Tải bản đầy đủ (.pdf) (5 trang)

Thực lục về cuộc đấu tranh chống ngoại xâm dưới thời quân Minh cai trị_7 pot

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (204.1 KB, 5 trang )

Thực lục về cuộc đấu tranh
chống ngoại xâm dưới thời
quân Minh cai trị




Ngày 22 tháng 9 năm Vĩnh Lạc thứ 7 [30/10/1409]

Tuần biển Quảng Ðông Phó Tổng binh Chỉ huy Lý Khuê tâu :
“ Thuyền giặc đến thôn Ngư Hồng, châu Khâm [Quảng Ðông] cướp phá
trăm họ, thiêu huỷ phòng ốc. Quan quân truy kích đến vùng biển huyện
Vạn Ninh, Giao Chỉ. Gặp hơn 20 chiếc thuyền giặc, quan quân đánh hăng ;
giặc bị giết cùng chết trôi không kể hết. Tịch thu 20 chiếc thuyền Ðằng Bộ,
bêu đầu giặc trên biển, giải tống đầu sỏ giặc bọn Phạm Nha, Nguyễn Biên
cùng người nhà trai gái về kinh đô.”
Mệnh pháp ty trị theo luật. (Minh Thực Lục v. 12, tr. 1275-1276; Thái Tông
q. 96, tr.5a-5b)
Lúc này trên đà chiến thắng, quân Minh lộ rõ bộ mặt gian ác. Mới 3 tháng
trước Mộc Thạnh cho Sứ giả đến tiếp xúc với vua Trùng Quang tại Thanh
Hoá, nay nhà vua cho Sứ giả Ðoàn Tự Thuỷ đến gặp thì Trương Phụ trở
mặt, giết Sứ giả rồi tiến quân :

Ngày 3 tháng 10 năm Vĩnh Lạc thứ 7 [9/11/1409]

Ngày hôm nay quan Tổng binh Giao Chỉ Anh quốc công Trương Phụ trú
binh tại Thanh Hoá. Lúc này tên cầm đầu giặc Trần Quí Khoách xưng càn
là cháu Vương trước, sai nguỵ quan Đoàn Tự Thuỷ mang thư đến quan
Tổng binh xin phong tước. Phụ nói rằng con cháu nhà Trần trước đây đã
bị giặc họ Lê giết hết rồi, đã cho tìm hỏi khắp nhưng không còn ai. Nay chỉ
phụng mệnh dẹp giặc, không biết điều gì khác; bèn đem Đoàn Tự Thuỷ


giết, rồi xua binh tiến thẳng. Sai Đô đốc Chu Vinh, Thái Phúc mang bộ binh
và kỵ binh đi trước, phụ mang quân đi thuyền tiếp tục. Trước đây tại các
cửa sông, cửa biển giặc đều đóng cọc ngăn, lại dùng đất đá làm chướng
ngại.Do đó Phụ điều quân từ sông Hoàng Giang, A Giang, cửa bể Đại An
đến Phúc Thành rồi từ sông đến cửa biển Thần Đầu, di chuyển đến đâu
đều phá chướng ngại vật tắc nghẽn, phải mất trên 10 ngày mới đến Thanh
Hoá. Quân bộ và thuỷ họp lại, bọn Giản Định phải chạy về Diễn Châu, Trần
Quí Khoách đến Nghệ An ; bọn giặc như Nguyễn Suý, Hồ Cụ, Đặng Cảnh
Dị đều chạy trốn ; bèn đóng quân tại Thanh Hoá để diệt hết tay chân đảng
giặc. (Minh Thực Lục v. 12, tr. 1281; Thái Tông q. 97, tr. 2a)

Ðại Việt Sử ký Toàn Thư (12) còn ghi thêm hành động dã man của Trương
Phụ như sau :
Phụ đi đến đâu, giết chóc rất nhiều, có nơi thây chất thành núi, có chỗ moi
ruột quấn vào cây, hoặc rán thịt lấy mỡ, hoặc nướng đốt làm trò, thậm chí
có đứa mổ bụng lấy thai, cắt lấy hai tai để nộp theo lệnh. Kinh lộ các nơi
lần lượt đầu hàng. Những dân còn sót lại bị bắt hết làm nô tỳ và bị đem
bán, tan tác khắp bốn phương cả.
Vua Giản Định tuy được vua mới Trùng Quang [Trần Quí Khoách] tôn làm
Thái Thượng hoàng, nhưng cũng không có thực quyền, rồi chẳng bao lâu
bị đạo quân của Trương Phụ tăng viện cho Mộc Thạnh, truy kích và bắt
sống. Sự việc được chép trong Minh Thực Lục như sau :

Ngày 10 tháng 11 năm Vĩnh Lạc thứ 7 [16/12/1409]

“ Quan Tổng binh Giao Chỉ Anh Quốc công Trương Phụ, chinh di Tướng
quân Kiềm quốc công Mộc Thạnh bắt được bọn giặc Giản Định. Lúc bấy
giờ Định tới sách Cự Lặc, rồi từ sách Địa đến trấn Thiên Quan tụ tập
chống trả. Thạnh mang binh từ Lỗi Giang hướng về sách Cự Lặc ; bọn Đô
đốc Chu Vinh, Đô Chỉ huy La Văn dùng lính đi thuyền theo sông Lỗi Giang

lên Ngưu Tỵ quan ; Trương Phụ điều bọn Đô đốc Chu Quảng, Đô Chỉ huy
Trần Hoài dùng bộ binh và kỵ binh từ Lỗi Giang lên sách Địa để kịp đến
trấn Thiên Quan. Giản Định lại từ sách Đông Hoàng hướng đến sách Đa
Bôi, quan quân đuổi tới huyện Mỹ Lương (13), sách Cát Lợi. Giản Định vừa
mới trú tại nhà dân, nhìn đằng xa thấy quan quân đến, bèn bỏ các vật như
ngựa, ấn tín, chạy trốn vào rừng. Quan quân lục soát không bắt được, bèn
vây chặt rừng, rồi bắt sống được Giản Định cùng các tướng giặc Trần Hy
Cát, Nguyễn Nhữ Lệ, Nguyễn Yến.” (Minh Thực Lục v.12,tr. 1290-1291;
Thái Tông q. 98, tr. 1b-2a)

Xét về sự thất bại của Giản Ðịnh Ðế, nguyên do bởi sự nghi kỵ và chia rẽ.
Trước kia Phạm Thế Căng tuy đã từng làm quan với nhà Minh, nhưng rồi
chống lại và tự xưng là Duệ Vũ Ðại vương tại phủ Tân Bình [tỉnh Quảng
Bình]. Nếu nhà vua không dung nạp hoặc liên minh được, thì nên bỏ qua
với kẻ cùng chí hướng chống quốc thù ; đằng này mang quân đánh dẹp,
tự làm suy yếu lực lượng chống đối giặc. Ðối với Nguyễn Cảnh Chân và
Ðặng Tất là những bậc công thần lập nhiều công lao, nhưng vì nghe lời
viên Hoạn quan Nguyễn Quỹ mật tâu rằng “ Nguyễn Cảnh Chân và Ðặng
Tất chuyên quyền bổ nhiệm quan và cách chức, nếu không tính sớm thì
sau khó kiềm chế ”. Vua cho gọi hai người đến, bóp cổ giết Tất. Chân chạy
lên bờ, lực sĩ đuổi theo chém chết. Việc làm của vua Giản Ðịnh đã kéo dài
thời gian hy sinh của đất nước gần 20 năm, mãi đến năm 1428 Bình định
vương Lê Lợi mới quét sạch được quân Minh ra khỏi bờ cõi. Bàn về sự
kiện này Sử thần Ngô Sĩ Liên có lời nói như sau :

“ Vua may thoát khỏi vòng vây hãm nguy hiểm, cầu người cứu giúp nạn
nước, được cha con Ðặng Tất có tài làm tướng, cha con Cảnh Chân giỏi
bày mưu lược, đủ để lập công khôi phục, dựng được nghiệp trung hưng.
Với trận thắng Bồ Cô, thế nước đã nổi. Thế mà nghe lời gièm pha ly gián
của bọn Hoạn quan, một lúc giết hại hai người bầy tôi phò tá, tự mình chặt

bỏ chân tay vây cánh của mình, thì làm sao nên việc được ! ” (14)

Năm Canh Dần [1410]


Sau khi bắt được vua Giản Ðịnh, Tổng binh Trương Phụ cùng Phó Tổng
binh Vương Hữu được lệnh mang quan quân trở về Bắc Kinh :

Ngày 28 tháng 12 năm Vĩnh Lạc thứ 7 [1/2/1410]

Triệu các quan Tổng binh Giao Chỉ Anh quốc công Trương Phụ, Phó tổng
binh Thanh viễn hầu Vương Hữu điều lãnh Đô đốc Chu Vinh, Thái Phúc,
Lâm Thiếp Mộc Nhi, cùng các quan quân đã đưa đi trở về Bắc Kinh. (Minh
Thực Lục v. 12, tr. 1300; Thái Tông q. 99, tr. 3b)
Trước khi rút quân về, Trương Phụ làm một trận càn lớn, đánh dẹp lực
lượng nổi dậy của Nguyễn Sư Cối tại châu Ðông Triều [Hải Phòng], chém
giết hơn 2000 tù binh. Phụ làm một việc tàn bạo mà văn minh con người
không cho phép, hành động này được sử Trung Quốc gọi là kinh quán
[, quan đọc là quán], tức chồng chất thây người thành đống lớn, rồi lấy
đất bùn phủ lên, để khoe khoang vũ công cùng răn đe quần chúng :

×