Tải bản đầy đủ (.doc) (114 trang)

Thực trạng và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động ứng dụng Marketing mix vào hoạt động kinh doanh tại Bưu cục Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.04 MB, 114 trang )

LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại ngày nay, nền kinh tế thị trường đã được quốc tế hoá
rộng rãi, với nước ta trong những thập niên gần đây nhất là khi đã gia nhập
WTO đã có những chuyển biến tích cực: ta đã chuyển từ cơ chế quản lý tập
trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước
thì sự hiểu biết và hoạt động trong lĩnh vực marketing - mix là rất cần thiết
cho tất cả các lĩnh vực trong đó có lĩnh vực Bưu chính.
Bên cạnh đó, xét về mặt tương đối thì thế độc quyền trong lĩnh vực
Bưu chính đã bị phá vỡ bằng sự ra đời của hàng loạt các Công ty Bưu chính
trong đó có Công ty Bưu chính Viettel. Sự ra đời của các doanh nghiệp này
thực sự là giải pháp hữu hiệu cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có nhu
cầu trao đổi hàng hoá, tài liệu với nhau. Tuy nhiên sự ra đời đó đã làm cho thị
trường Bưu chính trở nên cạnh tranh gay gắt hơn đặc biệt là khi Việt Nam gia
nhập WTO khi đó có sự tham gia của các doanh nghiệp nước ngoài cũng
tham gia vào lĩnh vực Bưu chính thì thị trường càng trở nên gay gắt hơn nữa.
Khi đó thị trường sẽ là vấn đề sống còn đối với các doanh nghiệp, Công ty
Bưu chính Viettel cũng không thể tránh khỏi quy luật cạnh tranh đó, vì vậy
Công ty Bưu chính Viettel cũng như Bưu cục Hai Bà Trưng cần phải tăng
cường ứng dụng Marketing- mix vào hoạt động kinh doanh là một điều hết
sức cần thiết. Chính vì vậy em xin lựa chọn đề tài: “Thực trạng và các giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động ứng dụng Marketing - mix vào
hoạt động kinh doanh tại Bưu cục Hai Bà Trưng - thành phố Hà Nội.”
làm chuyên đề tốt nghiệp của mình.
1
CHƯƠNG I : HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
BƯU CHÍNH VÀ VẤN ĐỀ ỨNG DỤNG MARKETING - MIX VÀO
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH Ở CÁC DOANH NGHIỆP BƯU CHÍNH
1.1.Tầm quan trọng của việc ứng dụng Marketing - mix vào hoạt động
kinh doanh ở các doanh nghiệp Bưu chính
1.1.1.Marketing - mix là gì ?
* Các khái niệm về marketing:


Theo Philip Kotler “ Marketing là sự phân tích, tổ chức, kế hoạch hoá
tiêu thụ, những khả năng câu khách của một Công ty cũng như những chính
sách và quan điểm thoả mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng đã chọn”
Định Nghĩa của BRITISH INSTITUTE OF MARKETING (Anh ):
Marketing là chức năng quản lý về mặt tổ chức và quản lý toàn bộ hoạt động
kinh doanh từ việc phát hiện ra và biến sức mua của mgười tiêu dùng thành
nhu cầu thật sự về một dịch vụ cụ thể để việc đưa dịch vụ đó tới người tiêu
thụ cuối cùng nhằm đảm bảo cho Công ty thu được lợi nhuận như dự kiến.
Định nghĩa của học viện HAWILTON ( Hoa Kỳ) : Marketing là việc
tiến hành hoạt động kinh doanh có liên quan trực tiếp đến dòng vận chuyển
dịch vụ từ nhà cung ứng đến người sử dụng dịch vụ. Sản phẩm trong các khái
niệm trên được biểu hiện là một dịch vụ hay ý tưởng làm thỏa mãn các nhu
cầu của khách hàng.
Trong phạm vi đề tài có thể đưa ra một định nghĩa chung nhất về
marketing trong nhiều định nghĩa đó là: “ Marketing là một tập hợp các hoạt
động nhằm tìm kiếm các nhu cầu chưa được thỏa mãn của thị trường từ đó
xác định các dịch vụ để đáp ứng với một chính sách giá cả, phân phối, chiêu
thị phù hợp nhằm đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp”.
2
Với định nghĩa như vậy có thể rút ra ý tưởng về nguyên tắc chính của
marketing là:
• Coi trọng khâu tiêu thụ sản phẩm, dành cho nó một vị trí cao nhất trong
chiến lược của công ty chỉ với một nguyên tắc: muốn tồn tại , họ phải tiêu
thụ dịch vụ của mình.
• Chỉ bán cái thị trường cần chứ không bán cái mình sẵn có theo thị trường
này, các doanh nghiệp phải hiểu biết thị trường tạo ra những sản phẩm
dịch vụ phù hợp với thị hiếu trên thị trường chứ không phải chỉ cung ứng
những dịch vụ theo khả năng sẵn có của doanh nghiệp.
• Muốn biết thị trường và giới tiêu thụ thì phải tổ chức nghiên cứu tỷ mỷ và
có phản ứng linh hoạt với những biến đổi thị trường.

• Marketing gắn liền với tổ chức quản lý doanh nghiệp đảm bảo cho cơ cấu
tổ chức của doanh nghiệp phù hợp với nhu cầu thay đổi của sản phẩm, đổi
mới sản phẩm, luôn luôn bảo đảm cho doanh nghiệp chiếm được vị trí
thống trị trên thị trường.
* Khái Niệm về marketing- mix :Marketing mix là một bộ phận của
marketing, đó là một tập hợp những yếu tố biến động kiểm soát được của
marketing mà Công ty sử dụng để cố gắng gây được phản ứng mong muốn từ
phía thị trường mục tiêu.
Marketing- mix là một trong những khái niệm chủ yếu của marketing
hiện đại. Đó là tập hợp các yếu tố biến động có thể kiểm soát được của
marketing mà công ty phối hợp để tạo ra sự đáp ứng theo mong muốn của thị
trường mục tiêu.
Marketing - mix bao gồm tất cả những gì mà Công ty có thể vận dụng
để tác động lên nhu cầu về sản phẩm của mình. Có thể hợp nhất rất nhiều khả
năng thành bốn nhóm cơ bản gọi là 4 P: Sản phẩm ( Product), giá cả (Price) ,
phân phối (Place) và khuyến mãi ( Promotion).
3
Bốn P của Marketing- mix
Sản phẩm (Product): đó là tập hợp “ sản phẩm và dịch vụ” mà Công
ty cung ứng cho thị trường mục tiêu. Đối với doanh nghiệp Bưu chính thì sản
phẩm là những dịch vụ mà Công ty cung ứng trên thị trường như: chuyển phát
nhanh, điện hoa, phát hành báo, chuyển tiền nhanh, phát thư theo địa chỉ…tùy
thuộc quy mô kinh doanh của từng doanh nghiệp.
Giá cả (Price): Là biểu hiện bằng tiền của giá trị, đó là tổng số tiền mà
người tiêu dùng phải chi trả để được sử dụng dịch vụ. Giá cả do Công ty được
xác định phải tương xứng với giá trị của dịch vụ , nếu không khách hàng sẽ sử
dụng dịch vụ của đối thủ cạnh tranh.
Giá cả của sản phẩm bao gồm: cước phí chính, chiết khấu, hoa hồng và
các khoản trả chậm.
4

DV
khách
hàng
Giá
cả
Sản
phẩm
Xúc
tiến
Địa
thế
Công
đoạn
Người
Phân phối (Place): Là tất cả những hoạt động của Công ty nhằm đưa
sản phẩm - dịch vụ của doanh nghiệp đến tay khách hàng mục tiêu một cách
thuận tiện nhất. Với doanh nghiệp Bư chính, sản phẩm được truyền đến tay
người tiêu dùng thông qua hệ thống các Bưu điện, Bưu cục, điểm phuc vụ…
Khuyến mãi (Promotion) : Là mọi hoạt động của Công ty nhằm
truyền bá những thông tin về ưu điểm của dịch vụ do doanh nghiệp cung ứng
và thuyết phục những khách hàng mục tiêu sử dụng dịch vụ đó.
Nội dung của “Promotion” gồm các hoạt động chủ yếu là quảng cáo,
khuyến mãi , truyền thông và chào hàng
* Vai trò của Marketing: Marketing đóng một vai trò quan trọng trong quá
trình kinh doanh của doanh nghiệp vì:
+ Marketing giúp cho các doanh nghiệp tự khảo sát, nghiên cứu thị
trường trong và ngoài nước để lựu chọn ra cho doanh nghiệp một thị trường
5
Marketing-mix
Thị trường mục tiêu

PriceProduct PromotionPrace
mục tiêu, chọn được chiến lược và chương trình hoạt động cụ thể để chiếm
lĩnh thị trường.
+ Marketing chính là cầu nối giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng
+ Marketing giúp dung hoà tốt hệ thống các mục tiêu của doanh
nghiệp.
+Marketing là biện pháp cụ thể hoá kế hoạch kinh doanh của doanh
nghiệp.
* Chức năng của Marketing:
Ngày nay Marketing đã phát triển đến một trình độ rất cao. Nó không
còn giới hạn ở riêng một lĩnh vực, một ngành của cuộc sống xã hội mà mở
rộng ra tất cả các phạm vi. Nhưng bất kỳ hoàn cảnh nào nó cũng đảm nhận
bốn chức năng cơ bản sau:
• Nghiên cứu thị trường, nghiên cứu người tiêu dùng, hướng dẫn
việc thoả mãn nhu cầu tiêu dùng. Đây là chức năng cơ bản và
quan trọng, là tiền đề của Marketing.
• Đảm bảo sự thích ứng trong hoạt động của Công ty so với những
biến động của thị trường.
• Thoả mãn nhu cầu tiêu dùng bằng cách tổ chức lưu thông đưa
sản phẩm dịch vụ đến tận tay người tiêu dùng.
• Nâng cao hiệu quả kinh tế trong hoạt động bằng nhiều cách khác
nhau, trong đó có việc tổ chức sản xuất, lưu thông, tiêu thụ, định
giá sản phẩm.
1.1.2.Tầm quan trọng của việc ứng dụng Marketing- mix vào hoạt động
kinh doanh ở các doanh nghiệp Bưu chính
a. Đặc điểm của ngành Bưu điện:
* Bưu chính là kinh tế hạ tầng cơ sở, có mạng lưới thống nhất toàn quốc, có
vị trí độc quyền, tuy nhiên đã xuất hiện sự cạnh tranh dưới hai dạng sau:
6
- Cạnh tranh nội bộ: Giữa Bưu và Điện, giữa các dịch vụ có khả năng thay thế

cho nhau như điện thoại, điện báo, Fax , giữa các đơn vị bưu điện với nhau,
đặc biệt là ở các vùng giáp ranh.
- Cạnh tranh với các thành phần kinh tế khác như giữa phát hành báo chí tư
nhân và Bưu điện, giữa Bưu điện và hàng không, đường sắt và ngân hàng ,
ngoài ra còn có các thành phần khác hoạt động bất hợp pháp.
Xu hướng cạnh tranh trong tương lai sẽ không đơn giản, mà sẽ tăng
thêm sự gay gắt cùng với cơ chế thị trường.
Cũng do mạng lưới rộng khắp nên mức độ đầu tư kỹ thuật không đồng
đều, nhu cầu sử dụng khác nhau, khách hàng đa dạng ở các vùng khác nhau.
* Bưu điện là ngành sở hữu Nhà nước, được Nhà nước giao vốn bảo toàn và
phát triển. Hơn nữa ngành có hai chức năng là vừa kinh doanh vừa phục vụ,
trong đó kinh doanh có vai trò hết sức quan trọng. Khi kinh doanh tốt, có hiệu
quả mới có thể thu hồi vốn nhanh, bảo toàn và phát triển vốn, mở rộng đầu tư
mạng lưới để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội về thông tin liên lạc.
* Ngành Bưu điện thực hiện cơ chế hạch toán kinh doanh toàn ngành, phân
cấp quản lý cho các Bưu điện tỉnh, thành, huyện. Đây chính là động lực mạnh
mẽ giúp cho cơ sở năng động trong kinh doanh.
* Hoạt động trong cơ chế mở cửa, kinh tế thị trường. Trong cơ chế thị trường,
chi phí bằng quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh. Cơ chế
mở cửa tạo thuận lợi cho đầu tư nước ngoài, tạo ra nhu cầu thông tin liên lạc
nhanh chóng, chính xác trong nước cũng như với quốc tế.
Mặt khác chính cơ chế thị trường cũng đòi hỏi cao về chất lượng sản
phẩm, chất lượng phục vụ. Khách hàng ngày nay đã rất khác xa so với thời
bao cấp, họ được lên ngôi, có quyền đòi hỏi cao, có nhiều đối tượng có khả
năng thanh toán cao. Thông tin trong cơ chế thị trường đa phần mang tính
chất kinh doanh, yêu cầu nhanh hơn, tốt hơn
7
b. Tầm quan trọng của việc ứng dụng Marketing- mix vào hoạt động kinh
doanh ở doanh nghiệp Bưu chính.
Trong thời đại ngày nay, không một doanh nghiệp nào bắt tay vào kinh

doanh lại không tìm mọi cách gắn kinh doanh của mình với thị trường vì chỉ
có như vậy doanh nghiệp mới hi vọng tồn tại và phát triển trong cơ chế thị
trường. Mọi doanh nghiệp trong đó có các doanh nghiệp Bưu chính cũng
không là ngoại lệ. Doanh nghiệp Bưu chính cũng là một chủ thể kinh doanh,
một cơ thể sống của đời sống kinh tế. Cơ thể đó cần có sự trao đổi chất với
môi trường bên ngoài ( thị trường) Quá trình trao đổi chất đó càng diễn ra
thường xuyên, liên tục, với quy mô càng lớn thì cơ thể đó càng khoẻ mạnh.
Doanh nghiệp Bưu chính cũng như các doanh nghiệp khác, muốn tồn tại thì
dứt khoát phải có các hoạt động như kinh doanh, tài chính, quản trị nhân
lực… Nhưng trong nền kinh tế thị trường, chức năng quản lý kinh doanh,
chức năng quản lý tài chính, chức năng quản lý nhân sự chưa đủ đảm bảo cho
các doanh nghiệp Bưu chính tồn tại, và lại càng không có gì đảm bảo chắc
chắn cho sự phát triển của các doanh nghiệp Bưu chính, nếu tách rời nó khỏi
một chức năng khác- chức năng kết nối mọi hoạt động của doanh nghiệp với
thị trường. Chức năng này thuộc lĩnh vực quản lý khác- quản lý Marketing.
Chính Marketing ( trong đó có marketing mix) đã kết nối hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp Bưu chính với thị trường, đảm bảo cho hoạt
động kinh doanh của các doanh nghiệp này hướng theo thị trường, biết bám
lấy thị trường , lấy nhu cầu và ước muốn của khách hàng làm chỗ dựa vững
chắc nhất cho mọi quyết định kinh doanh của mình.
1.2.Nội dung của công tác ứng dụng marketing - mix vào hoạt động kinh
doanh ở các doanh nghiệp Bưu chính
1.2.1.Tham số sản phẩm (Product)
8
Sản phẩm theo quan điểm marketing là tất cả những cái, những yếu tố
có thể thoả mãn nhu cầu hay ước muốn được đưa ra chào bán trên thị trường
với mục đích thu hút sự chú ý mua sắm, sử dụng hay tiêu dùng.
Ba cấp độ cấu thành nên sản phẩm:
- Cấp độ cơ bản nhất là sản phẩm theo ý tưởng: Sản phẩm theo ý tưởng
trả lới câu hỏi về thực chất sản phẩm này thoả mãn những điểm lợi ích cốt

yếu nhất mà khách hàng theo đuổi là gì? Đó là những giá trị mà nhà kinh
doanh sẽ cung ứng cho khách hàng. Những lợi ích cơ bản và tièm ẩn đó có thể
thay đổi tuỳ thuộc vào hoàn cảnh của môi trường và mục tiêu cá nhân của
khách hàng, nhóm khách hàng trong bối cảnh nhất định. Nhà quản trị
marketing phải nghiên cứu tìm hiểu khách hàng để phát hiện ra những đòi hỏi
về các khía cạnh lợi ích khác nhau tiềm ẩn trong nhu cầu của họ. Có như vậy
mới tạo ra những sản phẩm có khả năng thoả mãn đúng và tốt nhất lợi ích mà
khách hàng mong đợi. Theo cách phân tích đó sản phẩn ý tưởng của ngành
Bưu chính đó là cung cấp các dịch vụ bưu chính nhằm thoả mãn các nhu cầu
trao đổi thư từ, hàng hoá, thông tin của khách hàng.
- Cấp độ thứ hai là sản phẩm hiện thực: là những yếu tố phản ánh sự có
mặt trên thực tế của sản phẩm. Những yếu tố đó bao gồm: các chỉ tiêu phản
ánh chất lượng, các đặc tính, bố cục bề ngoài, tên nhãn hiệu cụ thể và đặc
trưng của bao gói. Khi tìm mua những lợi ích cơ bản, khách hàng thường dựa
vào những yếu tố này. Nhờ các yếu tố này mà nhà kinh doanh khẳng định sự
hiện diện của mình trên thị trường, để khách hàng tìm đến doanh nghiệp và
giúp họ phân biệt sản phẩm của hãng này so với hãng khác. Với cách phân
tích trên thì sản phẩm hiện thực của ngành bưu chính đó là các dịch vụ
chuyển phát nhanh, dịch vụ phát hành báo, dịch vụ chuyển tiền, điện hoa…
- Cấp độ cuối cùng là sản phẩm bổ sung, đó là các yếu tố như: tính tiện
lợi cho sử dụng, những dịch vụ bổ sung sau khi bán, những điều kiện bảo
9
hành và điều kiện hình thức tín dụng…, Nhờ những yếu tố này đã tạo ra sự
đánh giá mức độ hoàn chỉnh khác nhau, trong sự nhận thức của người tiêu
dùng về sản phẩm hay nhãn hiệu cụ thể. Khi mua những lợi ích cơ bản của
một sản phẩm bất kỳ khách hàng nào cũng thích mua nó ở mức độ hoàn chỉnh
nhất. Đến lượt mình, chính mức độ hoàn chỉnh về lợi ích cơ bản mà khách
hàng mong đợi lại phụ thuộc vào những yếu tố bổ sung mà nhà kinh doanh sẽ
cung cấp cho họ. Vì vậy, từ góc độ nhà kinh doanh, các yếu tố bổ sung trở
thành một trong những vũ khí cạnh tranh của các nhãn hiệu sản phẩm. Sản

phẩm bổ sung của ngành bưu chính có thể là thái độ phục vụ chuyên nghiệp
của nhân viên bưu chính, là sự kịp thời về thời gian, sự an toàn về tài liệu,
hàng hoá được gửi.
Từ sự phân tích trên ta thấy sản phẩm của các doanh nghiệp Bưu chính
là các sản phẩm vô hình ( sản phẩm dịch vụ, các sản phẩm phi vật chất). Các
doanh nghiệp Bưu chính kinh doanh các sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu
trao đổi thư từ, hàng hoá giữa các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong nước
cũng như quốc tế.Khi khách hàng sử dụng dịch vụ Bưu chính thì họ không chỉ
mong muốn thư từ, hàng hoá của họ được chuyển đến đúng địa chỉ người
nhận mà họ còn mong muốn đảm bảo được sự an toàn, thuận tiện, nhanh
chóng, nhiều khách hàng còn có nhu cầu nhân viên bưu chính đến tại cơ quan,
nhà để phục vụ nhu cầu trao đổi hàng hoá, thư từ của họ, đó là điều mà hiện
nay nhiều doanh nghiệp Bưu chính chưa làm được hoặc có làm được nhưng
chưa thực sự được tốt, chưa thoả mãn được đầy đủ nhu cầu của khách hàng.
1.2.2.Tham số giá cả (Price)
Giá cả có thể được định nghĩa theo nhiều giác độ khác nhau.
- Với hoạt động trao đổi: giá cả là mối tương quan trao đổi trên thị
trường. Giá cả là biểu tượng giá trị của sản phẩm, dịch vụ trong hoạt động
10
trao đổi. Trao đổi qua giá cả là trao đổi dựa trên giá trị của những thứ đem
trao đổi.
- Với người mua: giá cả của một sản phẩm, dịch vụ là khoản tiền mà
người mua phải trả cho người bán để được quyền sở hữu, sử dụng sản phẩm
hay dịch vụ đó. Đối với khách hàng của ngành Bưu chính thì giá cả chính là
những khoản tiền mà họ bỏ ra để được sử dụng các dịch vụ Bưu chính, gọi
chung là cước phí cho các dịch vụ.
- Với người bán: Giá của một sản phẩm, dịch vụ là khoản thu nhập mà
người bán nhận được nhờ việc tiêu thụ sản phẩm đó.
Các doanh nghiệp Bưu chính hiện nay định giá theo các mức giá khác
nhau nhằm tạo ra sự cạnh tranh về giá. Bởi vì giá cả là biến số duy nhất của

marketing- mix tạo doanh thu cho các doanh nghiệp bưu chính. Các quyết
định về giá luôn gắn với kết quả tài chính của doanh nghiệp.
Thông tin về giá cả luôn giữ vị trí số một trong việc đề xuất các quyết
định kinh doanh nói chung và các quyết định về giá cả nói riêng. Quản trị giá
cả được coi là nội dung trọng tâm của quản trị marketing.
Giá cả chỉ là một công cụ của marketing- mix mà doanh nghiệp Bưu
chính sử dụng để đạt mục tiêu của mình. Điều đó có nghĩa là khi ra quyết định
về giá cả, các doanh nghiệp Bưu chính phải đặt nó trong một chính sách tổng
thể và chịu sự chi phối của chiến lược định vị mà doanh nghiệp Bưu chính lựa
chọn và sự phối hợp với các chữ P khác.
Có thể tóm tắt ảnh hưởng của chiến lược định vị, các chữ P khác đến
quyết định giá qua sơ đồ sau:
Chiến lược định vị Lựa chọn các P Quyết định về giá
Sơ đồ này đòi hỏi:
11
- Giá cả và các chiến lược khác của marketing- mix phải có sự hỗ trợ
lẫn nhau để doanh nghiệp Bưu chính thực hiện được chiến lược định vị và các
mục tiêu đã chọn.
- Sự lựa chọn về giá cả phải được đặt trên cơ sở các sự lựa chọn về các
biến số khác của marketing đã được thông qua.
1.2.3.Tham số phân phối (Prace)
Một bộ phận quan trọng của chiến lược marketing- mix là phân phối.
Hoạt động phân phối giải quyết vấn đề dịch vụ được đưa như thế nào đến
người tiêu dùng. Các quyết định về phân phối thường phức tạp và có ảnh
hưởng trực tiếp đến tất cả các lĩnh vực khác trong marketing. Hiện nay ngày
càng nhiều doanh nghiệp quan tâm đến phân phối như là biến số marketing
tạo lợi thế cạnh tranh dài hạn cho doanh nghiệp trên thị trường. Các doanh
nghiệp tổ chức và quản lý hoạt động phân phối thông qua các hệ thống kênh
phân phối.
Kênh phân phối là một tập hợp các doanh nghiệp và cá nhân độc lập và

phụ thuộc lẫn nhau, tham gia vào quá trình đưa sản phẩm từ nhà cung ứng tới
người tiêu dùng.
Kênh phân phối là con đường mà sản phẩm được lưu thông từ nhà cung
ứng đến người tiêu dùng. Nhờ có mạng lưới kênh phân phối mà khắc phục
được những khác biệt về thời gian, địa điểm, và quyền sở hữu giữa người
cung ứng với người tiêu dùng các dịch vụ.
Đối với các doanh nghiệp Bưu chính kinh doanh trong lĩnh vực dịch
vụ, sản phẩm dịch vụ của họ được thực hiện thông qua hệ thống các Bưu điện,
Bưu cục. Hệ thống các Bưu cục, bưu điện là các đơn vị trực tiếp thực hiện
việc kinh doanh của doanh nghiệp, tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, các
nhân viên Bưu chính làm việc tại các Bưu cục, Bưu điện trực tiếp cung ứng
12
dịch vụ của Công ty. họ có thể cung cấp dịch vụ tại Bưu cục, bưu điện; hoặc
có thể họ sẽ đến tận cơ qua, nhà ở, công ty hay bất kỳ địa điểm nào mà khách
hàng yêu cầu. Mạng lưới các Bưu cục, Bưu điện càng rộng bán kính kinh
doanh càng được thu hẹp, khả năng phục vụ nhu cầu của khách hàng càng
được tốt hơn. Chính vì vậy các doanh nghiệp Bưu chính đang nỗ lực phát
triển mạng lưới các Bưu cục, Bưu điện của mình đến các vùng miền để phát
triển thị trường, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng.
Ví dụ:
1.2.4.Tham số xúc tiến (Promotion)
Hoạt động marketing hiện đại rất quan tâm đến các chiến lược xúc tiến
hỗn hợp. Đây là một trong 4 nhóm công cụ chủ yếu của Marketing- mix mà
doanh nghiệp có thể sử dụng để tác động vào thị trường mục tiêu nhằm đạt
mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. Bản chất của các hoạt động xúc tiến
13
Bưu Cục cấp
Huyện/Bưu cục
cấp 2
VNPT

Bưu Điện
Tỉnh
Bưu Điện
Huyện
Bưu Điện
Văn hoá xã
Viettel
post
Viettel
post
Bưu cục
Cấp Tỉnh/
quận
chính là truyền tin về sản phẩm và doanh nghiệp tới khách hàng để thuyết
phục họ mua, họ sử dụng dịch vụ. Vì thế có thể gọi đây là các hoạt động
truyền thông Marketing.
Một số dạng chủ yếu trong chiến lược xúc tiến hỗn hợp thường được
các doanh nghiệp sử dụng là:
- Quảng cáo: Bao gồm mọi hình thức giới thiệu một cách gián tiếp và
đề cao những ý tưởng , dịch vụ được thực hiện theo yêu cầu của chủ thể
quảng cáo và chủ thể phải thanh toán các chi phí. Các doanh nghiệp Bưu
chính thường quảng cáo hình ảnh của doanh nghiệp mình qua các phương tiện
truyền thông như: báo chí, truyền hình, qua chính phong bì của họ…
- Xúc tiến bán ( khuyến mại) : Là những biện pháp tác động tức thời
ngắn hạn để khuyến khích việc mua sản phẩm hay sử dụng dịch vụ. Ở các
doanh nghiệp Bưu chính có rất nhiều hình thức khuyến mại, có doanh nghiệp
đưa ra chính sách chiết khấu cao, có doanh nghiệp tiến hành quay xổ số trên
số bưu gửi của mình… nhằm thu hút, lôi kéo khách hàng.
- Tuyên truyền ( quan hệ với công chúng): là việc kích thích một cách
gián tiếp nhằm tăng nhu cầu về hàng hoá , dịch vụ hay tăng uy tín của một

đơn vị kinh doanh bằng cách đưa ra những tin tức có ý nghĩa thương mại về
chúng trên các ấn phẩm, các phương tiện thông tin đại chúng và miễn phí.
Hiện nay nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Bưu chính đã thực
hiện rất tốt các mối quan hệ với công chúng ví dụ như Viettel , VNPT… Họ
thực hiện bằng cách tài trợ cho các chương trình giao lưu mang tính từ thiện,
ủng hộ người nghèo, giúp đỡ học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn…
qua các hoạt động này hình ảnh của họ càng được nâng cao trong trong tâm
trí khách hàng.
- Bán hàng cá nhân: Là sự giới thiệu bằng miệng về sản phẩm và dịch
vụ của người bán hàng qua cuộc đối thoại với một hay nhiều khách hàng tiềm
14
năng nhằm mục đích bán hàng, cung ứng dịch vụ. Ở các doanh nghiệp bưu
chính, các nhân viên Bưu cục, bưu điện, bưu tá… có thể trực tiếp giới thiệu
về sản phẩm của Công ty để thu hút , lôi cuốn khách hàng tiềm năng sử dụng
dịch vụ.
- Marketing trực tiếp: Là việc sử dụng một hay nhiều công cụ truyền
thông marketing để ảnh hưởng đến quyết định mua trực tiếp của khách hàng
và tạo nên các giao dịch kinh doanh ở mọi địa điểm. Ở các doanh nghiệp Bưu
chính, hình thức marketing trực tiếp chủ yếu được thực hiện qua các catalog,
bằng thư trực tiếp do nhân viên marketing của Công ty trực tiếp đem đến cho
khách hàng.
1.2.5.Tham số con người:Yếu tố con người ở đây bao gồm cả nhân viên
công ty và người tiêu dùng ( khách hàng)
Trong kinh doanh dịch vụ, con người là yếu tố vô cùng quan trọng
trong sự thành công của doanh nghiệp. Chính con người làm nên thương hiệu
cho dịch vụ. Đến cuối năm 2004 tổng lao động làm việc trong lĩnh vực bưu
chính khoảng 45.000 người, trong đó chủ yếu là của Tổng công ty BCVT Việt
nam (42.330 người).
Trong những năm qua đội ngũ những người làm bưu chính của Tổng
công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam và các doanh nghiệp kinh doanh

dịch vụ bưu chính chỉ được bổ sung chủ yếu từ các trường công nhân và chỉ
được đào tạo trên quy trình công nghệ của các dịch vụ truyền thống hoặc
những lao động phổ thông có trình độ thấp. Số lượng cán bộ được đào tạo hệ
trung cấp và cao đẳng chiếm tỷ trọng chưa cao lại chủ yếu chỉ được đào tạo
về nghiệp vụ. Đặc biệt thiếu đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ chuyên môn,
ngoại ngữ tốt và hiểu biết về thị trường, quản lý mạng bưu chính.
Có thể nói đội ngũ lao động bưu chính hiện nay còn yếu, chủ yếu chỉ
thực hiện các công việc mang tính giản đơn, trong khi bưu chính là ngành
15
kinh tế sử dụng lao động là đầu vào chính tạo ra giá trị gia tăng, vì vậy để
phát triển các dịch vụ mới, nâng cao chất lượng dịch vụ thì cần phải nâng cao
chất lượng tổ chức, quản lý lao động thông qua các hình thức đào tạo mới,
đào tạo lại.
Năng suất lao động trong lĩnh vực Bưu chính của Việt nam còn thấp.
Theo số liệu của Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt nam, doanh thu
bình quân đầu người bưu chính Việt nam năm 2004 đạt xấp xỉ 38 triệu đồng/
người/năm (kể cả doanh thu dịch vụ phát hành báo chí). Các doanh nghiệp
khác như Viettel xấp xỉ đạt 58 triệu đồng/người/năm
1.3.Những yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới việc ứng dụng Marketing- mix
vào hoạt động kinh doanh ở các doanh nghiệp Bưu chính.
1.3.1.Những tác động thuộc môi trường vĩ mô đến dịch vụ Bưu chính
a. Môi trường kinh tế:
Trong những năm gần đây kinh tế nước ta đạt mức tăng trưởng cao, về
thu nhập, tốc độ đô thị hoá nhanh ở các thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng,
TP Hồ Chí Minh, Vũng Tàu… cũng như đời sống của nhân dân được nâng
lên rõ rệt.
Khi mức sống của người dân tăng cao đặc biệt là ở các thành phố lớn sẽ
dẫn đến việc mức chi tiêu tăng cho các nhu cầu giải trí, nhu cầu muc sắm, đầu
tư, trao đổi thông tin, thư từ hàng hoá… Vì vậy các doanh nghiệp cung cấp
dịch vụ ra đời và phát triển mạnh để đáp ứng các nhu cầu phong phú đó của

người tiêu dùng. Một loạt các Công ty hoạt động trong lĩnh vực Bưu chính
được ra đời cung cấp các dịch vụ Bưu chính trên lãnh thổ Việt Nam với mạng
lưới rộng lớn trên toàn quốc. Thị trường kinh doanh về dịch vụ Bưu chính nói
riêng đã diễn ra sự cạnh tranh gay gắt để giành thị phần, thị trường Bưu chính
không còn độc quyền như trước.
16
Ngày nay hành vi mua sắm của người tiêu dùng đã có sự thay đổi so với
trước đây, mua sắm nagỳ nay không chỉ đấp ứng được nhu cầu hàng hoá cho
tiêu dùng mà còn là nhu cầu về giải trí, tiện lợi, người tiêu dùng ở các thàng phố
lớn đã quen mua sắm hàng hoá trong các siêu thị, hệ thống các siêu thị và hệ
thống bán lẻ trên mạng đã kinh doanh rất thành công với chiến lược phát triển
rộng mạng lưới phân phối và đi kèm theo là các dịch vụ giải trí. Khi tiêu dùng
của Chính phủ và của người dân tăng lên thì hệ thống các Ngân hàng cũng phát
triển theo để đáp ứng các nhu cầu tiết kiệm, giao dịch, vốn đầu tư…
Kinh tế phát triển có nghĩa là các doanh nghiệp trong khu vực đang
trong giai đoạn thịnh vượng cho nên các nhu cầu về giao thương giữa các
doanh nghiệp cũng tăng. Công nghẹ hiện đại của Bưu chính viễn thông với
dịch vụ Internet, dịch vụ điện thoại đường dài (VOIP) , dịch vụ điện thoại di
động , dich vụ chuyển phát nhanh toàn cầu đã đáp ứng được nhu cầu trên cho
các doanh nghiệp. Doanh thu của các ngành dịch vụ Bưu chính - Viễn thông
là khổng lồ va có rất nhiều doanh nghiệp muốn nhảy vào thị trường Bưu
chính - Viễn thông trong giai đoạn hiện nay.
Cung - cầu là quy luật của nền kinh tế thị trường, nhu cầu của khách
hàng tăng đòi hỏi các hãng cung ứng dịch vụ phải nahy cảm nắm bắt nhu cầu
của khách hàng để cung cấp dịch vụ nhằm thoả mãn một cách tối đa các nhu
cầu đó của khách hàng. Vì vậy nghiên cứu để nắm bắt được các nhu cầu của
người tiêu dùng là một yếu tố quan trọng trong phân tích marketing – mix.
Sự phát triển ổn định nền kinh tế cùng với tỷ lệ lạm phát bình quân
5.8% và tỷ giá hối đoái của Việt Nam trong những năm qua tương đối ổn
định. Cùng với sự tăng trưởng của GDP trong những năm qua là sự tăng

trưởng của dịch vụ Bưu chính. Số lượng các doanh nghiệp mới ra đời ngày
càng nhiều đã làm tăng các giao dịch kinh doanh thông qua Bưu chính. Xã hội
Việt Nam đang có những bước chuyển mới, người dân ngày càng có nhiều
17
lựa chọn trong việc sử dụng các dịch vụ Bưu chính, chính điều này đã tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp có nhiều giải pháp trong việc ứng dụng
marketing - mix vào kinh doanh
b. Môi trường chính trị - luật pháp
Việt Nam là một quốc gia có nền chính trị ổn định do một Đảng duy
nhất lãnh đạo đó là Đảng Cộng sản Việt Nam , nước ta luôn đưa ra các cơ chế
chính sách hợp lý nhằm khuyến khích mọi thành phần kinh tế phát triển.
Trong lĩnh vực Bưu chính các chính sách phát triển Bưu chính được quy định
cụ thể trong pháp lệnh Bưu chính Viễn thông như sau:
- Phát huy mọi nguồn lực của đất nước để phát triển nhanh và hiện đại
hoá Bưu chính, đảm bảo nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất
lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo quốc phòng an ninh.
- Ưu tiên đầu tư phát triển Bưu chính, viễn thông đối với nông thôn,
vùng sâu vùng xa, biên giới, hải đảo; có chính sách ưu đãi, hỗ trợ các doanh
nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông công ích và thực hiện các
nhiệm vụ công ích khác theo yêu cầu của Nhà nước.
- Khuyến khích, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế tham gia kinh
doanh Bưu chính, viễn thông trong môi trường cạnh tranh công bằng, minh
bạch do Nhà nước quản lý với đầy đủ các loại hình dịch vụ, bảo đảm chất
lượng và giá cước hợp lý.
- Tôn trọng , bảo vệ quyền và lợi ích ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
tham gia hoạt động bưu chính, viễn thông.
- Tạo điều kiện ứng dụng và thúc đẩy phát triển công nghệ và công nghiệp
bưu chính, viễn thông.
18
- Mở rộng hợp tác quốc tế về bưu chính, viễn thông trên cơ sở tôn trọng

độc lập chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi, phù hợp với pháp luật Việt Nam và
điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập.
Pháp lệnh Bưu chính viễn thông ra đời ngày 25/05/2002 là cơ sở cho
các doanh nghiệp tham gia vào thị trường Bưu chính, với pháp lệnh này tạo
thuận lợi cho các doanh nghiệp tham gia vào kinh doanh trong lĩnh vực bưu
chính được thuận lợi hơn, các doanh nghiệp dễ dàng áp dụng chính sách
marketing-mix vào hoạt động kinh doanh của mình.
Trong điều kiện chúng ta hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế khu
vực cũng như thế giới, chúng ta sẽ có rất nhiều cơ hội để phát triển, tranh thủ
được các nguồn vốn đầu tư nước ngoài để phát triển kinh tế, đó là mục tiêu
của Việt Nam trong giai đoạn phát triển nèn kinh tế, Các doanh nghiệp nói
chung cũng như các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Bưu chính nói riêng đang
chạy đua nhau để nâng cao chất lượng dịch vụ, hạ giá thành sản phẩm, và mở
rộng thị trường tiêu thụ, tìm các đối tác để liên doanh, liên kết… Các doanh
nghiệp chỉ tồn tại và phát triển nếu có bước đi đúng trong điều kiện chúng ta
đã gia nhập WTO, hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới. Để tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp nước ngoài tập trung đầu tư vào Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay Chính phủ đã tập trung giải quyết các vấn đề sau:
- Phát triển mạnh các dịch vụ như: Bưu chính - Viễn thông, giao thông vận
tải, bảo hiểm, y tế… Bên cạnh đó từng bước hạ giá dịch vụ viễn thông để có
mức giá ngang bằng với các nước trong khu vực, bởi vì so với các nước trong
khu vực giá cước viễn thông của chúng ta hiện nay là rất cao.
- Đổi mới mô hình hoạt động cảu các doanh nghiệp Nhà Nước, Công ty
mẹ- Công ty con. Cổ phần hoá doanh nghiệp.
- Hướng tới giải quyết lao động dư thừa do yếu tố cạnh tranh của các
doanh nghiệp trong quá trình hội nhập klinh tế quốc tế.
19
Những ưu tiên cua Chính phủ sẽ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp cung
cấp dịch vụ phát triển mạnh hơn, và thị trường cung cấp dich vụ sẽ sôi động
hơn trong tương lai.

* Các ngành dịch vụ dưới tác động của các chính sách kinh kế trong điều
kiện Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế:
1.1- Khái quát về các tổ chức kinh kế và hiệp định Thương mại Việt - Mỹ
1.1.1 Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)
Được khởi xướng từ năm 1993 – AFTA sẽ hoàn thành vào năm 2010.
Việt Nam tham gia AFTA từ tháng 10/1996 và đã hoàn thành vào 01/01/2006.
Trọng tâm cua việc hình thành AFTA là thúc đẩy hợp tác kinh tế và phát triển
thương mại. Công cụ để thực hiện AFTA là chương trình ưu đãi thuế quan có
hiệu lực chung CEPT, chương trình này nhằm xoá bỏ rào chắn thương mại và
hình thành một thị trường thống nhất cho tất cả các thành viên. Nội dung cua
CEPT là giảm thuế nhập khẩu tới 0% - 5% đối với hàng hoá có nguồn gốc từ
các nước thành viên ASEAN, dỡ bỏ các hạn chế về định lượng , dỡ bỏ hàng
rào phi thuế quan và thiết lập cơ chế thông nhanh cho các sản phẩm. Ngoài
ra , ASEAN còn có các thoả thuận hợp tác về công nghiệp và đầu tư.
1.1.2 Tổ chức Thương mại thế giới (WTO )
Trong xu thế toàn cầu hoá WTO đóng vai trò rất quan trọng là nền tảng
pháp lý cho quan hệ kinh tế quốc tế đồng thời là thể chế giải quyết các tranh
chấp phát sinh trong thương mại Quốc tế .
WTO ra đời 01/01/1995 thay thế cho hiệp định chung về thuế quan và
thương mại ( GATT), 07/11/2007 Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150
của tổ chức Thương mại thế giới (WTO). WTO chiếm gần 90% kim ngạch
thương mại trên toàn thế giới.
Các quy đinh của WTO dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau:
20
- Trong thương mại không có phân biệt đối xử, các nước thành viên phải dành
cho nhau quy chế đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia.
- Đảm bảo tính ổn định cho thương mại quốc tế thông qua yêu cầu
rang buộc thuế quan và minh bạch hoá chính sách.
- Tạo môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng, thương mại ngày
càng tự do hơn thông qua đàm phán.

- Dành điều kiện đặc biệt cho các nước đang phát triển
1.1.3 Hiệp định thương mại Việt - Mỹ
Hiệp định thương mại Việt - Mỹ được ký vào tháng 7/2000. Sau khi
quốc hội hai nước phê chuẩn, Hiệp định đã chính thức có hiệu lực từ ngày
10/12/2001.
Các nội dung cơ bản cua Hiệp định về thương mại hàng hoá ( trừ hàng
dệt may và sản phẩm có hiệp định riêng) hai bên dành cho nhau ngay lập tức
và vô điều kiện quy chế đối xử tối huệ quốc cho hàng hoá có xuất xứ tại hoặc
được xuất khẩu từ lãnh thổ Bên kia, Về thương mại dịch vụ không hạn chế
việc cung cấp dịch vụ từ lãnh thổ bên này sang bên kia của mọi pháp nhân và
cá nhân.
Về quan hệ đầu tư không hạn chế ( trừ một số lĩnh vực được bảo lưu
đối với Việt Nam và Hoa Kỳ) và trong vòng 2-9 năm tạo điều kiện cho các
nhà đầu tư Hoa Kỳ đầu tư vào Việt Nam theo thủ tục đăng ký cấp giấy phép
đầu tư.
Về sở hữu trí tuệ, bảo hộ cho nhau và thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại
hai nước và tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh.
Qua một số chính sách thương mại ta thấy nội dung chủ yếu :
- Các biện pháp tự do hoá thương mại hàng hoá , thương mại dịch vụ và đầu
tư:
21
+ Chế độ cắt giảm thuế quan, bãi bỏ, hạn chế mậu dịch phi thuế quan.
+ Tạo sự thông thoáng về đầu tư
+ Các loại phí XNK, hải quan chi thu đủ để chi phí cho dịch vụ đó.
- Thương mại không có sự phân biệt đối xử : áp dụng quy chế đối xử tối huệ
quốc , đối xử quốc gia, mở cửa thị trường trong nước cho hàng hoá các nước
tham gia tổ chức kinh tế - thương mại.
- Luật lệ phải minh bạch, rõ ràng công khai với các tiêu chí cụ thể , dễ
hiểu và dễ thực hiện.
1.2 Những tác động của vấn đề hội nhập nền kinh tế quốc tế đến

ngành dịch vụ Bưu chính
- Sức cạnh tranh của dịch vụ bưu chính còn thấp: Hội nhập một mặt tạo
thêm nhiều cơ hội mở rộng thị trường đồng thời chúng ta cũng mở cửa cho
các nhà đầu tư cung cấp dịch vụ trong đó có dịch vụ bưu chính. Do đó dịch vụ
bưu chính của Việt Nam sẽ phải cạnh tranh gay gắt ngay trê thị trường nội địa
nhất là trong giai đoạn hiện nay nước ta đã gia nhập WTO, các nhà cung cấp
dịch vụ bưu chính chuyên nghiệp của các nước ASEAN và các nước phát
triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU… sẽ được tự do cạnh tranh trên thị trường
nước ta.
- Khả năng cạnh tranh của các nhà cung cấp dịch vụ Bưu chính còn hạn
chế: quy mô nhỏ, nguồn vốn hạn chế, thiết bị và công nghệ lạc hậu, trình độ
quản lý chưa mang tính chuyên nghiệp cao, chất lượng thấp, giá dịch vụ cao,
khả năng giành thị trường yếu. Doanh nghiệp vẫn chưa quan tâm đúng mức
đến yếu tố cạnh tranh và thị trường trong xây dụng chiến lược phát triển của
mình. Các doanh nghiệp sẽ không còn núp sau bảo hộ hàng rào thuế quan của
Nhà nước khi mà Chính phủ áp dụng quy chế đối xử quốc gia, cắt bỏ thuế
quan. Những yếu tố trên làm cho ngành cung cấp dịch vụ Bưu chính của Việt
22
Nam kém hấp dẫn và mất dần thế cạnh tranh thị trường trước các doanh
nghiệp nước ngoài.
Trước tình hình cạnh tranh gay gắt trên thị trường nội địa, các doanh
nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ sẽ có hướng phát triển :
- Tập trung và mở rộng mạng lưới chiếm lĩnh thị trường, cung cấp các
dịch vụ Bưu chính viễn thông ( với các dịch vụ điện thoại dường dài VOIP ,
dịch vụ chuyển phát hàng hoá như Viettel, Sai gon Postel, VNPT…)
- Phát triển đa dạng các loại dịch vụ, gia tăng các dịch vụ cung cấp trên
mạng lưới phân phối sẵn như các sản phẩm của VNPT: Dịch vụ tiết kiệm Bưu
điện, dịch vụ phát trong ngày, dịch vụ khai giá, dịch vụ Email to Letter, dịch
vụ điện thoại di động, cố định, di động nội vùng giá rẻ…
- Thay đổi phong cách và thái độ phục vụ do trước đây dịch vụ Bưu

chính Viễn thông mang tính độc quyền.
- Chú ý hơn đến yếu tố khuyếch trương sản phẩm dịch vụ: tăng chi phí
quảng cáo, khuyến mãi, chăm sóc khách hàng, coi trọng thương hiệu của các
sản phẩm dịch vụ Bưu chính.
- Coi trọng hơn đến việc áp dụng những kiến thức mới về marketing để
áp dụng vào tình hình thực tế đó là hàng loạt các chương trình đào tạo MB
quản trị marketing, quản trị thương hiệu, giám đốc nhãn hiệu… được các
doanh nghiệp quan tâm.
Ngoài những yếu tố chính sách kinh tế, vấn đề về chính trị cũng ảnh
hưởng lớn tới sự phát triển ổnn điịnh cua ngành dịch vụ Bưu chính. Trong
tình hình nhiều nước trong khu vực và trên thế giới bị đe doạ trước nguy cơ
khủng bố chiến tranh, thì Việt Nam được đánh giá là quốc gia an toàn nhất
trên thế giới. Đây là một yếu tố rất thuận lợi để các doanh nghiệp Việt Nam
có thể tranh thủ thời cơ để phát triển và thu hút đầu tư.
23
c. Công nghệ- nghệ kỹ thuật
Với tốc độ phát triển về công nghệ - kỹ thuât như vũ bão hiện nay đã
tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các doanh nghiệp đó là năng suất
lao động cao, giá thành sản phẩm thấp, lao động thủ công, chân tay được thay
thế bằng máy móc… Đặc biệt là dịch vụ Internet là cự phát triển tột bậc về
công nghệ thông tin trong giai đoạn hiện nay, các nhà cung cấp dịch vụ
Internet như: VDC, Sài Gòn Post, Viettel, FPT…cũng cạnh tranh nhau để đưa
ra mức giá hấp dẫn và sản phẩm dịch vụ được cải tiến liên tục đó là dịch vụ
Internet tốc độ cao ADSL nhanh hơn các truy nhập thông thường 140 lần.
Công nghệ tin học góp phần nâng cao chất lượng các sản phẩm của dịch vụ
Bưu chính, giúp cho các giao dịch diễn ra nhanh chóng hơn, chính xác hơn.
Công nghệ thông tin phát triển giúp trao đổi và khai thác thông tin của
các doanh nghiệp và người dân được dễ dàng hơn, nó góp phần phát triển trí
thức và văn hoá, người tiêu dùng không còn phải chịu mức cước phí sử dụng
dịch vụ Internet và dịch vụ điện thoại đường dài cao như trước đây. Với công

nghệ VOIP các dịch vụ đường dài trong nước và quốc tế của các nhà cung cấp
dịch vụ có mức giá rẻ chỉ bằng 45% giá truyền thống, sự phát triển của các
dịch vụ điện thoại di động thế hệ mới như City phone, mạng điện thoại sử
dụng công nghệ CDMA, GMS 3G mang lại nhiều tiện ích… chính sự phát
triển của công nghệ thông tin giúp các nhà cung cấp dịch vụ hạ được giá
thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh đặc biệt là các dịch vụ như dịch vụ Bưu
chính cũng liên quan nhiều đến công nghệ thông tin.
Ngày nay việc khai thác thông tin qua mạng Internet giúp các nhà cung
cấp có thể đánh giá và phân tích thị trường một cách dễ dàng hơn, các doanh
nghiệp Bưu chính có thể quảng cáo sản phẩm trên các trang Website của mình
một cách có hiệu quả hơn. Internet có thể là phương tiện để thực hiện các hoạt
động marketing – mix có hiệu quả hơn, các doanh nghiệp Bưu chính trao đổi
24
thông tin với nhau và với khách hàng nhanh hơn và dễ dàng hơn, Đây là yếu
tố làm giảm sản lượng của các dịch vụ Bưu chính truyền thống như tem, phát
hành báo. Đặc biệt Internet phát triển mạnh trên toàn lãnh thổ, giá rẻ, tốc độ
cao, sẽ là sản phẩm thay thế của dịch vụ truyền thống kể cả dịch vụ chuyển
phát nhanh thư từ tài liệu khi mà các công nghệ đi kèm với Internet ra đời
như: Scaner, Webcame… như hiện nay.
Việc áp dụng công nghệ thông tin và kỹ thuật sẽ giúp doanh nghiệp
tăng sản lượng sản xuất và chất lượng sản phẩm. Với chủ trương đó VNPT đã
thành lập ban dự án POST*NET nhằm đẩy mạnh công tác tin học hoá trong
lĩnh vực Bưu chính. Ban POST*NET sẽ xây dựng mạng lưới viễn thông,
mạng máy tính Bưu chính trên cơ sở hạ tầng mạng điều hành sản xuất kinh
doanh hiện có của VNPT các phần mềm như: Phần mềm cho các dịch vụ tài
chính bưu chính, phần mềm hệ thống thông tin định vị, cung cấp hỗ trợ thông
tin khách hàng và phần mềm tự động hoá giao dịch để cung cấp một giai diện
thống nhất và chuẩn hoá cho toàn bộ giao dịch trong cả nước. Các phần mềm
này cũng sẽ được sử dụng để phát triển các dich vụ gia tăng khác như: Email
to Letter- dịch vụ chuyển thư điện tử sang thư thường sau đó chuyển phát cho

người nhận một cách an toàn và bảo mật.
Bên cạnh sự phát triển của công nghệ thông tin đó là sự phát triển kỹ
thuật hiện đại của phương tiện giao thông. Công nghệ chế tạo máy bay hiện
đại cho ra đời các loại phương tiện tốc độ cao như máy bay siêu tốc, tàu điện
từ trường, các loại xe hơi sang trọng , tiện nghi đến các loại xe chất lượng giá
vừa phải… các hãng hàng không trong nước hiện nay như Việt Nam Airline,
Pacfic Airline đã tăng cường chuyến bay và mở rộng đường bay, các phương
tiện vận tải đường bộ như tàu hoả chạy Bắc- Nam đã giảm xuống còn 32h-
36h/chuyến, bên cạnh đó là sự ra đời hàng loạt các hãng taxi mới…
25

×