Tải bản đầy đủ (.doc) (119 trang)

Xây dựng và hướng dẫn khai thác sử dụng tư liệu dạy học điện tử môn hóa học lớp 11 nâng cao, trung học phổ thông theo hướng dạy học tích cực

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.54 MB, 119 trang )

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự bùng nổ của công nghệ thông tin và truyền thông ( ICT- Information and
Communication Technology) đang tác động mạnh mẽ, sâu sắc đến mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội trong đó có giáo dục. Trong bối cảnh đó, nền giáo dục nước ta đã và
đang đổi mới theo hướng ứng dụng ICT và thiết bị hiện đại nhằm nâng cao chất
lượng dạy và học.
Những năm gần đây, ngành giáo dục nước ta chú trọng đặc biệt đến việc áp
dụng công nghệ thông tin trong dạy học như là một hướng đổi mới phương pháp
dạy học, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học. Chỉ thị
29/2001/CT BGD-ĐT của Bộ trưởng BGD&ĐT ngày 30/7/2001 và chỉ thị số
55/2008/CT−BGDĐT về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ
thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn 2008−2012 đã chỉ rõ: “Đẩy mạnh một
cách hợp lý việc triển khai ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp dạy và học
ở từng cấp học". Gần đây nhất Bộ GD&ĐT đã ra công văn số 4960/BGDĐT-CNTT
ngày 27/7/2011 về việc thực hiện nhiệm vụ CNTT năm học 2011-2012. Yêu cầu
các sở GDĐT hướng dẫn xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện nhiệm vụ công
nghệ thông tin năm học 2011 – 2012 nhằm đẩy mạnh việc đổi mới phương pháp
giảng dạy, học tập và ứng dụng công nghệ thông tin một cách thiết thực và hiệu quả
trong công tác quản lý của nhà trường và công tác đào tạo nguồn nhân lực về công
nghệ thông tin. Các sở GDĐT giao bộ phận chuyên trách về CNTT xây dựng kế
hoạch dạy, học và ứng dụng công nghệ thông tin trong giai đoạn 2011-2015. Bộ
GDĐT (Cục CNTT) hướng dẫn khung xây dựng kế hoạch. Dự án ứng dụng CNTT
cần xây dựng trên tinh thần hiệu quả, tiết kiệm, tránh trùng lặp và cần có cơng nghệ
hiện đại song phù hợp với điều kiện thực tế.
Qua đó vấn đề ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường phổ thơng hiện
nay đang có những chuyển biến rõ rệt và đã cho những hiệu quả thiết thực trong đổi
mới phương pháp dạy học nói chung và mơn hóa học nói riêng. Đối với giáo viên
phổ thơng để ứng dụng CNTT vào dạy học, cần có một nguồn tài liệu dạy học

1




phong phú, chính xác và khoa học. Các nguồn tài liệu này có thể khai thác từ nhiều
nguồn khác nhau : Các đĩa CD−ROM phần mềm tư liệu dạy học trong và ngoài
nước, từ internet, từ trao đổi tư liệu sưu tầm của giáo viên…
Thực tế cho thấy, hầu hết việc ứng dụng CNTT trong dạy học của giáo viên
còn mang tính tự phát, nên có rất nhiều tư liệu được xây dựng chưa phù hợp với nội
dung kiến thức, cũng như phương pháp dạy học.
Muốn có được tư liệu dạy học điện tử một cách hữu ích, người giáo viên bên
cạnh thời gian sưu tầm tư liệu còn phải bỏ nhiều thời gian cho việc lựa chọn tư liệu,
tìm hiểu tư liệu và cách khai thác và sử dụng chúng như thế nào cho hiệu quả.
Để GV phổ thông có một nguồn tư liệu dạy học điện tử Hố học 11 nâng cao
phong phú, chính xác, khoa học, dễ dàng khai thác, sử dụng theo hướng mở, phù
hợp với mục tiêu, phương pháp dạy học và đối tượng học tập thì việc “Xây dựng và
hướng dẫn khai thác sử dụng tư liệu dạy học điện tử mơn hóa học lớp 11 nâng
cao, trung học phổ thông theo hướng dạy học tích cực” là rất cần thiết, có ý nghĩa
cả về mặt khoa học lẫn thực tiễn.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Cùng với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin và truyền thông,
việc tự học qua mạng, qua hệ thống E-learning và các E-book đang được phổ biến
rộng rãi. Người học có thể học bất cứ lúc nào, bất kì ở đâu, với bất kì ai, học những
vấn đề mà bản thân quan tâm, phù hợp với năng lực và sở thích, phù hợp với u
cầu cơng việc …qua đó mỗi cá nhân có thể tự bổ sung nguồn tri thức cho chính
mình. Trên mạng Internet đã xuất hiện rất nhiều website viết về học tập như:
violet.vn, hocmai.vn, onthi.com, onbai.com....Cũng có khơng ít các website về Hoá
học cung cấp các tư liệu điện tử để giúp cho GV và HS phổ thơng có thể tham khảo
để dạy và học nhưng đối với GV và HS phổ thơng sẽ chưa thực sự thuận lợi khi tìm
kiếm kiến thức bộ môn bởi lẽ đa số các trang web trên là những trang web mở, các
tư liệu mà các thành viên cung cấp có thể chưa được kiểm định một cách chính xác.


2


Bên cạnh đó đã có khá nhiều đề tài về thiết kế trang web, e-book ,thư viện tư
liệu điện tử từ khóa luận tốt nghiệp của sinh viên đến các luận văn thạc sỹ của học
viên cao học như:
- Phạm Ngọc Bằng (2004). Nghiên cứu và xây dựng phần mềm một số mô
phỏng để dạy các bài về sản xuất hố học trong chương trình phổ thơng. Luận văn
tốt nghiệp thạc sĩ tại trường ĐHSPHN.
- Nguyễn Thị Ánh Mai (2006). Thiết kế sách giáo khoa điện tử (E-book) các
chương về lí thuyết chủ đạo sách giáo khoa hố học lớp 10 THPT. Luận văn Thạc
sĩ khoa học giáo dục, ĐHSP Hà Nội.
- Nguyễn Thị Kim Ánh (2007). Thiết kế giáo trình điện tử và áp dụng phương
pháp dạy học vi mô để rèn luyện một số kĩ năng dạy học, góp phần nâng cao năng
lực tự học cho sinh viên khoa Hóa học ĐHSP. Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ tại trường
ĐHSPHN.
- Phạm Ngọc sơn ( 2007). Đồ họa cơ chế phản ứng Hóa hữu cơ. Luận văn
thạc sĩ khoa học giáo dục/ Phạm Ngọc sơn ĐHSP Hà Nội.
- Đinh Thị Hồng Nhung (2007). Thiết kế E -book hoá học vô cơ 11 ban nâng
cao. Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội.
- Nguyễn Thúy Hằng (2008). Thiết kế E-book hóa học lớp 12 nâng cao phần
kim loại. Đại học Sư phạm Hà Nội.
- Lê Thị Dạ Thảo (2008). Thiết kế E-book hóa học lớp 11 phần hữu cơ ban
KHTN. Đại học Sư phạm Hà Nội.
- Nguyễn Thị Thủy (2008). Sử dụng công nghệ thông tin để đánh giá và xây
dựng phần mềm kiểm tra hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan phần hóa học cơ
sở góp phần nâng cao năng lực tự kiểm tra đánh giá của học sinh chuyên hóa. Luận
văn tốt nghiệp thạc sĩ tại trường ĐHGD-ĐHQGHN
- Hoàng Anh Tuấn (2010). Xây dựng và sử dụng hệ thống tư liệu điện tử mơn
hố học lớp 12 góp phần đổi mới phương pháp dạy học hố học ở trường trung học

phổ thơng, Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ tại trường ĐHSPHN.

3


- Nguyễn Trí Ngẫn (2010). Thiết kế E-book hỗ trợ học sinh tự học phần kim
loại hóa học lớp 12 chương trình nâng cao, Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ tại trường
ĐHSPTPHCM.
- Trịnh Lê Hồng Phương (2011). Xây dựng học liệu điện tử hỗ trợ dạy và học
phần cấu tạo nguyên tử và hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hóa học – chương trình
trung học phổ thơng chun, Luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục, trường
ĐHSPTPHCM.
Trên đây chúng tôi mới chỉ liệt kê tên đề tài của một số khoá luận tốt nghiệp
và luận văn thạc sĩ nghiên cứu về vấn đề có liên quan đến ứng dụng CNTT trong
dạy và học hố học, cịn khá nhiều các khoá luận tốt nghiệp luận văn thạc sĩ khác
nghiên cứu về vấn đề này. Tuy nhiên các khoá luận, luận văn đều có ưu điểm chung
là góp phần nâng cao hiệu quả cho việc tự học, tự nghiên cứu kiến thức của học
sinh, cung cấp tư liệu cho GV và học sinh tham khảo để dạy học và tự học. Bên
cạnh những ưu điểm các đề tài nghiên cứu còn một số tồn tại sau:
- Một số website đòi hỏi phải truy cập Internet mới sử dụng được.
- Một số tư liệu trên các website mở chưa được kiểm định chất lượng một cách
chắc chắn từ những tổ chức kiểm định có thẩm quyền.
- Các tư liệu điện tử cịn chưa được đa dạng phong phú, chủ yếu dưới dạng tư
liệu chưa có sự hướng dẫn sử dụng trong dạy học như thế nào cho có hiệu quả.
- Phần dẫn xuất hiđrocacbon là phần nội dung khó nên các đề tài chưa khai
thác được sâu và vốn tư liệu hỗ trợ giáo viên và học sinh trong quá trình giảng dạy
và học tập chưa đa dạng.
3. Mục đích nghiên cứu
Sưu tầm, xây dựng hệ thống tư liệu dạy học điện tử hóa học lớp phần dẫn
xuất hiđrocacbon lớp 11 nâng cao và đề xuất biện pháp sử dụng hệ thống tư liệu

điện tử đó góp phần đổi mới phương pháp dạy và học hóa học ở trường phổ thơng
hiện nay.

4


4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về phương hướng đổi mới phương pháp dạy học theo
hướng dạy học tích cực. Việc sử dụng các phương tiện dạy học hóa học và vấn đề
ứng dụng cơng nghệ thơng tin trong dạy học hóa học ở trường phổ thơng.
4.2. Phân tích nội dung chương SGK Hóa học 11 nâng cao ( đặc biệt phần Hóa học
hữu cơ) làm cơ sở cho việc sưu tầm, xây dựng hệ thống tư liệu điện tử hỗ trợ cho
GV trong dạy học mơn hóa học ở trường phổ thơng.
4.3. Xây dựng hệ thống tư liệu dạy học điện tử hóa học 11 nâng cao, chương 8: Dẫn
xuất halogen. Ancol-Phenol và chương 9: Andehit-Xeton- Axit cacboxylic.
4.4. Hướng dẫn khai thác sử dụng hệ thống tư liệu dạy học điện tử tạo điều kiện cho
giáo viên sử dụng dễ dàng trong quá trình dạy học.
4.5. Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của hệ thống tư
liệu điện tử sử dụng trong dạy học hóa học 11 THPT
5. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
5.1. Khách thể nghiên cứu: Q trình dạy học Hóa học ở trường THPT.
5.2. Đối tượngnghiên cứu: Xây dựng và hướng dẫn sử dụng hệ thống tư liệu điện
tử Hóa học 11 nâng cao theo hướng dạy học tích cực.
6. Phạm vi nghiên cứu
Chương 8 : Dẫn xuất halogen. Ancol - Phenol
Chương 9: An đehit – Xeton – Axitcacboxylic
Hoá học 11 nâng cao – Trung học phổ thơng.
7. Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết (Phương pháp phân tích, tổng hợp,
lý luận, mơ hình hố, chun gia, sưu tầm tài liệu…).

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn (dự giờ học tập và trao đổi kinh
nghiệm, phương pháp điều tra, quan sát, phỏng vấn, thực nghiệm sư phạm,…).
- Nhóm phương pháp toán học (phương pháp thống kê toán học trong nghiên
cứu khoa học giáo dục,..).

5


8. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được một hệ thống tư liệu dạy học điện tử (dưới dạng Web)
phong phú , sắp xếp một cách khoa học và hướng dẫn khai thác sử dụng hệ thống
tư liệu dạy học điện tử theo hướng dạy học tích cực một cách cụ thể sẽ giúp cho
giáo viên sử dụng một cách dễ dàng thuận tiện, góp phần đổi mới phương pháp dạy
học hố học ở trường phổ thơng.
9. Đóng góp mới của đề tài.
9.1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học, vai
trò của CNTT và vấn đề sử dụng CNTT trong dạy học hóa học . Điểu tra phân tích
thực trạng việc sử dụng các ứng dụng của CNTT trong dạy học nói chung và mơn
hóa học nói riêng ở một số trường THPT thuộc thành phố Hà Nội.
9.2. Xây dựng hệ thống các tư liệu hình ảnh ( tĩnh , động), movie thí
nghiệm, thí nghiệm mơ phỏng...thiết kế dưới dạng Single file Executable (exe) và
đề xuất cách sử dụng hệ thống tư liệu điện tử đó trong dạy học theo hướng dạy học
tích cực.
9.3. Thiết kế các hoạt động dạy học có sử dụng tư liệu điện tử theo phương
pháp dạy học tích cực cho 7 bài thuộc chương 8,9 Hóa học 11 – Nâng cao và tiến
hành TNSP
10. Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề đổi mới phương

pháp dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học hóa học.
Chương 2: Xây dựng và hướng dẫn sử dụng hệ thống tư liệu dạy học điện tử
hóa học 11 nâng cao – Trung học phổ thông.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.

6


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay: [12], [13], [14]
1.1.1. Phương hướng chung.
Với sự phát triển của các mạng khoa học - công nghệ tạo nên những bước
nhảy vọt trong thời buổi hiện nay đã đưa thế giới chuyển từ kỷ nguyên công nghệ
sang kỷ nguyên thông tin và phát triển tri thức, đồng thời tác động tới tất cả các lĩnh
vực, làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc đời sống vật chất và tinh thần của xã hội
hiện nay. Vì thế mà khoảng cách giữa các phát minh khoa học - công nghệ và áp
dụng vào thực tiễn ngày càng thu hẹp; kho tàng kiến thức của nhân loại ngày càng
đa dạng, phong phú và tăng theo cấp số nhân.
Với sự phát triển của các quốc gia hiện nay thì nó càng đòi hỏi phải tăng suất
lao động, năng suất lao động, nâng cao chất lượng hàng hóa và đổi mới cơng nghệ
một cách nhanh chóng. Các phương tiện truyền thơng, mạng viễn thông, internet đã
tạo thuận lợi cho giao lưu và hội nhập văn hóa, đồng thời cũng đang diễn ra cuộc
đấu tranh gay gắt để bảo tồn bản sắc dân tộc.
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, sự phát triển năng động
của các nền kinh tế, q trình hội nhập và tồn cầu hóa đang làm cho việc rút ngắn
khoảng cách về trình độ phát triển giữa các nước trở nên thực tiễn hơn và nhanh
chóng hơn. Khoa học - công nghệ trở thành động lực cơ bản của sự phát triển kinh
tế - xã hội. Giáo dục là nền tảng của sự phát triển khoa học - công nghệ, phát triển
nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại và đóng vai trò chủ yếu trong

việc nâng cao ý thức dân tộc, tinh thần trách nhiệm và năng lực của các thệ hệ hiện
nay và mai sau.
Đổi mối giáo dục đang diễn ra trên quy mơ tồn cầu. Bối cảnh trên tạo nên
những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, từ quan niệm về chất lượng giáo dục, xây
dựng nhân cách người học đến cách tổ chức quá trình và hệ thống giáo dục. Nhà
trường từ chỗ khép kín chuyển sang mở cửa rộng rãi, đối thoại với xã hội và gắn bó
chặt chẽ với nghiên cứu khoa học- cơng nghệ và ứng dụng; nhà giáo thay vì chỉ

7


truyền đạt tri thức, chuyển sang cung cấp cho người học phương pháp thu nhận
thông tin một cách hệ thống, có tư duy phân tích và tổng hợp. Đầu tư cho giáo dục
từ chỗ được xem như là phúc lợi xã hội chuyển sang đầu tư cho phát triển.
Vì vậy, các quốc gia, từ những nước đang phát triển đến những nước phát
triển đều nhận thức được vai trò và vị trí hàng đầu của giáo dục, đều phải đổi mới
giáo dục để có thể đáp ứng một cách năng động hơn, hiệu quả hơn, trực tiếp hơn
những nhu cầu của sự phát triển đất nước.
Trong giáo dục, quy trình đào tạo được xem như là một hệ thống bao gồm
các yêu tố: mục tiêu, chương trình đào tạo, nội dung, hình thức tổ chức dạy học,
phương pháp dạy học. Phương pháp dạy học là khâu rất quan trọng bởi lẽ phương
pháp dạy học có hợp lý thì hiệu quả của việc dạy học mới cao, phương pháp có phù
hợp thì mới có thể phát huy được khả năng tư duy, sáng tạo của người học. Bởi vậy,
việc đổi mới giáo dục trước hết là việc đổi mới phương pháp dạy học.
1.1.2. Những xu hướng dạy học hóa học hiện nay[12]
1.1.2.1. Dạy học hướng vào người học.
Đây là quan điểm được đánh giá là tích cực vì việc dạy học chú trọng vào
người học để tìm ra phương pháp dạy học có hiệu quả. Có thể nhấn mạnh một số
điểm quan trọng trong phương pháp dạy học hướng vào người học như sau:
- Về mục tiêu dạy học: Chuẩn bị cho học sinh thich nghi với đời sống xã hội.

Tôn trọng nhu cầu, khả năng, hứng thú và lợi ích của học sinh.
- Về nội dung: Chú trọng việc bồi dưỡng kĩ năng thực hành, vận dụng kiến
thức, năng lực để giải quyết các vấn đề học tập và thực tiễn, hướng vào sự chuẩn bị
kiến thức cho học sinh hịa nhập với xã hội. Dạy học khơng chỉ đơn giản là cung
cấp tri thức mà còn phải hướng dẫn hành động. Khả năng hành động là một yêu cầu
được đặt ra không phải đối từng cá nhân mà cả ở cấp độ cộng đồng địa phương và
toàn xã hội. Chương trình giảng dạy phải giúp cho từng cá nhân người học biết
hành động và tích cực tham gia vào các chương trình hành động của cộng đồng; “từ
học làm đến biết làm, muốn làm và cuối cùng muốn tồn tại phát triển như nhân cách
một con người lao động tự chủ, năng động và sáng tạo”.

8


- Về phương pháp: Hướng dẫn, tổ chức cho học sinh hoạt động độc lập hoặc
theo nhóm (thảo luận, làm thí nghiệm, quan sát vật mẫu, phân tích bảng số liệu…)
thơng qua đó học sinh vừa tự lực nắm các tri thức, kĩ năng mới, đồng thời được rèn
luyện về phương pháp tự học, được tập dượt phương pháp nghiên cứu. Giáo viên
quan tâm vận dụng vốn hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân và của tập thể
học sinh để xây dựng bài học. Giáo án được thiết kế theo kiểu phân nhánh. Những
dự kiến của giáo viên phải được tập trung chủ yếu vào các hoạt động của học sinh
và cách tổ chức các hoạt động đó, cùng với khả năng diễn biến các hoạt động của
học sinh để khi lên lớp có thể linh hoạt điều chỉnh theo diễn tiến của tiết học, thực
hiện giờ học phân hóa theo trình độ và năng lực của học sinh, tạo điều kiện thuận
lợi cho sự bộc lộ và phát triển tiềm năng của mỗi em.
- Về hình thức tổ chức dạy học: Khơng khí lớp học thân mật tự chủ, bố trí
lớp học linh hoạt phù hợp với hoạt động học tập và đặc điểm của từng tiết học. Giáo
án bài dạy cấu trúc linh hoạt và có sự phân hóa, tạo điều kiện cho sự phát triển năng
khiếu của từng cá nhân.
- Về kiểm tra đánh giá: Giáo viên đánh giá một cách khách quan, học sinh tự

giác chịu trách nhiệm về kết quả học tập của mình, được tham gia tự đánh giá và tự
đánh giá lẫn nhau về mức độ đạt các mục tiêu của từng phần trong chương trình học
tập, chú trọng bổ khuyết những mặt chưa đạt được so với mục tiêu trước khi bước
vào một phần mới của chương trình. Giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh phát
triển kĩ năng tự đánh giá, không thể chỉ dừng lại ở yêu cầu tái hiện kiến thức, lặp lại
kĩ năng đã học mà phải khuyến khích óc sáng tạo, phát hiện sự chuyển biến thái độ
và xu hướng hành vi của học sinh trước những vấn đề của đời sống gia đình và
cộng đồng, rèn luyện khả năng phát hiện và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong
tình huống thực tế. Nội dung kiểm tra cần chú ý đến các mức độ: Tái hiện, vận
dụng, suy luận, sáng tạo kết hợp với các phương tiện kĩ thuật sẽ tạo điều kiện tăng
nhịp độ kiểm tra, giúp học sinh có thể thường xuyên tự kiểm tra, làm giảm nhẹ lao
động chấm bài của giáo viên.

9


- Kết quả đạt được: Tri thức thu được vững chắc bằng con đường tự tìm tịi,
học sinh được phát triển cao hơn về nhận thức, tình cảm, hành vi, tự tin trong cuộc
sống.
Như vậy việc dạy học hướng vào người học đã đặt người học vào vị trí trung
tâm của hoạt động dạy - học, xem cá nhân người học, với những phẩm chất và năng
lực riêng của mỗi người vừa là chủ thể vừa là mục đích của q trình đó, phấn đấu
tiến tới cá thể hóa q trình học tập với sự trợ giúp của các phương tiện thiết bị hiện
đại, để cho tiềm năng của mỗi học sinh được phát triển tối ưu, góp phần có hiệu quả
vào việc xây dựng cuộc sống có chất lượng cho cá nhân, gia đình và xã hội, đó
chính là cốt lõi tinh thần nhân văn trong dạy học hướng vào người học.
1.1.2.2. Dạy học theo hướng “hoạt động hóa người học”.
- Bản chất của dạy học theo hướng “hoạt động hóa người học” là định hướng
người học đến việc giải quyết các vấn đề, dạy học thông qua hoạt động tự giác, tích
cực của người học. Sử dụng phương tiện, kĩ thuật trong dạy học đặc biệt là công

nghệ thơng tin, hình thành cơng nghệ kiểm tra đánh giá. Theo hướng đó, các nhà
nghiên cứu đã đề xuất:
+ Học sinh phải hoạt động nhiều hơn và trở thành chủ thể hoạt động, đặc biệt
là hoạt động tư duy.
+ Dựa vào tính đặc thù của bộ mơn để tạo ra các hình thức hoạt động đa
dạng và phong phú trong giờ học.
+ Hướng đẫn học sinh phương pháp tự học, tự nghiên cứu trong quá trình
học tập.
- Học tập và sáng tạo - Vai trò mới của người giáo viên: Nét đặc trưng cơ
bản của định hướng hoạt động hoá người học là sự học tập tự giác và sáng tạo của
học sinh. Để học sinh học tập tích cực tự giác cần làm cho học sinh biết biến nhu
cầu của xã hội thành nhu cầu nội tại của bản thân ḿình. Để có tư duy sáng tạo thh
phải tập luyện hoạt động sáng tạo thông qua học tập. Muốn vậy ngay trong bài học
đầu tiên của môn học phải đặt HS vào vị trí của người nghiên cứu,người khám phá.
Ngược lại nhờ cách học nghiên cứu khám phá và cách học sáng tạo đó mà học sinh

10


nắm vững kiến thức, biết sử dụng kiến thức mét cách linh hoạt rồi tiếp tục sáng tạo
ra cái mới. Cách tốt nhất để hh nh thành và phát triển năng lực nhận thức, năng lực
sáng tạo của học sinh là đặt họ vào vị trí chủ thể hoạt động tự lực, tự giác, tích cực
của bản thân mà chiếm lĩnh kiến thức, phát triển năng lực sáng tạo, hh nh thành quan
điểm đạo đức. Vì vậy cần phải coi xây dựng phong cách “học tập sáng tạo” là cốt
lõi của việc đổi mới PPDH.
Ngày nay việc học tập của học sinh mang nhiều ý nghĩa tự học, c òn người
c
giáo viên cần chú ý đến dạy cách học thông qua q trình dạy học. Trong khi khẳng
định vai tṛị của người giáo viên không hề suy giảm, cần phải thấy rằng tính chất
của vai tṛị này đã thay đổi: người GV không phải là nguồn phát thông tin duy nhất,

không chỉ lo truyền thụ kiến thức, không phải là người làm mọi việc cụ thể trên lớp.
Trách nhiệm chủ yếu của GV là làm các công việc sau:
+ Thiết kế: Lập kế hoạch, chuẩn bị kế hoạch dạy học, bao gồm: mục đích,
nội dung, phương pháp, phương tiện và hh ình thức tổ chức (tức là soạn giáo án theo
những yêu cầu mới, có chỉ rõ mục tiêu, nội dung, cách tổ chức và điều khiển họat
động của HS, chỉ rõ hệ thống họat động của HS ).
+ Ủy thác, tạo động cơ: Biến ý đồ của dạy học của GV thành nhiệm vụ học
tập tự nguyện, tự giác của HS .
+ Điều khiển: Điều khiển và tổ chức hoạt động của HS theo cá nhân hay
nhóm, kể cả điều khiển về mặt tâm lý, bao gồm sự động viên, trợ giúp, đánh giá.
+ Thể chế hoá: Biến những kiến thức riêng của từng HS thành tri thức khoa
học của xã hội mà HS cần tiếp thu, tạo điều kiện cho HS vận dụng tri thức thu được
để giải quyết một số vấn đề liên quan trong đời sống và sản xuất.
- Các biện pháp hoạt động hoá người học:
+ Khai thác nét đặc thù mơn hố học tạo ra các hh nh thức hoạt động đa dạng
phong phú giúp HS chủ động tự chiếm lĩnh kiến thức kĩ năng trong giê học như:
Tăng cường sử dụng TN hoá học, các phương tiện trực quan.
Trong giờ học cần sử dụng phối hợp nhiều hh ình thức hoạt động của HS như:
TN, dự đốn lí thuyết, mơ hh ình hố, giải thích, thảo luận nhóm ... giúp HS được

11


hoạt động tích cực chủ động.
+ Đổi mới hoạt động học tập của HS và tăng thời gian dành cho HS hoạt
động trong giờ học. Hoạt động của GV chú trọng đến việc thiết kế, hướng dẫn, điều
khiển các hoạt động và tư duy của HS khi giải quyết các vấn đề học tập thông qua
các hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm. GV cần động viên HS hoạt động nhiều
hơn trong giờ học, giảm tối đa các hoạt động nhận thức thụ động. Việc tăng thời
gian hoạt động của HS có thể thực hiện bằng nhiều cách như:

Giảm thuyết tŕình của GV xuống dưới 40-50% thời gian của một tiết học,
tăng đàm thoại giữa thầy và tṛò, trong đó ưu tiên sử dụng PP đàm thoại nêu vấn đề.
Tập luyện cho HS được thảo luận, tranh luận.
Khi HS nghiên cứu sách giáo khoa tại lớp, GV cần đặt ra những câu hỏi tổng
hợp, HS phải so sánh, khái quát hóa, suy luận nhằm khắc sâu và vận dụng sáng tạo
kiến thức. Cần yêu cầu HS phát biểu nội dung theo ý hiểu của các em
mà không phụ thuộc vào từng từ trong sách.
Dành thời gian thích đáng để chỉ dẫn, uốn nắn PP học tập của HS trên cơ sở
luyện tập cho HS được trình bày về PP tiếp cận vấn đề và vận dụng tổng hợp, sáng
tạo kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề trong học tập hay trong thực tiễn.
+ Tăng mức độ hoạt động trí lực chủ động tích cực sáng tạo của HS. Có thể
thực hiện biện pháp này bằng nhiều cách như:
Thường xuyên sử dụng tổ hợp PPDH phức hợp - dạy học nêu vấn đề và dạy
cho HS giải quyết các vấn đề học tập (bài toán nhận thức) và các vấn đề có liên
quan đến thực tiễn từ thấp đến cao.
Tăng cường sử dụng các câu hỏi, bài tập để HS phải suy luận, sáng tạo, trong
đó có các bài tập sử dụng hh ình vẽ.
Từng bước đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá nhằm đánh giá cao (và ngày
càng cao) những biểu hiện chủ động sáng tạo của HS và đánh giá cao kiến thức về
TN hoá học, kĩ năng thực hành cũng như kĩ năng biết vận dụng sáng tạo kiến thức
để giải quyết các vấn đề có liên quan đến thực tiễn.
+ Sử dụng phương tiện kĩ thụât dạy học, đặc biệt là công nghệ thông tin

12


trong dạy học hoá học. Các phương tiện kĩ thuật dạy học bao gồm: đèn chiếu, máy
chiếu phim, rađio, cacset, tivi, camera, máy vi tính …,cùng các giá mang thơng tin
như: bản trong (sử dụng cho máy chiếu hắt ), phim, đĩa và băng từ (sử dụng cho
camera, máy vi tính, đầu kĩ thuật số…).

Máy chiếu hắt được sử dụng để tŕnh chiếu các hh ình ảnh tĩnh được in lên bản
trong, do đó có thể vẽ, in các hh ình vẽ, sơ đồ, bài tập, câu hỏi hệ thống hoá…để tiết
kiệm thời gian dành cho HS hoạt động.
Sử dụng máy chiếu đa năng kết hợp cùng với máy vi tính cho phép ta đưa ra
các hh ình ảnh động phục vụ rất tốt cho việc mô tả các quá tŕnh hoá học, giúp các em
dễ dàng tưởng tượng hơn, tiết kiệm được thời gian hơn…
Hiện nay đã có nhiều phần mềm hoá học do các tác giả trong nước và các
phần mềm của nước ngoài phục vụ rất tốt cho việc dạy học hố học ở trường phổ
thơng như: phầm mềm xây dựng bài tập trắc nghiệm, TN ảo, biểu diễn cấu tạo
không gian của hợp chất hữu cơ, mơ phỏng, đĩa CD, TN hố học …
1.1.2.3. Phương pháp dạy học tích cực.[12]
Phương pháp dạy và học tích cực phát triển ở học sinh năng lực sáng tạo, năng
lực giải quyết vấn đề, do đó nó đề cao vai trị của học sinh: Học bằng hoạt động,
thơng qua hoạt động của chính bản thân mình mà học sinh chiếm lĩnh kiến thức,
hình thành năng lực và phẩm chất đạo đức, còn giáo viên chủ yếu giữ vai trò người
tổ chức, hướng dẫn, giúp đỡ, tạo điều kiện tốt cho học sinh có thể thực hiện thành
cơng các hoạt động học tập. Có thể nêu ra các dấu hiệu đặc trưng của phương pháp
dạy và học tích cực là:
- Những phương pháp dạy học có chú trọng đến việc tổ chức, chỉ đạo để người
học trở thành chủ thể hoạt động, tự khám phá những kiến thức mà mình chưa biết.
Khi giáo viên tổ chức các hoạt động học tập, người học được đặt vào những tình
huống, họ được trực tiếp quan sát, thảo luận, trao đổi, được làm thí nghiệm, được
khuyến khích đưa ra các giải pháp giải quyết vấn đề theo cách của mình, được động
viên trình bày quan điểm riêng của người học. Qua đó, người học không những
chiếm lĩnh các kiến thức và kĩ năng mới mà còn làm chủ được cách thức xây dựng

13


kiến thức, do đó tính tự chủ và sáng tạo có cơ hội được rèn luyện.

- Tổ chức các hoạt động học tập của học sinh phải trở thành trung tâm của quá
trình giáo dục. Giáo viên cần biết lập kế hoạch dạy học để hướng dẫn học sinh phát
triển các năng lực mà họ có thể sử dụng trong cuộc sống, trong và ngoài nhà trường,
ở hiện tại cũng như trong tương lai.
- Những phương pháp dạy học có chú trọng đến việc rèn luyện kĩ năng,
phương pháp và thói quen tự học từ đó mà tạo cho học sinh sự hứng thú, lòng ham
muốn, khát khao học tập, khởi động lịng ham muốn vốn có trong mỗi học sinh để
giúp họ dễ dàng thích ứng với cuộc sống của xã hội phát triển, xã hội tri thức.
- Những phương pháp dạy học chú trọng đến việc tăng cường học tập cá thể,
phối hợp với học tập hợp tác theo nhóm, lớp học. Khi áp dụng phương pháp dạy và
học tích cực thì giáo viên buộc phải chấp nhận sự phân hố về cường độ làm việc,
tiến độ hồn thành các nhiệm vụ học tập của học sinh.
- Những phương pháp dạy học có sự phối hợp sử dụng rộng rãi các phương
tiện trực quan, nhất là các phương tiện kĩ thuật nghe nhìn như: máy vi tính, các
phần mềm dạy học ...đáp ứng yêu cầu cá thể hoá hoạt động học tập theo năng lực và
nhu cầu của mỗi học sinh, giúp các em tiếp cận được với các phương tiện kĩ thuật
hiện đại trong xã hội phát triển.
- Những phương pháp dạy học có sử dụng các phương pháp kiểm tra đánh giá
đa dạng khách quan, tạo điều kiện để học sinh được tham gia tích cực vào hoạt
động tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau. Nội dung, phương pháp, hình thức kiểm tra
đánh giá phải đa dạng phong phú với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, máy vi
tính và phần mềm kiểm tra để đảm bảo tính khách quan, phản ánh trung thực tình
trạng kiến thức của học sinh và quá trình đào tạo. Sự thay đổi khâu đánh giá sẽ có
tác động mạnh mẽ đến việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy học tích
cực.
- Một số phương pháp dạy học tích cực
a. Phương pháp trực quan
Là phương pháp dạy học có sử dụng các phương tiện trực quan bao gồm mọi

14



dụng cụ, đồ dùng, thiết bị kĩ thuật từ đơn giản đến phức tạp dùng trong quá trình
dạy học.
b. Phương pháp đàm thoại tìm tịi
Đàm thoại tìm tịi là phương pháp trao đổi giữa GV và HS, trong đó thầy đặt ra
một hệ thống câu hỏi “dẫn dắt” gắn bó logic với nhau để trò lần lượt trả lời, đồng
thời có thể trao đổi qua lại dưới sự chỉ đạo của thầy. Qua hệ thống hỏi – đáp, trò
lĩnh hội được nội dung của bài học.
Có ba phương án cơ bản sử dụng phương pháp đàm thoại:
- GV đặt ra hệ thống những câu hỏi riêng rẽ rồi chỉ định HS trả lời. Nguồn
thông tin cho cả lớp là tổ hợp các câu trả lời của HS.
- GV đặt cho cả lớp một câu hỏi chính, HS lần lượt trả lời từng bộ phận của
câu hỏi đó. Người sau bổ sung cho người trước, cuối cùng GV chỉnh lí, kết luận về
kiến thức HS cần nắm vững.
- GV nêu ra câu hỏi chính, kèm theo những gợi ý nhằm tổ chức cho HS tranh
luận hoặc đặt ra những câu hỏi phụ cho nhau để giúp nhau giải đáp.
Nhìn chung phương pháp dạy học này thường được sử dụng nhiều vì qua các
câu hỏi, GV tìm hiểu được việc nắm và vận dụng kiến thức của HS, biết được điểm
yếu, điểm mạnh của HS để kịp thời có biện pháp điều chỉnh. Hơn nữa, nó đảm bảo
được hiệu quả giờ ơn tập, luyện tập.
c. Phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề (PP phát hiện và GQVĐ) [13]
Khái niệm: Dạy học phát hiện và GQVĐ là quan điểm dạy học nhằm phát triển
năng lực tư duy, khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề. HS được đặt trong tình
huống có vấn đề, đó là tình huống chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, thông qua việc
giải quyết vấn đề giúp HS lĩnh hội tri thức, kĩ năng và phương pháp nhận thức. Dạy
học phát hiện và GQVĐ là con đường cơ bản để phát huy tính tích cực nhận thức
của HS, có thể áp dụng trong nhiều hình thức dạy học với những mức độ tự lực
khác nhau của HS.
Cấu trúc của một bài học theo PP phát hiện và GQVĐ thường gồm 3 giai

đoạn và 10 bước :

15


Giai đoạn 1: Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức
+ Tạo tình huống có vấn đề
+ Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh
+ Phát biểu vấn đề cần giải quyết
Giai đoạn 2: Giải quyết vấn đề đặt ra
+ Đề xuất cách giải quyết
+ Lập kế hoạch giải quyết
+ Thực hiện kế hoạch giải quyết
Giai đoạn 3: Kết luận
+ Thảo luận kết quả và đánh giá
+ Khẳng định hay bác bỏ giải thuyết nêu ra
+ Phát biểu kết luận
+ Đề xuất vấn đề mới
Khâu quan trọng nhất trong PPDH này là tạo tình huống có vấn đề, điều
chưa biết là yếu tố trung tâm gây sự hứng thú nhận thức, kích thích tư duy, tính tự
giác tích cực trong hoạt động nhận thức của HS. Trong dạy học hóa học, GV có thể
sử dụng thí nghiệm hố học, bài tập nêu vấn đề để tạo tình huống có vấn đề.
Như vậy, trong dạy học phát hiện và GQVĐ, GV đưa HS vào tình huống có
vấn đề rồi giúp HS tự lực giải quyết vấn đề đặt ra. Bằng cách đó HS vừa nắm được
tri thức, vừa nắm được phương pháp nhận thức tri thức đó, tư duy sáng tạo phát
triển, HS cịn có được khả năng phát hiện vấn đề và vận dụng kiến thức vào tình
huống mới.
Có thể tổ chức các hoạt động học tập theo các mức độ HS tham gia phát
hiện và giải quyết vấn đề:
- Mức 1: GV đặt vấn đề, nêu vấn đề, lập kế hoạch và giải quyết vấn đề. HS thực

hiện cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của GV. GV đánh giá kết quả làm việc
của HS.

16


- Mức 2: GV đặt vấn đề, nêu vấn đề, gợi ý để HS tìm cách giải quyết vấn đề. HS
thực hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của GV khi cần. GV và HS cùng
đánh giá.
- Mức 3: GV cung cấp thơng tin, tạo tình huống có vấn đề. HS phát hiện và xác
định vần đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giải pháp. HS thực hiện
các cách giải quyết vần đề. GV và HS cùng đánh giá.
- Mức 4: HS tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình hoặc cộng
đồng, lựa chọn vấn đề giải quyết. HS giải quyết vấn đề, tự đánh giá chất lượng, hiệu
quả, có ý kiến bổ sung của GV khi kết thúc.
Những điểm cần lưu ý khi sử dụng:
Điều kiện thực hiện phương pháp này có hiệu quả khi:
- Có nội dung phù hợp.
- GV phải có trình độ và rất tích cực.
- HS tích cực và có năng lực.
- Nên tổ chức thực hiện phương pháp này theo nội dung phù hợp và không nhất
thiết cần thực hiện ở mức độ cao nhất mà cần phù hợp với năng lực của HS.
d. Phương pháp thuyết trình nêu vấn đề
Là phương pháp dùng lời để trình bày, giải thích nội dung bài học một cách chi
tiết dễ hiểu cho học sinh tiếp thu. Phương pháp này được sử dụng lâu đời nhất trong
lịch sử dạy học.
Trước một vấn đề hoàn tồn mới hay tóm tắt các kiến thức đã học, GV có thể
trình bày bài giảng với một khối lượng kiến thức lớn cho nhiều người cùng nghe,
đối với HS sẽ dễ hiểu vấn đề.
Tuy nhiên, đây là phương pháp độc thoại, HS bị rơi vào tình trạng thụ động,

phải cố gắng nghe để hiểu, để ghi nhớ.
Nhiệm vụ của GV khi diễn giảng là làm nổi bật những điểm cơ bản trong toàn
bộ bài giảng hoặc từng phần. Để đạt được hiệu quả cao trong giờ học, GV cần
chuẩn bị chu đáo:

17


- Nêu bật được những điểm cơ bản nhất, quan trọng nhất dưới dạng các vấn đề,
các câu hỏi, và giải quyết dần từng vấn đề.
- Hệ thống được các kiến thức cần nhớ, cần hiểu.
- Chỉ ra được các kiến thức HS thường hiểu sai hoặc nhầm lẫn.
Giáo viên thường sử dụng phương pháp này khi tiến hành tóm tắt các nội dung
kiến thức cần nhớ trong bài ôn tập, thể hiện mối liên hệ kiến thức trong một phần
hay tồn bộ chương trình.
e. Phương pháp dạy học theo nhóm
Phương pháp dạy học này được đánh giá là phương pháp dạy học tích cực,
hướng vào HS và đạt hiệu quả cao. Trong đó thảo luận nhóm đóng vai trị chủ yếu
nhằm phát huy cao độ tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học, đồng thời
phát huy cao độ khả năng hợp tác, giúp đỡ nhau học tập. Mỗi cá nhân HS được giúp
đỡ nhau trong hoạt động chung nhằm thực hiện nhiệm vụ học tập. HS học được
phương pháp hợp tác, trình bày và bảo vệ ý kiến riêng của mình.
Dạy học theo nhóm dưới sự tổ chức và điều khiển của GV, HS chia thành từng
nhóm nhỏ rồi liên kết lại với nhau trong một hoạt động chung, với phương thức tác
động qua lại của các thành viên và bằng trí tuệ tập thể để hồn thành các nhiệm vụ
học tập.
Cấu trúc chung của quá trình dạy học theo nhóm:
Giáo viên
Học sinh
Hướng dẫn học sinh tự nghiên cứu

Tự nghiên cứu cá nhân
Tổ chức thảo luận nhóm
Hợp tác với các bạn trong nhóm
Tổ chức thảo luận lớp
Hợp tác với các bạn trong lớp
Kết luận, đánh giá
Tự đánh giá, tự điều chỉnh
Phương pháp này được sử dụng trong trường phổ thông như một phương pháp
trung gian giữa hoạt động độc lập của từng HS với hoạt động chung của cả lớp.
Phương pháp này còn bị hạn chế bởi không gian chật hẹp của lớp học, bởi thời gian
hạn định cho một tiết học nên GV phải biết tổ chức hợp lí và HS đã quen với hoạt
động này thì mới có kết quả tốt. Mỗi tiết học chỉ nên tổ chức từ một đến ba hoạt
động nhóm, mỗi hoạt động cần 5 đến 10 phút.

18


Hoạt động trong nhóm sẽ làm cho từng thành viên quen dần với sự phân công
hợp tác trong lao động xã hội, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức kỉ luật, ý thức cộng
đồng. Mơ hình này nhằm chuẩn bị cho HS thích ứng với đời sống xã hội trong đó
mỗi người sống và làm việc theo phân cơng hợp tác với tập thể cộng đồng.
Ngồi ra cịn có một số phương pháp dạy học theo hướng tích cực như:
Phương pháp grap dạy học trong dạy học hoá học, phương pháp algorit dạy học
trong dạy học hoá học, dạy học theo hoạt động, …
1.2. Phương tiện dạy học và đổi mới phương tiện dạy học hóa học THPT
1.2.1. Phương tiện dạy học hóa học [12]
1.2.1.1. Khái niệm phương tiện dạy học
Phương tiện dạy học là tập hợp các đối tượng vật chất (sự vật, hiện tượng,
thiết bị và mô hình đại diện cho hiện thực khách quan) được GV sử dụng với tư
cách là những phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của HS. Nó là nguồn tri

thức phong phú sinh động, là phương tiện giúp cho HS lĩnh hội tri thức và rèn luyện
kĩ năng, kĩ xảo.
1.2.1.2. Các phương tiện dạy học trong dạy học hóa học
Phương tiện dạy học cơ bản phổ biến rộng rãi trong nhà trường bao gồm 4 loại:
- Phương tiện trực quan.
- Các phương tiện kĩ thuật dạy học.
- Thí nghiệm nhà trường (gồm các thiết bị, dụng cụ phịng thí nghiệm, hóa chất,
kĩ thuật tiến hành các thí nghiệm trong nhà trường).
- Sách giáo khoa.
Ở phần này chỉ xét các phương tiện trực quan và các phương tiện kĩ thuật dạy học,
trong đó có các phương tiện cơng nghệ thơng tin và truyền thông.
* Các loại phương tiện trực quan trong dạy học hóa học
+ Mẫu vật: vật thật, mẫu vật phân phát (mẫu các chất hóa học, kim loại, phi kim,
hợp kim, các loại dầu mỏ, tơ, lụa), các sản phẩm nhân tạo (cao su, tơ lụa, gốm sứ,
thủy tinh, polime,…), các bộ sưu tập (về quặng kim loại, về nguyên liệu và sản
phẩm sản xuất gang, thép, ...).

19


+ Mơ hình: như mơ hình cấu tạo ngun tử, mơ hình obitan ngun tử, mơ hình
cấu tạo phân tử một số hợp chất hữu cơ như metan, etilen, axetilen, benzen…
+ Hình vẽ, sơ đồ: Bảng tuần hồn các ngun tố hóa học, bảng tính tan, sơ đồ
cấu tạo ngun tử của một số nguyên tố hóa học, sơ đồ cấu tạo lò luyện gang và
thép, lò quay sản xuất clanh-ke…
+ Tranh vẽ, ảnh: Ảnh một số nhà máy sản xuất, ảnh một số nhà khoa học nổi
tiếng…
* Các loại phương tiện kĩ thuật dạy học:
Các phương tiện kĩ thuật dạy học bao gồm các phương tiện nghe – nhìn và các
máy dạy học, trong đó các phương tiện nghe – nhìn chiếm vị trí quan trọng nhất.

Các phương tiện nghe – nhìn bao gồm:
+ Các giá mang thơng tin: bản trong, phim, băng từ ghi âm, băng từ ghi hình,
đĩa ghi âm, đĩa ghi hình,…
+ Các máy móc chuyển tải thông tin ghi ở các giá mang thông tin: đèn chiếu
hắt, đèn chiếu đa năng (Projector), máy chiếu phim, radio, băng, máy thu hình (tivi), máy
ghi hình (camera), đầu video, máy vi tính.
1.2.1.3. Vai trị của phương tiện dạy học trong dạy học hóa học
- Cung cấp cho HS những kiến thức đầy đủ, rõ ràng, chính xác, sâu sắc, bền
vững. Phương tiện dạy học được sử dụng với tư cách là nguồn gốc, là xuất xứ của
kiến thức để HS tìm kiếm, phát hiện, xây dựng kiến thức hóa học mới, hoặc với tư
cách kiểm tra lí thuyết. Phương tiện dạy học có thể được sử dụng trong tất cả các
khâu của quá trình dạy học, được dùng trong nghiên cứu tài liệu mới, trong khâu
hoàn thiện kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo. Dùng các phương tiện dạy học trong dạy học
hóa học nên HS dễ hiểu bài, tiếp thu bài nhanh, hiểu bài sâu sắc và nhớ bài lâu hơn.
Khi nghiên cứu thế giới vi mô như ngun tử, ion, phân tử... thì vai trị của phương
tiện dạy học lại càng quan trọng.
- Làm sinh động nội dung học tập, nâng cao hứng thú học tập hóa học, nâng
cao lòng tin của HS vào khoa học. Nội dung học tập hóa học sinh động hơn là do
phương tiện dạy học giúp cụ thể hóa những cái trừu tượng, đơn giản hóa những

20


máy móc thiết bị quá phức tạp, giúp làm sáng tỏ cấu tạo của các dụng cụ máy móc
phức tạp trong sản xuất hóa học. Cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn là thí nghiệm.
Nó là tiêu chuẩn đánh giá tính chân thực của kiến thức, giúp HS có lòng tin vào
khoa học.
- Phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt là năng lực quan sát, năng lực tư
duy (phân tích, tổng hợp, so sánh, khái qt hóa), tính tích cực tự giác, óc sáng tạo
của HS, làm thay đổi phong cách tư duy và hành động của các em. Khi sử dụng các

phương tiện dạy học, HS sẽ tăng cường sức chú ý, quan sát đối với các hiện tượng
nghiên cứu, dễ dàng tiến hành các quá trình phân tích, tổng hợp các hiện tượng để
rút ra kết luận chính xác.
- Tăng năng suất lao động của giáo viên và học sinh. Sử dụng phương tiện
dạy học giúp GV tổ chức, điều khiển tối ưu quá trình học tập của HS; Tiết kiệm được
thời gian trên lớp trong mỗi tiết học, giải phóng GV khỏi những cơng việc đơn thuần:
đọc cho HS chép câu hỏi, bài tập, vẽ sơ đồ, mơ tả dụng cụ thí nghiệm…; Việc kiểm
tra, đánh giá kết quả học tập của HS được thuận lợi và có hiệu quả cao hơn. Như vậy,
phương tiện dạy học giúp tối đa hóa thời gian học tập, tối thiểu hóa các lao động cấp
thấp, tạo thuận lợi cho các mối quan hệ tương tác thầy – trò, trị – trị.
1.2.2. Sử dụng phương tiện dạy học hóa học theo hướng dạy học tích cực[11],
[12], [14], [19]
Trong các phương tiện dạy học hóa học, thí nghiệm hóa học có vai trị rất quan
trọng. Dưới đây chúng tơi trình bày những phương pháp dạy học tích cực có sử dụng
thí nghiệm hóa học và cách sử dụng một số phương tiện dạy học khác.
1.2.2.1. Sử dụng thí nghiệm hố học theo hướng dạy học tích cực.
Trong dạy học hố học, thí nghiệm hố học thường được sử dụng để chứng
minh, minh hoạ cho những thông báo bằng lời của GV về các kiến thức hố học.
Thí nghiệm cũng được dùng làm phương tiện để nghiên cứu tính chất các chất, hình
thành các khái niệm hố học. Sử dụng thí nghiệm trong dạy học hố học được coi là
tích cực khi thí nghiệm hố học được dùng làm nguồn kiến thức để HS khai thác,
tìm kiếm kiến thức hoặc dùng để kiểm chứng, kiểm tra những dự đoán, suy luận lí

21


thuyết, hình thành khái niệm. Các thí nghiệm dùng trong giờ dạy hoá học chủ yếu
do HS thực hiện nhằm nghiên cứu kiến thức, kiểm tra giả thuyết, dự đoán. Các thí
nghiệm phức tạp được GV biểu diễn và cũng được thực hiện theo hướng nghiên
cứu. Các dạng sử dụng thí nghiệm hố học nhằm mục đích minh hoạ, chứng minh

cho lời giảng được hạn chế dần và được đánh giá là ít tích cực. Thí nghiệm hố học
được tiến hành theo phương pháp nghiên cứu do GV biểu diễn hay do HS, nhóm
HS tiến hành đều được đánh giá là có mức độ tích cực cao.
a. Sử dụng theo phương pháp kiểm chứng:
Có thể dùng thí nghiệm hóa học để kiểm chứng lại các lí thuyết đã học hoặc
để kiểm chứng những dự đốn, suy lí lí thuyết. Với những kiến thức mà HS đã biết
được dạy lại với mục đích mở rộng, đào sâu kiến thức hoặc với những kiến thức có
thể dự đốn được từ các lí thuyết đã học (đa số thí nghiệm về tính chất của hợp chất
vô cơ học ở trung học phổ thông được sử dụng theo phương pháp này).
b. Sử dụng theo phương pháp nghiên cứu:
Khi sử dụng phương pháp này học sinh trực tiếp tác động vào đối tượng, đề
xuất các giả thuyết khoa học, những dự đoán, những phương án giải quyết vấn đề
và lập kế hoạch giải ứng với từng giả thuyết. Thí nghiệm hóa học được dùng như là
nguồn kiến thức để HS nghiên cứu tìm tịi, như là phương tiện xác nhận tính đúng
đắn của các giả thuyết, dự đoán khoa học đưa ra. Người GV cần hướng dẫn các hoạt
động của HS như:
- Học sinh hiểu và nắm vững vấn đề cần nghiên cứu.
- Nêu ra các giả thuyết, dự đoán khoa học trên cơ sở kiến thức đã có.
- Lập kế hoạch giải ứng với từng giả thuyết.
-

Quan sát, mô tả đầy đủ các hiện tượng thí nghiệm.

- Xác nhận giả thuyết, dự đốn đúng qua kết quả của thí nghiệm.
- Giải thích hiện tượng, viết phương trình hóa học và rút ra kết luận.
Sử dụng thí nghiệm theo phương pháp nghiên cứu sẽ giúp HS hình thành kĩ
năng nghiên cứu khoa học hố học, kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề.
c. Sử dụng theo phương pháp nêu vấn đề:

22



Trong dạy học nêu vấn đề khâu quan trọng nhất là xây dựng bài toán nhận
thức hay tạo ra các tình huống có vấn đề. Trong dạy học hố học ta có thể dùng
movie thí nghiệm, hình ảnh... để tạo ra mâu thuẫn nhận thức, gây ra nhu cầu tìm
kiếm kiến thức mới trong HS. Khi dùng movie thí nghiệm để tạo tình huống có vấn
đề, có thể tiến hành như sau:
- Giáo viên nêu ra vấn đề cần nghiên cứu bằng movie thí nghiệm.
- Tổ chức cho HS dự đốn kết quả thí nghiệm, hiện tượng sẽ xảy ra trên cơ sở
kiến thức đã có của HS.
- Hướng dẫn HS quan sát hiện tượng. Hiện tượng của thí nghiệm khơng đúng
với đại đa số dự đốn của HS sẽ tạo ra mâu thuẫn nhận thức, kích thích HS tìm tòi
giải quyết vấn đề. Kết quả là HS nắm vững kiến thức, tìm ra con đường giải quyết
vấn đề và có niềm hứng thú khám phá.
d. Sử dụng theo phương pháp đối chứng:
Để hình thành khái niệm hố học giúp HS có kết luận đầy đủ, chính xác về
một quy tắc, tính chất của các chất cần hướng dẫn HS sử dụng thí nghiệm hóa học ở
dạng đối chứng để làm nổi bật, khắc sâu nội dung kiến thức mà HS cần chú ý.Từ
các thí nghiệm đối chứng, tiến hành và quan sát sẽ rút ra được nhận xét đúng đắn,
xác thực và nắm được phương pháp giải quyết vấn đề học tập bằng thực nghiệm.
GV cần chú ý HS cách tiến hành thí nghiệm đối chứng, dự đốn hiện tượng trong
các thí nghiệm, quan sát và rút ra kết luận về kiến thức thu được.
Trong dạy học hoá học, phương pháp nghiên cứu và phương pháp nêu vấn đề
được đánh giá là phương pháp dạy học tích cực vì tư liệu điện tử được dùng làm
nguồn kiến thức để HS khai thác, tìm kiếm rút ra tính chất hóa học, hình thành các
khái niệm, giúp HS cách tư duy độc lập, tự lực sáng tạo và có kĩ năng nghiên cứu
tìm tịi.
1.2.2.2. Sử dụng phương tiện dạy học khác theo hướng dạy học tích cực.
Ngồi thí nghiệm hố học, GV cịn sử dụng các phương tiện dạy học hố học
khác như: mơ phỏng, sơ đồ, hình vẽ, biểu bảng, phương tiện nghe nhìn (máy chiếu,

bản trong, băng hình, máy tính, …). Phương tiện dạy học được sử dụng trong các

23


loại bài dạy hoá học nhưng phổ biến hơn cả là các bài hình thành khái niệm, nghiên
cứu các chất. Các bài dạy hố học có sử dụng phương tiện dạy học đều được coi là
giờ học tích cực nhưng nếu GV dùng phương tiện dạy học là nguồn kiến thức để HS
tìm kiếm, phát hiện, kiến tạo kiến thức mới sẽ là các giờ học có tính tích cực cao
hơn nhiều.
Hoạt động của GV:
- Nêu mục đích và phương pháp quan sát phương tiện trực quan.
- Trưng bày phương tiện trực quan và nêu yêu cầu quan sát.
- Nêu yêu cầu nhận xét, kết luận và giải thích.
Hoạt động tương ứng của HS:
- Nắm được mục đích nghiên cứu qua phương tiện trực quan.
- Quan sát phương tiện trực quan, tìm ra những kiến thức cần tiếp thu.
- Rút ra nhận xét, kết luận về những kiến thức cần lĩnh hội qua các phương tiện
trực quan đó.
a. Sử dụng mơ hình, hình vẽ
Thực hiện một cách đa dạng dưới các hình thức như :
- Dùng mơ hình, hình vẽ, sơ đồ, … có đầy đủ chú thích là nguồn kiến thức để HS
khai thác thơng tin, hình thành kiến thức mới. Ví dụ như các hình vẽ dụng cụ điều
chế các chất giúp HS nắm được các thông tin về thiết bị, dụng cụ, hoá chất dùng để
điều chế chúng.
- Dùng hình vẽ, sơ đồ, … khơng có đầy đủ chú thích giúp học sinh kiểm tra các
thơng tin cịn thiếu.
- Dùng hình vẽ, mơ hình, … khơng có chú thích nhằm yêu cầu HS phát hiện kiến
thức ở mức độ khái quát hoặc kiểm tra kiến thức, kĩ năng.
Ví dụ: Dụng cụ dưới đây dùng để điều chế chất khí nào trong số các khí sau:

O2, Cl2, H2, NO, N2, CO2, CH3Cl ,CFCl3. Hãy xác định các chất trong dụng cụ A, B
được dùng để điều chế các khí đó.

24


Như vậy HS phải quan sát hình vẽ, phân tích đi đến nhận xét khái quát:
- Chất khí được điều chế phải nặng hơn khơng khí và khơng tác dụng với khơng
khí ở nhiệt độ thường.
- Chất khí được điều chế bằng tương tác của một chất rắn với một chất lỏng
hoặc tương tác giữa một chất lỏng với một chất lỏng.
Từ sự phân tích khái qt đó HS xác định dụng cụ trên được dùng để điều chế
các chất khí: O2, Cl2, CO2.
Các chất dùng để điều chế các khí đó được chứa trong:
- Dụng cụ A: H2O2, HClđ , dd HCl hoặc H2SO4.
- Dụng cụ B: MnO2, KMnO4, CaCO3.
b. Sử dụng bản trong và máy chiếu:
Thực tế dạy học đã xác định sử dụng bản trong và máy chiếu đã trợ giúp tích
cực cho q trình dạy học hoá học ở tất cả các cấp học, bậc học. Việc sử dụng bản
trong, máy chiếu rất đa dạng giúp cho GV cụ thể hoá các hoạt động một cách rõ
ràng và tiết kiệm được thời gian cho các hoạt động của GV và HS. Bản trong và
máy chiếu có thể được sử dụng trong các hoạt động:
- Đặt câu hỏi kiểm tra: Giáo viên thiết kế câu hỏi, làm bản trong và chiếu lên.
- GV giao nhiệm vụ, điều khiển các hoạt động của HS (qua phiếu học tập), GV
thiết kế nhiệm vụ, làm bản trong,chiếu lên và hướng dẫn HS thực hiện.
- Hướng dẫn cách tiến hành thí nghiệm và nghiên cứu tính chất các chất.
- Giới thiệu mơ hình, hình vẽ mơ tả thí nghiệm… GV chụp vào bản trong, chiếu
lên cho HS quan sát, nhận xét…
- Tóm tắt nội dung, ghi kết luận, tổng kết một vấn đề học tập, lập sơ đồ tổng kết
vào bản trong rồi chiếu lên.


25


×