Tải bản đầy đủ (.doc) (58 trang)

Báo cáo tốt nghiệp: “Đề xuất phương án quy hoạch sử dụng đất cho xã Minh Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2011 – 2020” docx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (626.09 KB, 58 trang )

TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….

Báo cáo tốt nghiệp
Đề tài:
“Đề xuất phương án quy hoạch sử dụng đất
cho xã Minh Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh
Quảng Bình giai đoạn 2011 – 2020”
1
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
ĐẶT VẤN ĐỀ 4
Chương 1 7
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7
1.1. Trên thế giới 7
1.2. Ở Việt Nam 9
1.2.1. Một số chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước liên quan đến QHSDĐ cấp xã 9
1.2.2. Các quan điểm, nghiên cứu và thử nghiệm liên quan tới QHSDĐ cấp xã 10
Chương 2 14
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1. Mục tiêu nghiên cứu 14
2.1.1. Về lý luận 14
2.3. Nội dung nghiên cứu 14
2.3.1. Phân tích điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội 14
2.3.2. Đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất đai và tiềm năng đất đai của xã 15
2.3.3. Đề xuất phương án QHSDĐ và lập kế hoạch sử dụng đất của xã 15
2.3.4. Đánh giá hiệu quả của phương án quy hoạch 15
2.3.5 Các giải pháp tổ chức thực hiện phương án QHSDĐ 15
2.4. Phương pháp nghiên cứu 15
2.4.1. Phương pháp thu thập tài liệu 15
2.4.2. Phương pháp điều tra chuyên đề 16


2
2.4.3. Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu, dự báo và đánh giá hiệu quả sau khi thực
hiện quy hoạch 16
Chương 3 18
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 18
3.1. Điều kiện tự nhiên, KTXH xã Minh Hóa 18
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 18
3.1.1.1. Vị trí địa lý 18
3.1.2. Điều kiện KTXH của xã Minh Hóa 22
3.1.3. Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội 26
3.2. Đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất đai và tiềm năng đất đai 27
3.2.1. Tình hình quản lý đất đai 27
3.2.2. Hiện trạng sử dụng đất 27
3.2.3. Biến động và tiềm năng đất đai của xã Minh Hóa 32
3.3. Đề xuất phương án QHSDĐ cho xã Minh Hóa 35
3.3.1. Những căn cứ lập phương án 35
3.3.1.2.2. Định hướng phát triển các ngành kinh tế chủ yếu 37
a, Ngành nông lâm nghiệp 37
3.3.3. Dự báo nhu cầu sử dụng đất ở 38
3.3.4. Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 39
3.3.5. Phân kỳ quy hoạch và lập kế hoạch sử dụng đất đến năm 2020 43
3.4. Ước tính nhu cầu đầu tư và hiệu quả của phương án quy hoạch 46
3.4.3. Hiệu quả về mặt xã hội 49
3.4.4. Hiệu quả về mặt môi trường 50
3.5. Các giải pháp chủ yếu để thực hiện phương án 51
3.5.1. Giải pháp về cơ chế chính sách và tổ chức quản lý 51
3.5.2. Các giải pháp kỹ thuật cho đất sản xuất 52
3.5.3. Giải pháp về vốn đầu tư 52
3.5.4. Giải pháp về môi trường 53
Chương 4 54

KẾT LUẬN - TỒN TẠI - KIẾN NGHỊ 54
3
4.1. Kết luận 54
4.2. Tồn tại 54
4.3. Kiến nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất đai đóng vai trò quyết định đối với sự sinh tồn của con người. Đất đai
là điều kiện vật chất cần thiết cho sự tồn tại và tham gia vào hầu hết các quá trình
sản xuất vật chất của xã hội. Đất đai là một tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý
giá. Đất đai là môi trường sống của con người và cả sinh vật, là địa bàn phân bố
dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn hoá, an ninh quốc phòng… Đất đai
là tư liệu sản xuất đặc biệt và chủ yếu không thể thiếu của các ngành sản xuất,
nhất là ngành sản xuất Nông – Lâm nghiệp. Trong sản xuất Lâm nghiệp, đất đai
là tư liệu sản xuất chủ yếu, tính chất và độ màu mỡ của đất đóng vai trò quyết
định vào quá trình sản xuất và hình thành sản phẩm. Với sản xuất Lâm nghiệp,
đất không chỉ là cơ sở không gian, là điều kiện vật chất cần thiết mà còn là yếu tố
của sản xuất. Đất vừa là đối tượng vừa là tư liệu của sản xuất Lâm nghiệp. Vì vậy,
Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt trong sản xuất Lâm nghiệp và chỉ
có trong sản xuất Lâm nghiệp đất mới có được chức năng này.
Đất đai khác với các tư liệu sản xuất khác ở chổ nếu biết sử dụng thì không bao
giờ bị hao mòn mà lại tốt lên. Tuy nhiên, đất là nguồn nguyên liệu có giới hạn về số
lượng, cố định trong không gian. Do đó, việc quản lý sử dụng đất đai hợp lý có hiệu
quả bền vững đang là vấn đề qua tâm hàng đầu của mỗi địa phương, mọi quốc gia.
4
Trong những năm gần đây, việc thực hiện QHSDĐ có sự tham gia của người
dân bước đầu được áp dụng trên địa bàn Nông thôn miền núi nước ta. Từ đó người
dân có thể tự QHSDĐ của mình một cách hợp lý, hiệu quả và bền vững, bảo đảm
sự hài hòa giữa lợi ích kinh tế với lợi ích xã hội và môi trường sinh thái.
Tuy nhiên, có thể thấy QHSDĐ cụ thể cho cấp xã hiện nay đang còn

nhiều vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu để đi đến hình thành cơ sở lý luận và
thực tiễn của công tác này. Bởi vì, việc lập quy hoạch phải được tiến hành từ
trên xuống và sau đó bổ sung, hoàn chỉnh từ dưới lên. Đây là quá trình có mối
quan hệ ngược, trực tiếp và chặt chẽ giữa tổng thể và cụ thể, giữa vi mô và vĩ
mô trong một hệ thống chỉnh thể.
QHSDĐ cấp xã là một yêu cầu rất bức thiết cần được tiến hành định kỳ nhằm
phát huy vai trò chỉ đạo của nó đối với sản xuất Lâm nghiệp, làm cơ sở cho công tác
giao đất Lâm nghiệp cho các chủ thể quản lý sử dụng. Trong những năm qua, công
tác này tuy đã được thực hiện ở hầu hết các địa phương ở nước ta song vẫn còn
nhiều tồn tại nhất định. Việc đánh giá hiện trạng chưa thu hút được sự tham gia của
người dân và cộng đồng. Mục tiêu và nội dung của phương án quy hoạch thường
chưa quan tâm một cách thỏa đáng tới nhu cầu và nguyện vọng của người dân và các
cộng đồng nên vai trò chỉ đạo của các phương án quy hoạch còn nhiều hạn chế.
Minh Hóa là một huyện miền núi của tỉnh Quảng Bình, có tổng diện tích
tự nhiên là 141.006 ha. Trong đó có 131.335,9 ha đất đồi núi (chiếm hơn 93%
diện tích toàn huyện). Đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn
[1]
.
Xã Minh Hóa là một trong 16 xã, thị trấn của huyện Minh Hóa. Từ năm 2002
việc thông tuyến đường Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho giao thông trở nên tương đối
thuận lợi. Đặc biệt, trong năm 2010 trục đường chính vào trung tâm xã, các tuyến
đường liên thôn cũng như các tuyến đường ngõ trong thôn đã được bê tông hóa hoàn
toàn. Tổng diện tích tự nhiên của xã là 3.396 ha với 3.476 nhân khẩu trong 773 hộ được
phân bố ở 9 thôn
[2]
. Do việc QHSDĐ chưa được thực hiện cụ thể rõ ràng nên việc phân
bổ đất đai cho các ngành, các thành phần quản lý, thực hiện giao đất Lâm nghiệp cho
các hộ gia đình, chuyển đổi mục đích sử dụng đất vẫn còn lúng túng. Hệ thống canh tác
của người dân còn lạc hậu, kiến thức về việc sử dụng đất đúng mục đích đúng kỹ thuật
5

vẫn còn mờ ảo nên đất dễ bị thoái hóa và xói mòn ngày càng tăng, người dân thiếu vốn
sản xuất, khoa học kỹ thuật lạc hậu về mọi mặt, thiếu kiến thức,… Hướng giải quyết
hiện nay là giúp xã Quy hoạch lại đất đai, lập kế hoạch phát triển sản xuất nông lâm
nghiệp, phân tích đề xuất cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp, đồng thời đảm bảo chính
sách pháp luật mới của Nhà nước về đất đai, đảm bảo QHSDĐ là hệ thống các biện
pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của Nhà nước về tổ chức sử dụng đất đầy đủ.
Xuất phát từ thực tiễn và nhận thức trên thấy rõ tính cấp thiết của việc
QHSDĐ hợp lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế của địa phương
nên tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Đề xuất phương án quy hoạch sử dụng đất cho xã
Minh Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2011 – 2020”.
6
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Trên thế giới
Từ thế kỷ XIX loài người đã bắt đầu nghiên cứu về đất. Kết quả của những
công trình nghiên cứu về phân loại xây dựng bản đồ và quản lý đất đai đã làm cơ sở
quan trọng cho việc quản lý và sử dụng đất đai, tăng năng suất trong SXLN
Từ những năm 1967, nhiều hội nghị về phát triển nông thôn và Quy hoạch
sử dụng đất đã được hội đồng nông nghiệp Châu Âu phối hợp với FAO tổ chức.
Các hội nghị đều khẳng định rằng quy hoạch các ngành sản xuất nông nghiệp,
lâm nghiệp, chăn nuôi, chế biến loại nhỏ,… phải dựa trên cơ sở quy hoạch đất
đai. Năm 1975, Wink đã phân 6 nhóm chính về dữ liệu của tài nguyên cần thu
thập cho Quy hoạch sử dụng đất như: khí hậu, độ dốc, địa mạo, thổ nhưỡng,
thủy văn đất, tài nguyên nhân tạo như hệ thống tưới tiêu, thảm thực vật
[3].
Năm 1988, Dent và nhiều tác giả khác đã nghiên cứu về quy trình quy
hoạch. Ông khái quát QHSDĐ trên 3 cấp và mối quan hệ của các cấp khác nhau:
Kế hoạch sử dụng đất cấp Quốc gia, cấp vùng (tỉnh, huyện), cấp cộng đồng (xã,
thôn)
[4]

. Ông còn đề xuất trình tự quy hoạch (gồm 4 giai đoạn và 10 bước).
FAO đã đề xuất phương pháp trong nghiên cứu đánh giá đất đai và sử
dụng đất trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên, kinh tế xã hội và có tính
đến hiệu quả của các loại hình sử dụng đất. Quá trình đánh giá đất đai cua FAO
cơ bản gồm các bước: Xác định mục tiêu, thu thập số liệu, tài liệu liên quan, xác
định loại hình sử dụng đất, xác định và xây dựng bản đồ đất, đánh giá mức độ
thích hợp của loài hình sử dụng đất, xem xét tác động môi trường tự nhiên, kinh
tế xã hội, xác định loại hình sử dụng đất thích hợp.
Nhìn hướng dẫn trên khá đầy đủ, chặt chẽ, dễ vận dụng và được nhiều
quốc gia thử nghiệm và thừa nhận là phương tiện tốt để đánh giá tiềm năng đất
đai làm cơ sở cho QHSDĐ các cấp.
Đặc thù của sản xuất lâm nghiệp là trồng trọt và chăn nuôi, vì thế nông
lâm nghiệp còn được định nghĩa một cách khác là sinh học áp dụng cho việc
7
trồng trọt và chăn nuôi. Trong đó có trồng trọt với mục tiêu sản xuất sản phẩm
từ cây trồng là sản phẩm sơ cấp bao giờ cũng được xếp vị trí đầu tiên.
Theo viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) hệ thống canh tác là “Một tập
hợp các chức năng riêng biệt là: hoạt động trồng trọt, chăn nuôi và tiếp thị”
(1980). Hoặc là “Hình thức tập hợp của một đặc thù các tài nguyên trong nông
trại ở một môi trường nhất định, bằng những phương pháp công nghệ sản xuất ra
những sản phẩm nông nghiệp sơ cấp” (1989).
Năm 1988, ở Kenya văn phòng môi trường quốc gia hợp tác với đại học
Clack thực hiện RRA ở Mbusayi, một cộng đồng ở huyện Machkos. Một kế hoạch
quản lý tài nguyên cấp thôn, bản được xây dựng vào tháng 9/1988. Sau đó người ta
mô tả RRA này như là một PRA và đưa ra phương pháp trong 2 cuốn sổ tay hướng
dẫn. Ở Ấn Độ, chương trình hoạt động phát triển nông thôn Aga Khan bắt đầu sử
dụng PRA. Như vậy, PRA được hình thành từ năm 1988 cùng với RRA.
QHSDĐ có sự tham gia của người dân được đừ cập khá đầy đủ và toàn
diện trong tài liệu hội thảo VFC – TV Dresden, 1998 của Dr. Habil Holm
Uibring Associate selection concerus for Vietnam. Tác giả đã đề cập tới

[5]
: Quy
hoạch rừng những nhận xét về PTNT, QHSDĐ, phân cấp hạng đất, phương pháp
tiếp cận mới trong QHSDĐ.
Cũng trong chương trình hội thảo quốc tế tại Việt Nam (1998) – Tài liệu
hội thảo về QHSDĐ (Land use planing at village level) của FAO đã đề cập một
cách chi tiết khái niệm sự tham gia và đề xuất các chiến lược QHSDĐ và giao
đất. Về cơ bản chiến lược nêu lên
[6]
:
- Sự tham gia của người dân trong những hoạt động thự thi QHSDĐ và
giao đất: đào tạo cán bộ, và chuẩn bị, hội nghị làng và chuẩn bị.
- Điều tra ranh giới làng, khoanh vẽ đất đang sử dụng, điều tra rừng và
xây dựng bản đồ sử dụng đất.
- Thu thập số liệu và phân tích.
- QHSDĐ và giao đất
- Xác định đất canh tác nông nghiệp.
8
- Sự tham gia của người dân trong hợp đồng (khế ước) và chuyển đất
nông lâm nghiệp.
- Mở rộng quản lý và sử dụng đất.
- Kiểm tra và đánh giá
Những tài liệu hướng dẫn trên là phương tiện tốt để tiến hành QHSDĐ
cho cấp xã theo phương pháp cùng tham gia.
1.2. Ở Việt Nam
1.2.1. Một số chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước liên quan đến
QHSDĐ cấp xã.
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 nêu rõ
“Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm
bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Nhà nước giao cho các tổ chức, hộ gia

đình và cá nhân sử dụng ổn định và lâu dài” (Điều 18)
[7]
. Luật đất đai năm 2003
quy định rõ 3 nhóm đất, trong đó nhóm đất nông nghiệp gồm 8 loại đất, nhóm đất
phi nông nghiệp gồm 10 loại đất và nhóm đất chưa sử dụng. Luật cũng đã quy định
cụ thể các quyền và trách nhiệm của người sử dụng. Tùy theo từng loại đất và mục
đích sử dụng mà được giao cho tổ chức, cá nhân quản lý và sử dụng. Theo luật đất
đai thì quy hoạch và kế hoạch việc sử dụng đất đai là một trong 8 nội dung quyền
của Nhà nước đối với đất đai và quản lý nhà nước về đất đai
[8]
. Luật đất đai là cơ sở
pháp lý cơ bản nhất cho QHSDĐ nông lâm nghiệp. Luật bảo vệ và phát triển rừng
năm 2004 phân định rõ 3 loại rừng làm cơ sở cho Quy hoạch Lâm nghiệp.
Tính thống nhất cao giữa 2 luật Luật đất đai và Luật bảo vệ và phát triển
rừng trong Quy hoạch và giao đất nông lâm nghiệp là xác định rõ vai trò của địa
phương, đặc biệt là cấp xã trong quy hoạch và giao đất giao rừng
[8],[9]
. Trong
nghị đinh 64/CP, điều 15 có nêu một số quyền hạn của cấp xã trong sử dụng đất
công ích
[10]
. Trong văn bản quan trọng nhất về giao đất Lâm Nghiệp là nghị định
02/CP của Chính phủ được thay bằng nghị định 163/1999/NĐ - CP ra ngày
01/11/1999 về giao đất, cho thuê đất Lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá
nhân sử dụng ổn định và lâu dài vào mục đích Lâm nghiệp có một số điều nói
tới nhiệm vụ và quyền hạn cấp xã trong Quy hoạch và giao đất giao rừng
[11]
.
9
Nghị định 01/CP về giao khoán đất Lâm nghiệp xác định rõ vai trò cấp xã như là

cơ quan nhà nước chứng nhận để các hộ nông dân được nhận khoán đất (điều 3,
mục 3)
[12]
. Điều 6 Quyết định số 245/1998/QĐ - TT ngày 21/12/1988 của Thủ
tướng Chính phủ về thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất LN
đã quy định rõ
[13]
trách nhiệm quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp của
UBND cấp xã, phường, thị trấn. Mặc dù các văn bản pháp quy chưa quy định rõ
quyền hạn đầy đủ của cấp xã trong QHSDĐ nông lâm nghiệp, nhưng cũng đã
nêu rõ một số điểm quan trọng trong QHSDĐ cấp xã đó là:
Để tiến hành quy hoạch sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi và
đồng cỏ, cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất và đời sống, trên địa bàn xã phải làm
rõ các loại đất trong nhóm đất nông nghiệp như: Về loại đất nông nghiệp phải làm
rõ đất trồng cây hằng năm, đất trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp; các loại đất trong
nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đât chưa sử dụng. Về loại đất lâm nghiệp phải
làm rõ 3 loại đấ rừng: đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ và đất rừng đặc dụng.
UBND xã tổ chức QHSDĐ của địa phương, thông qua HĐND và trình cơ quan có
thẩm quyền phê duyệt. Trên cơ sở QHSDĐ được phê duyệt UBND xã tổ chức
cùng nông dân trong xã tiến hành quy hoạch để lập kế hoạch xây dựng các dự án
phát triển của xã theo từng lĩnh vực. Ban Nông lâm – Địa chính của xã có trách
nhiệm phối hợp với các cơ quan để quy hoạch và lập kế hoạch sử dụng đất, Quy
hoạch và lập kế hoạch xây dựng các dự án phát triển cấp xã.
Có thể nói, các văn bản chính sách của Nhà nước đề cập không nhiều đến
QHSDĐ nông lâm nghiệp cấp xã nhưng quan điểm của Đảng và Nhà nước về
QHSDĐ nông lâm nghiệp tương đối rõ ràng. Như vậy, Đảng và Nhà nước đã
chú trọng đến QHSDĐ nông lâm nghiệp cấp địa phương và coi QHSDĐ là nền
tảng cho các quy hoạch khác đồng thời là cơ sở cho giao đất, lập kế hoạch sử
dụng đất, xây dựng các dự án phát triển.
1.2.2. Các quan điểm, nghiên cứu và thử nghiệm liên quan tới QHSDĐ cấp xã.

Reichnberg (1992)
[14]
và các nhà nghiên cứu trong nước đều cho rằng Việt
Nam chưa có QHSDĐ. Quy hoạch nông nghiệp và lâm nghiệp cấp vĩ mô được
10
xây dựng trên cơ sở xem xét mọi khía cạnh của tất cả các ngành trong tương lai.
Vì vậy, việc tiến hành quy hoạch nông lâm nghiệp còn thiếu cơ sở thực hiện.
Reichnberg năm 1992, sau khi khảo sát 5 tỉnh trung tâm miền núi phía
Bắc cho rằng Quy hoạch vi mô ở Việt Nam nên được nghiên cứu để phát triển
khái niệm quy hoạch cấp xã trên 4 khía cạnh
[14]
bao gồm: phủ toàn bộ đất đai cấp
xã, nghĩa là Quy hoạch nông lâm nghiệp dựa trên QHSDĐ trên toàn bộ diện tích
hành chính trong xã, phối hợp các kế hoạch và các hoạt động giữa các cơ quan
Nhà nước, nghĩa là khi quy hoạch phải đề cập đến quy hoạch của các ngành do
cơ quan quản lý Nhà nước quản lý, QHSDĐ phục vụ cho giao đất và cấp giấy
chứng nhận để sử dụng đất tốt hơn, tạo điều kiện cho cộng đồng tiến hành Quy
hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, cơ sở hạ tầng;
chuẩn bị và phê duyệt quy hoạch đất theo đúng luật định.
Nghiên cứu và thí điểm đầu tiên về QHSDĐ và giao đất lâm nghiệp cấp xã
được thực hiện tại xã Tử Nê huyên Tân Lạc và xã Hang Kia, Pà Cò huyện Mai
Châu tỉnh Hòa Bình do dự án đổi mới chiến lược phát triển lâm nghiệp được thực
hiện từ năm 1993. Theo ông Nguyễn Văn Tuấn và Vũ Văn Mễ (1996), QHSDĐ
được coi là một nội dung chính và được thực hiện khi giao đất trên cơ sở tôn trọng
tập quán nương rẫy cố định, lấy xã làm đơn vị để lập kế hoạch và giao đất có sự
tham gia tích cực của người dân, già làng, trưởng bản, chính quyền xã
[15]
… Bản
đánh giá về trường hợp Tử Nê cho thấy càn có một kế hoạch sử dụng đất chi tiết
hơn thì mới đáp ứng được yêu cầu, tránh được các mâu thuẫn của cộng đồng phát

sinh sau quy hoạch, cần có sự điều chỉnh và thời sự hóa kế hoạch.
Chương trình phát triển nông thôn miền núi giai đoạn 1996 – 2000 trên
phạm vi 5 tỉnh: Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái và Phú Thọ đã tiến
hành thử nghiệm quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp cấp xã trên cơ sở xây
dựng kế hoạch phát triển cấp thôn và hộ gia đình. Theo Bùi Đình Toái và
Nguyễn Hải Nam năm 1998, tỉnh Lào Cai đã xây dựng mô hình sử dụng PRA để
tiến hành QHSDĐ, tỉnh Hà Giang đã xây dựng và lập kế hoạch sử dụng đất 3
cấp: xã, thôn và HGĐ. Đến năm 1998, trên toàn vùng dự án có 76 thôn bản được
QHSDĐ theo phương pháp cùng tham gia. Phương pháp QHSDĐ dựa trên công
11
cụ PRA, căn cứ vào nhu cầu và nguyện vọng của người sử dụng đất, với cách
tiếp cận từ dưới lên tạo ra kế hoạch có tính khả thi cao hơn
[16]
. Tuy nhiên một số
mâu thuẫn giữa nhu cầu của cộng đồng và định hướng của Nhà nước và kế
hoạch của tỉnh, huyện cũng đã bộc lộ. Vấn đề này cũng được xuất hiện ở Yên
Châu tỉnh Sơn La. Vấn đề nghiên cứu ở đây là phương pháp QHSDĐ địa
phương sao cho phù hợp với chính sách về đất đai của Chính phủ và kết hợp hài
hòa với nhu cầu của cộng đồng.
Từ kết quả thử nghiệm ở Quảng Ninh, Thừa Thiên Huế, Gia Lai và Sông
Bé , Vũ Văn Mễ cho rằng quy hoạch cấp xã phải dựa trên tình trạng sử dụng đất
hiện tại, tiềm năng sản xuất của đất, các quy định của Nhà nước và nhu cầu
nguyện vọng của người dân,… xem xét mọi vấn đề liên quan đến đất đai và sử
dụng tài nguyên
[15]
. Cách tiếp cận này phù hợp với xu thế chung hiện nay về áp
dụng các phương pháp quy hoạch tổng hợp.
Trên cơ sở tổng kết các kinh nghiệm, năm 1996 cục kiểm lâm cho ra tài
liệu hướng dẫn “Nội dung trình tự tiến hành giao đất lâm nghiệp trên địa bàn
xã”

[17]
. Những yêu cầu về chuyên môn và phương pháp trong hướng dẫn này còn
mang nhiều phương pháp điều tra truyền thống, phù hợp với điều tra rừng trước
đây. Bản hướng dẫn này nên hoàn thiện ở những nguyên tắc và các phương pháp
cơ bản. Không nên hướng dẫn chi tiết dẫn đến ngộ sự nhận rằng việc QHSDĐ
nông lâm nghiêp cấp địa phương theo một chu trình cứng.
Trong khuôn khổ của chương trình hợp tác kỹ thuật Việt – Đức, dự án
phát triển Lâm nghiệp xã hội Sông Đà đã nghiên cứu và thử nghiệm phương
pháp QHSDĐ và Giao đất lâm nghiệp tại hai xã của hai huyện Yên Châu (Sơn
La) và Tủa Chùa (Lai Châu) trên cơ sở hướng dẫn của cục kiểm lâm. Với cách
làm 6 bước và lấy cấp thôn bản làm đơn vị chính để quy hoạch. Giao đất Lâm
nghiêp và áp dụng cách tiếp cận LNXH đối với cộng đồng dân tộc vùng cao có
thể là kinh nghiệm tốt. Sự khác biệt ở đây là lấy cấp thôn bản làm đảm bảo quy
hoạch phù hợp với kết quả nghiên cứu xã hội và cộng đồng của Donovan và
nhiều người khác năm 1997
[18]
ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam.
12
Qua tổng kết và phân tích các nghiên cứu thử nghiệm có liên quan đến
QHSDĐ nông lâm nghiệp ở Việt Nam có thể rút ra một số kết luận cho nghiên
cứu như sau:
- Hiện tại Việt Nam chưa có nghiên cứu đầy đủ về QHSDĐ nông lâm
nghiệp cấp xã. Những thử nghiệm về QHSDĐ nông lâm nghiêp cấp địa phương
chưa được tổng kết, đánh giá và phát triển thành phương pháp luận.
- Phương pháp QHSDĐ cấp xã đang còn lúng túng, nhiều điểm chưa rõ và
được vận dụng một cách khác nhau ở các chương trình, dự án và các địa
phương. Phương pháp quy hoạch có sự tham gia của người dân trong QHSDĐ
cấp vi mô đang được vận dụng và đạt được một số thành công nhưng hiệu quả
quy hoạch chưa được khẳng định.
- Cơ sở khoa học cho QHSDĐ cấp xã chưa rõ ràng. Mặt khác, thực tiễn về

quy hoạch này chưa có tổng kết và đánh giá. Vì vậy, nhiều vấn đề đang đặt ra là
cần tiếp tục nghiên cứu đặc biệt là mối quan hệ giữa tổng thể và cụ thể, giữa vĩ
mô và vi mô trong QHSDĐ cấp xã.
13
Chương 2
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1. Về lý luận
Góp phần xây dựng cơ sở khoa học và phương pháp luận cho việc đề xuất
các giải pháp quy hoạch sử dụng đất nông lâm nghiệp bền vững.
2.1.2. Về thực tiễn
Đề xuất phương án quy hoạch sử dụng đất nông lâm nghiệp theo hướng
bền vững tại Xã Minh Hóa, huyện Minh Hóa, Tỉnh Quảng Bình.
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các văn bản pháp quy của nhà nước về đất đai,
chính sách bảo vệ và phát triển rừng; điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế xã hội
và nhân văn của xã; các cơ chế chính sách đã và đang áp dụng ảnh hưởng đến
quy hoạch sử dụng đất nông lâm nghiệp; một số mô hình sử dụng đất tại Xã
Minh Hóa, huyện Minh Hóa, Tỉnh Quảng Bình. Trong đó tập trung nghiên cứu
sâu về đất nông lâm nghiệp.
- Phạm vi nghiên cứu: Xã Minh Hóa, huyện minh Hóa, Tỉnh Quảng Bình.
2.3. Nội dung nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu đề ra, đề tài cần tiến hành nghiên cứu những
nội dung chính sau:
2.3.1. Phân tích điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội.
- Phân tích điều kiện tự nhiên, tài nguyên môi trường như: vị trí địa lý, địa
hình địa mạo, khí hậu thủy văn, các nguồn tài nguyên, cảnh quan môi trường.
- Thực trạng phát triển kinh tế xã hội: Thực trạng phát triển kinh tế xã hội
các ngành, dân số lao động, việc làm, thực trạng phát triển các khu dân cư, thực

trạng phát triển cơ sở hạ tầng.
14
2.3.2. Đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất đai và tiềm năng đất đai của xã.
- Tình hình đất đai: Đánh giá công tác quản lý nhà nước đất đai sau khi ban
hành luật đất đai đến nay, những mặt làm được và những mặt chưa làm được
- Hiện trạng sử dụng đất: Hiện trạng sử dụng các loại đất (nông nghiệp,
lâm nghiệp, đất khu dân cư nông thôn, đất chuyên dùng đất chưa sử dụng), từ đó
rút ra những luận định, kết luận về tính hợp lý, chưa hợp lý trong sử dụng đất.
- Biến động và tiềm năng đất đai: Căn cứ vào tình hình biến động quỹ đất qua
các năm 2005 – 2010, nhận xét sự biến động, từ đó đưa ra đánh giá nhu cầu sử dụng
đất và đánh giá tiềm năng các loại đất làm cơ sở cho việc đưa ra phương án QHSDĐ.
2.3.3. Đề xuất phương án QHSDĐ và lập kế hoạch sử dụng đất của xã.
- Xây dựng phương án QHSDĐ
+ Căn cứ pháp lý để xây dựng phương án QHSDĐ
+ Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020
+ Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020
+ Định hướng phát triển các ngành chủ yếu.
- Quy hoạch đất đai cho các mục đích khác nhau
+ Quy hoạch đất nông nghiệp
+ Quy hoạch đất phi nông nghiệp
+ Quy hoạch đất chưa sử dụng
2.3.4. Đánh giá hiệu quả của phương án quy hoạch
Đánh giá hiệu quả của phương án quy hoạch dựa trên kết quả tính toán về
mặt kinh tế cho một số cây trồng chính, hiệu quả xã hội, môi trường của phương
án trong quá trình triển khai thực hiện.
2.3.5 Các giải pháp tổ chức thực hiện phương án QHSDĐ
Các giải pháp về cơ chế chính sách, quản lý và chỉ đạo, vốn đầu tư, giống
và tiến bộ kỹ thuật, thu hồi và chuyển đổi đất.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp thu thập tài liệu.

Thu thập tài liệu đã có tại địa phương kết hợp với khảo sát thực địa để
thực hiện các nội dung nghiên cứu:
15
- Tài liệu về điều kiện tự nhiên
+ Vị trí địa lý
+ Địa hình địa thế
+ Khí tượng, thủy văn
+ Đất đai, thổ nhưỡng
+ Các nguồn tài nguyên
- Tài liệu về dân sinh kinh tế
+ Dân tộc, dân số và lao động
+ Tình hình sản xuất nông, lâm, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
+ Tình hình về phát triển cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm và các
công trình phục vụ khác)
2.4.2. Phương pháp điều tra chuyên đề
Sử dụng phương pháp điều tra chuyên đề đất và lập đia bằng phương
pháp điều tra trên ô điển hình để thu thập bổ sung số liệu cần thiết hoặc kiểm
chứng, chọn lọc các tài liệu, số liệu hiện có.
2.4.3. Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu, dự báo và đánh giá hiệu
quả sau khi thực hiện quy hoạch
2.4.3.1. Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu, số liệu.
Trên cơ sở tài liệu số liệu đã khảo sát ở các bước thu thập, tiến hành biên
tập, tổng hợp và phân tích.
2.4.3.2. Phương pháp phân tích dự báo
Trên cơ sở các kết quả thống kê, tổng hợp và phân tích được tiến hành
phân tích dự báo:
- Sự phát triển, sự biến động của các nhu cầu có liên quan đến mặt bằng
sử dụng đất tương lai.
- Đề xuất các giải pháp để đáp ứng các nhu cầu sử dụng đất nói chung và
đất sản xuất nông nghiệp trong tương lai.

2.4.3.3. Phương pháp công thức tính để đánh giá hiệu quả sau khi thực hiện
quy hoạch.
- Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu, tài liệu
16
Trên cơ sở tài liệu, số liệu đã khảo sát ở các bước thu thập, tiến hành
chỉnh lý, tổng hợp và phân tích các mặt:
+ Các biểu mẫu thống kê số liệu hiện trạng sử dụng đất, phân loại cây
trồng vật nuôi.
+ Diễn biến tài nguyên rừng, kinh tế hộ gia đình.
+ Rút ra những khó khăn thuận lợi.
- Phương pháp phân tích dự báo
Trên cơ sở kết quả tài liệu, số liệu đã được tổng hợp, phân tích, tiến hành
phân tích dự báo:
+ Sự phát triển, sự biến động của các nhu cầu có liên quan đến mặt bằng
sử dụng đất tương lai.
+ Đề xuất các giải pháp để đáp ứng các nhu cầu sử dụng đất nói chung và
đất sản xuất nông lâm nghiệp trong tương lai.
- Phương pháp công thức tính để đánh giá hiệu quả sau khi thực hiện
quy hoạch.
17
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Điều kiện tự nhiên, KTXH xã Minh Hóa
3.1.1. Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1. Vị trí địa lý
Minh Hóa là một xã miền núi nằm ở phía Đông Nam và cách trung tâm
huyện lỵ huyện Minh Hóa khoảng 7km, có vị trí địa lý như sau:
Tọa độ địa lý: Từ 17
0
30’30’’ đến 17

0
50’30’’ vĩ độ Bắc 160
0
05’17’’ đến
160
0
15’27’’ độ kinh Đông, có đường ranh giới và tiếp giáp:
+ Phía Bắc giáp xã Yên Hóa huyện Minh Hóa
+ Phía Đông giáp xã Tân Hóa huyện Minh Hóa
+ Phía Nam giáp xã Trung Hóa huyện Minh Hóa
+ Phía Tây giáp xã Quy Hóa huyện Minh Hóa
Tổng diện tích tự nhiên của xã là: 3.406,24 ha
3.1.1.2. Địa hình
Xã Minh Hóa có địa hình đồi núi, bị chia cắt bởi nhiều khe suối cạn thuộc
lưu vực sông Rào Nậy. Phần lớn khu dân cư và đất sản xuất nằm giữa các thung
lũng được bao quanh bởi các dãy núi đá cao, núi đất trung bình ở phía Bắc và
phía Nam. Địa hình rộng, nghiêng dần về giữa. Các khu dân cư, đất cho SXNLN
manh mún độc lập cách xa nhau dẫn đến việc đi lại, sản xuất, quản lý xã hội gặp
nhiều khó khăn. Trên phạm vi lãnh thổ xã Minh Hóa có các kiểu địa hình sau:
- Kiểu địa hình núi thấp: 1.255 ha chiểm 36,96%
- Kiểu địa hình núi đá vôi: 316 ha chiếm 9,30%
- Kiểu địa hình đồi thoải: 1.083 ha chiếm 31,89%
- Kiểu địa hình thung lũng: 742 ha chiếm 21,85%
3.1.1.3. Thổ nhưỡng
Do đặc điểm kiến tạo địa chất, về thổ nhưỡng có các loại đất chính sau:
- Đất feralit đỏ vàng phát triển trên đá phiến thạch phân bố trên các vùng đồi
thấp đến trung bình. Đất có thành phần cơ giới thịt nặng, tầng đất khá dày (35 - 50
18
cm), đất tốt, không hoặc có độ đá lẫn rất thấp. Loại đất này có khả năng trồng các
loại cây như ngô, lạc, sắn, đậu các loại, cao su và các loại cây công nghiệp khác.

- Đất đỏ vàng phát triển trên đá Macma acid có thành phần cơ giới thịt
nhẹ, tầng đất mỏng (15 – 30 cm), kết cấu viên khô, khá cằn cỗi do bị rửa trôi,
bạc màu tập trung chủ yếu ở các đồi thấp.
- Đất feralit vàng nhạt phát triển trên đá sa thạch phân bố xen kẽ ở các
vùng đồi thấp. Đất có độ dày trung bình (30 – 40 cm), có đá lẫn phù hợp cho
trồng cây ăn quả và cây công nghiệp lâu năm.
- Đất feralit biến đổi do trồng lúa là đất phù sa cổ không được bồi đắp do quá
trình canh tác lúa nước đã hình thành tầng glây. Loại đất này phân bố tương đối tập
trung ở những vùng đất thấp có độ màu mỡ trung bình thích hợp cho việc trồng lúa
nước khi có điều kiện tưới tiêu hợp lý hoặc trồng rau màu, lạc, đậu, đỗ các loại.
- Đất phù sa sông suối được bồi tụ hàng năm tập trung ở những thung
lũng thấp, các triều bãi ven khe suối. Đất này có tầng đất sâu (trên 50 cm).
Thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt nhẹ giàu chất dinh dưỡng rất phù hợp cho
trồng lúa, ngô, lạc.
Trong những năm qua, do việc sử dụng đất chưa khoa học và hợp lý, địa
hình có độ dốc lớn đã làm cho một phần đất canh tác bị xói mòn, rửa trôi và có
biểu hiện suy thoái.
3.1.1.4. Khí hậu
Xã Minh hóa thuộc vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa. Do chịu ảnh
hưởng của dãy Trường Sơn nên khí hậu nhiệt đới gió mùa. Do chịu ảnh hưởng
của dãy Trường Sơn nên khí hậu của xã mang tính chất vùng cao Đông Trường
Sơn và được chia thành hai mùa rõ rệt:
- Mùa khô từ tháng 4 đến tháng 8 hằng năm
- Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau.
+ Lượng mưa trung bình hằng năm là 2.330 mm
+ Lượng mưa lớn nhất là 2.800 mm
+ Lượng mưa nhỏ nhất là 1.600 mm
19
Lượng mưa phân bố không dều trong năm. Mưa lớn tập trung vào các
tháng 9, 10, 11 chiếm 65 – 75% tổng lượng mưa cả năm.

Nhiệt độ trung bình hằng năm từ 23
0
C – 25
0
C
Trong đó: Trung bình thấp nhất là 17
0
C tập trung từ tháng 11 đến tháng 2
năm sau; trung bình cao nhất là 29
0
C tập trung vào các tháng 5, 6, 7.
+ Độ ẩm trung bình không khí hằng năm là 80%
+ Tổng giờ nắng trung bình hằng năm là 1.689 giờ
+ Mức thoát hơi nước trung bình là 965 mm/giờ
Chế độ gió có sự thay đổi theo mùa rõ rệt. Hướng gió chiếm ưu thế là
hướng Tây Nam. Các tháng mùa đông xuất hiện gió mùa Đông Bắc. Về mùa hè
có gió Tây nam khô nóng.
Cũng như nhiệt độ không khí, nhiệt độ mặt đất các mùa đông cũng thấp
và đều nhỏ hơn 20
0
C trong khi đó mùa hè lại cao hơn 31
0
C.
Số ngày mưa trong năm khá lớn, lượng mưa đủ cung cấp nước cho cây
trồng. Tuy nhiên lượng mưa phân bố không đồng đều trong năm nên gây không
ít khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt.
3.1.1.5. Thuỷ văn
Xã Minh Hoá thuộc lưu vực đầu sông Rào Nậy
Theo hướng của địa hình, các khe, suối từ phía Bắc, phía Nam chảy dồn
về trung tâm xã, theo sông Rào Nậy chảy về hướng Tây rồi Tây Bắc tạo điều

kiện để xây dựng các công trình thuỷ lợi như khe nước Sạt, hồ Eo Hụ, hồ Khe
Cái,… luôn đảm bảo nước sinh hoạt và sản xuất.
3.1.1.6. Tài nguyên
- Tài nguyên Đất
Xã Minh Hoá có diện tích tự nhiên là 3.406,24 ha
Diện tích đất đã được sử dụng vào các mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp,
nuôi trồng thuỷ sản là 2.335,96 ha chiếm 68,6% tổng diện tích tự nhiên. Trong đó:
Đất sản xuất nông nghiệp 359,10 ha chiếm 10,5% Tổng diện tích tự nhiên
(bao gồm đất trồng cây hằng năm và đất trồng cây lâu năm); đất lâm nghiệp
20
1.975,94 ha, chiếm 82% đất tự nhiên (gồm đất có rừng trồng và rừng tự nhiên);
đất mặt nước đang nuôi trồng thuỷ sản là 0,92 ha
Đất đã được sử dụng vào các mục đích phi nông nghiệp là 286,52 ha,
chiếm 8,4 % tổng diện tích đất tự nhiên.
Đất chưa sử dụng 783,76 ha chiếm 23% tổng diện tích tự nhiên gồm đất
bằng chưa sử dụng là 126,08 ha; đất đồi núi chưa sử dụng là 123,97 ha.
- Tài nguyên nước
+ Nước mặt: Theo kết quả điều tra năm 2010 thì diện tích mặt nước của
xã la 192,28 ha trong đó chủ yếu là các hồ đập thủy lợi hiện đang sử dụng. Nhìn
chung với điều kiện địa hình, khí hậu, thủy văn của xã nếu là tốt công tác thủy
lợi thì sẽ đủ nước cho sản xuất và sinh hoạt.
+ Nước ngầm: Hiện chưa có số liệu chính xác về tài nguyên nước ngầm
nhưng hiện tại xã Minh Hóa có số hộ gia đình có giếng nước chiếm hơn 80%.
Qua khảo sát thực tế thì các giếng đào ở đây có độ sâu từ 5 – 8 m và phần lớn là
mạch nước ngang nên chưa đảm bảo vệ sinh cho sinh hoạt.
- Thảm thực vật tự nhiên
Với 1.975,94 ha rừng bao gồm 276 ha rừng phòng hộ và 1.599,94 ha rừng
trồng, xã Minh hóa có thảm thực vật tự nhiên phong phú và đa dạng, rừng có độ
che phủ khá lớn (45,6%).
+ Rừng tự nhiên của xã chủ yếu là kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa

nhiệt đới và rừng thường xanh trên núi đá vôi. Phân theo tiêu chuẩn kiểm kê
rừng năm 1999 thì hiện trạng rừng của xã gồm có:
∗ Rừng có cấp trữ lượng IV là 405,3 ha
∗ Rừng có cấp trữ lượng V là 507,8 ha
∗ Rừng non có trữ lượng là 186,5 ha
∗ Rừng non chưa có trữ lượng là 65,3 ha
∗ Rừng trên núi đá vôi là 257,6 ha
Kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới có các tổ thành chủ yếu sau:
21
∗ Lim (33%) + Táu mật (25%) + De (18%) + Giổi (14%) +… phân bố chủ
yếu ở núi đất cao đến trung bình có địa hình tương đối hiểm trở và kiểu rừng này
thường có cấp trữ lượng IV.
∗ De (35%) + Trường (23%) + Dẻ (21%) + Trâm (12%) +… phân bố chủ
yếu ở núi đất thấp đến trung bình có địa hình khá thuận lợi và kiểu rừng này
thường có cấp trữ lượng V.
∗ Rừng thứ sinh nghèo tái sinh phục hồi sau khai thác kiệt có các loại cây
chủ yếu như dẻ, trâm, côm, ngát,… phân bố chủ yếu ở đồi núi thấp có địa hình
thuận lợi. Đây là kiểu rừng có hoặc chưa có trữ lượng.
Kiểu rừng trên núi đá vôi chủ yếu có các loại cây như trai lý, nghiến, lát
hoa, mun sọc,… nhưng trữ lượng rất thấp.
+ Rừng trồng chủ yếu là keo các loại, bạch đàn các loại, thông nhựa và
một số cây trầm hương được trồng phân tán để làm giàu rừng.
- Động vật
Do có cả kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới và rừng thường
xanh trên núi đá vôi, mặt khác do vị trí địa lý liền kề và cùng hệ thống các khu
núi đá Phong Nha – Kẻ Bàng nên động vật rừng ở đây cũng phong phú và đa
dạng. Theo số liệu điều tra ban đầu, động vật rừng ở đây có trên 300 loài. Theo
phản ánh của nhân dân thì rừng ở đây có các loại như bò tót, vượn đen, rùa các
loại, nhiều đàn khỉ vàng, khỉ nước, đặc biệt là có đàn voọc quần đùi trắng với số
lượng trên 30 con thường xuất hiện trên các núi đá vôi.

Nhìn chung về điều kiện tự nhiên, đất đai và tài nguyên thiên nhiên của xã
Minh Hóa rất thuận lợi cho phát triển một nền kinh tế đa dạng. Bên cạnh đó, đặc
điểm địa hình dốc, thượng nguồn, nhiều khe suối vì thế cần có biện pháp bảo vệ
đất hợp lý, chống xói mòn, sử dụng đất một cách khoa học thì mới khai thác có
hiệu quả đất đai và tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững.
3.1.2. Điều kiện KTXH của xã Minh Hóa
3.1.2.1. Sản xuất nông nghiệp
Là xã miền núi nhưng nguồn thu nhập kinh tế chủ yếu là từ sản xuất nông
nghiệp và chiếm hơn 90% tổng thu nhập của xã
22
- Trồng trọt
+ Diện tích trồng trọt 359,10 ha. Trong đó:
* Diện tích trồng cây hằng năm 252,61 ha bao gồm:
Lúa nước 2 vụ 61,15 ha cho năng suất bình quân mỗi vụ 35 tạ/ha. Gieo
trồng chủ yếu giống lúa lai Nhị ưu 838 có năng suất cao trong vụ Đông Xuân,
các giống lúa chất lượng cao, ngắn ngày, có khả năng chống chịu cao trong vụ
Hè Thu cho năng suất trung bình.
Cây hằng năm khác 164,75 ha. Bao gồm: Ngô LVN 10, CP 888, cho
năng suất bình quân 50 tạ/ha, lạc MD7, L14, Sen lai, cho năng suất ình quân
15 tạ/ha, ngoài ra còn trồng các loại cây như khoai lang, sắn, các loại đậu đỗ
(đậu xanh, đậu đỏ, đậu Hà Lan, ).
* Diện tích trồng cây lâu năm gồm:
Cây công nghiệp lâu năm 106,49 ha bao gồm trồng cây cao su 27,88 ha, đã
cho nhựa cách đây 2 năm, hồ tiêu 3,20 ha cho năng suất bình quân 1,5 tạ/ha, các loại
cây ăn quả phân tán trong vườn của từng hộ gia đình thu nhập cũng không đáng kể.
Vườn nhà chủ yếu trồng các loại cây ăn quả, cây công nghiệp truyền
thống như hồ tiêu, bưởi, cam, chanh, mít, và trồng cây hoa màu như khoai
lang, ngô, lạc đậu đỗ và các loại rau, củ cho năng suất thấp.
- Chăn nuôi
Đồng cỏ chăn nuôi có diện tích tương đối nhỏ, chủ yếu là chăn thả gia súc

trong rừng trồng và rừng tự nhiên. Hiện toàn xã có 227 con Trâu, 921 con bò,
965 con lợn và 3.730 con gia cầm. Nhìn chung chăn nuôi có hướng phát triển và
mang lại hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên chất lượng đàn lợn còn thấp, kỹ thuật
chăn nuôi còn thấp kém, do chăn nuôi nhỏ nên chưa ứng dụng được khoa học kỹ
thuật vào chăn nuôi, đầu tư chăm sóc ít nên đàn lợn xuất chuồng chỉ đạt 40 –
50kg/con. Đàn trâu, bò của xã không chỉ là nguồn sức kéo mà là nguồn hàng hóa
tăng thu nhập cho các hộ gia đình. Trong những năm gần đây do bệnh lở mồn
lông móng và rét đậm, rét hại vào mùa đông nên số lượng đàn trâu bò cũng giảm
đi đáng kể, làm thiệt hại lớn về nguồn thu nhập của người dân.
- Nuôi trồng thủy sản
23
Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản 0,92 ha chủ yếu là ao hồ nuôi cá
của các hộ gia đình cho năng suất bình quân hằng năm 2,2 tấn/ha.
Qua thực tế sản xuất của các hộ gia đình cho thấy: Để nâng cao đời sống
tinh thần cho nhân dân, giải quyết nhu cầu lương thực cần phải đáp ứng nhu cầu
về vốn, đẩy mạnh sản xuất, thâm canh tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng
bằng những cây, con đem lại hiệu quả kinh tế cao, tạo vùng kinh tế hàng hóa tập
trung mở mang ngành nghề khai thác tiềm năng của địa phương là rất cần thiết.
3.1.2.2. Sản xuất lâm nghiệp
Tổng diện tích đất quy hoạch cho Lâm nghiệp là 1.975,94 ha chiếm
84,5% tổng diện tích đất nông nghiệp trong đó:
- Rừng sản xuất 1.599,94 ha chiếm 80,79% tổng diện tích đất LN
- Đất rừng phòng hộ 376 ha chiếm 19,02% tổng diện tích đất LN
Trong những năm gần đây xã đã quy hoạch rừng sản xuất trồng các loại
cây keo như keo lá tràm, keo lai, keo tai tượng, hay các loại bạch đàn, thông 3
lá, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Đất Lâm nghiệp đã được giao khoán cho từng
hộ gia đình quản lý nên việc chặt phá rừng cũng giảm đi đáng kể so với trước đây.
3.1.2.3. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ chưa phát triển. Trên địa
bàn xã có 29 hộ kinh doanh hàng tạp hóa thực hiện bán tận, mua tại, có 12 máy

xay xát lớn nhỏ chế biến nông sản, có 07 ô tô, 01 máy xúc mi ni, có 04 chủ sửa
chữa nhỏ xe đạp và xe máy, 03 máy cưa, 07 tổ mộc có máy liên hoàn và 13 tổ nề
hoạt động có hiệu quả và thu nhập cao.Nhìn chung các hộ kinh doanh dịch vụ
đều cho thu nhập khá, có chiều hướng phát triển tương đối ổn định tạo việc làm
và giải quyết việc làm cho một số lao động ngày càng nhiều.
Về thông tin liên lạc: Tại trung tâm xã có điểm bưu điện văn hóa xã đây
cũng là nơi truy cập internet cho nhân dân trong xã. Hầu như 73% cá nhân trong
xã đã có điện thoại di động và rải rác một số hộ gia đình lắp điện thoại bàn.
Nhiều cá nhân có máy vi tính bàn riêng cũng như máy vi tính xách tay đã nối
mạng iternet nên đây là một điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi và truy cập
thông tin liên lạc hằng ngày trong nước và trên thế giới.
24
3.1.2.4. Cơ sở hạ tầng
- Các công trình văn hóa, phúc lợi
Mặc dù xã có một số vật chất kỹ thuật nhưng chưa đáp ứng đủ nhu cầu
thực tế. Trụ sở UBND xã diện tích sử dụng 2.403m
2
, trạm Y tế 2.509m
2
, xã có 2
trường Mần non, 3 trường tiểu học và một trường trung học cơ sở, tổng diện tích
đất của các trường là 25.940m
2
. Trang thiết bị dạy và học ngày càng được nâng
cao đáp ứng nhu cầu kiến thức của các em học sinh. Trong toàn xã có 9 thôn
mỗi thôn có một nhà sinh hoạt văn hóa có đầy đủ loa máy phục vụ các dịp lễ.
- Giao thông
Xã Minh Hóa có tuyến đường 12A chạy qua một phần địa phận của xã, nối
với các tuyến đườn liên xã, liên thôn. Đây là tuyến giao thông quan trọng để người
dân trong xã giao lưu với bên ngoài. Trong năm 2010 vừa qua, tuyến đường trục

chính của xã đã được bê tông hóa và mở rộng cũng như các tuyến đường liên thôn và
các tuyến đường phụ trong thôn cũng được bê tông hóa và mở rộng, nên rất thuận lợi
trong việc đi lại của người dân. Bên cạnh đó các tuyến đường mở rộng khác như
tuyến đường vào Rừng cũng như 3 tuyến đường đi ra các vùng đất sản xuất cũng
được rải sỏi đá chắc chắn nên rất tiện cho việc sản xuất và vận chuyển sản phẩm.
- Thủy lợi
Hệ thống thủy lợi của xã có:
Đập Eo Hụ với 1.250m
2
kênh cấp I đã được bê tông hóa, đập Khe Cái
750m
2
kênh cấp I cũng đã được bê tông hóa cùng với hệ thống kênh cấp II đủ
cung cấp nước cho các ruộng lúa cho làng Kim Bảng và thôn Tân sơn.
Đập nước Khe Rại và Cửa Truông cung cấp nước cho khu vực đồng lúa
của các thôn Lạc Thiện, Tân Thượng, Tân Trung trước đây có hư hỏng nhưng
trong năm 2010 đã khôi phục và đã cung cấp nước trở lại.
3.1.2.5. Dân số và lao động
Theo tài liệu thống kê năm 2010, toàn xã có 773 HGĐ với 3.476 nhân
khẩu, phân bố trong 9 thôn. Trong đó nam 1.732 người, nữ 1.744 người. Trung
bình mỗi hộ có 5,3 người.
Dân tộc: Dân tộc Kinh chiếm 100% dân số toàn xã.
25

×