Tải bản đầy đủ (.doc) (60 trang)

Luận văn: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng công thương Chi nhánh Bình Định ppt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.1 MB, 60 trang )

BÁO CÁO THỰC TẬP
ĐỀ TÀI:
Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với các
doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng công thương Chi nhánh
Bình Định
SVTH: QUÁCH BÁ CHIẾN
GVHD: THÁI MINH HIỆP
LỜI CẢM ƠN
Sau 2 tháng nghiên cứu thực tế, thực tập và viết báo cáo thực tập tốt
nghiệp, có được kết quả đó là nhờ công lao to lớn của thầy- cô giáo trường Đại
học Quang Trung. Những kiến thức trong từng bài giảng, từng trang giáo án
của thầy cô đã thẩm thẩu trong mỗi chúng em.

Kính gửi đến quý thầy cô lời cảm ơn chân thành và lời chức tốt đẹp
nhất. Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn sự tận tình giúp đỡ, hướng dẫn của
thầy Thái Minh Hiệp đã tạo điều kiện để em hoàn thành bài báo cáo tốt nghiệp

Em chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, các phòng ban của ngân hàng
Công thương Bình Định và nhất là Phòng giao dịch Nguyễn Huệ đã giúp đỡ
em trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp.
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, nước ta đang bước vào thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thời kỳ
hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước, đòi hỏi sự năng động
của mọi thành phần kinh tế trong quá trình sản xuất kinh doanh của mình là
điều kiện hết sức cần thiết. Song, vấn đề khó khăn và nan giải nhất hiện nay
đối với sự phát triển của các thành phần kinh tế là vấn đề vốn.
Từ một nước nông nghiệp lạc hậu sản xuất không đủ tiêu dung, qua
gần 15 năm đổi mới Việt Nam đã và đang bước vươn lên, bước đầu khẳng định
được uy tín, chinh phục mọi thị trường, chiếm lĩnh thị trường lớn, ổn định góp


phần nâng cao vị thế của mình trên chính trường quốc tế. Hiên nay với cơ chế
mở cửa, các thành phần kinh tế hoạt động một cách bình đẳng theo pháp luật.
Nhiều loại hình doanh nghiệp ra đời và phát triển manh mẻ. Cùng với nó là sự
cacnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp trong nước cũng như nước ngoài
đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới công nghệ, trang thiết bị và mở
rộng sản xuất.
Theo dự tính trong tương lai thì nhu cầu vốn ngày càng tăng nhằm
đáp ứng yêu cầu của sản xuất kinh doanh tạo ra năng lực mới, nâng cao khả
năng cạnh tranh của các doanh nghiệp. Để hoạt động kinh doanh phát triển và
cạnh tranh được trên thị trường các doanh nghiệp cần phải đầu tư một lượng
vốn không nhỏ, mà vốn tự có của doanh nghiệp chỉ đáp ứng được phần nào
nhu cầu vốn của họ. Đặc biệt là đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, do vốn tự có
ít nên nhu cầu về vốn là rất cấp thiết. Vì vậy ngân hàng là nơi mà các doanh
nghiệp này tìm đến để giải quyết các khâu về vốn.
Tín dụng của các ngân hàng thương mại là một trong những hình
thức sử dụng vốn đối với các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp vừa
và nhỏ nói riêng. Tuy nhiên trong những năm qua, vấn đề tín dụng đối với các
doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp không ít những khó khăn và tồn tại như: sự an
toàn, chất lượng, hiệu quả… đặc biệt là vấn đề chất lượng của các khoản tín
dụng. Đây là mối quan tâm hàng đầu của các ngân hàng trong đó có Ngân
hàng Công thương Chi nhánh Bình Định. Nâng cao chất lượng tín dụng luôn là
một vấn đề cấp thiết và quan trọng đối với các ngân hàng, vì chất lượng tín
dụng liên quan trực tếp đến quá trình hoạt động của ngân hàng.
Chính vì lý do đó mà em đã chon đề tài: “Giải pháp nâng cao chất
lượng tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng công
thương Chi nhánh Bình Định” với mục đích nghiên cứu các vấn đề lý luận và
tiền đề nói lên được tầm quan trọng về chất lượng của các khoản tín dụng.
Bài viết được chia làm 3 phần:
Chương I: Những vấn đề lý luận về chất lượng tín dụng.
Chương II: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với các doanh nghiệp

vừa và nhỏ tại Ngân hàng Công Thương Chi nhánh Bình Định.
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tín dụng đối
với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tai Ngân hàng Công thương Chi nhánh Bình
Định.
Do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên
chuyên đề không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được ý kiến
đóng góp của thầy giáo và các anh, chị trong Chi nhánh để chuyên đề được
hoàn thiện và đầy đủ hơn.
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG VÀ
CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG.
1.1.Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại.
1.1.1. Ngân hàng thương mai và hoạt động của NHTM
1.1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển.
Lịch sử hình thành và phát triền của ngân hàng gắn liền với lịch sử phát
triển của nên sản xuất hàng hóa. Quá trính phát triển kinh tế là điều kiện và đòi
hỏi sự phát triển của ngân hàng; đến lượt mình, sự phát triển của hệ thống ngân
hàng trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế.
Nghề ngân hàng bắt đầu với nghiệp vụ đổi tiền hoặc đúc tiền của các thợ
vàng. Việc lưu hành những đồng tiền riêng của mỗi quốc gia hoặc vùng lãnh
thổ kết hợp với thương mại và giao lưu quốc tế tạo ra yêu cấu đúc và đổi tiền
tại các cửa khẩu hoặc trung tâm thương mại. Người làm nghể đúc tiền, đổi tiền,
thực hiện kinh doanh tiền tệ bằng cách đổi ngoại tệ lấy bản tệ và ngược lại. Lợi
nhuận thu được là chênh lệch giá mua-bán.
Người làm nghể đổi tiền thường là người giàu, trước đó có thể đã làm
nghề cho vay nặng lãi. Họ thường có két tốt để cất giữ đảm bảo an toàn. Do
yêu cầu cất trữ tiền của các lãnh chúa, các nhà buôn… nhiều người làm nghề
đổi tiền thực hiện luôn cả nghiệp vụ cất trữ hộ. Thực hiện cất trữ hộ làm tăng
thu nhập, tăng khả năng đa dạng hóa loại tiền, tăng quy mô tài sản của người
kinh doanh tiền tệ. Việc cất trữ hộ nhiều người khác là điều kiện để thực hiện
thanh toán hộ và thanh toán không dung tiền mặt. Với những ưu điểm của

mình thanh toán không dùng tiền mặt đã thu hút các thương gia gữi tiền nhiều
hơn.
Trong điều kiện lưu thông tiền kim loại (bạc hoặc vàng) các chủ của
hàng vàng bạc vừa đổi tiền, thanh toán hộ, vửa đúc tiền hộ. Những ngân hàng
loại này gọi là ngân hàng của những thợ vàng.
Nghể ngân hàng cũng được bắt đầu thừ người cho vay nặng lãi. Một số
người cho vay nặng lãi đã thực hiện cả nghiệp vụ đổi tiền, giữ hộ tiền và thanh
toán hộ.
Các ngân hàng đầu tiên dung vốn tự có để tài trợ cho hoạt động của họ,
nhưng điều đó không kéo dài. Từ hoạt động thực tiễn, các chủ ngân hàng nhận
thấy thường xuyên có người gửi tiền vào và có người lấy tiền ra, xong tất cả
người gửi đều không cùng rút tiền một lúc nên đã tạo ra số dư thường xuyên ở
ngân hàng. Do tính chất vô danh của tiền, chủ ngân hàng có thể sử dụng tạm
thời một phần tiền gửi của khách để cho vay. Hoạt động cho vay tạo nên lợi
nhuận lớn cho ngân hàng, do vậy các ngân hàng đều tìm cách mở rộng thu hút
tiền gửi để cho vay bằng cách trã lãi cho người gửi tiền. Bằng cách cung cấp
các tiện ích khác nhau mà ngân hàng huy động được ngày càng nhiều tiền gửi,
là điều kiện để mở rộng cho vay và hạ lãi suất cho vay.
Tóm lai, ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nên kinh
tế. Các ngân hàng có thể được định nghĩa qua các chức năng, các dịch vụ hoặc
vai trò mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Vấn đề là ở chỗ các yếu tố trên
đang không ngừng thay đổi. Thực tế rất nhiều tổ chức tài chính bao gồm cả các
công ty chứng khoán, công ty môi giới chưng khoán, quỹ tương hỗ và công ty
bảo hiểm hàng đấu đều cố gắng cung cấp các dịch vụ của ngân hàng. Ngược
lại ngân hàng đang đối phó với các đối thu cạnh tranh (các tổ chức tài chính
phi ngân hàng) bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ về bất động sản
và môi giới chứng khoán, tham gia các hoạt động bảo hiểm, đầu tư vào quỹ
tương hỗ và thực hiện nhiều dịch vụ môi giới khác.
Cách tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem xét các tổ chức này trên
phương diện những loại hình mà chúng cung cấp. Ngân hàng là các tổ chức tài

chính cung cấp danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt là tín
dụng thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ tổ
chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Một số định nghĩa dựa trên các hoạt
động chủ yếu.Ví dụ, Luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng hòa Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam ghi “Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và
dịch vụ ngân hàng với nội dung thương xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số
tiền vay này để cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ thanh toán.”
Hình thức ngân hàng đầu tiên – ngân hàng của các thợ vàng, hoặc ngân
hàng của những kẻ cho vay nặng lãi - thực hiện cho vay với các cá nhân, chủ
yếu của các người giàu như: quan lại, địa chủ…nhằm mục đích phục vụ tiêu
dùng. Nhiều chủ ngân hàng lớn còn mở rộng cho vay đối với vua chúa, nhắm
tài trợ một phần cho chi tiêu trong chiến tranh. Hình thức cho vay chủ yếu là
thấu chi, tức là cho khách hàng chi nhiều hơn số tiền gửi tại ngân hàng, một
hình thức cho vay có nhiều rủi ro. Do lợi nhuận từ cho vay rất cao, nhiều chủ
ngân hàng đã lạm dụng ưu thế của chứng chỉ tiền gửi ( lưu thông thay vàng
bạc), phát hành tiền gửi khống để cho vay. Thực trạng này đã đẩy nhiều ngân
hàng đến chỗ mất khả năng thanh toán và phá sản.
Sự sụp đổ của các ngân hàng gây khó khăn cho hoạt động thanh toán,
ảnh hưởng xấu đến hoạt động mua bán. Hơn nữa lãi suất cao nên những nhà
buôn không thể sử dụng vốn vay này. Trước tình hình đó những nhà buôn tự
thành lập ngân hàng gọi là ngân hàng thương mại. Như vậy ngân hàng thương
mại được hình thành xuất phát từ tư bản thương nghiệp và gắn liền với quá
trình luân chuyển của tư bản thương nghiệp. Ngân hàng thương mại cũng thực
hiện các nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng như huy động tiền gửi, thanh
toán, cất trữ hộ và cho vay. Tuy nhiên điểm khác biệt giữa ngân hàng thương
mại và các nhà buôn vay dưới hình thức chiết khấu thương phiếu. Đây là các
khoản cho vay ngắn hạn, dựa trên quá trình luân chuyển của hàng hóa với lãi
suất phải thấp hơn lợi nhuận tạo ra do sử dụng tiền vay. Để đảm bảo an toàn,
ngân hàng thương mại ban đầu không cho vay đối với người tiêu dùng, không
cho vay trung và dài hạn, không cho vay đối với nhà nước.

Sự phá sản của nhiều ngân hàng thương mại đã gây tổn thất lớn cho
người gửi tiền là nguyên nhân dẫn đến hình thành ngân hàng tiền gửi. Ngân
hàng này không cho vay, chỉ thực hiện giữ hộ, thanh toán hộ để lấy chi phí.
Đồng thời tại mỗi nước, trong những điều kiện lịch sử cụ thể đã hình thành nên
nhiều loại ngân hàng khác nhau như ngân hàng tiết kiệm, ngân hàng tiết kiệm,
ngân hàng phát triển, ngân hàng đều tư, ngân hàng trung ương (ngân hàng Nhà
Nước)…tạo nên hệ thống các ngân hàng. Trong đó trừ ngân hàng trung ương
có chức năng xây dựng quản lý chính sách tiền tệ quốc gia, các ngân hàng còn
lại dù có một số nghiệp vụ khác nhau song đều có đặc điểm là kinh doanh tiền
tệ và tín dụng.
Cùng với sự phát triển kinh tế và công nghệ, hoạt động ngân hàng đã có
những bước tiến rất nhanh. Trước hết đó là sự đa dạng các loại hình ngân hàng
và các hoạt động ngân hàng. Từ các ngân hàng tư nhân, quá trình tích tụ và tập
trung vốn trong ngân hàng đã dẫn đến hình thành ngân hàng cổ phần. Quá trình
gia tăng vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động ngân hàng đã tạo ra các
ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước, ngân hàng liên doanh, các tập đoàn ngân
hàng phát triển mạnh trong những năm cuối thế kỷ 20. Nhiều nghiệp vụ truyền
thống vẫn được giữ bên cạnh những nghiệp vụ mới ngày càng phát triển. Ngân
hàng thương mại từ chỗ chỉ cho vay ngắn hạn là chủ yếu đã mở rộng cho vay
trung và dài hạn, cho vay để đầu tư vào bất động sản. Nhiều ngân hàng mở
rộng cho vay tiêu dùng, kinh doanh chứng khoán, cho thuê…Các hình thức
huy động cũng ngày càng phong phú. Các loại hình tiền gửi khác nhau được
đưa ra nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng. Bên cạnh các hình thức
huy động tiền gửi, các ngân hàng đã mở rộng các hình thức vay như vay ngân
hàng trung ương, vay các ngân hàng khác. Công nghệ ngân hàng đang góp
phần làm thay đổi các hoạt động cơ bản của ngân hàng. Thanh toán điện tử
thay thế dần thanh toán thủ công, đẩy nhanh tốc độ, tính thuận tiện an toàn
trong thanh toán. Các loại thẻ đang thay thế dần tiền giấy và dịch vụ ngân hàng
24 giờ, dịch vụ ngân hàng đang tạo ra các tiện ích ngày càng lớn cho dân
chúng.

Quá trình phát triển của các ngân hàng không những làm gia tăng số
lượng các ngân hàng mà còn làm tăng quy mô của mỗi ngân hàng. Tích tụ và
tập trung vốn đã tạo ra các công ty ngân hàng cực lớn với số vốn tự có hàng tỷ
đô la Mỹ, tổng tài sản hàng trăm tỷ đô la Mỹ, đủ sức tại trợ cho các ngành
công nghiệp và dịch vụ mũi nhọn toàn cầu.
Quá trình phát triền của ngân hàng đã tạo ra mối liên hệ ràng buột ngày
càng chặt chẽ, sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn giữa các ngân hàng. Các
hoạt động ngân hàng xuyên quốc gia và đa quốc gia, đã và đang được thúc đẩy
hình thành các hiệp hội, các tổ chức liên kết các ngân hàng nhằm tạo ra những
chình sách nhằm thống nhất trong điều hành và vận hành hệ thống ngân hàng
trong mỗi quốc gia, khu vực và quốc tế.
Lịch sử phát triển của các ngân hàng cũng đã chứng kiền nhiều khủng
hoàng và hoàng loạn ngân hàng trong mỗi quốc gia, khu vực và thể giới, gây
tổn thất rất lớn cho nên kinh tế và mất ổn định chính trị. Có thể nói các vụ sụp
đỗ ngân hàng cũng là một khâu tất yếu trong tiến trình phát triển ngân hàng.
Các nhà quản lý đã và đang không ngừng cải tiến chính sách quản lý để quản
lý sự sụp đỗ và mở đường cho sự phát triển của khu vực ngân hàng.
1.1.1.2.Các hoạt động của ngân hàng
Ngân hàng là một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho dân chúng và
doanh nghiệp. Thành công cùa ngân hàng phụ thuộc vào năng lực xác định các
dịch vụ tài chính mà xã hội có nhu cầu, thực hiện các dịch vụ đó một cách có
hiệu quả.
* Mua bán ngoại tệ:
Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi
(mua, bán) ngoại tệ: mua bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác và hưởng
phí dịch vụ.
* Nhận tiền gửi:
Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng đã tìm
mọi cách để huy động được tiền. Một trong những nguồn quan trọng là các
khoản tiền gửi thanh toán và tiết kiệm của khách hàng. Ngân hàng mở dịch vụ

nhận tiền gửi để bào quản hộ người có tiền với cam kết hoàn trả đúng hạn.
Trong cuộc canh tranh để tìm và dành được các khoản tiền gửi, các ngân hàng
đã trã lãi cho tiền gửi như là phần thưởng cho khách hàng về việc sẵn sàng hy
sinh nhu cầu tiêu dùng trước mắt và cho phép ngân hàng sử dụng tạm thời để
kinh doanh. Trong lịch sử đã có những kỷ lục về lãi suất, các ngân hàng Hy
Lạp đã trả lãi suất 16% một năm để thu hút các khoản tiền tiết kiệm nhằm mục
đích cho vay đối với các chủ thầu ở Địa Trung Hải với lãi suất gấp đôi hay gấp
ba lãi suất tiết kiệm. Như vậy, khi cung cấp dịch vụ nhận tiền gửi ngân hàng
thu “phí” gián tiếp thông qua thu nhập của hoạt động sử dụng tiền gửi đó.
* Cho vay:
- Cho vay thương mại:
Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực
tế là cho vay đối với người bán (người bán chuyển các khoản phải thu cho
ngân hàng để lấy tiền trước). Sau đó ngân hàng cho vay trực tiếp đối với khách
hàng (là người mua, giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ nhằm mở rộng sản
xuất kinh doanh.
- Cho vay tiêu dùng:
Trong giai đoạn đầu, hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay đối
với cá nhân và hộ gia đình bởi vì họ tin rằng các khoản vay tiêu dùng rủi ro vở
nợ tương đối cao. Sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh
trong cho vay đã hướng các ngân hàng tới người tiêu dùng như là một khách
hàng tiềm năng. Sau chiến tranh thế giới thứ 2, tín dụng tiêu dùng đã trở thành
một trong những loại hình tín dụng tăng trưởng nhanh nhất ở các nước có nền
kinh tế phát triển.
- Tài trợ cho dự án:
Bên cạnh cho vay truyền thống là cho vạy ngắn hạn, các ngân hàng ngày
càng trở nên năng động trong việc tài trợ trung và dài hạn: tài trợ xây dựng nhà
máy, phát triển ngành công nghệ cao. Một số ngân hàng còn cho vay để đầu tư
vào đất.
* Bảo quản tài sản hộ:

Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng, các giấy tờ có giá và tài sản
khác cho khách hàng trong két (vì vậy còn gọi là dịch vụ cho thuê két). Ngân
hàng thương giữ hộ các tài sản chính, giấy tờ cầm cố, hoặc những giấy tờ quan
trọng khác của khách hàng với nguyên tắc an toàn, bí mật thuận tiện. Dịch vụ
này phát triển cùng với nhiều dịch vụ khác như mua bán hộ các giấy tờ có giá
cho khách, thanh toán lãi hoặc cổ tức hộ…
* Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán.
Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng không chỉ bảo quản
mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng. Thành toán qua ngân hàng
đã mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức là người gửi tiền không
cần phải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết phiếu chi trả cho khách,
khách hàng mang giấy đến ngân hàng sẽ nhận được tiền. Các tiện ích của thanh
toán không dùng tiền mặt (an toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí)
đã góp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập cho khách
hàng. Khi ngân hàng mở chi nhánh, phạm vi thanh toán qua ngân hàng được
mở rộng, cáng tạo nhiều lợi ích hơn. Điều này đã khuyến khích khách hàng gửi
tiền vào ngân hàng để nhờ ngân hàng thanh toán hộ. Cùng với sự phát triển của
công nghệ thông tin, bên cạnh các thể thức thanh toán như sec, ủy nhiệm chi,
nhờ thu, L/C, đã phát triển các hình thức thanh toán mới bằng điện, thẻ…
* Quản lý ngân quỹ
Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần lớn các doanh nghiệp
và cá nhân. Nhờ đó ngân hàng thường có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều khách
hàng. Do có kinh nghiệm trong quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc thu
ngân, nhiều ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý ngân quỹ,
trong đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu chi cho một công ty kinh doanh và
tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lời
và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán.
* Tài trợ các hoạt động của chính phủ
Khả năng huy động và cho vay với khối lượng lớn của ngân hàng đã trở
thành trọng tâm chú ý của các chính phủ. Do nhu cầu chi tiêu lớn và thường là

cấp bách trong khi thu không đủ, chính phủ các nước đều muốn tiếp cận với
các khoản cho vay của ngân hàng. Ngày nay, chính phủ giành quyền cấp phép
hoạt động và kiểm soát các ngân hàng. Các ngân hàng được cấp giấy phép
thành lập với điều kiện là họ phải cam kết thực hiện với mức độ nào đó các
chính sách của chính phủ và tài trợ cho chính phủ. Các ngân hàng thường mua
trái phiếu chính phủ theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lượng tiền gửi mà ngân
hàng huy động được.
* Bảo lãnh
Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng rất lớn và do
ngân hàng nắm giữ tiền gửi của khách hàng, nên ngân hàng có uy tín trong bảo
lãnh cho khách hàng. Trong những năm gần đây, nghiệp vũ bảo lãnh ngày
càng đa dạng, và phát triển mạnh. Ngân hàng thường bảo lạnh cho khách hàng
của mình cua chịu hàng hóa và tranh thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn
của tổ chức tín dụng khác…
* Cho thuê thiết bị trung cà dài hạn
Nhằm để bán được các thiết bị, đặc biệt là các thiết bị có giá trị lớn.
nhiều hãng sản xuất và thương mại đã cho thuê, cuối hợp đồng thuê khách
hàng có thể mua (do vậy còn gọi là hợp đồng thuê mua). Rất nhiều ngân hàng
tích cực cho khách hàng quyền lựa chọn thuê các thiết bị máy móc cần thiết
thông qua hợp đồng thuê mua, trong đó ngân hàng mua thiết bị và cho khách
hàng thuê với điều kiện khách hàng phải trả tới hơn 70% hoặc 100% giá trị của
tài sản cho thuê. Do vậy cho thuê của ngân hàng cũng có nhiều đểm giống nhu
cho vay và được xếp vào tín dụng trung và dài hạn.
* Cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn
Do hoạt động trong lịnh vực tài chính, các ngân hàng có rất nhiều
chuyên gia về quản lý tài chính. Vì vậy, nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã nhờ
ngân hàng quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ. Dịch vụ ủy thác
phát triển sang cả ủy thác vay hộ, ủy thác cho vay hộ, ủy thác phát hành, ủy
thác đầu tư…Thậm chí các ngân hàng đóng vai trò là người được ủy thác trong
di chúc, quản lý tài sản cho khách hàng đã qua đời bằng cách công bố tài sản,

bảo quản các tài sản có giá. Nhiều khách hàng còn coi ngân hàng như một
chuyên gia tư vấn về tài chính. Ngân hàng sẵn sàng tư vấn về đầu tư, về quản
lý tài chính, về thành lập, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp.
* Cung cấp dịch vụ môi giới và đầu tư chưng khoán
Nhiều ngân hàng đang phấn đấu cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho
phép khách hàng thõa mãn nọi nhu cầu. Đây là một trong những lý do chính
khiến các ngân hàng bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp
cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác.
Trong một vài trường hợp các ngân hàng tổ chức ra công ty chứng khoán hoặc
công ty môi giới chứng khoán để cung cấp dịch vụ môi giới.
* Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm
Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã bán bảo hiểm cho khách hàng, điều
đó đảm bảo việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng bị chết, bị tàn phế hay
gặp rủi ro trong hoạt động, mất khả năng thanh toán. Ngân hàng liên doanh với
công ty bảo hiểm con, ngân hàng cung cấp dịch vụ tiết kiệm gắn với bảo hiểm
như tiết kiệm an sinh, tiết kiệm hưu trí…
* Cung cấp các dịch vụ đại lý
Nhiều ngân hàng trong quá trình hoạt động không thể thiết lập chi nhánh
hoặc văn phòng ở khắp mọi nơi. Nhiều ngân hàng (thường là ngân hàng lớn)
cung cấp dịch vụ ngân hàng đại lý cho các ngân hàng khác như thanh toán hộ,
phát hành hộ các chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ.
1.1.2.Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại.
1.1.2.1.Tín dụng và sự cần thiết của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế.
Tín dụng được coi là mối quan hệ vay mượn lẫn nhau giữa người cho
vay và người đi vay trong điều kiện có hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian
nhất định. Hay nói một cách khác: Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh
mối quan hệ kinh tế mà trong đó mỗi cá nhân hay một tổ chức nhường quyên
sử dụng một khối lượng giá trị hoặc hiện vật cho một cá nhân hay một tổ chức
khác với những ràng buộc nhất định về thời gian hoàn trả, lãi suất, cách thức
vay mượn và thu hồi.

Trong quan hệ mua bán chịu, thông thường giá bán chịu hàng hóa cao
hơn giá bán trao tiền ngay, phần chênh lệch này chính là lãi của hàng hóa đem
bán chịu. Quan hệ mua bán chịu chỉ diễn ra giữa các đơn vị liên quan trực tiếp
với nhau. Vì vậy nó không đáp ứng được nhu cầu vay mượn ngày càng tăng
của nền sản xuất hàng hóa. Mặt, khác do đặc điểm tuần hoàn vốn trong quá
trình tái sản xuất, xã hội thường xuyên xuất hiện hiện tượng thừa vốn tạm thời
ở các tổ chức cá nhân này và nhu cầu thiếu vốn ở các tổ chức cá nhân khác.
Hiện tượng thừa thiếu vốn phát sinh do có sự chênh lệch về thời gian sử dụng
vốn của tổ chức hay cá nhân đó. Trong khi đó số lượng các khoản thu nhập và
chi tiêu ở các tổ chức cá nhân trong quá trình tái sản xuất đòi hỏi phải được
tiến hành liên tục. Vậy để khắc phục tình trạng này thì chỉ có ngân hàng - một
tổ chức chuyên kinh doanh tiền tệ mới có khả năng giải quyết được những mâu
thuẫn đó
Vậy tín dụng ngân hàng là gì?
“Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ mà một bên là
ngân hàng - một tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một bên
là tất cà các tổ chức, cá nhân trong xã hội, trong đó ngân hàng là người giữ vai
trò vừa là người đi vay, vừa là người cho vay”.
Với tư cách là người đi vay: ngân hàng huy động mọi ngồn vốn tạm thời
nhàn rỗi trong xã hội bằng hình thức nhận tiền gửi của các doanh nghiệp, các
tổ chức cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiển gửi, trái phiếu để huy động vốn
trong xã hội.
Với tư cách là người cho vay: Ngân hàng đáp ứng nhu cầu cho các
doanh nghiệp, tổ chức cá nhân khi có nhu cầu thiếu vốn cần được bổ sung
trong hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. Với vai trò này, ngân hàng
đã thực hiện chức năng phân phối lại vốn, tiền tệ để đáp ứng nhu cầu tái sản
xuất xã hội.
Đây là hình thức tín dụng chủ yếu trong nền kinh tế thị trường, nó luôn
đáp ứng nhu cầu về vốn cho nên kinh tế một cách linh hoạt, đầy đủ và kịp thời.
Có thế thấy rõ hơn khái niệm về tín dụng ngân hàng qua ví dụ sau:

Với lợi thế về du lịch Việt Nam đang ngày càng thu hút nhiều du khách
nước ngoài “trở thành điểm đến của thiên niên kỷ mới”, do vậy số lượng khách
du lịch đến Việt Nam sẽ tăng lên. Nếu biết tận dụng cơ hội này thì việc xây
dựng nên khách sạn không những đem lại lợi nhuận cho chính bản thân mà
còn đem lại sự phát triển cho nền kinh tế. Nhưng để xây dựng được khách sạn
đủ khả năng cạnh tranh thì cần có lượng vốn rất lớn mà nguồn vốn của chính
bản thân thì khó có thể đáp ứng. Trong khi đó có một số người khác có món
tiết kiệm tích lũy được trong nhiều năm, tạm gọi là lượng tiền nhàn rỗi. Nếu
hai bên gặp được nhau và bên đối tác sẵn sàng đáp ứng nhu cầu vốn thì kế
hoạch sẽ trở thành hiện thực. Tuy nhiên, khả năng gặp mặt giữa hai bên có xảy
ra không? Trong nền kinh tế thị trường, hàng ngày hàng giờ không biết xảy ra
bao nhiêu mối quan hệ như vậy. Nó đã hình thánh nên: một bên là những
người có tiền tích lũy, có khả năng cung cấp và phía bên kia là những người có
nhu cầu vay cho đầu tư phát triển. Như vậy nảy sinh vấn đề là làm như thế nào
để họ có thể tìm gặp được nhau và làm thế nào để cùng một lúc thõa mãn vốn
đa dạng và to lớn trong khi các nguồn tiết kiệm còn đang nằm phân tán trong
xã hội. Không phải bất kỳ ai cũng có khả năng hoặc đầu tư vay vốn trên thị
trường tài chính, ngoài ra khi giao dịch trên thị trường tài chính đòi hỏi chi phí
về tiền bạc và thời gian rất lớn. Do đó các ngân hàng thương mại với chức
năng cơ bản là trung gian tài chính, hoạt động như một chiếc cầu nối liền giữa
khả năng cung ứng và nhu cầu về vốn tiền tệ trong xã hội đã cơ bản giải quyết
được những vấn đề nảy sinh trên. Đồng thời với tư cách là một trung gian, tín
dụng ngân hàng đóng vai trò là người môi giới giữa một bên là người có tiền
cho vay và một bên là người có nhu cầu vay vốn. Thông qua cơ chế thị trường
bằng những biện pháp kinh tế năng động và áp dụng các phương pháp kĩ thuật
theo hướng hiện đại tiên tiến, ngân hàng có khả năng thu hút hầu hết những
nguồn vốn tiền tệ tiết kiệm dự trữ trong xã hội để chuyển giao đúng nơi, đúng
lúc phù hợp với nhu cầu vốn trong sản xuất kinh doanh. Chính nhờ có tín dụng
ngân hàng mà những đồng tiền tạm thời nhàn rỗi đã trở thành tiền hoạt động,
biến những đồng tiền phân tán thành nguồn vốn tập trung phục vụ cho nhu cầu

kinh doanh. Qua đó thúc đầy hoạt động sản xuất kinh doanh giúp cho nền kinh
tế ngày càng phát triển.
1.1.2.2.Các loại hình thức tín dụng.
Tín dụng cho vay tồn tại dưới rất nhiều hình thức, nhiều tên gọi. Tuy
nhiên, căn cứ vào một số các tiêu thức khác nhau để phân chia tín dụng ngân
hàng. Dưới đây là một số cách phân chia mà Ngân hàng thường sử dụng khi
phân tích và đánh giá.
* Phân loại theo thời hạn tín dụng:
Theo cách này tín dụng ngân hàng được phân làm 3 loại:
- Tín dụng ngắn hạn: là khoản tín dụng dưới 1 năm và được sử dụng để
bổ sung sự thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của doanh nghiệp, nó có thể được
vay cho những sinh hoạt cá nhân.
- Tín dụng trung hạn: là khoản tín dụng có thời hạn từ 1-3 năm, loại tín
dụng này thường dùng để cung cấp, mua sắm tài sản cố định, cải tiến và biến
đổi kỹ thuật, mở rộng và xây dựng công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn
nhanh.
- Tín dụng dài hạn: là khoản tín dụng có thời gian từ 3 năm trở lên. Loại
tín dụng này dùng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản như: Đầu tư xây dựng
các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản
xuất có quy mô lớn.
Tín dụng trung và dài hạn được đầu tư để hình thành vốn cố định và một
phần bổ sung cho vốn lưu động.
* Phân loại theo mục đích:
Theo tiêu thức này thì tín dụng ngân hàng được phân chia rất đa dạng và
phong phú:
- Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và
xây dựng bất động sản, nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp
thương mại và dịch vụ.
- Cho vay công nghiệp và thương mại: là cho vay ngắn hạn để bổ xung
vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực này.

- Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất
như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, con giống, lao động,
- Cho vay cá nhân: là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như
mua sắm các vật dụng đắt tiền. Ngày nay Ngân hàng còn cho vay để trang trải
các khoản chi phí thông thường của đời sống thông dụng dưới tên gọi là tín
dụng tiêu dùng và phát hành thẻ tín dụng là một ví dụ.
- Thuê mua và các loại tín dụng khác.
* Phân loại theo cắn cứ đảm bảo.
- Cho vay không bảo đảm: là loại cho vay không cần tài sản thế chấp,
cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba. Việc cho vay chỉ dựa trên uy tín.
Đối vói những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài
chính mạnh, quản trị có hiệu quả thì Ngân hàng có thể cấp tín dụng mà không
đòi hỏi nguồn thu nợ bổ xung.
- Cho vay có đảm bảo: là loại cho vay được Ngân hàng cung cấp với
điều kiện phải có tài sản thế chấp hoặc cần có bảo lãnh của bên thứ ba. Đối
với khách hàng không có uy tín cao đối với Ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi
phải có bảo đảm. Sự bảo đảm này căn cứ pháp lý để Ngân hàng có thêm một
nguồn thứ hai, bổ xung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn nhằm bù lại
khoản tiền vay trong trường hợp người vay không có khả năng trả nợ.
* Phân loại theo đối tượng tín dụng.
Theo tiêu thức này thì tín dụng được chia làm 2 loại:
- Tín dụng lưu động: loại nào được cấp phát để hình thành vốn lưu động
của các tổ chức kinh tế như cho vay để dự trữ hàng hoá đối với xí nghiệp,
thương nghiệp, bù đắp vốn lưu động thiếu hụt tạm thời.
Loại này được chia làm 2 loại:
+ Cho vay dự trữ hàng hóa, cho vay chi phí sản xuất.
+ Cho vay để thanh toán các khoản nợ dưới hình thức chiết khấu kỳ
phiếu, với thời hạn cho vay là ngắn hạn.
- Tín dụng vốn cố định: là loại tín dụng được cấp phát để hình thành tài
sản cố định. Loại này thường được đầu tư để mua sắm tài sản cố định, cải tiến

và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các công trình mới. Thời hạn
cho vay đối với loại này là trung và dài hạn.
* Phân theo phương thức hoàn trả tiền vay.
Theo cách này thì khoản cho vay có thể được hoàn trả theo hai cách.
Cách thứ nhất là trả một lần cả vốn gốc và lãi khi đến hạn. Hai là khoản tiền
vay sẽ được trả làm nhiều lần theo nhiều kỳ.
* Phân loại theo xuất xứ vốn vay.
Có loại do ngân hàng trực tiếp cho vay, có loại cho vay gián tiếp tức là
ngân hàng mua lại nợ từ chủ nợ khác.
* Phân loại theo hình thức giá tự có.
Một là cho vay bằng tiền, đây là loại cho vay chủ yếu của các ngân hàng
được thực hiện bằng các kỹ thuật khác nhau.
Hai là cho vay bằng tài sản, loại này được áp dụng phổ biến dưới hình
thức tài trợ thuê mua.
* Phân loại theo thành phần kinh tế.
- Tín dụng đối với thành phần kinh tế quốc doanh.
- Tín dụng đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh.
1.2.Chất lượng tín dụng của Ngân hàng Thương mại.
1.2.1.Khái niệm
Tín dụng là hoạt động tài trợ của ngân hàng cho khách hàng (còn được
gọi là tín dụng ngân hàng).
Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ la tinh credo (tin tưởng, tín nhiệm).
Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác
nhau: ngay cả trong quan hệ tài chính, tùy theo từng bối cảnh cụ thể mà thuật
ngữ tín dụng nội dung riêng. Trong quan hệ tài chính, tín dụng có thể hiểu theo
các nghĩa sau:
+ Xét trên góc độ dịch chuyển quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm
sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp dịch
chuyển quỹ từ người cho vay sang người đi vay.
+ Trong quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản

trên cơ sở hoàn trả giữa hai chủ thể. Như một công ty công nghiệp hoặc
thương mại bán hàng trả chậm cho một công ty khác, trong trường hợp này
người bán hàng chuyển giao hàng cho bên mua và sau một thời gian nhất định
theo thỏa thuận bên mua phải trả tiền cho bên bán. Phổ biến hơn cả là giao
dịch của ngân hàng và các định chế tài chính khác với các doanh nghiệp và cá
nhân thể hiện dưới hình thức cho vay, tức là ngân hàng cấp tiền vay cho bên đi
vay và sau một thời hạn nhất định người đi vay phải thanh toán vốn gốc và lãi.
Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho
vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay ( cá nhân, doanh
nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên
đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có
trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn
thanh toán.
Từ khái niệm trên, bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản trên
cơ sở hoàn trả và có đặc trưng sau:
+ Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình
thức là cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản). Trong
những năm 1960 trở về trứơc hoạt động tín dụng của ngân hàng chỉ có cho vay
bằng tiền. Xuất phát từ tính đặc thù đó mà nhiều lúc thuật ngữ tín dụng và cho
vay được coi là đồng nghĩa vơi nhau. Từ những năm 1970 trở lại đây, dịch vụ
cho thuê vận hành và cho thuê tài chính đã được ngân hàng hoặc các định chế
tài chính cung cấp cho khách hàng. Đây là một sản phẩm kinh doanh của ngân
hàng, một hình thức tín dụng bằng tài sản thực.
+ Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy người cho vay chuyển giao
tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả
đúng hạn. Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng. Trong thực tế
khi một số nhân viên tín dụng khi xét duyệt cho vay không dựa trên cơ sở đánh
giá mức độ tín nhiệm về khách hàng mà lại chú trọng đến các đảm bảo, chính
quan điểm này đã làm ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng.
+ Giá trị hoàn trả thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách

khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài gốc. Để thực hiện được
nguyên tắc này phải xác định lãi xuất danh nghĩa lơn hơn tỷ lệ lạm phát, hay
nói cách khác lãi xuất thực phải dương (Lãi suất thực = Lãi xuất danh nghĩa-
Tỷ lệ lạm phát). Tuy nhiên, vì lãi suất chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác
nhau, nên trong một số trường hợp cụ thể lãi suất danh nghĩa có thể thấp hơn
tỷ lệ lạm phát, ngoại lệ này chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn.
+ Trong quan hệ tín dụng ngân hàng tiền vay được cấp trên cơ sở cam
kết hoàn trả vô điều kiện. Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan
hệ tín dụng như hợp động tín dụng, khế ước thực chất là lệnh phiếu, trong đó
bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn.
1.2.2.Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng.
1.2.2.1.Hoạt động tín dụng xét về góc độ hoạt động của ngân hàng.
Các khoản tín dụng của ngân hàng có chất lượng tốt khi hiệu quả sử
dụng vốn cao, an toàn và mang lại hiệu quả kinh tế cho chủ thể sử dụng đồng
thời mang lại một mức lợi nhuận cho ngân hàng. Dưới đây là một số chỉ tiêu
đánh giá chất lượng tín dụng đối với ngân hàng:
* Các chỉ tiêu an toàn tín dụng và mức độ rủi ro
- Tỷ lệ nợ quá hạn.
Dư nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Tổng dư nợ
Nợ quá hạn là phần còn lại mà đến hạn hoặc có thêm thời gian gia hạn
vẫn chưa đủ thu hồi được.
- Tổng dư nợ quá hạn trong kỳ và tổng dư nợ quá tích lũy.
- Cơ cấu nợ quá hạn “theo tuổi”: Phân nhóm nợ quá hạn theo thời gian
quá hạn và theo khách hàng, ước tính tỷ lệ nợ quá hạn chuyển sang nợ khó đòi.
Chi tiết nợ quá hạn theo tuổi sau:
+ Tên khách hàng.
+ Tổng dư nợ.
+ Quá hạn dưới 3 tháng.

+ Quá hạn dưới 3-6 tháng.
+ Quá hạn từ 6 tháng đến 1 năm.
+ Quá hạn trên 1 năm.
- Tỷ lệ phần trăm nợ quá hạn theo tuổi.
- Tỷ lệ nợ quá hạn trong kỳ: Cùng với tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ thu hồi nợ
quá hạn cho ta biết mức độ quản lý nội bộ đối với nợ quá hạn. Nếu tỷ lệ thu
hồi nợ quá hạn nhỏ thì thực tế Ngân hàng có thể đang đứng trước một rủi ro
mất một lượng vốn lớn cho vay. Tỷ lệ này có thể xác định bằng công thức:
Doanh số thu nợ quá hạn trong kỳ
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Dư nợ quá hạn đầu kỳ + Dư nợ quá hạn trong kỳ
Một tỷ lệ nợ quá hạn được coi là chấp nhận được là dưới 3%

* Các chỉ tiêu về sử dụng vốn
- Lượng dư nợ tích lũy đến thời điểm hết kỳ và cơ cấu dư nợ (ngắn,
trung và dài hạn)
- Tỷ lệ cho vay trên tổng vốn dư nợ
Tổng dư nợ đến kỳ hạn
Tỷ lệ cho vay =
Tổng lượng vốn huy động tích lũy
Tỷ lệ này cho biết khả năng ngân hàng tận dụng nguồn vốn huy động
trong hoạt động tín dụng.
- Cơ cấu cho vay theo mức lãi suất và lãi suất cho vay bình quân. Chỉ
tiêu này cho thấy được mức lãi suất cho vay bình quân của ngân hàng. Nói
chung, lãi suất cho vay bình quân phải lớn hơn lãi suất huy động bình quân thì
ngân hàng mới hoạt động và có lãi.
- Vòng quay vốn tín dụng trong năm
Dư nợ trong năm
Vòng quay vốn tín dụng trong năm =
Dư nợ bình quân năm

Chỉ tiêu này cho ta biết một đồng vốn của ngân hàng được cho vay bao
nhiêu lần trong năm. Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt, nó chứng tỏ ngân hàng thu
được nhiều nợ và chứng tỏ rằng nguồn vốn mà ngân hàng đã đầu tư vào hoạt
động kinh doanh có hiệu quả.
* Các chỉ tiêu về doanh lợi
- Tổng doanh thu của ngân hàng từ hoạt động tín dụng
- Cơ cấu thu nhập từ các hoạt động tín dụng của ngân hàng và từ trong
hoạt động kinh doanh khác.
- Lợi nhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế của ngân hàng.
1.2.2.2.Chất lượng tín dụng ngân hàng dưới góc độ hoạt động của doanh
nghiệp.
Doanh nghiệp là người trực tiếp quản lý và sử dụng vốn nên đối với họ
chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng ngân hàng là doanh thu từ khỏan vay
ngân hàng, lợi nhuận tăng lên nhờ việc sử dụng vốn vay ngân hàng Ngoài ra
nó còn thể hiện ở chỗ nhờ có số tiền vay ngân hàng mà doanh nghiệp có thể
đổi mới công nghệ nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao tính
cạnh tranh, củng cố vị thế doanh nghiệp trên thị trường, tạo công ăn việc làm
và cải thiện đời sống công nhân.
1.2.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngân hàng.
Để có thể nâng cao được chất lượng tín dụng ngân hàng đối với doanh
nghiệp ( cả về ngân hàng và doanh nghiệp sản xuất kinh doanh) ta phải hiểu rõ
các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngân hàng để từ đó phát huy
những ảnh hưởng tích cực cũng như hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực. Mặt khác
cả ngân hàng và doanh nghiệp phải cố gắng linh hoạt để phù hợp với quy định
của Nhà nước trong hoạt động tín dụng. Có như thế thì cả ngân hàngvà doanh
nghiệp mới đề ra các biện pháp đúng đắn, cụ thể, linh hoạt để đạt được mục
tiêu hoạt động của mình một cách tốt nhất. Sau đây chúng ta lần lượt nghiên
cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngân hàng thuộc về ngân
hàng và doanh nghiệp.
1.2.3.1.Các nhân tố thuộc về ngân hàng.

* Chính sách tín dụng
Đây là kim chỉ nam cho hoạt động tín dụng của Ngân hàng, nó có ý
nghĩa quyết định sự thành công hay thất bại của Ngân hàng. Chính sách tín
dụng phải phù hợp với đường lối phát triển kinh tế của đảng và nhà nước, đồng
thời kết quả hài hòa giữa quyền lợi của người gửi tiền, của ngân hàng và người
sử dụng vốn vay. Muốn vậy, chính sách tín dụng phải được xây dựng trên cơ
sở khoa học và thực tiễn.
* Thông tin tín dụng
Nhờ có thông tin tín dụng mà người quản lý có thể đưa ra những quyết
định cần thiết liên quan đến việc cho vay, quản lý đảm bảo tiền vay, giảm thiểu
rủi ro tín dụng, nâng cao hiệu quả tín dụng. Thông tin tín dụng có thể thu thập
được từ nguồn thông tin sẵn có của ngân hàng từ thông tin tín dụng, từ khách
hàng, từ đối thủ cạnh tranh hoặc nói cách khác từ nguồn trực tiếp hay gián tiếp,
từ các nguồn thông tin của cơ quan pháp luật
* Công tác tổ chức ngân hàng
Nhân tố này không chỉ tác động đến chất lượng tín dụng mà tác động
đến mọi hoạt động của Ngân hàng. Một Ngân hàng có cơ cấu tổ chức đựơc sắp
xếp một cách khoa học, sự phân công công việc được tiến hành một cách cụ
thể, có sự liên kết giữa các bộ phận thì việc đáp ứng các yêu cầu của khách
hàng sẽ được thực hiện kịp thời, không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh, quản lý có
hiệu qủa và an toàn các khoản tín dụng.
* Chất lượng nhân sự
Con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong hoạt động kinh
doanh nói chung, còn nói đến hoạt động Ngân hàng thì nó lại càng quan trọng.
Vì cán bộ công nhân viên của Ngân hàng là bộ mặt, hình ảnh của Ngân hàng
đối với khách hàng. Hơn nữa nghiệp vụ ngân hàng càng ngày càng phát triển
đòi hỏi chất lượng nhân sự ngày càng cao. Việc tuyển dụng nhân viên có đạo
đức tốt, giỏi chuyên môn nghiệp vụ sẽ giúp ngân hàng ngừa tối đa những sai
phạm có thể xẩy ra để đem lại một khoản tín dụng có chất lượng.
* Công tác kiểm soát nội bộ

Đây là công tác mà Ngân hàng nào cũng cần tiến hành thường xuyên,
liên tục nhằm duy trì chất lượng, hiệu quả kinh doanh của mình phù hợp với
các chính sách, đáp ứng yêu cầu, mục tiêu đã đề ra. Để làm tốt công tác này,
Ngân hàng cần sắp xếp một đội ngũ cán bộ giỏi chuyên môn, nghiệp vụ, trung
thực làm nhiệm vụ này và có chế độ thưởng, phạt nghiêm minh. Có như thế,
công tác tín dụng mới được thực hiện đúng quy trình nhằm nâng cao chất
lượng tín dụng.
1.2.3.2.Các nhân tố thuộc về doanh nghiệp
* Năng lực của doanh nghiệp
Không một doanh nghiệp nào đi vay lại không muốn món vay đem lại
hiệu quả. Nhưng nhiều khi do năng lực có hạn chế, họ không thực hiện được
mục đích của mình và làm ảnh hưởng đến khoản tín dụng mà họ đã nhận từ
ngân hàng.
* Trình độ quản lý của các nhà doanh nghiệp
Do trình độ của nhiều nhà lãnh đạo còn nhiều hạn chế về học vấn, kiến
thức cũng như kinh nghiệm thực tế nên nhiều khi họ không dự đoán được
những biến động của thị trường, yếu kém Marketing sản phẩm Do sự bảo thủ
của nhiều nhà quản lý không dám đổi mới khiến hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp không có hiệu quả, dẫn đến tình trạng không thu hồi hết được
vốn và làm ảnh hưởng đến hiệu quả của doanh nghiệp từ đó ảnh hưỏng đến
chất lượng của khoản tín dụng đã sử dụng.
* Đạo đức của người đi vay
Ngân hàng chỉ quyết định cho vay sau khi đã phân tích kỹ các yếu tố có
liên quan đến khả năng của người vay trong việc hoàn trả nợ và cách thức sử
dụng vốn vay. Nhưng thông tin này có thể bị thay đổi sau khi doanh nghiệp
nhận được tiền vay. Thực tế, nhiều doanh nghiệp đã sử dụng vốn vay không
hợp lý dẫn đến không đạt đựơc hiệu quả sản xuất kinh doanh. Còn có nhiều
ngừơi có ý tham nhũng và kết quả là hiệu quả sử dụng vốn vay Ngân hàng kém

×