Tải bản đầy đủ (.pdf) (97 trang)

Tìm hiểu thực trạng thực hiện các phương pháp thẩm định giá bất động sản tại công ty thẩm định giá thương tín, chi nhánh khánh hòa

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.93 MB, 97 trang )

1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài:
Trên thế giới,thẩm định giá đã xuất hiện từ những năm 1940 và được thừa nhận
là có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, nó phục vụ nhu cầu xác định giá trị thị
trường một các khoa học, tại thời điểm, địa điểm cụ thể cho các giao dịch cần đến
tính độc lập, khách quan không chịu ảnh hưởng của bên bán hoặc bên mua trong
các lĩnh vực về xác định quyền sở hữu, quản lý, mua bán, tính thuế, bảo hiểm, cho
thuê, cầm cố, thế chấp … Thẩm định giá có mặt ở nước ta từ cuối những năm 90
của thế kỷ XX, khi mà nền kinh tế bắt đầu chuyển đổi từ cơ chế kinh tế kế hoạch
hoá tập trung sang cơ chế thị trường theo định hướng XHCN. Trong thời kỳ đầu,
thẩm định giá ở nước ta chủ yếu phục vụ cho các nhu cầu chi tiêu của ngân sách
như đấu thầu, mua sắm và đặc biệt là phục vụ cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà
nước. Thẩm định giá chính thức phát triển mạnh trên toàn quốc vào khoảng giữa
năm 2005, các tỉnh, thành phố liên tiếp cho thành lập các trung tâm thẩm định giá
trực thuộc các Sở Tài chính theo tinh thần nghị định 101/2005/NĐ-CP và dần
chuyển sang mô hình doanh nghiệp vào đầu năm 2008 theo quy định tại Thông tư
67/2006/TT-BTC của Bộ Tài chính.
Thẩm định giá ra đời có ảnh hưởng lớn, thay đổi về bản chất khi nó đưa giá trị
của các tài sản được thẩm định gần sát hơn với thực tế và đảm bảo phục vụ các
nhu cầu khác nhau về giá mà trước đây phải phụ thuộc nặng nề vào Nhà nước dưới
hình thức áp đặt đối tượng, trường hợp, khoảng thời gian áp dụng bằng các quyết
định hành chính như khung giá hoặc kết quả định giá của Hội đồng định giá được
hình thành theo từng mực đích cụ thể, còn nặng thủ tục hành chính, mất thời gian
và chưa đảm bảo được các yếu tố khoa học phù hợp với các tiêu chuẩn thẩm định
giá mới ban hành khi không đủ nhân lực, thời gian đầu tư, nghiên cứu chi tiết thị
trường của từng tài sản, địa điểm, thời gian cần xác định giá cụ thể theo đúng yêu
cầu về tính chất, mục đích yêu cầu thẩm định của các giao dịch trong xã hội.
2


Hiện nay, thẩm định giá tại Việt Nam đã dần đi vào cuộc sống, dịch vụ thẩm
định giá đã được mọi thành phần kinh tế trong xã hội quan tâm, sử dụng như một
công cụ tài chính phục vụ cho các hoạt động giao dịch về dân sự, kinh tế, tư pháp,
tài chính, ngân hàng … nó đã và đang đem lại nhiều tiện ích, bảo vệ quyền lợi
chính đáng, hợp pháp của công dân, đáp ứng được các yêu cầu đa dạng của các
thành phần trong xã hội trong thời kỳ hội nhập Quốc tế.
Như vậy, thẩm định giá ra đời là một tất yếu, khách quan và phù hợp với quá
trình đổi mới, xu thế hội nhập quốc tế, góp phần xây dựng một nền kinh tế thị
trường đầy đủ theo định hướng XHCN ở nước ta.
Thị trường bất động sản không chỉ liên quan đến lĩnh vực nhà ở dân sinh mà
còn bao gồm cả tài sản cố định (đất đai) của tất cả các doanh nghiệp, cơ quan, tổ
chức đang hoạt động. Việc định giá bất động sản là yếu tố quan trọng đối với thị
trường bất động sản nói riêng, nền kinh tế nói chung và là rào chắn giá ảo tự phát.

Ở nước ta, những năm gần đây, cùng với sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, hội
nhập kinh tế quốc tế thì những giao dịch về bất động sản như chuyển nhượng,
chuyển đổi, thế chấp, góp vốn diễn ra rất sôi động. Tuy nhiên, thị trường bất động
sản ở nước ta mới phát triển ở giai đoạn đầu, còn rất thiếu và yếu ở nhiều khâu,
nhiều dịch vụ hỗ trợ thị trường, trong đó có hoạt động định giá bất động sản.

Việc
áp dụng các phương pháp xác định giá trị bất động sản trong thực tiễn nước ta hiện
nay là chưa đầy đủ và còn thiếu chuyên nghiệp. Số lượng phương pháp đánh giá
giá trị đất đai/bất động sản được áp dụng trong thực tế chưa nhiều và chưa linh
hoạt với các trường hợp cụ thể.Chính vì vậy việc tìm hiểu thực trạng thực hiện các
phương pháp thẩm định giá Bất động sản là rất cần thiết,từ đó đề suất ý kiến để
góp phần nâng cao hiệu quả của công tác thẩm định. Qua đó thúc đẩy nền kinh tế
Việt Nam phát triển hơn.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng công tác thẩm
định giá tại Việt Nam nói chung và tại công ty cổ phần thẩm định giá Thương Tín

– chi nhánh Khánh Hòa nói riêng. Do vậy, em đã chọn đề tài: “Tìm hiểu thực
trạng thực hiện các phương pháp thẩm định giá bất động sản tại Công ty thẩm
3

định giá Thương Tín – chi nhánh Khánh Hòa” làm đề tài chuyên đề thực tập tốt
nghiệp nhằm góp phần nhỏ bé vào việc hoàn thiện các phương pháp thẩm định, từ
đó nâng cao hiệu quả thẩm định nhằm phát triển công tác thẩm định giá ở nước ta
nói chung cũng như ở công ty thẩm định giá Thương Tín – chi nhánh Khánh Hòa
nói riêng.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Tìm hiểu các phương pháp Thẩm định giá Bất động sản tại thị trường tỉnh
Khánh Hòa từ đó đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác Thẩm định giá Bất
động sản tại thị trường tỉnh Khánh Hòa.
Mục tiêu cụ thể:
• Nghiên cứu các cơ sở lý luận liên quan đến thẩm định giá nói chung,thẩm
định giá bất động sản nói chung.
• Tìm hiểu, phân tích thực trạng cụ thể thẩm định BĐS tại trung tâm thẩm
định giá Thương Tín – chi nhánh Khánh Hòa.
• Tiếp xúc, học hỏi kinh nghiệm thực tế trong việc thẩm định giá BĐS.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Các phương pháp thẩm định giá BĐS.
+ Quy trình thẩm định giá BĐS.
+ Một số ví dụ thực tế công tác thẩm định giá BĐS.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Lý luận và thực tiễn về các phương pháp dùng Thẩm định giá trị Bất động
sản tại thị trường tỉnh Khánh Hòa.
+ Dùng số liệu của Doanh nghiệp yêu cầu thẩm định giá Bất động sản.



4

4. Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở các phương pháp:
 Phương pháp quan sát.
 Phương pháp phân tích,đánh giá.
 Phương pháp thu thập thông tin.
 Phương pháp tổng hợp.
 Phương pháp phỏng vấn….
5. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn bao gồm 3 chương:
• Chương 1 : Cơ sở lý luận thẩm định giá bất động sản.
• Chương 2 : Thực trạng vận dụng các phương pháp thẩm định giá Bất
động sản tại Công ty thẩm định giá Thương Tín – chi nhánh Khánh Hòa.
• Chương 3 : Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện phương pháp thẩm định
giá Bất động sản tại Công ty thẩm định giá Thương Tín – chi nhánh Khánh Hòa.
6. Những đóng góp của luận văn:
Luận văn cho ta cái nhìn tổng quát về tầm quan trọng của thẩm định giá trong
nền kinh tế hiện nay,biết được thực trạng việc vận dụng các phương pháp thẩm
định giá bất động sản tại Công ty thẩm định giá Thương Tín – chi nhánh Khánh
Hòa. Thông qua việc tìm hiểu thực trạng từ đó đề suất ý kiến nhằm hoàn thiện
công tác thẩm định giá bất động sản tại Khánh Hòa nói riêng, thẩm định giá bất
động sản Việt Nam nói chung để ngày càng khẳng định vai trò quan trọng không
thể thiếu của nó, qua đó góp phần thúc đẩy nền kinh tế nước nhà phát triển.




5


CHƯƠNG 1 :
CƠ SỞ LÝ LUẬN THẨM ĐỊNH GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN.
1.1 Tổng quan về thẩm định giá và thẩm định giá Bất động sản
1.1.1 Tổng quan về thẩm định giá
a. Khái niệm:
• Khái niệm thẩm định giá:
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về thẩm định giá, nhưng em xin giới thiệu
ba định nghĩa về thẩm định giá như sau:
1/. Thẩm định giá là sự ước tính về giá trị của các quyền sở hữu tài sản cụ
thể bằng hình thái tiền tệ cho một mục đích đã được xác định (Giáo sư W.
Seabrooke - Viện đại học Portsmouth, Vương quốc Anh).
2/. Thẩm định giá là một nghệ thuật hay khoa học về ước tính giá trị cho
một mục đích cụ thể của một tài sản cụ thể tại một thời điểm, có cân nhắc đến tất
cả những đặc điểm của tài sản và cũng như xem xét tất cả các yếu tố kinh tế căn
bản của thị trường, bao gồm các loại đầu tư lựa chọn (Giáo sư Lim Lan Yuan -
Trường Xây dựng và Bất động sản - Đại học Quốc gia Singapore).
3/. Thẩm định giá là việc đánh giá hoặc đánh giá lại giá trị của tài sản phù
hợp với thị trường tại một địa điểm, thời điểm nhất định theo tiêu chuẩn Việt Nam
hoặc thông lệ quốc tế (Điều 4 - Pháp lệnh giá)
• Thẩm định viên: thẩm định viên về giá là người có phẩm chất, năng
lực và kinh nghiệm cần thiết để tiến hành công việc thẩm định giá trị tài sản, hoạt
động với tư cách là một thẩm định viên nên có giấy phép hành nghề.
• Doanh nghiệp thẩm định giá:
Doanh nghiệp thẩm định giá, doanh nghiệp có chức năng hoạt động thẩm định
giá (sau đây gọi chung là doanh nghiệp thẩm định giá) được thành lập và hoạt
động theo quy định của Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Doanh nghiệp và Luật
Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Và chịu sự quản lý của Bộ Tài Chính. Để thành
lập một công ty thẩm định giá cần phải có ít nhất 03 thẻ thẩm định viên.
6


Việc thành lập, tổ chức, quản lý hoạt động của doanh nghiệp thẩm định giá
phải tuân theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp.
Khi thay đổi tên gọi, thay đổi trụ sở, danh sách thẩm định viên thì chậm nhất là
10 ngày sau khi thực hiện việc thay đổi, doanh nghiệp thẩm định giá phải thông
báo bằng văn bản cho Bộ Tài chính.
b. Vai trò của thẩm định giá:
 Giúp cho các giao dịch mua bán,thế chấp,…có tính công bằng hơn.
 Tạo điều kiện để nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường.
 Giúp minh bạch hóa thị trường, tránh thất thoát cho Nhà nước.
 Chống phá giá hàng hóa, góp phần xây dựng một thị trường cạnh
tranh lành mạnh.
 Là cơ sở cho người sử dụng kết quả thẩm định thực hiện việc mua
sắm,vay vốn,khấu hao…,xác định giá trị của 1 tài sản.
1.1.2 Tổng quan về thẩm định giá Bất động sản.
a. Khái niệm thẩm định giá Bất động sản:
Thẩm định giá Bất động sản là sự ước tính giá trị bất động sản phù hợp với thị
trường tại một địa điểm,thời điểm nhất định theo tiêu chuẩn Việt Nam hoặc theo
thông lệ quốc tế.
b. Cơ sở và nguyên tắc thẩm định giá Bất động sản:
b.1. Cơ sở giá trị để thẩm định giá:
b.1.1 Cơ sở giá trị thị trường:
Khái niệm:
“Giá trị thị trường của một tài sản là mức giá ước tính sẽ được mua bán trên thị
trường vào thời điểm thẩm định giá, giữa một bên là người mua sẵn sàng mua và
một bên là người bán sẵn sàng bán, trong một giao dịch mua bán khách quan và
độc lập, trong điều kiện thương mại bình thường”.
Nội dung trên được hiểu như sau:
7

- “Giá trị thị trường của một tài sản là mức giá ước tính sẽ được mua bán trên

thị trường ” là số tiền ước tính để tài sản có thể được mua, bán trên thị trường
trong điều kiện thương mại bình thường mà sự mua bán đó thoả mãn những điều
kiện của thị trường tại thời điểm thẩm định giá.
-" vào thời điểm thẩm định giá " là ngày, tháng, năm cụ thể khi tiến hành
thẩm định giá, được gắn với những yếu tố về cung, cầu, thị hiếu và sức mua trên
thị trường khi thực hiện thẩm định giá trị tài sản.
-"giữa một bên là người mua sẵn sàng mua " là người đang có khả năng thanh
toán và có nhu cầu mua tài sản được xác định giá trị thị trường.
- "và một bên là người bán sẵn sàng bán " là người bán đang có quyền sở hữu
tài sản (trừ đất), có quyền sử dụng đất có nhu cầu muốn bán tài sản với mức giá tốt
nhất có thể được trên thị trường.
- “điều kiện thương mại bình thường” là việc mua bán được tiến hành khi các
yếu tố cung, cầu, giá cả, sức mua không xảy ra những đột biến do chịu tác động
của thiên tai, địch họa; nền kinh tế không bị suy thoái hoặc phát triển quá nóng…;
thông tin về cung, cầu, giá cả tài sản được thể hiện công khai trên thị trường.
- Giá trị thị trường thể hiện mức giá hình thành trên thị trường công khai và
cạnh tranh. Thị trường này có thể là thị trường trong nước hoặc thị trường quốc tế,
có thể bao gồm nhiều người mua, người bán hoặc bao gồm một số lượng hạn chế
người mua, người bán.
- Giá trị thị trường thể hiện mức giá ước tính mà trên cơ sở đó, bên bán và bên
mua thoả thuận tại một thời điểm sau khi cả hai bên đã khảo sát, cân nhắc đầy đủ
các cơ hội và lựa chọn tốt nhất cho mình từ các thông tin trên thị trường trước khi
đưa ra quyết định mua hoặc quyết định bán một cách hoàn toàn tự nguyện, không
nhiệt tình mua hoặc nhiệt tình bán quá mức.
Căn cứ để xác định giá trị thị trường:
Giá trị thị trường được xác định thông qua các căn cứ sau:
- Những thông tin, dữ liệu về mặt kỹ thuật và về mặt pháp lý của tài sản; giá
chuyển nhượng về tài sản thực tế có thể so sánh được trên thị trường.
8


- Mức độ sử dụng tốt nhất có khả năng mang lại giá trị cao nhất, có hiệu quả
nhất cho tài sản. Việc đánh giá mức độ sử dụng tốt nhất phải căn cứ vào những dữ
liệu liên quan đến tài sản trên thị trường.
- Kết quả khảo sát thực tế.
b.1.2 Cơ sở giá trị phi thị trường:
Khái niệm:
Giá trị phi thị trường của tài sản là mức giá ước tính được xác định theo những
căn cứ khác với giá trị thị trường hoặc có thể được mua bán, trao đổi theo các mức
giá không phản ánh giá trị thị trường như: giá trị tài sản đang trong quá trình sử
dụng, giá trị đầu tư, giá trị bảo hiểm, giá trị đặc biệt, giá trị thanh lý, giá trị tài sản
bắt buộc phải bán, giá trị doanh nghiệp, giá trị tài sản chuyên dùng, giá trị tài sản
có thị trường hạn chế, giá trị để tính thuế
Căn cứ xác định giá trị phi thị trường:
 Việc đánh giá giá trị tài sản được căn cứ chủ yếu vào công dụng kinh tế, kỹ
thuật hoặc các chức năng của tài sản hơn là căn cứ vào khả năng được mua bán
trên thị trường của tài sản đó.
 Giá trị tài sản đang trong quá trình sử dụng là giá trị phi thị trường được
xem xét từ giác độ một người sử dụng riêng biệt tài sản vào một mục đích riêng
biệt.
Khi tiến hành thẩm định giá loại tài sản này, thẩm định viên tập trung chủ
yếu vào khía cạnh tham gia, đóng góp của tài sản vào hoạt động của một dây
chuyền sản xuất, một doanh nghiệp… không xét đến khía cạnh giá trị sử dụng tốt
nhất, tối ưu của tài sản hoặc số tiền có thể có từ việc bán tài sản đó trên thị trường.
 Giá trị tài sản có thị trường hạn chế là giá trị của tài sản do tính đơn chiếc,
hoặc do những điều kiện của thị trường, hoặc do những nhân tố khác tác động làm
cho tài sản này ít có khách hàng tìm mua, tại một thời điểm nào đó.
9

Đặc điểm quan trọng cần phân biệt của tài sản này không phải là không có
khả năng bán được trên thị trường công khai mà để bán được đòi hỏi một quá trình

tiếp thị lâu dài hơn, tốn nhiều chi phí và thời gian hơn so với những tài sản khác.
 Giá trị tài sản chuyên dùng là giá trị tài sản do có tính chất đặc biệt, chỉ
được sử dụng hạn hẹp cho một mục đích hoặc một đối tượng sử dụng nào đó nên
có hạn chế về thị trường.
 Giá trị doanh nghiệp là giá trị toàn bộ tài sản của một doanh nghiệp. Giá trị
của mỗi tài sản cấu thành tổng tài sản của doanh nghiệp không thể tách rời nhau và
cũng không thể thẩm định trên cơ sở giá trị thị trường.
Giá trị doanh nghiệp phải được xem xét trên tổng thể tài sản, không phải là
giá trị của từng tài sản riêng rẽ, bao gồm tài sản hữu hình và tài sản sở hữu trí tuệ
của doanh nghiệp.
Một tài sản nếu để riêng biệt có thể không phát huy được giá trị sử dụng
nhưng khi kết hợp với một tài sản khác lại có thể phát huy được giá trị sử dụng
của chính tài sản đó. Giá trị của từng tài sản riêng rẽ được xác định dựa trên phần
đóng góp của tài sản đó vào hoạt động của toàn bộ doanh nghiệp nên không liên
quan đến thị trường, không tính đến giá trị sử dụng tối ưu và tốt nhất của tài sản đó
cũng như số tiền mà tài sản đó mang lại khi được mang ra bán.
Giá trị tài sản đang trong quá trình sử dụng của doanh nghiệp có xu hướng
cao hơn giá trị thị trường của tài sản khi doanh nghiệp đang kinh doanh hiệu quả,
thu được lợi nhuận cao hơn so với doanh nghiệp cùng sản xuất sản phẩm tương tự;
ngược lại có xu hướng thấp hơn giá trị thị trường khi doanh nghiệp làm ăn kém
hiệu quả. Giá trị tài sản đang trong quá trình sử dụng cũng có xu hướng cao hơn
giá trị thị trường khi doanh nghiệp có bằng sáng chế, giấy phép, hợp đồng sản xuất
những sản phẩm đặc biệt, hoặc doanh nghiệp có uy tín đặc biệt, họăc các dạng tài
sản thuộc sở hữu trí tuệ khác mà các doanh nghiệp cùng loại hình kinh doanh khác
không có.
 Giá trị thanh lý là giá trị ước tính thu được khi hết thời gian sử dụng hữu
ích của tài sản sau khi trừ chi phí thanh lý ước tính.
10

Giá trị thanh lý phản ánh giá trị còn lại của một tài sản (trừ đất đai) khi tài

sản đó đã hết hạn sử dụng và được bán thanh lý. Tài sản vẫn có thể được sửa chữa,
hoặc cải tiến cho mục đích sử dụng mới hoặc có thể cung cấp những bộ phận linh
kiện rời cho những tài sản khác còn hoạt động.
 Giá trị tài sản bắt buộc phải bán là tổng số tiền thu về từ bán tài sản trong
điều kiện thời gian giao dịch để bán tài sản quá ngắn so với thời gian bình thường
cần có để thực hiện giao dịch mua bán theo giá trị thị trường, người bán chưa sẵn
sàng bán hoặc bán không tự nguyện, bị cưỡng ép.
Một cuộc mua bán bắt buộc liên quan đến một mức giá được hình thành
trong một tình huống mà thời gian tiếp thị không phù hợp cho việc mua bán hoặc
trong điều kiện người bán chưa sẵn sàng bán và người mua tài sản biết rõ việc
chưa sẵn sàng bán đó hoặc người bán phải bán tài sản một cách cưỡng ép, không
tự nguyện. Giá cả trong những cuộc mua bán tài sản như vậy gọi là giá trị tài sản
bắt buộc phải bán, không phản ánh giá trị thị trường.
Trong những cuộc mua bán như vậy thẩm định viên phải tìm hiểu và mô tả
đầy đủ, chi tiết trong báo cáo thẩm định hoàn cảnh pháp lý, xã hội, tự nhiên để xác
định bản chất của việc mua bán và mức giá thể hiện.
 Giá trị đặc biệt là giá trị tài sản được hình thành khi một tài sản này có thể
gắn liền với một tài sản khác về mặt kỹ thuật hoặc kinh tế và vì thế chỉ thu hút sự
quan tâm đặc biệt của một số ít khách hàng hoặc người sử dụng nên có thể làm
tăng giá trị tài sản lên vượt quá giá trị thị trường.
Giá trị đặc biệt của một tài sản được hình thành do vị trí, tính chất đặc biệt
của tài sản, hoặc từ một tình huống đặc biệt trên thị trường, hoặc từ một sự trả giá
vượt quá giá trị thị trường của một khách hàng muốn mua tài sản đó với bất cứ giá
nào để có được tính hữu dụng của tài sản.
 Giá trị đầu tư là giá trị của một tài sản đối với một hoặc một nhóm nhà đầu
tư nào đấy theo những mục tiêu đầu tư đã xác định.
Giá trị đầu tư là khái niệm có tính chủ quan liên quan đến những tài sản cụ
thể đối với một nhà đầu tư riêng biệt, một nhóm các nhà đầu tư hoặc một tổ chức
11


với những mục tiêu và/hoặc tiêu chí đầu tư xác định. Giá trị đầu tư của một tài sản
có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá trị thị trường của tài sản đó. Tuy nhiên giá trị thị
trường có thể phản ánh nhiều đánh giá cá biệt về giá trị đầu tư của một tài sản cụ
thể.
 Giá trị bảo hiểm là giá trị của tài sản được quy định trong hợp đồng hoặc
chính sách bảo hiểm.
 Giá trị để tính thuế là giá trị dựa trên các quy định của luật pháp liên quan
đến việc đánh giá giá trị tài sản để tính khoản thuế phải nộp.


 Một số lưu ý khi xác định cơ sở giá trị thị trường và giá trị phi thị
trường
 Đối với giá trị thị trường:
- Trường hợp có sự hạn chế thông tin, dữ liệu trên thị trường (ví dụ thẩm định
giá một số loại máy móc, thiết bị, vật tư chuyên dùng nào đó), thẩm định viên phải
nêu rõ thực trạng này và phải báo cáo mức độ ảnh hưởng hay không ảnh hưởng
đến kết quả thẩm định giá trị do sự hạn chế các số liệu đó.
- Thẩm định viên phải thận trọng trong phân tích và phản ánh trạng thái của
thị trường, thông báo đầy đủ kết quả các cuộc điều tra, khảo sát và những phát
hiện của mình trong báo cáo kết quả thẩm định giá khi giá cả thị trường tăng hoặc
giảm bất thường/đột biến, tạo nên rủi ro trong thẩm định giá do đánh giá giá trị tài
sản quá cao hoặc quá thấp.
- Thẩm định viên phải nêu rõ những thông tin, dữ liệu (quy định tại điểm 07
của Tiêu chuẩn này) đã sử dụng làm căn cứ để tìm ra giá trị thị trường, mục đích
của việc thẩm định giá, tính hợp lý của các thông số để phân tích, lập luận và bảo
vệ cho các ý kiến, kết luận và kết quả thẩm định mà thẩm định viên nêu ra trong
báo cáo kết quả khi thẩm định giá trị thị trường của tài sản.
 Đối với giá trị phi thị trường
- Tùy theo từng mục đích thẩm định giá cụ thể, thẩm định viên có thể sử dụng
giá trị phi thị trường làm cơ sở cho việc thẩm định giá. Trong quá trình thẩm định

12

giá, thẩm định viên phải dựa trên các dữ liệu và điều kiện thực tế để xác định giá
trị phi thị trường của tài sản cần thẩm định giá.
- Báo cáo kết quả và chứng thư thẩm định giá dựa trên giá trị phi thị trường
phải nêu rõ những điều kiện hạn chế ảnh hưởng đến kết quả thẩm định giá. Thẩm
định viên không được sử dụng những hạn chế này để làm sai lệch kết quả thẩm
định giá.
- Khi tiến hành thẩm định giá dựa trên giá trị phi thị trường, thẩm định viên
không được đưa ra những giả thiết mâu thuẫn với những số liệu làm cơ sở cho
thẩm định giá. Mọi giả thiết, các phân tích và phương pháp thẩm định giá phải
được nêu ra một cách công khai trong báo cáo kết quả và chứng thư thẩm định giá.
- Khi thẩm định giá dựa trên giá trị phi thị trường, thẩm định viên phải công
khai hoá toàn bộ các nguồn tài liệu tham khảo mà thẩm định viên dựa vào đó để
đưa ra ý kiến của mình về giá trị tài sản trong báo cáo kết quả thẩm định giá.
b.2 Nguyên tắc thẩm định giá:
b.2.1 Khái niệm:
Nguyên tắc thẩm định giá là những hướng dẫn cần thiết tạo cơ sở cho thẩm
định viên về giá phân tích các yếu tố tác động đến quá trình hình thành giá trị của
tài sản để đưa ra ý kiến về giá trị của tài sản cần thẩm định giá.
b.2.1 Nội dung nguyên tắc thẩm định:
b.2.1.1 Nguyên tắc sử dụng tốt nhất và có hiệu quả nhất:
Việc sử dụng tốt nhất và có hiệu quả nhất của tài sản là đạt được mức hữu dụng
tối đa trong những hoàn cảnh kinh tế - xã hội thực tế phù hợp, có thể cho phép về
mặt kỹ thuật, về pháp lý, về tài chính và đem lại giá trị lớn nhất cho tài sản.
Tuy nhiên, một tài sản đang sử dụng thực tế không nhất thiết đã thể hiện khả
năng sử dụng tốt nhất và có hiệu quả nhất của tài sản đó.
b.2.1.2 Nguyên tắc cung - cầu:
Giá trị của một tài sản được xác định bởi mối quan hệ cung và cầu về tài sản đó
trên thị trường. Ngược lại, giá trị của tài sản đó cũng tác động đến cung và cầu về tài

13

sản. Giá trị của tài sản thay đổi tỷ lệ thuận với cầu và tỷ lệ nghịch với cung về tài
sản.
Giá trị của tài sản được xác định bởi mối quan hệ cung và cầu, trong đó có các
yếu tố về đặc điểm vật lý và đặc điểm kinh tế - xã hội khác biệt với những thuộc tính
của các tài sản khác. Sự ảnh hưởng của những đặc tính phụ thêm này được phản ánh
trong cung - cầu và giá trị tài sản.
b.2.1.3 Nguyên tắc thay đổi:
Giá trị của tài sản thay đổi theo sự thay đổi của những yếu tố hình thành nên giá
trị của nó.
Giá trị của tài sản cũng được hình thành trong quá trình thay đổi liên tục phản
ánh hàng loạt các mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị. Bản
thân các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị luôn luôn thay đổi. Do đó, trong thẩm định giá
tài sản, thẩm định viên phải nắm được mối quan hệ nhân quả giữa các nhân tố ở
trạng thái động, phải phân tích quá trình thay đổi nhằm xác định mức sử dụng tài sản
tốt nhất và có hiệu quả nhất.
b.2.1.4 Nguyên tắc thay thế:
Trong trường hợp hai hay nhiều tài sản có thể thay thế lẫn nhau trong quá trình sử
dụng, thì giá trị của những tài sản đó được xác định bởi sự tác động lẫn nhau của tài
sản này đến tài sản khác.
Hình thành giá trị của tài sản được thẩm định giá thường có liên quan đến giá trị
của các tài sản khác có thể thay thế .
Khi hai tài sản có tính hữu ích như nhau, tài sản nào chào bán ở mức giá thấp
nhất thì tài sản đó sẽ bán được trước. Giới hạn trên của giá trị tài sản có xu hướng
được thiết lập bởi chi phí mua một tài sản thay thế cần thiết tương đương, với điều
kiện không có sự chậm trễ quá mức làm ảnh hưởng đến sự thay thế. Một người thận
trọng sẽ không trả giá cao hơn chi phí mua một tài sản thay thế trong cùng một thị
trường và một thời điểm.


14

b.2.1.5 Nguyên tắc cân bằng:
Các yếu tố cấu thành của tài sản cần phải cân bằng để tài sản đạt được khả năng
sinh lời tối đa hay mức hữu dụng cao nhất. Do đó, để ước tính mức sử dụng tốt nhất
và có hiệu quả nhất của tài sản, cần phải phân tích xem liệu đã đạt tới sự cân bằng
như vậy hay không.
Trong lĩnh vực bất động sản, giá bán đất ở một vị trí không chỉ ra rằng vị trí đất
kế cận cũng phải có cùng một mức giá trị như vậy.
b.2.1.6 Nguyên tắc thu nhập tăng hoặc giảm:
Tổng thu nhập trên khoản đầu tư tăng lên sẽ tăng liên tục tới một điểm nhất định,
sau đó mặc dù đầu tư tiếp tục tăng nhưng độ lớn của thu nhập tăng thêm sẽ giảm dần.
Nguyên tắc này cũng hoàn toàn đúng đối với đầu tư vào lĩnh vực bất động sản.
b.2.1.7 Nguyên tắc phân phối thu nhập:
Tổng thu nhập sinh ra từ sự kết hợp các yếu tố của quá trình sản xuất (đất đai,
vốn, lao động, quản lý) và có thể được phân phối cho từng yếu tố này. Nếu việc phân
phối được thực hiện theo nguyên tắc tương ứng thì phần tổng thu nhập còn lại sau
khi đã phân phối cho vốn, lao động và quản lý sẽ thể hiện giá trị của đất đai.
b.2.1.8 Nguyên tắc đóng góp:
Mức độ mà mỗi bộ phận của tài sản đóng góp vào tổng thu nhập từ toàn bộ tài
sản có tác động đến tổng giá trị của tài sản đó.
Giá trị của một tác nhân sản xuất hay một bộ phận cấu thành tài sản phụ thuộc
vào sự vắng mặt của tác nhân đó làm giảm đi bao nhiêu giá trị của toàn bộ tài sản, có
nghĩa là lượng giá trị mà nó đóng góp vào giá trị toàn bộ là bao nhiêu.
Nguyên tắc này là nguyên tắc cơ bản trong việc xem xét tính khả thi của việc đầu
tư bổ sung vào tài sản khi thẩm định viên xác định mức sử dụng tài sản tốt nhất và có
hiệu quả nhất.


15


b.2.1.9 Nguyên tắc tuân thủ:
Tài sản cần phải phù hợp với môi trường của nó nhằm đạt được mức sinh lời tối
đa hoặc mức hữu dụng cao nhất. Do đó, thẩm định viên phải phân tích xem liệu tài
sản đó có phù hợp với môi trường hay không khi thẩm định viên xác định mức sử
dụng tài sản tốt nhất và có hiệu quả nhất.
b.2.1.10 Nguyên tắc cạnh tranh:
Lợi nhuận cao vượt trội sẽ thúc đẩy cạnh tranh, ngược lại, cạnh tranh quá mức có
thể làm giảm lợi nhuận và cuối cùng có thể không còn lợi nhuận. Đối với tài sản, mối
quan hệ cạnh tranh cũng được quan sát giữa các tài sản với nhau và giữa tài sản này
với tài sản khác. Do đó, giá trị của tài sản được hình thành là kết quả của sự cạnh
tranh trên thị trường.
b.2.1.11 Nguyên tắc dự tính lợi ích tương lai:
Giá trị của tài sản có thể được xác định bằng việc dự tính khả năng sinh lợi trong
tương lai.
Giá trị của tài sản cũng chịu ảnh hưởng bởi việc dự kiến thị phần của những
người tham gia thị trường và những thay đổi có thể dự tính trước trong yếu tố này
cũng ảnh hưởng đến giá trị.
Việc ước tính giá trị của tài sản luôn luôn dựa trên các triển vọng tương lai, lợi
ích dự kiến nhận được từ quyền sử dụng tài sản của người mua.
1.2 Quy trình thẩm định giá Bất động sản:
1.2.1 Khái niệm:
Quy trình thẩm định giá tài sản là trình tự mang tính hệ thống mà thẩm định
viên về giá tuân thủ theo các bước đi nhằm trả lời cho câu hỏi của khách hàng về
giá trị thị trường của tài sản.
1.2.2 Vai trò:
- Quy trình được thiết kế để thẩm định viên về giá thực hiện nhiệm vụ của
mình một cách có hệ thống là xác định giá trị của tài sản.
16


- Quy trình cung cấp một khuôn mẫu để nghiên cứu thị trường, phân tích số
liệu, áp dụng các kỹ thuật cần thiết nhằm xác định giá trị của tài sản cần thẩm
định.
- Quy trình là công cụ để thẩm định viên và khách hàng kiểm tra kết quả thẩm
định. Quy trình này luôn tuân thủ theo những yêu cầu trong tiêu chuẩn thẩm định
giá quốc tế và tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam.
1.2.3 Các bước thực hiện:
Theo TCTĐGVN, Tiêu chuẩn 05 (QĐ07/2005/QĐ-BTC) doanh nghiệp, tổ
chức thẩm định giá và thẩm định viên phải tuân theo đầy đủ trình tự sáu (6) bước
sau đây:
Bước 1: Xác định tổng quát về tài sản cần thẩm định giá và xác định giá trị
thị trường hoặc phi thị trường làm cơ sở thẩm định giá.
Bước 2: Lập kế hoạch thẩm định giá.
Bước 3: Khảo sát hiện trường, thu thập thông tin.
Bước 4: Phân tích thông tin.
Bước 5: Xác định giá trị tài sản cần thẩm định giá.
Bước 6: Lập báo cáo và chứng thư kết quả thẩm định giá.









17

1.2.4 Sơ đồ quy trình thẩm định giá:











Sơ đồ 1.1 : Quy trình thẩm định giá BĐS
Bước 1: Xác định tổng quát về tài sản cần thẩm định và loại hình giá trị
làm cơ sở thẩm định giá
• Các đặc điểm cơ bản về pháp lý,kinh tế kỹ thuật của tài sản cần
thẩm định.
 Mô tả đặc điểm tài sản về pháp lý (đối với bất động sản):
- Bất động sản đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà: những nội dung Giấy chứng nhận (bao gồm số lô đất, tên địa phương và
tên nước, ngày cấp và số đăng ký của Giấy chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng tài
sản).
- Bất động sản chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền
sở hữu nhà: nguồn gốc tài sản (nhà, đất), tổ chức, cá nhân giao tài sản, ngày làm
giấy tờ chuyển dịch tài sản, các giấy tờ kèm theo.
- Có tranh chấp hay không với các chủ bất động sản liền kề.
Xác định vấn đề
Lập kế hoạch thẩm định giá
Thu thập số liệu thực tế
Xác định giá trị tài sản thẩm định giá
Vận dụng số liệu thực tế và phân tích
Lập báo cáo và chứng thư thẩm định giá
18


- Những lợi ích kinh tế thu được từ bất động sản (trường hợp bất động sản
đang cho thuê: giá thuê, thời hạn thuê, hợp đồng thuê, thu nhập hàng tháng từ
người thuê bất động sản để mở cửa hàng, cửa hiệu, văn phòng đại diện).
- Những tài liệu khác thể hiện tính pháp lý của bất động sản.


 Mô tả đặc điểm tài sản về mặt kinh tế, kỹ thuật (đối với bất động
sản):
- Vị trí của bất động sản.
+ Vị trí địa lý và hành chính của bất động sản.
+ Đối với đất ở: số lô đất, số địa chính, diện tích đất, phân loại đường phố,
nhóm đất.
+ Đối với đất nông nghiệp, lâm nghiệp: số lô đất, số địa chính, diện tích đất,
phân loại nhóm đất, điều kiện thời tiết, đặc điểm địa hình, hệ thống giao thông, hệ
thống tưới và tiêu nước.
+ Đối với công trình kiến trúc trên đất (nhà cửa, đường xá, cầu cống): loại
nhà, cấp nhà, hạng nhà, diện tích xây dựng và diện tích sử dụng (m
2
), chất lượng
nhà (% còn lại, tuổi đời), mục đích sử dụng, cấu trúc nhà, số phòng, diện tích sử
dụng từng phòng, hệ thống điện, hệ thống cấp và thoát nước; loại, hạng đường xá,
cầu cống…
+ Vị trí của bất động sản trong mối tương quan với những trung tâm khu vực
gần nhất, điều kiện tự nhiên và môi trường xung quanh, hình dạng của thửa đất,
khoảng cách từ đó đến những địa điểm giao thông công cộng, cửa hàng, trường
học, công viên, bệnh viện, những trục đường chính.
- Tác động của quy hoạch, phân vùng đến giá trị của đất đai, nhà cửa và công
trình kiến trúc trên đất.
- Mục đích sử dụng hiện tại của bất động sản có theo đúng mục đích được

phép sử dụng theo qui hoạch phân vùng và mang lại giá trị tối ưu cho bất động sản
hay không.

19

• Mục đích thẩm định giá:
Thẩm định viên phải xác định và nhận thức mục đích thẩm định giá của
khách hàng. Mục đích thẩm định giá phải được nêu rõ trong báo cáo thẩm định
giá. Các mục đích thẩm định giá bao gồm:
- Thẩm định giá cho mục đích chuyển giao quyền sở hữu.
- Thẩm định giá cho mục đích tài chính và tín dụng.
- Thẩm định giá cho mục đích phát triển bất động sản và đầu tư.
- Thẩm định giá cho mục đích thuê theo hợp đồng.
- Thẩm định giá tài sản của công ty.
- Thẩm định giá theo luật pháp.
• Những điều kiện ràng buộc trong xác định đối tượng thẩm định giá:
Thẩm định viên phải đưa ra những giả thiết và những điều kiện bị hạn chế đối
với: những yêu cầu và mục đích thẩm định giá của khách hàng; những yếu tố ràng
buộc ảnh hưởng đến giá trị tài sản; những giới hạn về: tính pháp lý, công dụng của
tài sản, nguồn dữ liệu, sử dụng kết quả; quyền và nghĩa vụ của thẩm định viên theo
hợp đồng thẩm định giá.
• Xác định thời điểm thẩm định giá. (là theo yêu cầu của khách hàng,
khách hàng muốn thời điểm quá khứ , hiện tại hay tương lai)
Việc xác định đặc điểm, bản chất (tự nhiên, pháp lý) của tài sản cần thẩm định
giá phải được thực hiện ngay sau khi ký hợp đồng thẩm định giá và ý kiến đánh
giá về giá trị của tài sản được đưa ra trong phạm vi thời gian cho phép của hợp
đồng.
 Thẩm định viên phải xác định ngày tháng ý kiến về giá trị tài sản có hiệu
lực vì những yếu tố tác động đến giá trị tài sản không cố định, mà thay đổi (làm
giá trị tài sản thay đổi theo).

 Ý kiến về giá trị tài sản có hiệu lực tại một thời điểm cụ thể. Thời điểm có
hiệu lực là ngày, tháng tương ứng với thời điển đánh giá giá trị của tài sản. Đó có
20

thể là thời điểm trong quá khứ, hiện tại hoặc tương lai tùy thuộc vào mục đích sử
dụng kết quả thẩm định giá của khách hàng.
• Xác định nguồn dữ liệu cần thiết cho thẩm định giá.
• Xác định cơ sở giá trị của tài sản.
Trên cơ sở xác định khái quát về đặc điểm, loại hình tài sản cần thẩm định giá,
thẩm định viên cần xác định rõ loại hình giá trị làm cơ sở cho việc thẩm định giá:
giá trị thị trường hay giá trị phi thị trường.
Bước 2: Lập kế hoạch thẩm định giá.
• Việc lập kế hoạch một cuộc thẩm định giá nhằm xác định rõ những
bước công việc phải làm và thời gian thực hiện từng bước công việc cũng như
toàn bộ thời gian cho cuộc thẩm định giá.
• Nội dung kế hoạch phải thể hiện những công việc cơ bản sau:
- Xác định các yếu tố cung-cầu thích hợp với chức năng, các đặc tính và các
quyền gắn liền với tài sản được mua/bán và đặc điểm thị trường.
- Xác định các tài liệu cần thu thập về thị trường, về tài sản, tài liệu so sánh.
- Xác định và phát triển các nguồn tài liệu, đảm bảo nguồn tài liệu đáng tin cậy
và phải được kiểm chứng.
- Xây dựng tiến độ nghiên cứu, xác định trình tự thu thập và phân tích dữ liệu,
thời hạn cho phép của trình tự phải thực hiện.
-
Lập đề cương báo cáo kết quả thẩm định giá.
Bước 3: Khảo sát hiện trường, thu thập thông tin.
• Khảo sát hiện trường.
Thẩm định viên phải trực tiếp khảo sát hiện trường:
- Đối với máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ: Thẩm định viên phải khảo
sát và thu thập số liệu về tính năng kỹ thuật (công suất, năng suất, công dụng) vị

trí, đặc điểm, quy mô, kích thước, độ mới, cũ của tài sản cần thẩm định giá và các
tài sản so sánh.
21

- Đối với bất động sản, thẩm định viên phải khảo sát và thu thập số liệu về:
+ Vị trí thực tế của bất động sản so sánh với vị trí trên bản đồ địa chính, các
mô tả pháp lý liên quan đến bất động sản.
+ Chi tiết bên ngoài và bên trong bất động sản, bao gồm: diện tích đất và công
trình kiến trúc; khung cảnh xung quanh, cơ sở hạ tầng (cấp và thoát nước, viễn
thông, điện, đường), loại kiến trúc, mục đích sử dụng hiện tại, tuổi đời, tình trạng
duy tu, sửa chữa…
+ Đối với công trình xây dựng dở dang, thẩm định viên phải kết hợp giữa khảo
sát thực địa với báo cáo của chủ đầu tư, nhà thầu đang xây dựng công trình.
- Trong quá trình khảo sát, để có đầy đủ chứng cứ cho việc thẩm định giá,
thẩm định viên cần chụp ảnh tài sản theo các dạng (toàn cảnh, chi tiết), các hướng
khác nhau.
• Thu thập thông tin.
Bên cạnh thông tin, số liệu thu thập từ khảo sát hiện trường, thẩm định viên
phải thu thập các thông tin sau:
- Các thông tin liên quan đến chi phí, giá bán, lãi suất, thu nhập của tài sản so
sánh.
- Các thông tin về yếu tố cung - cầu, lực lượng tham gia thị trường, động thái
người mua - người bán tiềm năng.
- Các thông tin về tính pháp lý của tài sản.
- Với bất động sản cần thu thập thêm các thông tin:
+ Các số liệu về kinh tế xã hội, môi trường, những yếu tố tác động đến giá trị,
những đặc trưng của thị trường tài sản để nhận biết sự khác nhau giữa khu vực tài
sản thẩm định giá toạ lạc và khu vực lân cận.
+ Các thông tin về những yếu tố tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến mục
đích sử dụng của tài sản (địa chất, bản đồ địa chính, quy hoạch, biên giới hành

chính, cơ sở hạ tầng…).
22

- Để thực hiện thẩm định giá, thẩm định viên phải dựa trên những thông tin thu
thập từ các nguồn: khảo sát thực địa; những giao dịch mua bán tài sản (giá chào,
giá trả, giá thực mua bán, điều kiện mua bán, khối lượng giao dịch…) thông qua
phỏng vấn các công ty kinh doanh tài sản, công ty xây dựng, nhà thầu, ngân hàng
hoặc các tổ chức tín dụng; thông tin trên báo chí (báo viết, nói, hình) của địa
phương, trung ương và của các cơ quan quản lý nhà nước về thị trường tài sản;
thông tin trên các văn bản thể hiện tính pháp lý về quyền năng của chủ tài sản, về
các đặc tính kinh tế, kỹ thuật của tài sản, về quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội
của vùng có liên quan đến tài sản. Thẩm định viên phải nêu rõ nguồn thông tin
trong báo cáo thẩm định giá và phải được kiểm chứng để bảo đảm độ chính xác
của thông tin.
Bước 4: Phân tích thông tin.
Là quá trình đánh giá tác động của các yếu tố đến mức giá của tài sản cần thẩm
định.
• Phân tích những thông tin từ khảo sát hiện trường tài sản.
• Phân tích những đặc trưng của thị trường tài sản cần thẩm định
giá.
 Bản chất và hành vi ứng xử của những người tham gia thị trường.
- Đối với tài sản thương mại hoặc công nghiệp, bao gồm: đặc điểm của mỗi
lĩnh vực (thương mại hoặc công nghiệp) hình thành nên những nhóm cung và cầu
về tài sản, hình thức sở hữu của pháp nhân tham gia thị trường (công ty tư nhân
hay sở hữu nhà nước, liên doanh…); mức độ mở rộng thị trường tài sản loại này
với những người mua tiềm năng.
- Đối với tài sản là nhà cửa dân cư, bao gồm: tuổi tác, cơ cấu gia đình, mức
độ thu nhập của nhóm cung và nhóm cầu, mức độ mở rộng thị trường tài sản loại
này với những người mua tiềm năng.
 Xu hướng cung cầu trên thị trường tài sản.

23

- Những xu hướng tăng giảm về nguồn cung, tăng giảm về nhu cầu của
những tài sản tương tự hiện có trên thị trường.
- Ảnh hưởng của xu hướng trên đến giá trị tài sản đang thẩm định giá.
• Phân tích về khách hàng.
- Đặc điểm của những khách hàng tiềm năng.
- Sở thích của khách hàng về vị trí, quy mô, chức năng và môi trường xung
quanh tài sản.
- Nhu cầu, sức mua về tài sản.
• Phân tích về việc sử dụng tốt nhất và tối ưu tài sản.
Thẩm định viên cần xem xét khả năng sử dụng tốt nhất một tài sản trong bối
cảnh tự nhiên, hoàn cảnh pháp luật và tài chính cho phép và mang lại giá trị cao
nhất cho tài sản.
Bước 5: Xác định giá trị tài sản cần thẩm định giá.
Thẩm định viên phải nêu rõ các phương pháp được áp dụng để xác định mức
giá trị của tài sản cần thẩm định giá.
Thẩm định viên cần phân tích rõ mức độ phù hợp của 01 hoặc nhiều phương
pháp trong thẩm định giá được sử dụng với đặc điểm kinh tế kỹ thuật của tài sản
và với mục đích thẩm định giá.
Thẩm định viên cần nêu rõ trong báo cáo thẩm định phương pháp thẩm định
giá nào được sử dụng làm căn cứ chủ yếu, phương pháp thẩm định giá nào được
sử dụng để kiểm tra chéo, từ đó đi đến kết luận cuối cùng về giá trị thẩm định.
Bước 6: Lập báo cáo kết quả và chứng thư thẩm định giá.


 Báo cáo kết quả thẩm định giá.
• Khái niệm:
Báo cáo kết quả thẩm định giá là văn bản do thẩm định viên lập để nêu rõ ý
kiến chính thức của mình về quá trình thẩm định giá, mức giá thẩm định (thể hiện

24

bằng tiền hoặc vật ngang giá khác) của tài sản mà khách hàng yêu cầu thẩm định
giá.
• Yêu cầu của báo cáo kết quả thẩm định giá :
-Báo cáo kết quả thẩm định giá phải thể hiện những thông tin đúng theo
thực tế, mang tính mô tả và dựa trên bằng chứng cụ thể để thuyết minh về mức giá
của tài sản qua thẩm định giá.
- Những thông tin này phải được trình bày theo một trình tự lô-gíc, hợp lý,
từ mô tả về tài sản đến những yếu tố tác động tới giá trị thị trường của tài sản,
phân tích những dữ liệu thu thập trên thị trường để có được kết quả thẩm định giá.
- Báo cáo kết quả phải thể hiện được những lập luận, cách thức, phương
pháp được áp dụng trong quá trình thẩm định và giải thích một cách rõ ràng tất cả
những vấn đề có tác động đến giá trị tài sản.


 Chứng thư thẩm định giá.
• Khái niệm:
Chứng thư thẩm định giá là văn bản do doanh nghiệp, tổ chức thẩm định giá
lập nhằm công bố cho khách hàng hoặc bên thứ ba về những nội dung cơ bản liên
quan đến kết quả thẩm định giá tài sản.
Chứng thư thẩm định giá phải lập thành 3 bản có giá trị pháp lý như nhau,2 bản
giao khách hàng,1 bản lưu tại hồ sơ thẩm định giá của doanh nghiệp ,tổ chức thẩm
định giá (nếu khách hàng yêu cầu nhiều hơn thì sẽ phát hành thêm).
• Hình thức ,nội dung của chứng thư thẩm định giá đất đai,công
trình kiến trúc trên đất (xem phụ lục)


 Báo cáo kết quả, hồ sơ, chứng thư thẩm định giá trị tài sản do thẩm định viên
về giá lập dựa trên tiêu chuẩn 04 (ký hiệu : TĐGVN 04) được ban hành kèm theo

Quyết định số 24/2005/QĐ-BTC ngày 18/04/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.


25

1.3 Các phương pháp thẩm định giá:
1.3.1 Khái niệm:
Phương pháp thẩm định giá là cách thức, kỹ thuật mà các thẩm định viên về
giá sử dụng để thẩm định giá trị tài sản.
1.3.2 Cơ sở lựa chọn phương pháp:
Yêu cầu rất cơ bản của công tác thẩm định giá là phải có các phương pháp
thẩm định giá rõ ràng, có khả năng áp dụng phù hợp và khả năng nhận biết được
không chỉ bởi các thẩm định viên mà còn bởi những người sử dụng báo cáo thẩm
định giá.
Những phương pháp chủ yếu để tiến hành thẩm định giá bao gồm:
1. Phương pháp so sánh trực tiếp.
2. Phương pháp chi phí
3. Phương pháp thu nhập
4. Phương pháp thặng dư
5. Phương pháp lợi nhuận
Trong việc sử dụng các phương pháp trên để tiến hành thẩm định giá, không có
phương pháp nào là phương pháp chính xác riêng rẽ, mà chỉ có phương pháp thích
hợp nhất, còn các phương pháp khác có thể được sử dụng để kiểm tra kết quả của
phương pháp thích hợp nhất.
Việc xác định phương pháp thích hợp nhất phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Thuộc tính của tài sản
- Sự tin cậy và khả năng sử dụng của các tài liệu thị trường
- Mục đích và mục tiêu của việc thẩm định giá.




×