Tải bản đầy đủ (.docx) (4 trang)

Chế độ dinh dưỡng cho người bị bệnh tiểu đường ppsx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (197.06 KB, 4 trang )

Đái tháo đường là căn bệnh ngày càng trở nên nguy hiểm và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu
trên toàn thế giới. Đái tháo đường týp 1 là do di truyền, còn đái tháo đường týp 2 được gọi là "căn
bệnh lối sống" vì liên quan đến bệnh béo phì. Vì vậy, chế độ dinh dưỡng đóng vai trò vô cùng
quan trọng trong việc phòng ngừa và điều trị bệnh đái tháo đường.
Chế độ dinh dưỡng nào cho bệnh nhân đái tháo đường?
Sau khi tiến hành một loạt các nghiên cứu lâm sàng, các bác sĩ trên thế giới đã cho biết một chế
độ dinh dưỡng đầy đủ Magnesium (Mg) có thể giúp cho bệnh nhân đái tháo đường giảm các biến
chứng do căn bệnh mãn tính này gây ra.
Theo nghiên cứu Women's Health Study (Diabetes Care 2004) trên 39.345 phụ nữ Mỹ có độ tuổi
từ 45 trở lên, không có bệnh tim mạch, ung thư và đái tháo đường týp 2, các bác sĩ kết luận chế
độ ăn giàu Mg có thể giảm nguy cơ đái tháo đường týp 2 mới mắc và làm tăng độ nhạy với
insulin. Theo nghiên cứu Nurses' Health Study và Health Professionals' Follow-up Study, các bác
sĩ cũng đưa ra kết luận: giữa lượng Mg trong khẩu phần ăn và nguy cơ bị đái tháo đường týp 2
mới mắc có một mối tương quan nghịch rất có ý nghĩa.
Nguyên nhân hạ Mg trong máu ở bệnh nhân đái tháo đường là do thiếu cung cấp Mg trong khẩu
phần ăn, họ bị rối loạn hấp thu trong ống tiêu hóa và còn bị mất Mg qua nước tiểu.
Vai trò của Magnesium
Trung tâm nghiên cứu bệnh
tiểu đường của WHO cho
biết: Tỷ lệ mắc bệnh tiểu
đường ở châu Á hiện nay đã
vượt xa châu Âu, nơi vốn
được xem là ổ bệnh. Trong
khi có khoảng 5% số người
trưởng thành ở châu Âu mắc
bệnh thì ở châu Á là 10-12%.
Theo WHO, ước đoán số
bệnh nhân đái tháo đường
tại Đông Nam Á năm 2000 là
35 triệu người nhưng đến
năm 2025 con số này tăng


hơn gấp đôi. Hiện khu vực
Đông Nam Á được xem là có
tốc độ bệnh đái tháo đường
tăng cao nhất thế giới. Tỷ lệ
bệnh này ở Việt Nam là 1%
dân số (nguồn: Diabestes
Atlas 2003). Tỷ lệ mắc đái
tháo đường ở nước ta, theo
dự đoán của WHO, sẽ tương
tự như tại các nước trong
vùng Đông Nam Á, gia tăng
gấp đôi trong vòng 20 năm
tới.
Người khỏe mạnh không mắc bệnh đái tháo đường cũng thường được các bác sĩ khuyên ăn các
loại thức ăn chứa nhiều Mg như ngũ cốc nguyên hạt, các loại hạt đậu và rau xanh. Mg có trữ
lượng đứng hàng thứ tư trong cơ thể, chứa đến khoảng 50% trong xương, 50% trong tế bào và
1% trong máu. Mg tham gia vào hơn 300 phản ứng sinh hóa trong cơ thể. Khi ta ăn thức ăn có
chứa Mg vào, Mg sẽ được hấp thu ở ruột non. Cơ thể thải Mg chủ yếu ở thận.
Thức ăn được xem có chứa nhiều Mg là rau xanh, ngũ cốc nguyên hạt, các loại đậu và hạt, nước
khoáng. Gạo lức, bánh mì còn nguyên cám, các sản phẩm từ sữa bò, sô-cô-la và các loại thịt gia
súc cũng có nhiều Mg. Người Việt Nam vốn không tiêu thụ nhiều sản phẩm từ sữa và sô-cô-la,
tuy nhiên chúng ta ăn rau, củ và các loại hạt rất nhiều. Hạt mè đen, mè trắng, đậu phộng, đậu
nành, đậu xanh, đậu trắng, hạt dưa, hạt sầu riêng đều chứa nhiều Mg. Các loại rau như rau răm,
rau ngót, tía tô, rau dền cũng có nhiều Mg.
Khi nào cơ thể chúng ta thiếu Mg? Khi chúng ta bị rối loạn hấp thu trong ống tiêu hóa, khi Mg bị
mất qua nước tiểu, khi lạm dụng các thuốc lợi tiểu, một số thuốc kháng sinh, khi bị tiêu chảy hay
ói mửa trong thời gian dài. Người nghiện rượu cũng bị thiếu Mg vì ăn ít, cơ thể lại phải chuyển
hóa chất rượu làm nhiều Mg bị bài tiết ra nước tiểu.
Ở bệnh nhân đái tháo đường, có mối liên quan có ý nghĩa giữa hạ Mg trong máu với xơ vữa động
mạch xuất hiện sớm, tổn thương võng mạc tiến triển, suy giảm chức năng thận và loét bàn chân.

Do đó, người bệnh cần chú ý bổ sung Mg trong khẩu phần ăn. Điều này sẽ giúp làm giảm đề
kháng insulin, giảm đường huyết lúc đói và giảm HbA1c ở người bệnh đái tháo đường có hạ Mg
trong máu, giảm huyết áp (phụ thuộc liều) và làm cải thiện chức năng nội mô, tăng thời gian
gắng sức và cải thiện chất lượng sống của người bệnh ộng mạch vành.
Theo PGS.TS Nguyễn Thị Lâm, Phó Giám đốc Viện Dinh dưỡng Quốc gia, nếu biết kết hợp chế độ
ăn uống và tăng cường hoạt động thể lực thì có thể chữa được tiểu đường type 2 giai đoạn đầu.
Tiểu đường (đái tháo đường) là một hội chứng chuyển hoá đặc trưng bởi tăng đường máu, có thể gây ra
những biến chứng nặng nề như bệnh thận, tổn thương đáy mắt, lao phổi, hoại tử chi, nhồi máu cơ tim và
đột quỵ…
Trẻ em cũng bị tiểu đường
Theo tài liệu nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng Quốc gia, tiểu đường được chia ra làm 2 thể: type 1 và
type 2. Trong đó, type 1 được xem là nguy hiểm hơn type 2, vì có thể gây nhiều biến chứng vi mạch ở
mắt, thận, các chi cùng với thoái hoá dây thần kinh ngoại biên.
Nếu biết kết hợp chế độ ăn uống và tăng cường hoạt động thể lực thì có thể
chữa được tiểu đường type 2 giai đoạn đầu
Nếu ở type 2 thường gặp ở người lớn tuổi, người béo quá mức thì type 1 lại thường thấy ở bệnh nhân
gầy còm, người trẻ tuổi và đặc biệt là cả trẻ em trên 2 tuổi do di truyền.
Tiểu đường type 1 là do tuỵ mất khả năng tiết Insulin khi tế bào beta bị tổn thương, có thể phát triển từ bé
nếu bị di truyền; còn tiểu đường type 2 lại âm ỉ do khả năng tiết Insulin của tuỵ giảm từ từ và do hiện
tượng kháng tác dụng của Insulin ở hệ cơ bắp, gây hạn chế chuyển hoá glucose và tăng đường huyết.
Đa số bệnh đái đường type 2 thường xảy ra ở những người béo quá mức và người trên 45 tuổi.
Từ nghiên cứu trên cho thấy, không phải thức ăn có nhiều đường là nguyên nhân dẫn tới bệnh tiểu
đường. Các chuyên gia của Viện Dinh dưỡng Quốc gia cũng khuyến cáo, những người ngoài 40 tuổi
không nên ăn quá nhiều đồ ngọt hoặc thức ăn rán quá béo… vì tiểu đường type 2 xảy ra âm ỉ, sự thiếu
hụt Insulin từ từ và nếu ăn quá nhiều thức ăn như vậy sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường.
Không ăn phủ tạng động vật
Theo PGS.TS Nguyễn Thị Lâm, trong điều trị tiểu đường, chế độ ăn uống có vai trò rất quan trọng và có
thể chữa được tiểu đường type 2 ở giai đoạn đầu nếu biết kết hợp chế độ ăn uống thích hợp và hoạt
động thể lực.
Nguyên tắc ăn uống của người bị tiểu đường là phải cung cấp đủ nhu cầu dinh dưỡng nhằm đảm bảo

cuộc sống bình thường (3 bữa chính+ từ 1-3 bữa phụ), duy trì trọng lượng cơ thể ở mức vừa đủ. Người
gầy quá thì phải tăng cân và người béo nên giảm cân và bỏ dần thói quen ăn ngọt, xào, rán quá béo,
rượu (nếu nghiện).
Năng lượng khẩu phần trung bình trong một ngày được tính theo trọng lượng cơ thể. Nếu nằm điều trị tại
giường, chỉ cần 25Kcal/kg/ngày và hoạt động nhẹ tại nhà thì chỉ cần 30Kcal/kg/ngày. Trong đó: chất đạm
(protid) khoảng từ 15-18%; chất béo (lipid) chiếm từ 20-25% và chất bột đường (glucid) chiếm từ 60-
65%; chất xơ 40g và muối 1g/1.000Kcal. Nếu một người khoảng 50kg, làm việc nhẹ ở nhà thì tổng năng
lượng hợp lý trong ngày được tính: 30 Kcal/kg x 50kg =1.500 Kcal (ước tính mỗi bát cơm là 150 Kcal-
PV).
Ngoài ra, TS Lâm cũng khuyến cáo người bị tiểu đường không nên ăn nhiều đường ngọt, tinh bột vì
những chất này góp phần làm tăng glucose trong máu, dẫn đến bệnh tiểu đường sẽ có nhiều biến chứng
hơn. Không nên ăn các loại bánh kẹo ngọt, chocolate, quả ngọt khô, quả ngọt ngâm đường, mứt hoa
quả, các loại nước uống có đường mật, nước uống đóng lon, chai sẵn.
Người bị tiểu đường có thể ăn hoa quả chín (80-100g/lần x 2-3 lần/ngày), nhưng phải giảm lượng cơm.
Khi ăn quả chín nên ăn ở dạng miếng, không nên ăn ở dạng xay sinh tố, vì làm cho đường hấp thu
nhanh hơn.
Đồng thời, không nên ăn những thực phẩm có nhiều cholesterol, đặc biệt là phủ tạng động vật, vì loại
thực phẩm này có thể gây nên tình trạng rối loạn lipid máu, xơ vữa động mạch, hay nhồi máu cơ tim.
Theo bảng thành phần dinh dưỡng Việt Nam của Viện Dinh dưỡng Quốc gia, hàm lượng cholesterol
trong 100g thực phẩm ăn được thì lòng đỏ trứng gà chiếm vị trí cao nhất: 1.790mg; trứng gà: 600mg; gan
gà: 440mg; phomát: 406mg; bầu dục lợn: 375mg; gan lợn: 300mg; bơ: 270mg; tôm đồng: 200mg; lưỡi
bò: 108mg; dạ dày bò: 95mg; mỡ lợn nước: 95mg; thịt bò hộp: 85mg; thịt ngỗng: 80mg; thịt vịt: 76mg; thịt
ngựa: 75mg; cá chép: 70mg; thịt lợn, bò xay: 66mg; sườn lợn: 66mg…

×