Tải bản đầy đủ (.pdf) (5 trang)

Khổ qua ức chế tế bào ung thư vú ppsx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (111.03 KB, 5 trang )

Khổ qua ức chế tế bào ung thư vú

Một nghiên cứu của Đại học y khoa Saint Louis, tiểu bang Missouri,
đăng trên báo Cancer Research trong tháng 2 năm 2010 cho thấy cao Khổ
qua (Mướp đắng - Momordica charantia) ức chế tế bào ung thư vú phát triển.
TS. Ratna B. Ray, giáo sư khoa bệnh học của đại học này cùng cộng sự
thực hiện nghiên cứu này. Những bào chế từ cao Khổ qua từ những phòng thí
nghiệm độc lập đã cho thấy cao này có lợi cho chuyển hóa glucose, lipid trong
huyết tương và gan. Charantin (một steroid glycosid) và polypeptid-p hay insulin
thực vật (peptid bắt chước insulin với 166 acid amin) được tin là đóng góp vào tác
dụng hạ đường huyết của Khổ qua. Ngoài ra, Khổ qua còn chứa thêm những
glycosid khác, gồm momordin, vitamin C, carotenoid, flavonoid và polyphenol.
Trong nghiên cứu này, giáo sư Ray và cộng sự quan sát hiệu quả của cao
Khổ qua như là chất chống ung thư, dùng tế bào ung thư vú dòng MCF-7 và
MDA-MB-231, và những tế bào biểu bì vú người chính như là mẫu thí nghiệm.
Tác dụng của Khổ qua được đánh giá lên tế bào ung thư dương tính cũng như âm
tính với thụ thể estrogen.
Họ tìm thấy tế bào ung thư vú tự hủy (apoptosis) kèm theo tăng cắt poly
(ADP-ribose) polymerase và kích hoạt caspase. Điều trị tế bào ung thư với cao
Khổ qua ức chế biểu lộ survivin và claspin, là những protein tham dự vào ức chế
tế bào tăng trưởng, cảm ứng tế bào tự hủy, và điều hòa chu kỳ tế bào. Survivin
cũng tham dự vào sự đề kháng hóa trị liệu.
Điều trị với cao Khổ qua cũng tăng cường p53 và pChk1/2, và ức chế biểu
lộ cyclin B1 và cyclin D1, gợi ý thêm một cơ chế tác dụng tham dự vào điều hòa
chu kỳ tế bào, theo tác giả.
Giáo sư Ray đang chờ tài trợ của Viện nghiên cứu ung thư quốc gia Hoa Kỳ
để thực hiện nghiên cứu tiền lâm sàng để chứng minh cụ thể hơn.
Cảnh báo nguy cơ nhiễm độc selen từ sản phẩm bổ túc dinh dưỡng
Thứ ba, 23/03/2010, 16:47 GMT+7
Selen (selenium,viết tắt: Se) là khoáng vi lượng tốt cho sức khỏenhưng
chỉ ở mức không quá 400 mcg/ngày. Selen kết hợp với protein thành


selenoprotein, cần thiết cho enzym chống oxy hóa. Tính chất chống oxy hóa
của selenoprotein giúp ngăn ngừa gốc tự do làm hư hại tế bào. Gốc tự do là
những sản phẩm do chuyển hóa các chất cơ bản (chất béo, bột đường, chất
đạm) trong cơ thể tạo ra, có thể gây oxy hóa sinh chất, góp phần phát sinh
bệnh do lão hóa, mãn tính từ tim mạch, thấp khớp, tiểu đường cho đến ung
thư. Những selenoprotein khác giúp điều hòa chức năng tuyến giáp và đóng
vai trò trong hệ miễn dịch…
Thực phẩm thực vật là nguồn selen chính ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Hàm lượng selen trong thức ăn tùy thuộc lượng selen trong đất mà cây cối hay thú
vật được nuôi trồng. Tại Mỹ, vùng cao nguyên bắc Nebraska và Dakota có mức
selen rất cao nên người sống ở những vùng này thường có lượng selen ăn vào cao
nhất tại Hoa Kỳ. Trái lại, vài vùng đất ở Trung Quốc và Nga có lượng selen rất
thấp, nên bệnh thiếu selen thường báo cáo ở những vùng này.
Selen cũng được tìm thấy trong thịt và hải sản. Thú vật ăn hột và rau cỏ ở
vùng đất giàu selen sẽ có hàm lượng selen cao trong bắp thịt. Thịt, cá và ngũ cốc
lứt là nguồn cung cấp selen phổ thông. Vài loại quả hạch như hột Dẻ, Hạnh nhân,
Óc chó, hột Điều… cũng là nguồn cung cấp selen. Theo Cơ quan kiểm soát dịch
bệnh CDC của Hoa Kỳ, lượng selen cho phép dùng hàng ngày trong thức ăn là 55
mcg/ngày cho người từ 14 tuổi trở lên, và lượng dung nạp tối đa mỗi ngày là 400
mcg/ngày. Nhưng theo một báo cáo trên báo Archives of Internal Medicine số
tháng 2 năm 2010, mức selen trong các sản phẩm bổ túc dinh dưỡng (thực phẩm
chức năng) có thể cao gấp 200 lần mức cho phép, nên gây ngộ độc cấp tính.
Triệu chứng nhiễm độc selen gồm buồn nôn, ói mửa, móng đổi máu, giòn
và mất móng, rụng tóc, mệt nhọc, bứt rứt và hơi thở hôi thối.
Tác giả điều tra những ca ngộ độc cấp selen từ tháng 3/2008 và mua sản
phẩm từ tháng 1/2008. Các nhà điều tra gởi bảng câu hỏi cho 227 người bị ngộ
độc ở 9 tiểu bang, và sau 90 ngày, gởi thêm 1 bảng câu hỏi theo dõi ở 5 tiểu bang.
Nguồn gốc sinh bùng phát ngộ độc là sản phẩm dung dịch bổ túc dinh
dưỡng, ghi nhãn không rõ ràng, selen ghi trên nhãn hiệu là 200 mcg cho khoảng
30 mL dưới dạng sodium selenite, một dạng vô cơ của selen.

Khi FDA xét nghiệm mẫu sản phẩm, thì thấy hàm lượng selen là 40.800
mg/30 ml - xấp xỉ 200 lần cao hơn hàm lượng ghi trên nhãn. Có 201 ca ngộ độc
selen được báo cáo, 1 ca phải nằm bệnh viện. Liều trung bình selen tiêu thụ là
41.749 mcg/ngày.
Triệu chứng thường gặp được báo cáo là tiêu chảy (78%), mệt nhọc (75%),
rụng tóc (72%), đau khớp (70%), móng tay chân đổi máu hay giòn (61%), buồn
nôn (58%). Triệu chứng kéo dài trong 90 ngày hay lâu hơn gồm móng đổi máu và
mất móng trong 525 ca, mệt nhọc (35%) và rụng tóc (29%). Trong 8 bệnh nhân,
mức selen trung bình ban đầu trong huyết thanh là 751 mcg/L trong khi mức bình
thường < 125 mcg/L, và nồng độ trung bình selen trong nước tiểu ở 7 bệnh nhân là
166 mg/24 giờ so với mức bình thường < 55 mg/24 giờ.
Mặc dầu selen tốt cho sức khỏe, nhưng thường có đủ trong thức ăn hay các
viên đa sinh tố và khoáng chất, không nên tin theo quảng cáo mua các sản phẩm
bổ túc dinh dưỡng chứa selen để tránh bị ngộ độc. Những sản phẩm gây ngộ độc
tại nước ngoài, nên không bán được nữa, coi chừng chúng lại chạy vào Việt Nam!
Hơn nữa, một số dược thảo của ta cũng rất giàu selen, như cây Mắc cỡ, còn gọi
Trinh nữ (Mimosa pudica L.) chẳng hạn, giàu selen gấp 5 - 10 lần trong cây khác.
Những toa thuốc nam dùng liều cao và dài ngày sẽ bị ngộ độc.


×