Tải bản đầy đủ (.doc) (39 trang)

skkn kinh nghiệm sử dụng đồng hồ vạn năng nâng cao chất lượng dạy thực hành môn công nghệ 12

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (6.58 MB, 39 trang )

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HƯNG YÊN
TRƯỜNG THPT PHÙ CỪ
*****

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
KINH NGHIỆM SỬ DỤNG ĐỒNG HỒ VẠN NĂNG
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY THỰC HÀNH
MÔN CÔNG NGHỆ 12
MÔN: CÔNG NGHỆ
Tên tác giả: BÙI XUÂN ĐÍCH
Giáo viên môn CÔNG NGHỆ
Năm học 2013 – 2014


Họ và tên : BÙI XUÂN ĐÍCH
Chức vụ: Giáo viên – Chủ tịch Công đoàn trường
Đơn vị: Trường THPT PHÙ CỪ- H. PHÙ CỪ - T. HƯNG YÊN
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm
KINH NGHIỆM SỬ DỤNG ĐỒNG HỒ VẠN NĂNG
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY THỰC HÀNH
MÔN CÔNG NGHỆ 12
2
MỞ ĐẦU
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Đổi mới phương pháp dạy học là nhiệm vụ cấp thiết đang đặt ra cho ngành
giáo dục hiện nay. Nghị quyết Đại hội đại biểu lần XI của Đảng đã chỉ rõ:
“Đổi mới phương pháp dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự
đào tạo của người học, coi trọng thực hành, thực nghiệm, ngoại khoá, làm
chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học vẹt, học chay…”. Tiếp tục triển khai thực
hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về: “Đổi mới căn bản, toàn


diện nền giáo dục và đào tạo…”
Như chúng ta biết môn Công Nghệ có những đặc thù riêng so với môn học
khác đây là môn học tương đối mới so với môn học khác và chương trình môn
học gắn với thực tiễn, với công nghệ với sản xuất. Do đó bên cạnh việc truyền
thụ kiến thức cho học sinh, người giáo viên cần phải rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo,
các thao tác làm việc trong lao động sản xuất.
Môn Công Nghệ là môn học mang nhiều tính thực tiễn do vậy phương pháp
chủ yếu trong giảng dạy là kết hợp lí thuyết với thực hành, thực hành một mặt
cũng cố lý thuyết cho học sinh mặt khác để hình thành những kỹ năng cần thiết
cho học sinh và tập cho học sinh vận dụng các kiến thức kỹ năng đã được học
vào thực tế vào cuộc sống hàng ngày, qua đó gây thêm sự hứng thú và lòng say
mê của học sinh đối môn học góp phần chuẩn bị cho học sinh phân luồng để
một bộ phận sẽ vào học các lĩnh vực giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp,
số còn lại sẽ đi vào cuộc sống lao động.
Muốn tăng hiệu quả học tập, nhằm rèn luyện kỹ năng, thái độ đúng đắn,
khoa học trong lao động, làm việc theo quy trình rèn luyện tác phong công
nghiệp cho học sinh thì việc tìm hiểu và sử dụng có hiệu quả các thiết bị đồ
dùng của môn học trong trường phổ thông là một công việc hết sức quan trọng
3
của giáo viên. Đây là vấn đề vừa mang tính thực tiễn vừa mang tính nhạy cảm
nên việc tổ chức hướng dẫn cho học sinh biết sử dụng thành thạo thiết bị đồ
dùng trong giờ thực hành môn Công Nghệ 12 đạt kết quả cao cần có kế hoạch
và phương pháp đúng đắn.
Việc sử dụng tốt, có hiệu quả các đồ dùng thiết bị trong giảng dạy ở trường
phổ thông là nội dung rất quan trọng và cần thiết trong việc “Đổi mới căn bản,
toàn diện nền giáo dục và đào tạo…”, nội dung này đã được Sở Giáo dục và
Đào tạo Hưng Yên triển khai trong Hội thi giáo viên sử dụng thiết bị thí
nghiệm, thực hành giỏi năm học 2013 – 2014.
Sau đây, tôi xin được trình bày sáng kiến kinh nghiệm : “Kinh nghiệm sử
dụng đồng hồ vạn năng nâng cao chất lượng dạy thực hành môn Công

Nghệ 12” mà tôi xem là có hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng, kết quả
giờ dạy.
2. Mục đích nghiên cứu
Ở bậc THPT, việc học môn Công Nghệ là môn học có nhiều kiến thức mới
mẻ và mang tính chất khoa học. Đặc thù các giờ thực hành của môn học Công
Nghệ lớp 12 là môn học khó truyền đạt, khó thao tác đối với giáo viên, khó làm
đối với học sinh; môn học có rất nhiều kiến thức mới, trừu tượng mang tính
công nghiệp. Chính vì lý do đó mà phân phối chương trình của Bộ giáo dục và
Đào tạo đã dành 12 tiết thực hành trên tổng số 35 tiết của sách giáo khoa lớp
12.
Để tiết học thực hành đạt kết quả cao, giáo viên cần nghiên cứu và tìm hiểu
sâu về cách sử dụng thiết bị đồ dùng trong dạy học thực hành môn Công Nghệ
lớp 12. Nhằm tìm ra cách dạy thực hành có hiệu quả nhất, giúp cho học sinh
được lĩnh hội kiến thức nhanh hơn và vững chắc hơn. Mặt khác nếu có sự
chuẩn bị chu đáo về đồ dùng, thiết bị trực quan từ phía giáo viên, sẽ giúp học
sinh có thể tiếp thu một lượng kiến thức lớn và khó trong một thời gian ngắn,
hiệu quả giờ học sẽ được nâng cao.
4
Xét về tâm lí lứa tuổi, đối với các các em học sinh ở lứa tuổi THPT hầu hết
thích tìm tòi những cái mới lạ. Việc đưa các đồ dùng trực quan, và được thử tay
nghề của mình vào các bài thực hành là rất cần thiết, sẽ làm cho học sinh thích
thú, say mê học tập. Tuy nhiên nếu giáo viên không có kỹ năng thành thạo,
không sử dụng thiết bị đồ dung trực quan hợp lý, không có phương pháp hướng
dần học sinh một cách khoa học thì rất dễ gây phản tác dụng( không đúng với
kết quả lý thuyết…) hoặc có thể dẫn đến việc mất tập trung vào nội dung bài
giảng và có thể gây ra tai nạn lao động.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về phía Thầy:
- Có kiến thức về phương pháp dạy học đặc biệt là phương pháp dạy học

thực hành; có kĩ năng, thao tác thành thạo việc sử dụng thiết bị đồ dùng trong
dạy thực hành, có tay nghề của người thợ điện tử.
- Có kiến thức sâu về chuyên ngành điện tử và điện kỹ thuật được đào tạo.
- Biết phối hợp các phương pháp giáo dục truyền thống và hiện đại để có kết
quả giáo dục cao nhất.
Về phía trò:
- Tích cực chủ động trong việc tiếp thu kiến thức, có khả năng tư duy sáng
tạo trong quá trình học tập.
- Có hứng thú trong việc học thực hành, say mê công việc, có kiến thức về
an toàn lao động.
- Biết lắp ráp một số mạch điện tử đơn giản trong các bài thực hành.

Phạm vi nghiên cứu của đề tài: “Kinh nghiệm sử dụng đồng hồ vạn năng
nâng cao chất lượng dạy thực hành môn Công Nghệ 12” được xây dựng và
thực hiện trong các bài dạy thực hành môn Công Nghệ lớp 12 tại trường THPT
Phù Cừ từ năm học 2010 - 2011 đến nay.
II. PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
5
1. Cơ sở định hướng nghiên cứu đề tài
Trong nhiều năm qua tôi đã suy nghĩ đổi mới cách dạy và học bộ môn nói
chung và việc sử dụng các thiết bị trong dạy thực hành nói riêng, đồng thời trao
đổi cùng đồng nghiệp để vận dụng thực hiện. Sau mỗi bài giảng lại đúc kết rút
kinh nghiệm và trao đổi để đưa ra cách dạy phù hợp nhất. Kết quả được đối
chứng qua các lần kiểm tra, làm bài tập thực hành rồi tiếp tục rút kinh nghiệm
để đạt được kết quả tốt hơn,
Khi nhà trường có bổ sung thêm các thiết bị đồ dùng cho bộ môn, tôi đã tích
cực soạn bài theo hướng đổi mới lấy học sinh làm trung tâm và sưu tầm các
thiết bị, linh kiện kỹ thuật để phục vụ cho bài dạy và tích cực đổi mới phương
pháp theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh.
2. Các biện pháp tiến hành

Nghiên cứu lý luận: Lý luận về các phương pháp dạy học thực hành, các
bước dạy thực hành trong trường THPT, đặc biệt là dạy thực hành môn Công
Nghệ lớp 12 hiện nay.
Nghiên cứu thực tiễn: Xây dựng các giáo án dạy thực hành môn Công
Nghệ lớp 12, đề xuất mua bổ sung các thiết bị đồ dùng trực quan.
Tìm hiểu và nghiên cứu kỹ chức năng, công dụng, cấu tạo và nguyên lý
làm việc của các thiết bị thực hành ( đồng hồ vạn năng, linh kiện điện tử, mạch
điện tử,… ), xem lại kiến thức liên quan ở môn Vật lí lớp 11; tham khảo các
nguồn thông tin, kiến thức trong các tài liệu tham khảo, mạng Internet….
Lập chương trình, xây dựng khung nội dung của đề tài, phân tích những vấn
đề còn hạn chế, bất hợp lý trong nội dung sách giáo khoa.
Thực hiện các phương pháp, các thao tác khác nhau trên cùng thiết bị, cùng
nội dung thực hành. Từ đó, so sánh tìm ra ưu, nhược điểm và lựa chọn các
phương án hợp lý nhất.
Thử nghiệm phương pháp dạy học thực hành trên các lớp khác nhau, các đối
tượng học sinh khác nhau làm cơ sở để đánh giá mức độ thành công của đề tài.
6
NỘI DUNG
I. MỤC TIÊU
Với mục tiêu chung của giáo dục phổ thông hiện nay là “Giúp học sinh phát
triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản;
phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách
con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách, trách nhiệm công dân;
chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia
bảo vệ Tổ quốc”.
Kết quả cần đạt được của đề tài này là nghiên cứu sâu phương pháp sử
dụng thiết bị đồ dùng trong dạy học thực hành, xây dựng các bài dạy thực hành
có hiệu quả cao nhằm rèn luyện kỹ năng thực hành cho học sinh khối 12. Nhằm
“Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp
với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp

học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn
luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem
lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập của học sinh; góp phần định
hướng cho học sinh khối 12 biết cách lựa chọn nghề nghiệp cho bản thân”.
II. TÌM HIỂU THIẾT BỊ THỰC HÀNH
Như chúng ta đã biết, phương pháp dạy thực hành là phương pháp dạy học
mà trong đó học sinh dựa vào sự quan sát giáo viên làm mẫu và tiến hành thực
hành tự lực dưới sự hướng dẫn của giáo viên, nhằm giúp cho học sinh rèn luyện
kỹ năng thực hành. Do đó, người dạy muốn có các thao tác chuẩn mực, kỹ năng
thành thạo trong dạy thực hành thì cần phải hiểu rõ tính năng tác dụng của các
thiết bị. Ở đây trong giới hạn của đề tài này tôi chỉ đề cập tới : Đồng hồ vạn
năng kim hiển thị SANWUA – YX – 960TR và các thiết bị liên quan được sử
7
dụng phổ biến trong các trường THPT (Thực tế có nhiều loại: Đồng hồ vận
năng hiển thị số,…….).
1. Tìm hiểu cấu tạo bên ngoài đồng hồ vạn năng kim hiển thị
a. Hình dạng bên ngoài
15
1 14
2 13
3 12
4 11
5 10
6 9
7 8
1 – Kim chỉ thị 9 – Thang đo điện trở
2 – Mặt chỉ thị 10 – Chuyển mạch chọn thang đo
3 – Vít điều chỉnh điểm 0 tĩnh 11 – Thang đo điện áp xoay chiều
4 – Đầu đo điện áp thuần xoay chiều 12 – Nút điều chỉnh 0Ω (0Ω ADJ)
5 – Thang đo điện áp một chiều 13 - Cung chia đo điện áp xoay chiều

6 – Đầu đo chung (Com)(căm que đen) 14 - Cung chia đo điện áp và dòng
điện một chiều
7 – Thang đo dòng điện một chiều 15 - Cung chia đo điện trở
8
8 – Đầu đo dương (+)(cắm que đỏ)

b. Một số kí hiệu sử dụng trên đồng hồ
Trên đồng hồ vạn năng kim hiển thị có một số kí hiệu như sau:
· Nội trở của đồng hồ: DC20 KΩ /V; AC 9KΩ/V
· Phương đặt đồng hồ:
- ┌┐ hoặc →: Phương đặt nằm ngang
- ┴ hoặc ↑: Phương đặt thẳng đứng
- Ð : Phương đặt xiên góc (thường là 45
0
)
· Điện áp thử cách điện: 5 KV
· Bảo vệ bằng cầu chì và điôt
· DCV : Thang đo điện áp một chiều.
· ACV : Thang đo điện áp xoay chiều.
· DCA : Thang đo dòng điện một chiều.
· Ω: Thang đo điện trở
· 0Ω ADJ : Chỉnh không ôm (chỉnh điểm không động)
· COM (Common): Đầu chung, cắm que đo màu đen
· (+) : Đầu đo dương, cắm que đo màu đỏ
c. Cung chia độ
A
B
C
D
9

- (A) Là cung chia thang đo điện trở Ω : Dùng để đọc giá trị khi sử
dụng thang đo điện trở. Cung chia độ thang đo Ω có giá trị lớn nhất bên trái và
nhỏ nhất bên phải (ngược lại với tất cả các cung còn lại).
- (B) Là mặt gương: Dùng để giảm thiểu sai số khi đọc kết quả, khi đọc
kết quả hướng nhìn phải vuông góc với mặt gương – tức là kim chỉ thị phải che
khuất bóng của nó trong gương.
- (C) Là cung chia độ thang đo điện áp và dòng điện một chiều DCV.A:
Dùng để đọc giá trị khi đo điện áp một chiều và dòng điện một chiều. Cung này
có 3 vạch chia độ là: 250V; 50V; 10V
- (D) Là cung chia độ điện áp xoay chiều ACV: Dùng để đọc giá trị khi
đo điện áp xoay chiều. Cung này có 3 vạch chia độ là: 250V; 50V; 10V

d. Các thang đo
- DC.V: Đo điện áp một chiều có 7 thang đo, từ 0,1V đến 1000V
- DC.mA: Đo dòng điện 1 chiều, có 4 thang đo, từ 50mA đến 250mA
- AC.V: Đo điện áp xoay chiều, có 4 thang đo, từ 10V đến 1000V
10
- DC 2,5A: Đo dòng điện một chiều đến 2,5A
- Ω: Đo điện trở, có 5 thang đo, từ X1Ω đến X 10k
Lưu ý:
- Trong đề tài này, tôi chỉ đề cập nghiên cứu chức năng của đồng hồ vạn
năng kim hiển thị phần nội dung có liên quan đến việc sử dụng trong các bài
thực hành môn Công Nghệ 12. Những phần ứng dụng khác, cấu tạo bên trong
và nguyên lý hoạt động,… xin không trình bày ở đây.
- Với mỗi loại đồng hồ kim hiển thị khác nhau thì cách bố trí thang đo, cung
chia độ, chức năng, …có những điểm khác nhau không nhiều; phần chính cơ
bản là giống nhau.
2. Một số hình ảnh về đồng hồ vạn năng kim chỉ thị khác
11
III. NHỮNG GIẢI PHÁP THỰC HIỆN

Trong phân phối chương trình môn Công Nghệ lớp 12 hiện nay( đã giảm tải
theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT và có sự thống nhất của Sở GD&ĐT Hưng
Yên) thì còn 5 bài thực hành có sử dụng thiết bị đồng hồ vạn năng. Do vậy, tôi
trình bày giải pháp theo từng bài cụ thể:

1. Bài 3: Thực hành: Điện trở - Tụ điện – Cuộn cảm
Các linh kiện: Điện trở - Tụ điện – Cuộn cảm là các linh kiện thụ động
nhưng đóng vai trò quan trọng và có mặt hầu hết trong các mạch điện tử. Để
tìm hiểu về các linh kiện này, sách giáo khoa mới chỉ đề cập đến mục tiêu nhận
biết, phân loại, đọc sơ đồ; còn vấn đề đo trị số ( với linh kiện ghi trị số chưa rõ
hoặc bị mờ), kiểm tra linh kiện còn tốt hay xấu( dùng được – hay hỏng) thì
chưa đề cập rõ ràng dẫn đến việc sử dụng các linh kiện trong việc lắp ráp mạch
điện tử gặp nhiều khó khăn.
a. Đo điện trở:
Trị số điện trở được ghi trên thân điện trở bằng cách ghi trực tiếp hoặc
ghi theo kí hiệu vạch màu( dùng bảng màu để xác định trị số):


12
Điện trở màu Điện trở ghi trực tiếp
Sử dụng thang đo điện trở của đồng hồ vạn năng để xác định trị số và kiểm
tra chất lượng điện trở( xác định trị số tăng hay giảm so với giá trị định mức).
Thực hiện theo các bước sau:
Đo kiểm tra điện trở bằng đồng hồ vạn năng
• Bước 1 : Để thang đồng hồ về các thang đo trở, nếu điện trở nhỏ thì để
thang x1 ôm hoặc x10 ôm, nếu điện trở lớn thì để thang x1K hoặc 10K.
sau đó chập hai que đo và chỉnh chiết áp để kim đồng hồ báo vị trí 0 ôm
(chỉnh không).
• Bước 2 : Chuẩn bị các điện trở để đo .
• Bước 3 : Đặt que đo vào hai đầu điện trở, đọc trị số trên thang đo , giá trị

đo được = chỉ số thang đo X thang đo
Ví dụ : nếu để thang x 100 ôm và chỉ số báo là 27 thì giá trị là = 100 x 27
= 2700 ôm = 2,7 K .
• Bước 4 : Nếu ta để thang đo quá cao thì kim chỉ lên một chút , như vậy
đọc trị số sẽ không chính xác.
• Bước 5 : Nếu ta để thang đo quá thấp , kim lên quá nhiều, và đọc trị số
cũng không chính xác.
13
• Lưu ý: - Khi đo điện trở ta chọn thang đo sao cho kim báo gần vị trí
giữa cung chia vạch đo thì sẽ cho độ chính xác cao nhất.
- Khi chuyển thang đo khác nhất thiết phải “chỉnh không”.
b. Xác định chất lượng của tụ điện
Tụ điện có rất nhiều loại( phân loại theo chất điện môi, theo trị số, phân cực,
không phân cực,…), đa số tụ điện có trị số được ghi trực tiếp trên vỏ tụ, riêng
có tụ gốm ghi theo kí hiệu( Ví dụ: 103 có trị số 10000 = 10n). Ở đây ta dùng
thang điện trở để kiểm tra tụ thường(không phân cực) và tụ hoá (có phân cực).
Tụ thường
Tụ hoá
Dùng thang điện trở kiểm tra độ phóng nạp và hư hỏng của tụ điện , khi đo
tụ điện , nếu là tụ thường ta dùng thang đo x1K hoặc 10K, nếu là tụ hoá ta dùng
thang x10 ôm.
Dùng thang x 1K để kiểm tra tụ thường
14

Giữ một đầu que đo vào một cực của tụ, que kia quệt nhẹ vào cực còn lại.
Kết quả cho thấy:
• Nếu kim phóng nạp( kim nhích nhẹ rồi trả lại) : Tụ C1 còn tốt.
• Nếu kim nhích lên nhưng không trở về vị trí cũ : Tụ C2 bị dò
• Nếu kim đồng hồ lên chỉ 0 ôm và không trở về : Tụ C3 bị chập.
Dùng thang x 10 để kiểm tra tụ hoá

Kiểm tra các tụ hoá, tụ hoá rất ít khi bị dò hoặc chập mà chủ yếu là bị khô
( giảm điện dung) khi đo tụ hoá để biết chính xác mức độ hỏng của tụ ta cần đo
so sánh với một tụ mới có cùng điện dung.
15
• Cách xác định tụ hoá tương tự như tụ thường, song góc quét của kim
rộng hơn nhiều(với tụ có điện dung lớn kim có thể quay đến chỉ 0 ôm rồi
từ từ trở về vị trí cũ).
• Ở trên là phép đo so sánh hai tụ hoá cùng điện dung, trong đó tụ C1 là tụ
mới còn C2 là tụ cũ, nếu thấy tụ C2 có độ phóng nạp yếu hơn tụ C1 thì
chứng tỏ tụ C2 bị khô ( giảm điện dung )
• Chú ý khi đo tụ phóng nạp, ta phải đảo chiều que đo vài lần để xem độ
phóng nạp.
c. Đo kiểm tra cuộn cảm, dây quấn máy biến áp, thông mạch của một
đoạn dây dẫn, đoạn mạch in, loa,…
Cuộn cảm là cuộn dây dẫn điện có vỏ cách điện được quấn thành vòng
(có thể ít hoặc nhiều vòng). Có nhiều loại cuộn cảm: lõi không khí, lõi ferit,
lõi sắt từ,… Để xác định trị số điện cảm ( trị số điện cảm được ghi trên
nhãn gắn trên vỏ) người ta phải đo kích thước, tính toán theo công thức hoặc
gián tiếp bằng thực nghiệm, đo trực tiếp là việc làm rất khó khăn. Ở đây chỉ
xác định tính thông mạch của cuộn cảm và còn sử dụng được hay không.
Hình ảnh một số cuộn cảm
16
Máy biến áp Loa điện động
Phương pháp kiểm tra cuộn cảm:
• Để đồng hồ ở thang đo điện trở x1ôm hoặc x10 ôm, chỉnh không và đặt
hai que đo vào hai đầu cuộn cảm.
• Nếu kim quay chỉ xấp xỉ 0 ôm hoặc điện trở nhỏ: Cuộn cảm còn tốt.
• Nếu kim chỉ vô cùng: Cuộn cảm bị đứt.
• Kiểm tra cuộn dây biến áp, mạch in, cuộn dây loa,….tương tự như trên.
2. Bài 5: Thực hành: Điốt – Tirixto – Triac

Các linh kiện Điốt, Tirixto, Triac,… là các linh kiện tích cực trong các
mạch điện tử, chúng được chế tạo từ các chất bán dẫn loại P và loại N. Tuỳ
theo cách tổ hợp của các tiếp giáp P – N sẽ tạo ra các linh kiện bán dẫn khác
nhau. Việc xác định chính xác loại linh kiện, phân biệt các cực, kiểm tra mức
độ tốt-xấu các linh kiện khi sử dụng chúng là rất quan trọng. Trong bài 5: Thực
hành Điốt – Tirixto – Triac ở sách giáo khoa Công Nghệ 12 đã hướng dẫn khá
rõ, song để thành kỹ năng xin bổ sung một số nội dung cụ thể sau:
a. Điôt bán dẫn
Điốt bán dẫn thực chất là một tiếp giáp P-N , có 2 điện cực và có vỏ bảo vệ.
Có nhiều loại điốt: điốt điểm, điốt mặt; điốt chỉnh lưu, ổn áp; điốt LED, xung,
… Điốt bán dẫn dùng để chỉnh lưu, tách sóng, ổn áp, phát quang, thu quang,
biến dung,….
17
Một số loại điôt bán dẫn
Phương pháp đo kiểm tra Điốt:
• Đặt đồng hồ ở thang x 1 hoặc x 10Ω, chỉnh không và đặt hai que đo vào hai
cực, nếu :
• Đo phân cực thuận que đen vào Anôt, que đỏ vào Katôt mà kim lên, đảo chiều
đo kim không lên là Điốt tốt
• Nếu đo cả hai chiều kim lên = 0Ω là Điôt chập.
• Nếu đo thuận chiều mà kim không lên là Điốt bị đứt.
18
Dùng thang x 10 để kiểm tra Điốt
Lưu ý:
- Ở thang đo điện trở: Que đen nối với cực dương của pin trong đồng hồ,
que đỏ nối cực âm.
- Khi chưa phân biệt được hai cực của Điốt, ta vẫn đo bình thường và đảo
que đo. Nếu thấy kim lên (chỉ 0ôm) và không lên (chỉ vô cùng) thì Điốt còn tốt.
Trường hợp kim chỉ 0ôm thì que đen nối với Anốt, còn lại là Katôt.
b. Tirixto( điôt chỉnh lưu có điều khiển- SCR)

Tirixto là linh kiện bán dẫn có 3 tiêp giáp P – N, có vỏ bảo vệ, có 3 điện cực:
Anốt( A), Katôt(K), điều khiển( G). Tirixto được dùng trong mạch chỉnh lưu có
điều khiển, bằng cách điều khiển cho điện áp UGK xuất hiện sớm hay muộn để
thay đổi giá trị điện áp ra.
Cấu tạo và kí hiệu Tirixto Một số loại Tirixto

Phương pháp kiểm tra Tirixto:
19
• Xác định các cực: A, K, G của Tirixto
• Đặt đồng hồ ở thang đo x1 hoặc x10 , khi cực điều khiển( G) hở mạch
(UGK = 0) đặt que đỏ vào Anot, que đen vào Katot hoặc đảo lại thì kim không
lên.
• Đặt que đen vào Anôt, que đỏ vào Katôt của Tirixto, dùng Tovit chập
chân A vào chân G (trường hợp UGK > 0) thấy kim đồng hồ lên, sau đó bỏ
Tovit ra kim đồng hồ vẫn lên, như vậy là Tirixto còn tốt; đảo lại chiều que đo
thì kim đồng hồ không lên . Trái với kết quả trên thì Tirixto hỏng.
c. Triac
Triac là linh kiện bán dẫn gồm 6 miền bán dẫn ghép với nhau, có 3 điện cực
là Anot( A1), Katot( A2,) và cực điều khiển( G). Triac dùng để điều khiển các
thiết bị điện trong mạch điện xoay chiều như: động cơ điện, quạt, đèn,…
20
Kí hiệu và hình dạng của Triac
Phương pháp kiểm tra Triac
Cách đo kiểm tra Triac, cũng làm
giống như cách đo của Tirixto, trong
cách đo Triac, khi đảo chiều Triac,
và cho kích cực điều khiển, nó cũng
sẽ vào trạng thái dẫn điện, trong khi
đó thì SCR lại không dẫn điện.
- Bước 1: Khi cực khiển( G) để

hở, đo điện trở hai cực A1, A2 thì
kim đồng hồ đều không lên (chỉ vô
cùng).
- Bước 2: Đặt que đen của Ôm kế vào cực A2, que đỏ vào cực A1, kim
không lên, cho cực G chạm nhẹ vào cực A2 thì kim lên; lúc này để hở cực
G kim vẫn lên vì có tính tự giữ.
- Bước 3: Đảo ngược Triac, que đỏ đặt cực A2, que đen đặt cực A1, cho cực
G chạm nhẹ vào cực A1, kim lên, sau đó để hở cực G kim vẫn lên. Như vậy
Triac dẫn điện theo cả hai chiều khi cực khiển có điện áp thích hợp.
Khác với kết quả trên thì Triac bị hỏng.
21
A1 A2 G
3. Bài 6: Thực hành: Tranzito
Tranzito là linh kiện tích cực trong mạch điện tử, nó dùng để khuếch đại tín
hiệu, tạo sóng, tạo xung,… . Cấu tạo gồm có hai tiếp giáp P – N, có vỏ bảo vệ
và ba điện cực: Emito(E), Bazơ(B), Colectơ(C). Theo cấu tạo Tranzito chia làm
hai loại : PNP (loại thuận) và NPN (loại ngược).
Trong bài 6: Thực hành: Tranzito mới chỉ đề cập đến cách đặt tên tranzito
do Nhật Bản sản xuất, cách đo hai tiếp giáp P - N khi đã phân biệt được loại và
tên các cực của Tranzito. Với các tranzito của hãng khác, chưa biết tên cực thì
kiểm tra thế nào? Ở đây sẽ trình bày cách xác định loại tranzito, xác định chất
lượng và phân biệt tên các cực tranzito bất kỳ của nhà sản xuất nào bằng đồng
hồ vạn năng.

Cấu tạo và kí hiệu Tranzito Một số loại Tranzito
Phương pháp kiểm tra Tranzito
22
A1 A2 G
Tranzito khi hoạt động có thể hư hỏng do nhiều nguyên nhân, như hỏng do
nhiệt độ, độ ẩm, do điện áp nguồn tăng cao hoặc do chất lượng của bản thân

Tranzito, để kiểm tra cần nhớ cấu tạo của chúng.
NPN PNP
a. Trường hợp đã phân biệt loại và các cực của Tranzito
Kiểm tra Tranzito ngược NPN tương tự kiểm tra hai Điôt đấu chung cực
Anôt, điểm chung là cực B, nếu đo từ B sang C và B sang E ( que đen vào B)
thì tương đương như đo hai điôt thuận chiều thì kim lên, tất cả các trường hợp
đo khác kim không lên. Kiểm tra Tranzito thuận PNP tương tự kiểm tra hai
Điot đấu chung cực Katôt, điểm chung là cực B, nếu đo từ B sang C và B sang
E ( que đỏ vào B ) thì tương đương như đo hai điôt thuận chiều thì kim lên , tất
cả các trường hợp đo khác kim không lên. Trái với các điều trên là Tranzito bị
hỏng. Các bước thực hiện như sau:
* Tranzito NPN:
• Bước 1 : Chuẩn bị đo để đồng hồ ở thang x10 Ω hoặc x100 Ω
• Bước 2 : Đặt que đen vào cực B. Đo thuận chiều B - E và B - C thấy
kim lên .
23
• Bước 3: Đặt que đỏ vào cực B. Đo ngược chiều B - E và B - C thấy kim
không lên.
• Bước 4 : Đo giữa C và E và đảo lại thấy kim không lên.
• Kết luận: Tranzito còn tốt.
Minh hoạ phép đo kiểm tra Tranzito .
* Tranzito PNP: Tương tự
• Bước 1 : Chuẩn bị đo để đồng hồ ở thang x10 Ω hoặc x100 Ω
• Bước 2 : Đặt que đỏ vào cực B. Đo thuận chiều B - E và B - C thấy kim
lên .
• Bước 3: Đặt que đen vào cực B. Đo ngược chiều B - E và B - C thấy
kim không lên.
• Bước 4 : Đo giữa C và E và đảo lại thấy kim không lên.
• Kết luận: Tranzito còn tốt.
24

b. Trường hợp chưa biết thông tin gì về Tranzito( kể cả chưa biết tên).
- Bước 1: Chuẩn bị đo để đồng hồ ở thang x10 Ω hoặc x100 Ω
- Bước 2: Giữ một que trong hai que đo ở một cực cố định, que còn lại
chuyển lần lượt sang hai cực còn lại( thay đổi cực chọn làm cố định, thực hiện
nhiều lần). Tới khi xác định được một cực thông với hai cực còn lại( kim lên)
thì cực đó sẽ là cực B của Tranzito.
- Bước 3: Nếu que cố định là que đen thì là tranzito NPN , nếu que cố định
là que đỏ thì là PNP.
- Bước 4: Dùng hai que đo của đồng hồ đặt lên hai cực chưa xác định ( E và
C), sau đó dùng ngón tay thấm ướt quệt vào cực B (đã được xác định) thấy:
+ Nếu kim nhúc nhích thì xác định như sau: tranzito PNP thì que đen sẽ
là cực E, que đỏ sẽ là cực C; nếu là NPN thì que đỏ là cực E, que đen là cực C
+ Nếu đo lần đầu mà kim không nhúc nhích thì đảo que đo ở hai cực, rồi
quệt tay ướt vào cực B.
Lưu ý: Trong trường hợp ngoại lệ khi mà Tranzito có điện trở lớp tiếp giáp
nhỏ (lúc bóng chưa mở) thì khi đặt que đo vào hai cực C và E trong hai trường
hợp đều thấy kim chỉ nhúc nhích. Lúc này ta đặt ngón tay ướt vào chân B và
nếu là trường hợp đặt đúng thì kim chỉ góc quay lớn hơn trường hợp còn lại.
4. Bài 10: Thực hành: Mạch nguồn điện một chiều:
Mạch nguồn một chiều là mạch điện được dùng khá phổ biến trong thực tế,
để thực hiện tốt mục tiêu bài học cần nắm vững cách đo điện áp xoay chiều,
điện áp một chiều, đo nhiều mức điện áp khác nhau; lưu ý ở đây là đo nóng( đo
có điện). Trong quá trình đo nếu không để ý sẽ mắc sai sót như: nhầm thang đo
xoay chiều sang một chiều, điện áp sang dòng điện,….gây sự cố, hỏng đồng hồ.
Phương pháp đo điện áp xoay chiều
- Khi đo điện áp xoay chiều ta chuyển thang đo về các thang AC, để thang
AC cao hơn điện áp cần đo một nấc. Ví dụ nếu đo điện áp AC220V ta để thang
AC 250V, nếu ta để thang thấp hơn điện áp cần đo thì đồng hồ báo kịch kim,
25

×