sẽ tạo ra sự

bất ổn trong chính sách kinh doanh của doanh nghiệp và sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến
hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Đối với một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khai thác tài nguyên thiên
nhiên.Nhân tố tài nguyên thiên nhiên có những ảnh hưởng rất quan trọng.Một doanh
nghiệp nằm trong vùng có nhiều tài nguyên thiên nhiên ,với trữ lượng lớn, chất lượng
tốt sẽ ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp khai thác và
ngược lại.
Đối với công ty cổ phần Secpentin và phân bón Thanh Hóa, nhân tố tự nhiên có
ảnh hưởng khá lớn khi nó tác động trực tiếp vào đầu vào của công ty(khoáng sản) và
cả quá trình sản xuất của công ty( thời tiết,khí hậu…)
e. Đối thủ cạnh tranh
15
Có thể nói một doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường thì luôn
luôn có những đối thủ cạnh tranh. Bao gồm các đối thủ cạnh tranh sơ cấp( cùng tiêu
thụ các sản phẩm đồng nhất) và các đối thủ cạnh tranh thứ cấp(Sản xuất và tiêu thụ
các loại sản phẩm thay thế).
Khi doanh nghiệp đã có đối thủ cạnh tranh,thì việc nâng cao hiệu quả kinh
doanh sẽ khó khăn hơn rất nhiều.Bởi vì doanh nghiệp chỉ có thể nâng cao hiệu quả
kinh doanh bằng cách nâng cao chất lượng, giảm giá thành sản phẩm để đẩy mạnh
tốc độ tiêu thụ, tăng doanh thu,tăng vòng quay của vốn,yêu cầu doanh nghiệp phải tổ
chức lại cơ cấu đội ngũ tối ưu hơn,hiệu quả hơn để tạo nên những lợi thế về giá cả,
mẫu mã, chất lượng…
Nói như vậy, đối thủ cạnh tranh có ảnh hưởng rất lớn đến việc nâng cao hiệu
quả kinh doanh của các doanh nghiệp đồng thời tạo ra sự tiến bộ trong kinh doanh,tạo
ra động lực phát triển của doanh nghiệp.Việc xuất hiện càng nhiều đối thủ cạnh tranh
thì việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp sẽ càng khó khăn và sẽ bị
giảm 1 cách tương đối.
f. Nhà cung cấp
Những nhà cung cấp có thể nói là một áp lực đe dọa khi họ có khả năng bán đầu
vào hoặc giảm chất lượng các sản phẩm, dịch vụ mà họ cung cấp qua đó làm giảm

khả năng kiểm soát của doanh nghiệp.
Áp lực tương đối của nhà cung ứng thường được thể hiện trong các tình huống
như:
- Nhà cung ứng mà doanh nghiệp cần chỉ có một số thậm chí một doanh nghiệp
độc quyền cung ứng.
- Sản phẩm của nhà cung ứng không có sản phẩm thay thế,doanh nghiệp không
có người cung ứng nào khác.
- Doanh nghiệp mua yếu tố sản phẩm không phải là khách hàng quan trọng của
nhà cung ứng.
16
- Loại đầu vào,chẳng hạn vật tư của nhà cung ứng là quan trọng nhiều đối với
doanh nghiệp.
Là một doanh nghiệp tự khai thác vật liệu, sản xuất sản phẩm nên mức độ ảnh
hưởng của các nhà cung ứng đối với công ty cổ phần Secpentin và phân bón là không
lớn lắm.Tuy nhiên, ở mặt hàng xăng dầu,công ty vẫn phụ thuộc vào các nhà cung cấp
dù chỉ kinh doanh ở mức độ nhỏ.
g. Khách hàng
Khách hàng là nhân tố quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của một
doanh nghiệp. Một doanh nghiệp thành công trước tiên phải là một doanh nghiệp có
uy tin và thõa mãn được nhu cầu của khách hàng.Có thể nói,không một doanh nghiệp
nào là không chịu tác động của khách hàng bởi vì khách hàng là nhân tố trực tiếp tác
động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Nếu như áp lực của khách hàng lớn sẽ làm doanh nghiệp phải đáp ứng tất ả các
nhu cầu của mình về giá bán cũng như tăng chất lượng sản phẩm.Tăng chất lượng
sản phẩm trong điều kiện giá bản phải hạ thấp là nguyên nhân vừa làm cho chi phí
sản xuất tăng lên đồng thời doanh thu cũng phải chịu áp lực lớn.Do đó dễ dẫn đến
nguy cơ giảm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Ngược lại, khi áp lực của khách hành kém đi thì doanh nghiệp cũng có nhiều
hơn cơ hội thu được nhiều lợi nhuận hơn. Áp lực của khách hàng thường được thể
hiện như:

- Sự mất cân đối giữa nhà cung cấp và khách hàng, khi nhà cung cấp có số
lượng lớn trong khi đó chỉ một số ít người mua. Điều này làm cho người mua có khả
năng chi phối các công ty cung cấp.
- Khách hàng có nhu cầu lớn về sản phẩm. Điều này giúp họ có ưu thế mua nhất
định dẫn đến việc mặc cả giá thành sản phẩm cho dù là không hợp lý.
Khi khách hàng có đầy đủ các thông tin về thị trường như nhu cầu, giá cả… của
doanh nghiệp cung cấp thì áp lực của họ sẽ càng lớn.
17
2.Các nhân tố thuộc nội bộ doanh nghiệp:
a. Nguồn nhân lực
Trong sản xuất kinh doanh,con người luôn là yếu tố hàng đầu để đảm bảo thành
công.Máy móc dù tối tân đến đâu cũng do con người chế tạo ra,Công nghệ kỹ thuật
dù hiện đại đến đâu cũng phải phù hợp với trình độ tổ chức,trình độ kỹ thuật,trình độ
sử dụng máy móc của người lao động.
Lực lượng lao động là lực lượng sáng tạo của doanh nghiệp.Họ có thể sáng tạo
ra các kỹ thuật,công nghệ mới phù hợp với doanh nghiệp,thời đại và đưa chúng vào
sử dụng tạo ra tiềm năng lớn cho việc nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Chính lực lượng lao động đã sáng tạo ra các sản phẩm phù hợp với nhu cầu
người tiêu dùng,tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm qua đó nâng cao hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp.
Lực lượng lao động trực tiếp tác động đến năng suất lao động,trình độ sử dụng
các nguồn lực khác nên tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong công ty cổ phần Secpentin và phân bón Thanh Hóa, lực lượng lao động là
thành phần chủ đạo đảm bảo thành công của doanh nghiệp. Toàn bộ lực lượng lao
động: Đội ngũ công nhân và kỹ thuật viên đều tham gia trực tiếp vào quá trình sản
xuất kinh doanh và mang ý nghĩa quyết định đến hiệu quả kinh doanh của công ty.
b.Cơ cấu quản lý của doanh nghiệp
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị là tổng hợp các bộ phận khác nhau có mối liên
hệ và quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, được chuyên môn hóa, được giao những trách
nhiệm và quyền hạn nhất định và được bố trí theo từng cấp nhằm thực hiện chức

năng quản trị doanh nghiệp.
Quản lý doanh nghiệp chú trọng đến việc xác định cho doanh nghiệp một
hướng đi đúng đắn.Trong một môi trường kinh doanh ngày càng khốc liệt như hiện
18
nay,chất lượng của chiến lược kinh doanh là nhân tố đầu tiên và quan trọng quyết
định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp.
Quản trị doanh nghiệp có tác động mạnh mẽ đến hoạt động sáng tạo của đội
ngũ lao động, đến sự đảm bảo cân đối giữa các bộ phận của doanh nghiệp,qua đó tác
động mạnh mẽ đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Đội ngũ các nhà quản trị,đặc biệt là các quản trị cao cấp lãnh đạo doanh nghiệp
bằng phẩm chất và tài năng của mình có vai trò quan trọng bậc nhất,ảnh hưởng có
tính chất quyết định đến sự thành đạt của một doanh nghiệp.Kết quả và hiệu quả hoạt
động quản trị doanh nghiệp đều phụ thuộc rất lớn vào trình độ chuyên môn của đội
ngũ các nhà quản trị cũng như cơ cấu quản lý của doanh nghiệp.
c.Vốn và công nghệ kỹ thuật.
Trong bất cứ hoạt động nào thì vốn và công nghệ kỹ thuật cũng luôn là một
nhân tố quan trọng.
Mọi kế hoạch về đầu tư,xây dựng,sản xuất kinh doanh…mà không có vốn thì
cũng trở thành không tưởng.Đối với các doanh nghiệp,vốn có vai trò quyết định đến
quy mô hoạt động của doanh nghiệp và được hình thành từ ba nguồn chính: Vốn tự
do,vốn do Nhà nước cấp và vốn đi vay.Vốn của doanh nghiệp được phân bổ dưới 2
dạng chính là vốn cố định và vốn lưu động.
Khả năng quay vòng vốn cũng ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp.Nếu khả năng quay vòng vốn của doanh nghiệp càng cao,vòng quay càng nhỏ
thì lượng vốn cho mỗi kỳ sản xuất sẽ nhiều hơn và sẽ vàng thuận lợi cho doanh
nghiệp về vấn đề huy động vốn hơn.
Trong môi trường kinh tế thị trường như hiện nay, kỹ thuật công nghệ trở thành
một yếu tố quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Kỹ thuật công nghệ tiến bộ góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, nâng cao năng suất lao động từ đó góp phần tăng nhanh tốc độ phát triển,đảm

bảo sự ổn định bền vững trong hoạt động kinh doanh và bảo vệ môi trường sinh
19
thái.Vì ảnh hưởng của công nghệ - kỹ thuật đối với mỗi ngành là khác nhau nên phải
phân tích tác động nó đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thuộc ngành cụ thể
nhất định nào.
IV. Hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp cổ phần trong nền kinh tế thị
trường
1. Đặc điểm của các doanh nghiệp sau cổ phần hóa
Cổ phần hóa là quá trình chuyển đổi doanh nghiệp từ chỗ có 1 chủ sở hữu thành
công ty cổ phần có nhiều chủ sở hữu .
Đầu những năm 90,Việt Nam đã đề các chủ trương đa dạng hóa sỡ hữu doanh
nghiệp nhà nước với những đặc điểm:
- chuyển từ doanh nghiệp đơn sở hữu ( 100% vốn nhà nước) sang công ty đa sơ
hữu( trong đó có Nhà nước) do đó sẽ chuyển mô hình tổ chức quản lý của Doanh
nghiệp Nhà nước sang mô hình tổ chức quản lý của công ty cổ phần, cơ cấu này
gồm : Đại hội cổ đông, Hội đồng quản trị,Giám đốc( Tổng giám đốc) và Ban kiểm
soát.
- Không còn chế độ chủ quản, hoạt động bình đẳng với các chủ thể kinh tế
khác. Công ty cổ phần hoạt động theo luật Doanh nghiệp và Điều lệ công ty cũng như
các quy định khác của Nhà nước.
- Hoạt động theo cơ chế tự chủ trong sản xuất kinh doanh, tự chủ trong thu hút
vốn và phân phối thu nhập, tự chịu trách nhiệm trên cơ sở vốn góp về các hoạt động
sản xuất kinh doanh. Cơ chế thu hút vốn linh hoạt, được phép phát hành chứng
khoán( cổ phiếu, trái phiếu), vốn được chuyển nhượng dễ dàng theo luật định.
- Có sự phân định rõ ràng về quyền và trách nhiệm đối với tài sản( Doanh
nghiệp nhà nước không có quyền đối với tài sản): Cổ động sở hữu vốn, công ty sở
hữu tài sản và toàn quyền quyết định đối với tài sản từ việc mua, bán, cho thuê.
20
- Hầu hết người lao động cũng là cổ đông.Họ vừa là người chủ cũng có thể là
người làm thuê.

Sau khi cổ phần hóa, doanh nghiệp sẽ có nhiều thuận lợi hơn để sản xuất,kinh
doanh.
- Công ty cổ phần có thể tập trung được nhanh số vốn có quy mô lớn và hiệu
quả cao.Bằng việc phát hành cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp có thể tập trung
được lượng vốn lớn để đầu tư và phát triển doanh nghiệp.Đây có thể nói là ưu điểm
lớn nhất của công ty cổ phần,khác biệt với các loại hình doanh nghiệp khác bởi vì
công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp duy nhất được phép phát hành cả cổ phiếu
và trái phiếu để huy động vốn.
- Công ty cổ phần hoạt động theo chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn. Theo chế độ
này thì có sự phân biệt rõ ràng tài sản của công ty và phần vốn của cổ động.Trách
nhiệm tài chính của công ty giới hạn trong phạm vi tài sản của công ty và phần vốn
của cổ đông theo tỷ lệ đóng góp của mỗi người. Điều này đã hạn chế đến mức thấp
nhất những thiệt hại,rủi ro,thua lỗ.
- Với những khả năng tập trung vốn tương đối lớn,các công ty cổ phần có thể
tranh thủ khoa học kỹ thuật,công nghệ hiện đại,mạnh dạn đầu tư vào các ngành nghề
mới,có triển vọng đạt lợi nhuận cao làm biến đổi cơ cấu nền kinh tế, từ đó tác động
đến phân công lao động,xã hội.Cơ cấu đội ngũ công nhân cũng biến đổi không chỉ
tăng về số lượng mà còn trình độ lành nghề,các chức năng của đội ngũ quản lý điều
hành cũng chuyên sâu và đa dạng hơn.Trong nội bộ công ty do phân định rõ ràng
giữa quyền sở hữu và quyền kinh doanh nên tạo cho những người góp vốn tham gia
quản lý thật sự công ty và lựa chọn những giám đốc,những thành viên Hội đồng quản
trị có tài năng và tích cực,đủ sức đảm nhiệm chức trách,đảm bảo được quyền lợi,lợi
ích cũng như trách nhiệm của các chủ sở hữu.Chính vì vậy công ty cổ phần giúp đẩy
nhanh quá trình phân công chuyên môn hóa,một trong những điều kiện nâng cao hiệu
quả kinh doanh.
21
2.Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của các công ty cổ phần hóa.
a. Giá trị gia tăng/đầu vào
Nếu tốc độ tăng của giá trị gia tăng lớn hơn tốc độ tăng của đầu vào thì doanh
nghiệp đạt hiệu quả kinh doanh. Trong trường hợp tốc độ tăng của hai chỉ tiêu này

càng chênh lệch thì hiệu quả đạt được càng cao.
b.Về khả năng sinh lời
Là thước đo hiệu quả bằng tiền, là điều kiện cần nhưng chưa đủ để duy trì cân
bằng tài chính. Việc đánh giá khả năng sinh lợi phải dựa trên một khoảng thời gian
tham chiếu. Khái niệm khả năng sinh lợi được áp dụng trong mọi hoạt động kinh tế
sử dụng các phương tiện vật chất, con người và tài chính, thể hiện bằng kết quả trên
phương tiện. Khả năng sinh lợi có thể áp dụng cho một hoặc một tập hợp tài sản.
Ở cấp độ doanh nghiệp, khả năng sinh lợi là kết quả của việc sử dụng tập hợp
các tài sản vật chất và tài sản tài chính, tức là vốn kinh tế mà doanh nghiệp nắm giữ.
Nhìn chung, khả năng sinh lợi cần ít nhất đủ để đáp ứng được hai đòi hỏi cấp bách:
- Đảm bảo duy trì vốn cho doanh nghiệp đầu tư.
- Trả được các khoản lãi vay và đảm bảo hoàn trả khoản vay.
Lãi thu được từ các hoạt động sinh lợi trong năm tài khoá có thể được trích chia
cho cổ đông hoặc vẫn duy trì dưới dạng vốn dự trữ (reserve). Nếu không tính tới thuế
và lãi, khả năng sinh lợi của tài sản phải cho phép tích luỹ đủ tiền để đảm bảo vốn
sản xuất kinh doanh, đảm bảo hoàn trả nợ, đóng góp vào việc tăng vốn và trả lợi
nhuận đầu tư vốn cho các cổ đông.
Mọi quyết định và thay đổi về việc nắm giữ tài sản không chỉ làm nảy sinh vấn
đề tài chính mà còn làm nảy sinh cả vấn đề sinh lợi. Nếu khả năng sinh lợi không đủ
lớn, doanh nghiệp sẽ không đủ phương tiện để đáp ứng nhu cầu của nhiều yếu tố sản
xuất kinh doanh khác nhau. Thặng dư khi đó sẽ không đủ để duy trì cân bằng tài
chính.
22
Cần chú ý là khả năng sinh lợi của tài sản chỉ là một phần vấn đề nảy sinh từ
khả năng sinh của các nguồn vốn thực hiện. Trên thực tế, rủi ro trong hoạt động của
doanh nghiệp do các cổ đông gánh chịu. Lợi nhuận mà họ thu được không chỉ phụ
thuộc vào khả năng sinh lợi của tài sản mà còn phụ thuộc vào chi phí đi vay. Yêu cầu
về tỷ lệ sinh lợi tối thiểu phù hợp với khả năng bảo toàn vốn cho doanh nghiệp và trả
lợi nhuận đầu tư vốn sẽ kết nối trước hết chức năng tài chính với mọi quyết định sử
dụng tiền (tức là việc tạo hoặc thay đổi cấu trúc tài sản).

Trong số các công ty cổ phần có thể chia làm hai nhóm:
- Nhóm có tỷ lệ sinh lời dương: Đại bộ phận nhóm này là các công ty được cổ
phần hóa từ các doanh nghiệp Nhà nước làm ăn có hiệu quả.
- Nhóm có tỷ lệ sinh lời âm,là những công ty được cổ phần hóa từ các doanh
nghiệp Nhà nược bị thua lỗ.
Cho nên một số công ty cổ phần bị thua lỗ, nhưng vẫn chưa thể kết luận được
công ty này làm ăn kém hiệu quả.
3.Tình hình hiệu quả kinh doanh của các công ty sau cổ phần hóa
Những chính sách ưu đãi của Nhà nước đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
được cổ phần hóa dần đi vào ổn định và đạt những kết quả đáng kể.
Đa số các doanh nghiệp Nhà nước sau cổ phần hóa đã hoạt động hiệu quả hơn
song cũng không còn ít những khó khăn, vướng mắc, sự yếu kém về năng lực trình
độ,lúng túng trong quản lý, điều hành và một số những hạn chế từ phía cơ chế chính
sách và luật pháp.
Theo kết quả khảo sát điều tra có tới hơn 90% các công ty cổ phần đánh giá
rằng, tình hình tài chính của họ tốt hơn so với thời kỳ chưa cổ phần hóa.Trong đó hơn
10% các công ty cho rằng,tình hình tài chính đã tốt hơn rất nhiều so với trước kia và
chỉ có khoảng 3% trong số các công ty được khảo sát cho rằng, tình hình tài chính có
xu hướng xấu đi. Tốc độ tăng trưởng tài sản ở các công ty cổ phần hàng năm là gần
20%,do sự bỏ vốn đầu tư mới và lợi nhuận dùng để tái đầu tư.
23

×