Tải bản đầy đủ (.doc) (10 trang)

một số phương pháp rèn kỹ năng sử dụng kênh hình môn sinh học. trường mẫu giáo 195

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (206.14 KB, 10 trang )

PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
Trường THCS TT Trần Văn Thời
SÁNG KIẾN
Đề tài:
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP RÈN KỸ NĂNG SỬ DỤNG KÊNH
HÌNH MÔN SINH HỌC
- Đề tài thuộc lĩnh vực: Sinh học
- Họ và tên người thực hiện: Giang Hồng Liễu
- Chức vụ: Giáo viên
- Sinh hoạt tổ chuyên môn: Sinh – Hóa – Địa – Công nghệ
1
Huyện Trần Văn Thời, tháng 05 năm 2013
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP RÈN KỸ NĂNG SỬ DỤNG KÊNH HÌNH
MÔN SINH HỌC
1. Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến.
Sinh học là môn khoa học có phạm trù rộng lớn và có tính thực nghiệm, nó
không chỉ dừng lại ở việc mô tả các sự vật hiện tượng sinh học xảy ra trong tự
nhiên mà còn tìm ra các giải thích, phân tích, so sánh, tổng hợp các yếu tố sinh học
như: Thực vật, động vật, con người, cũng như thấy được mối quan hệ giữa chúng
với nhau. Mặt khác sinh học còn góp phần vào việc xây dựng kinh tế xã hội nước
nhà.
Qua nhiều năm giảng dạy tôi thấy rằng việc sử dụng tranh vẽ của học sinh
còn chưa được thành thục. Mặt khác các em còn chưa chú ý học, chưa sử dụng tranh
để ôn tập kiến thức và xây dựng kiến thức mới. Khi tìm hiểu thêm một số đồng
nghiệp trường khác trong huyện (thông qua hội thi giáo viên giỏi cấp huyện) tôi
cũng thấy thực trạng giáo viên và học sinh khi sử dụng triệt để tranh vẽ để khai thác
kiến thức còn rất nhiều hạn chế. Do đó việc rèn luyện kỹ năng sử dụng tranh vẽ cho
học sinh ở các môn học nói chung, môn sinh học nói riêng là một việc làm hết sức
cần thiết để nâng cao chất lượng học tập. Nhưng vấn đề đặt ra là phải sử dụng tranh
vẽ như thế nào để giảng dạy có hiệu quả? Bản thân tôi trên cơ sở kinh nghiệm giảng
dạy, kết hợp với việc trao đổi cùng đồng nghiệp tôi dã mạnh dạn nghiên cứu đề tài


này để tìm ra phương pháp sử dụng tranh vẽ một cách triệt để, góp phần tích cực hoá
hoạt động của học sinh, nâng cao chất lượng môn sinh học .
Với phạm vi thời gian không cho phép nên trong nội dung đề tài này tôi chỉ xin
đưa ra ý kiến nhằm rèn luyện kỹ năng sử dụng kênh hình cho học sinh lớp 7 Trường
THCS thị trấn Trần Văn Thời qua bộ môn tôi trực tiếp giảng dạy đó là sinh học.
2. Phạm vi triển khai thực hiện:
Đề tài đã được thực hiện trong tổ Sinh - Hóa - Địa - Công nghệ, đã có sự đóng
góp ý kiến của các thành viên trong tổ. Đặc biệt đã được báo cáo trước tập thể hội
đồng sư phạm trường THCS thị trấn Trần Văn Thời và phổ biến thực hiên trong
đơn vị trong năm 2012-2013.
3. Mô tả sáng kiến.
3.1. Thực trạng vấn đề nghiên cứu .
3.1.1. Đối với giáo viên:
Trong năm học 2012-2013 bản thân tôi đã tự học hỏi qua tài liệu, qua bồi
dưỡng hè, qua một số đồng nghiệp cùng chuyên môn để nâng cao năng lực và
phương pháp giảng dạy, Tuy nhiên còn một số tồn tại:
- Chất lượng của một số giờ dạy chưa cao nên ảnh hưởng đến việc học tập
của học sinh.
- Phương tiện dạy học nhất là tranh vẽ còn thiếu nhiều nên một số tiết giáo
viên còn phải dạy chay.
- Tài liệu tham khảo còn thiếu.
2
3.1.2 Đối với học sinh.
Luôn nhận được sự quan tâm, khích lệ của giáo viên nên ý thức học tập của các
em rất tốt, ham học hỏi, chuẩn bị bài chu đáo trước khi đến lớp.Trong lớp hăng hái phát
biểu xây dựng bài, có ý thức tự học, tự nghiên cứu. Nhiều em khả năng nhận thức tốt và
có ý thức giúp đỡ lẫn nhau trong học tập. Bên cạnh đó còn một số em ý thức học tập,
tu dưỡng chưa cao; Nhận thức giữa học sinh 2 lớp 7A1, 7A9 không đồng đều; khả
năng phân tích tổng hợp của một số em còn hạn chế, chưa tích cực, tư duy, sáng
tạo, còn thụ động trong nhận thức; kỹ năng quan sát tranh chưa tích cực.

3.2. Một số phương pháp rèn luyện kỹ năng sử dụng kênh hình cho học
sinh qua môn sinh học.
a. Phương pháp quan sát kênh hình:
Một trong những phương pháp chủ đạo để giúp học sinh có kỹ năng sử dụng
kênh hình (tranh vẽ) là người giáo viên phải có tranh và biết hướng dẫn học sinh
quan sát tranh và cần nghiên cứu một cách khoa học và có hiệu quả. Khi muốn học
sinh xác định được một bộ phận cấu tạo cơ quan nào đó giáo viên cần phải:
+ Giới thiệu tranh vẽ gì (tranh vẽ phải to, rõ ràng, chính xác)
+ Nêu rõ nội dung cần khai thác.
+ Xác định chính xác vị trí của từng tranh vẽ.
* Ví dụ: Khi đưa tranh vẽ về hệ tuần hoàn của các loài động vật giáo viên
phải thực hiện các bước sau:
- Bước 1: Giáo viên cần giới thiệu tranh.
- Bước 2. Yêu cầu học sinh quan sát tranh vẽ khai thác kiến thức thấy được
cấu tạo của Tim, hệ mạch, các ngăn tim, các loại mạch …(dựa vào chú thích).
- Bước 3. Dành thời gian cho học sinh nghiên cứu.
- Bước 4. Yêu cầu học sinh trình bày cấu tạo của hệ tuần hoàn trên tranh.
b. Phương pháp sử dụng câu hỏi gợi mở.
Cùng với việc hướng dẫn học sinh quan sát kênh hình tự tìm ra kiến thức
người giáo viên còn phải đưa ra được hệ thống các câu hỏi gợi mở để hướng dẫn
học sinh khai thác triệt để từng nội dung kiến thức chứa trong tranh. Mặt khác nhờ
câu hỏi gợi mở của giáo viên học sinh dễ định hướng được những nội dung cần
phải quan sát, từ đó kích thích trí tìm tòi, phát triển tư duy cho học sinh giúp học
sinh dễ nhớ và nhớ lâu kiến thức.
* Ví dụ: Khi dạy bài “cấu tạo trong của thỏ” khi nghiên cứu về hệ tiêu hoá
của thỏ tôi thấy rằng: muốn học sinh nắm được cấu tạo của cơ quan tiêu hoá trước
hết giáo viên cần phải có tranh vẽ “ cấu tạo các cơ quan tiêu hoá” to, rõ nét và
mang tính khoa học.
Sau khi treo tranh giáo viên giới thiệu cho học sinh biết đây là tranh vẽ mô
tả cấu tạo cơ quan tiêu hoá của thỏ và chỉ trên tranh vẽ toàn bộ cơ quan tiêu hoá.

Tiếp theo giáo viên để thời gian (2 phút) để học sinh quan sát cấu tạo cơ
quan tiêu hoá của thỏ dựa vào chỉ dẫn trên tranh.
Giáo viên đặt một số câu hỏi gợi mở như: Hệ tiêu hoá của thỏ gồm những bộ
phận nào? nêu cấu tạo của từng bộ phận đó ? so với lớp động vật trước có gì khác ?
tại sao lại khác ? …
Khi học sinh đã trả lới hết câu hỏi của giáo viên tức là các em đã nắm được
cấu tạo cơ quan tiêu hoá của thỏ lúc này giáo viên đưa tranh vẽ và yêu cầu học sinh
3
lên xác định các bộ phận của cơ quan tiêu hoá thỏ trên tranh. Nếu học sinh trình
bày được tức là các em đã biết khai thác kiến thức từ tranh vẽ. Tiết học sau giáo
viên dùng tranh vẽ kiểm tra kiến thức của các em.
c. Phương pháp nêu vấn đề.
Dạy học nêu vấn đề được hiểu là vấn đề có thể do giáo viên hoặc do chính
học sinh đặt ra. Giáo viên tổ chức tạo tình huống có vấn đề để học sinh tự lực phát
hiện, nhận dạng, phát biểu vấn đề đặt ra để cùng nhau giải quyết.
Khi dạy bằng phương pháp nêu vấn đề giáo viên và học sinh cần thực hiện
các công việc sau.
+ Tạo tình huống có vấn đề.
+ Phát hiện nhận dạng vấn đề nảy sinh.
+ Đề xuất các giả thiết giải quyết vấn đề.
+ Phát biểu kết luận.
* Ví dụ: Trong bài đa dạng và đặc điểm chung của các lớp cá khi dạy phần
bảo vệ và phát triển nguồn lợi cá giáo viên có thể tiến hành như sau:
- Đặt vấn đề:
Giáo viên cho học sinh quan sát tranh dòng sông (dòng sông ở trạng thái ban
đầu: dòng sông chảy êm đềm, ngư dân đánh cá nhộn nhịp, dân chúng 2 bên bờ tắm
giặt đông vui ).
+ Sau một thời gian bị ô nhiễm: Vắng bóng thuyền bè, hai bên bờ bến tắm
vắng tanh, cảnh đập vào mắt là cá chết hàng loạt nổi lềnh bềnh không ai thèm vớt.
+ Học sinh nhận xét sự thay đổi cảnh vật của dòng sông qua hai bức tranh.

+ Học sinh đặt vấn đề: Vì sao cá chết hàng loạt ?
- Giải quyết vấn đề:
+ Giáo viên gợi ý cho học sinh nêu các giả thiết về nguyên nhân cá chết
hàng loạt. Giáo viên ghi giả thiết của học sinh lên bảng: do đánh mìn để bắt cá, do
rác thải hai bên bờ sông đổ xuống? Nước thải sinh hoạt của dân cư làm ô nhiễm?
Nước trên đồng đổ xuống sông có lẫn chất hoá học?
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh thảo luận từ các nguyên nhân nêu biện pháp
bảo vệ nguồn lợi cá?
Đa số học sinh trình bày các biện pháp khắc phục từng nguyên nhân trên
nhưng giáo viên giúp học sinh thảo luận rút ra kết luận.
- Kết luận: Nguồn nước bị ô nhiễm làm cá chết hàng loạt nếu để bảo vệ
nguồn lợi cá tránh ô nhiễm nguồn nước, tránh đáng bắt cá con, cá trong mùa sinh
sản…
d. Phương pháp so sánh.
Để chắc chắn được các biện pháp trên có kết quả hay không ? Bản thân tôi
tự kiểm nghiệm bằng hình thức so sánh. Khi dạy lớp 7A1 tôi áp dụng phương pháp
của mình còn khi dạy lớp 7A9 thì ngược lại tôi cung cấp một loạt thông tin trước
cho các em, sau đó yêu cầu các em trình bày lại trên tranh vẽ. Kết quả ở lớp 7A1
số em biết trình bày kiến thức từ tranh vẽ hơn lớp 7A9.
* Ví dụ: Khi giảng dạy “ Cấu tạo trong của thằn lằn” Khi so sánh bộ não của
lớp lưỡng cư (ếch) với bò sát (thằn lằn).
- Lớp 7A1: Treo cả 2 tranh vẽ bộ não ếch và thằn lằn sau đó dành thời gian
để học sinh quan sát tranh vẽ (2 phút) giáo viên dùng câu hỏi gợi mở, phương pháp
4
nêu vấn đề để giúp học sinh rút ra đặc điểm khác, đặc điểm tiến hoá và giải thích
về bộ não ếch, thằn lằn, đại diện cho 2 lớp. Sau bài học tôi phát phiếu điều tra tình
hình nắm bài của học sinh, kết quả như sau:
SS GIỎI KHÁ TB YẾU
SL % SL % SL % SL %
33 12 36.36 20 60.60 1 3.04 0 0

Tỉ lệ trung bình trở lên: 33 em đạt 100%
- Lớp 7A9: Không treo tranh mà tự bản thân mình thuyết trình về sự giống
nhau giữa não ếch và thằn lăn, rồi dùng tranh để củng cố bằng cách: treo cả hai
tranh bộ não ếch và thằn lằn yêu cầu học sinh chỉ trên tranh vẽ điểm giống, điểm
khác, điểm tiến hoá của bộ não thằn lằn so với não ếch. Kết quả như sau:
SS GIỎI KHÁ TB YẾU
SL % SL % SL % SL %
32 5 15.62 10 31.25 12 37.5 5 15.63
Tỉ lệ trung bình trở lên: 27 em đạt 84.38%
Như vậy, qua bài dạy tôi thấy khi sử dụng triệt để đồ dùng trực quan (tranh
vẽ) học sinh đã hình thành được kỹ năng sử dụng tranh vẽ. Biết quan sát tranh vẽ
cùng với câu hỏi của giáo viên, để tự mình rút ra kiến thức của bài. Bản thân học
sinh thấy tự tin, hứng thú học tập và nhớ bài ngay tại lớp thể hiện ở lớp 7A1, số
lượng học sinh khá giỏi nhiều hơn, học sinh trung bình ít, học sinh yếu không có. Ở
lớp 7A9 vẫn còn học sinh yếu, học sinh trung bình nhiều.
e. Phương pháp điều tra.
Khi đã trao đổi với một số đông nghiệp và tìm được giải pháp khắc phục rồi
tiến hành áp dụng cho học sinh của mình. Để kiểm nghiệm xem phương pháp của
mình đưa ra đạt hiệu quả đến đâu, thì sau mỗi bài dạy ở cả lớp áp dụng và không áp
dụng, giáo viên đều phải phát phiếu điều tra, kết quả nắm bài của học sinh, sau đó so
sánh, đối chiếu để tìm ra phương pháp tối ưu nhất nhằm giúp học sinh có kỹ năng sử
dụng đồ dùng trực quan thành thục nhất.
Sau khi dạy thử nghiệm một số bài, rồi so sánh giữa 2 lớp
7A1 và 7A9, kết quả điều tra cho thấy: Ở lớp nào, nếu tôi sử dụng
triệt để kênh hình (Tranh vẽ) kết hợp với việc hỏi đáp, tổng kết thì
kết quả học tập đều cao hơn ở lớp dùng tranh dụng cụ minh hoạ
kiến thức. Khi giáo viên sử dụng triệt để tranh vẽ trong mỗi tiết
học đã giúp cho học sinh không còn phải sợ môn Sinh học nữa mà
ngược lại các em cảm thấy thích học hơn, từ đó chất lượng môn
học được tăng lên rõ rệt.

4. Kết quả, hiệu quả mang lại.
Kết quả năm học 2012 - 2013, bảng số liệu sau đây minh họa từ những kinh
nghiệm đã rút ra ở trên:
Lớp
Tổng số
Học sinh
Giỏi Khá Trung bình Yếu
TS % TS % TS % TS %
7A1 33 12 36,36 16 48.48 5 15,15 0 0
5
7A9 32 5 15,63 8 25,0 19 59,38 0 0
TS 65 17
26.1
6
24 36,92 24 36,92 0 0
Tỉ lệ trung bình trở lên: 65 em, đạt 100%
5. Đánh giá về phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến.
5.1. Đối với giáo viên:
- Hướng dẫn học sinh quan sát tranh vẽ, nhận biết các kí hiệu tranh vẽ; nắm
được kiến thức cơ bản trên tranh vẽ bằng cách đặc các câu hỏi gợi mở, gợi ý, để từ
đó tự các em rút ra được kiến thức mới và liên hệ kiến thức cũ.
- Nắm vững nội dung kiến thức lý thuyết để chắt lọc kiến thức cần thiết nhất
cho học sinh ghi bài.
- Chuẩn bị đồ dùng dạy học thật tốt, rõ ràng mới có tính thuyết phục.
5.2. Đối với học sinh:
- Đã thật sự hứng thú say mê học tập
- Phát huy được năng lực, tính tích cực của học sinh theo từng đối tượng.
- Có ý thức nghiên cứu bài ở nhà và nghiên cứu tranh vẽ trong sgk nên khi
lên lớp xây dựng kiến thức mới không bị bỡ ngỡ và nắm chắc bài hơn.
Qua một thời gian nghiên cứu mặc dù chỉ trong một năm học 2012-2013 với

đề tài: “Một số phương pháp rèn luyện kỹ năng sử dụng kênh hình cho học sinh
qua môn sinh học” bản thân tôi tiến hành điều tra khảo sát chất lượng học tập của
học sinh đã có thể nhận xét: về cơ bản học sinh đã có kỹ năng sử dụng tranh vẽ,
biết khai thác tranh vẽ để xây dựng kiến thức mới, qua đó kích thích được tính tích
cực học tập bộ môn của học sinh giúp các em nắm bài một cách chủ động. Việc
nghiên cứu đề tài chỉ dựa trên kinh nghiệm giảng dạy của bản thân và tài liệu tham
khảo, rất mong sự đóng góp của đồng nghiệp để tôi hoàn thiện hơn góp phần nâng
cao chất lượng dạy và học tập môn sinh học cho học sinh.
6. Kiến nghị, đề xuất. Không.
Ý kiến xác nhận
của thủ trưởng đơn vị
Trần Văn Thời, ngày 16 tháng 05 năm 2013
Người thực hiện
Giang Hồng Liễu
6
Mẫu 01/ĐN- XDSK
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TT Trần Văn Thời, ngày 16 tháng 05 năm 2013
ĐỀ NGHỊ
CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng xét, công nhận sáng kiến huyện Trần Văn Thời
- Họ và tên: GIANG HỒNG LIỄU
- Đơn vị công tác: Trường THCS thị trấn Trần Văn Thời.
- Cá nhân, tổ chức phối hợp: Không
Đề nghị Hội đồng sáng kiến công nhận sáng kiến năm 2013 như sau:
1. Tên sáng kiến: Một số phương pháp rèn kỹ năng sử dụng kênh hình
môn sinh học.
2. Sự cần thiết ( lý do nghiên cứu):

Sinh học là môn khoa học có phạm trù rộng lớn và có tính thực nghiệm,
nó không chỉ dừng lại ở việc mô tả các sự vật hiện tượng sinh học xảy ra trong tự
nhiên mà còn tìm ra các giải thích, phân tích, so sánh, tổng hợp các yếu tố sinh học
(Thực vật, động vật, con người), cũng như thấy được mối quan hệ giữa chúng với
nhau. Mặt khác sinh học còn góp phần vào việc xây dựng kinh tế xã hội nước nhà.
3. Nội dung cơ bản của sáng kiến:
3.1. Thực trạng vấn đề nghiên cứu .
3.1.1. Đối với giáo viên.
3.1.2 Đối với học sinh.
3.2. Một số phương pháp trong việc rèn luyện kỹ năng sử dụng kênh hình
cho học sinh qua môn sinh học.
a. Phương pháp quan sát kênh hình
b. Phương pháp sử dụng câu hỏi gợi mở.
c. Phương pháp nêu vấn đề.
d. Phương pháp so sánh.
e. Phương pháp điều tra.
4. Phạm vi áp dụng: Triển khai và áp dụng trong tổ Sinh - Hóa
- Địa -Công nghệ trường THCS thị trấn Trần Văn Thời
5. Hiệu quả đạt được. Kết quả năm học 2012 - 2013
Lớp
Tổng số
Học sinh
Giỏi Khá Trung bình Yếu
TS % TS % TS % TS %
7A1 33 12 36,36 16 48.48 5 15,15 0 0
7A9 32 5 15,63 8 25,0 19 59,38 0 0
TS 65 17
26.1
6
24 36,92 24 36,92 0 0

7
Tỉ lệ trung bình trở lên: 65 em, đạt 100%
Người đăng ký
Mẫu 02/BC- XDSK
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TT Trần Văn Thời, ngày 16 tháng 5 năm 2013
BÁO CÁO
TÓM TẮT NỘI DUNG, HIỆU QUẢ SÁNG KIẾN
- Tên sáng kiến: MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP RÈN KỸ NĂNG SỬ DỤNG
KÊNH HÌNH MÔN SINH HỌC
- Tên cá nhân : GIANG HỒNG LIỄU
- Thời gian đã được triển khai thưc hiện: Từ ngày 20/ 9 /2012 đến ngày
19/5/2013.
1. Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến.
Sinh học là môn khoa học có phạm trù rộng lớn và có tính thực nghiệm, nó
không chỉ dừng lại ở việc mô tả các sự vật hiện tượng sinh học xảy ra trong tự
nhiên mà còn tìm ra các giải thích, phân tích, so sánh, tổng hợp các yếu tố sinh học
như: Thực vật, động vật, con người, cũng như thấy được mối quan hệ giữa chúng
với nhau. Mặt khác sinh học còn góp phần vào việc xây dựng kinh tế xã hội nước
nhà.
2. Phạm vi triển khai thực hiện:
Đề tài đã được thực hiện trong tổ Sinh - Hóa - Địa - Công nghệ, đã có sự
đóng góp ý kiến của các thành viên trong tổ. Đặc biệt đã được báo cáo trước tập
thể hội đồng sư phạm trường THCS thị trấn Trần Văn Thời và phổ biến thực hiên
trong đơn vị trong năm học 2012-2013.
3. Mô tả sáng kiến.
3.1. Thực trạng vấn đề nghiên cứu
3.1.1. Đối với giáo viên:

Tự học hỏi qua tài liệu, qua bồi dưỡng hè, qua một số đồng nghiệp cùng
chuyên môn để nâng cao năng lực và phương pháp giảng dạy. Tuy nhiên còn một
số tồn tại: Chất lượng của một số giờ dạy chưa cao nên ảnh hưởng đến việc học tập
của học sinh, phương tiện dạy học nhất là tranh vẽ còn thiếu nhiều nên một số tiết
giáo viên còn phải dạy chay, tài liệu tham khảo còn thiếu.
3.1.2 Đối với học sinh.
Luôn nhận được sự quan tâm, khích lệ nên ý thức học tập của các em rất tốt,
ham học hỏi, chuẩn bị bài chu đáo trước khi đến lớp.Trong lớp hăng hái phát biểu xây
dựng bài, có ý thức tự học, tự nghiên cứu. Nhiều em khả năng nhận thức tốt và có ý
thức giúp đỡ lẫn nhau trong học tập. Bên cạnh đó còn một số em ý thức học tập, tu
dưỡng chưa cao.
3.2. Một số phương pháp rèn luyện kỹ năng sử dụng kênh hình cho học
sinh qua môn sinh học.
a. Phương pháp quan sát kênh hình:
* Ví dụ: Khi đưa tranh vẽ về hệ tuần hoàn của các loài động vật giáo viên
phải thực hiện các bước sau:
8
- Bước 1: Giáo viên cần giới thiệu tranh.
- Bước 2. Yêu cầu học sinh quan sát tranh vẽ khai thác kiến thức thấy được
cấu tạo của Tim, hệ mạch, các ngăn tim, các loại mạch …(dựa vào chú thích).
- Bước 3. Dành thời gian cho học sinh nghiên cứu.
- Bước 4. Yêu cầu học sinh trình bày cấu tạo của hệ tuần hoàn trên tranh.
b. Phương pháp sử dụng câu hỏi gợi mở.
* Ví dụ: Khi dạy bài “Cấu tạo trong của thỏ” khi nghiên cứu về hệ tiêu hoá
của thỏ tôi thấy rằng: muốn học sinh nắm được cấu tạo của cơ quan tiêu hoá trước
hết giáo viên cần phải có tranh vẽ “ cấu tạo các cơ quan tiêu hoá” to, rõ nét và
mang tính khoa học.
Giáo viên đặt một số câu hỏi gợi mở như: Hệ tiêu hoá của thỏ gồm những bộ
phận nào? nêu cấu tạo của từng bộ phận đó ? so với lớp động vật trước có gì khác ?
tại sao lại khác ? …

c. Phương pháp nêu vấn đề.
* Ví dụ: Trong bài đa dạng và đặc điểm chung của các lớp cá khi dạy phần
bảo vệ và phát triển nguồn lợi cá giáo viên có thể tiến hành đặt vấn đề, giải quyết
vấn đề, kết luận.
d. Phương pháp so sánh.
* Ví dụ: Khi giảng dạy “ Cấu tạo trong của thằn lằn” Khi so sánh bộ não của
lớp lưỡng cư (ếch) với bò sát (thằn lằn).
- Lớp 7A1: Tôi treo cả 2 tranh vẽ bộ não ếch và thằn lằn sau đó dùng câu
hỏi gợi mở, phương pháp nêu vấn đề thì kết quả: Trung bình trở lên: 33 em đạt
100%.
- Lớp 7A9: Không treo tranh mà tự bản thân mình thuyết trình về sự giống
nhau giữa não ếch và thằn lằn, rồi dùng tranh để củng cố bằng cách: treo cả hai
tranh bộ não ếch và thằn lằn thì kết quả: Trung bình trở lên: 27 em đạt 84.38%.
e. Phương pháp điều tra.
Sau khi dạy thử nghiệm một số bài, rồi so sánh giữa 2 lớp 7A1 và 7A9, kết quả
điều tra cho thấy chất lượng môn học được tăng lên rõ rệt.
4. K t qu , hi u qu mang l i. ế ả ệ ả ạ
K t qu n m h c 2012 – 2013:ế ả ă ọ T l trung bình tr lên: 65 em, đ t 100%ỉ ệ ở ạ
5. Đánh giá về phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến.
5.1. Đối với giáo viên: Hướng dẫn học sinh quan sát, nhận biết các kí hiệu
tranh vẽ; nắm được kiến thức cơ bản trên tranh vẽ bằng cách đặc các câu hỏi gợi
mở, gợi ý; Nắm vững nội dung kiến thức lý thuyết để chắt lọc kiến thức cần thiết
nhất cho học sinh ghi bài. Chuẩn bị đồ dùng dạy học thật tốt, rõ ràng mới có tính
thuyết phục.
5.2. Đối với học sinh: Đã thật sự hứng thú say mê học tập, nắm chắc bài
hơn.
6. Kiến nghị, đề xuất: Không.
Ý kiến xác nhận
của thủ trưởng đơn vị
TT Trần Văn Thời, ngày 16 tháng 5 năm 2013

Người báo cáo
Giang Hồng Liễu
9
10

×