Tải bản đầy đủ (.docx) (36 trang)

Tìm hiểu và đề xuất các giải pháp giảm thiểu tai biến đất Loess ở Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (449.89 KB, 36 trang )

MỞ ĐẦU
Loess nguồn gốc gió đã được phát hiện từ lâu ở Châu Âu trên vùng ngoại vi băng hà
và trên vùng Đông Nam sa mạc Gobi thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Những hiểu biết trước
đây của các nhà địa chất về thành tạo Loess cho rằng chúng chỉ hình thành trên vùng vĩ độ
cao như ở Châu Âu, Châu Mỹ và Trung Quốc thuộc khí hậu khô, lạnh và khí hậu ôn đới.
Chúng chưa từng phát hiện và đề cập tới Loess hình thành trên vùng vĩ độ thấp khí hậu
nhiệt đới ẩm như Việt Nam và các nước Đông Nam Á. Vào khoảng đầu thập niên thứ 8 thế
kỷ XX, đất Loess đã được phát hiện ở Việt Nam do kết quả nhiều năm đẩy mạnh nghiên
cứu địa chất Đệ Tứ và sau đó nhờ sự hỗ trợ của “Tổ Chức Văn Hóa Khoa Học Giáo Dục
(UNESCO)”, 2 đề tài của “Chương Trình Liên Kết Địa Tầng Quốc Tế (IGCP)” đã được
mở ra. Đề tài IGCP 218 “Những Quá Trình Phát Triển Và Các Sự Kiện Đệ Tứ Ở Đông
Nam Á” (1984-1988) và đề tài IGCP 296 “Địa Tầng Đệ Tứ Ở Châu Á Và Thái Bình
Dương” (1988-1993) với sự tham gia của nhiều nhà địa chất bước đầu làm sáng tỏ nhiều
vấn đề địa chất Đệ Tứ trong đó có trầm tích đất Loess ở Việt Nam và Đông Nam Á.
Đất Loess thành tạo trong kỷ Đệ Tứ phân bố ở Việt Nam có chiều dày không lớn.
Song chúng có nguồn gốc do gió đã tạo thành lớp phủ phân bố rộng rãi và bảo tồn trên địa
hình bằng phẳng ở độ cao rất khác nhau, từ đồng bằng đến cao nguyên phân trải trên diện
tích rộng lớn. Những đặc điểm thạch học, tính chất cơ lí và thành phần hóa học của chúng
liên quan đến nền móng của các công trình xây dựng, liên quan đến chiến lược phát triển
cây trồng và cải tạo đất thổ nhưỡng trong nông nghiệp, lâm nghiệp trên vùng phân bố đất
Loess. Do đó cần phải có nhiều hơn nữa sự đầu tư nghiên cứu về đất Loess ở Việt Nam ta.
MỤC LỤC

Chương 1: ĐẤT LOESS TRÊN THẾ GIỚI
1.1 Tổng quan
Theo quan trắc của các nhà địa chất, đất Loess có những dấu hiệu và tính chất tiêu biểu,
khá ổn định. Trong đó đặc biệt quan trọng để đánh giá chúng theo địa chất công trình là
những dấu hiệu và tính chất sau: độ rỗng đại, độ chứa bụi cao, thường chứa nhiều muối,
chủ yếu là cacbonat, sunfat. Chúng dễ bị rửa trôi và tan rã, nhiều dạng của chúng có
khuynh hướng thụt lún khi bị ẩm ướt, điều kiện thế nằm là các hệ tầng dày hoặc lớp phủ.
Những dấu hiệu và tính chất đó là hậu quả của những điều kiện thành tạo độc đáo của vật


liệu làm nên hoàng thổ, sự trầm đọng và sự biến đổi về sau của nó trong quá trình sinh đất
đá.
Độ rỗng đại là dấu hiệu nhận biết quan trọng nhất và nhất thiết phải có của đất Loess.
Các lỗ rỗng đại có hình ống, rãnh và những chỗ trống khác nhìn thấy được bằng mắt
thường, xuyên thấu đất theo phương thẳng đứng. Nếu đất có nguồn gốc lục địa không có lỗ
rỗng đại thì không thể xếp nó vào kiểu đất Loess dù chúng có những dấu hiệu khác có vẻ
như là tiêu biểu cho đất Loess như thành phần, màu sắc...
Đất Loess là một kiểu thạch học độc lập, thống nhất của các trầm tích lục địa. Được
hình thành với những quá trình sinh đất đá nhất định, trong điều kiện không đủ ẩm, phát
triển động thực vật đồng cỏ. Mức độ thể hiện các dấu hiệu và tính chất phụ thuộc vào
phương thức và điều kiện tích lũy trầm tích tạo nên. Trong quá trình thành tạo trầm tích do
gió, những dấu hiệu cùng tính chất quan trọng và tiêu biểu của đất Loess được thể hiện rõ
ràng và nổi bật nhất.
Đất Loess không ổn định đối với nước, bị tan rã và rửa xói dễ dàng, nhanh chóng. Vì
vậy, ở những vùng phân bố đất Loess thường phát triển rộng rãi hiện tượng khe hẻm-
mương xói, các bờ sông hồ và hồ chứa nước bị phá hoại nhanh chóng, có nhiều trượt đất,
trôi chảy đất mặt... Đặc điểm quan trọng của đất Loess là hay có khuynh hướng lún do ướt.
Khi làm ướt dù không tăng tải trọng, chúng thường vẫn bị lún đáng kể theo kiểu bị sụp đổ,
lún sập phát triển tương đối nhanh. Vì vậy, khi xây dựng các công trình, luôn luôn có nguy
cơ phá hoại độ ổn định và tính nguyên vẹn của chúng do sự biến đổi chế độ ẩm của đất
Loess.
Lún
σ kG/cm
2
S (mm)
Lún sập
Hình 1.1: biến dạng của đất Loess khi bị ẩm
1.2 Sự phân bố, điều kiện thế nằm và cấu trúc của đất Loess
Đất Loess phân bố rất rộng rãi trên lãnh thổ Liên Xô, chủ yếu là ở đới địa lí đồng cỏ và
rừng đồng cỏ hiện đại. Đất Loess tạo nên lớp phủ gần như liên tục ở các không gian chia

nước, sườn dốc, thềm sông. Chiều dày đất Loess ở đây biến đổi từ 5-10 đến 30-40m, ở một
số miền riêng biệt đạt tới 70-80m.
Ở phạm vi châu Á của Liên Xô, đất Loess cấu tạo nên chủ yếu là phần trên của trầm
tích hệ thứ tư, trong đới phát triển đồng cỏ và rừng đồng cỏ, chiều dày từ 2-4m ở phía Bắc
và Tây Bắc, 20-25m ở phía Đông.
Ngoài ra đất Loess còn phân bố rộng rãi ở Tây Âu: Đức, BaLan, Hungari, Rumani,
Bungari, Pháp và một số nước khác, ở Bắc Mỹ, Nam Mĩ, Trung Quốc, Mông Cổ và nhiều
nước, lục địa khác.
Hình 1.2: Bản đồ phân bố đất Loess trên thế giới
1.3 Đặc điểm thạch học
Sét pha cát nhẹ và vừa là loại chủ yếu trong đất Loess, thành phần hạt của chúng khá
tiêu biểu: lượng chứa hạt bụi cao hoặc hơi cao của là đặc điểm tiêu biểu, biến đổi từ 50-52
đến 81-82%, lượng chứa hạt cỡ cát thường không nhiều, dưới 10 đến 15-20%, ít khi cao
hơn. Chiếm ưu thế trong các cỡ hạt này chủ yếu là cát nhỏ và cát mịn, cát hạt thô hơn cũng
như tạp chất và thể bị bao thì ít gặp.
Hệ số ổn định trong nước của các hợp thể tức là tỉ số giữa số lượng các hạt có kích
thước 0.25-0.01mm được khuấy 3 phút trong nước, với số lượng các hạt đó được xác định
sau 12h đun sôi mẫu. Đối với đất Loess lún sập từ 0.06-0.21 còn đối với đất không lún sập
thì lớn hơn 0.6.
Ở vết lộ tự nhiên, đất Loess biểu hiện rất rõ khối nứt dạng cột. Những vách bờ thẳng
đứng có chiều cao từ 2-3 đến 4-5m tại phần trên các vết lộ dọc theo khe suối, ở các vách
thềm hoặc bờ mỏ, mái dốc đường đào, các sườn thung lũng sông – đó là yếu tố địa hình
đặc trưng của miền phân bố đất Loess.
Kiến trúc của đất Loess là kiến trúc bột hoặc bùn bột điển hình. Ở mỗi lát mỏng riêng
lẻ đều quan sát được tính đồng nhất cao hoặc rất cao của đất về kích thước các hạt. Các hạt
từ 0.05-0.002mm chiếm ưu thế: có lẫn các hạt sét. Các hạt thô thì hoặc là những hạt riêng
lẻ hoặc là những tập hợp hạt ít ỏi so với cả khối đất. Thông thường khi xem lát mỏng, đất
bị nhuộm hơi vàng, phớt hồng bởi oxit sắt hoặc nâu bẩn bởi hợp chất hữu cơ.
Độ chứa cacbonat cao hoặc tương đối cao là đặc điểm tiêu biểu của đất Loess. Tổng
lượng chứa vôi ở đồng bằng Nga thay đổi từ mấy phần ngàn đến 22-25%, ở Trung Á 15-

25%. Lượng chứa các muối bị nước hòa tan thường không nhiều: 0.6-0.8%, ở các vùng
phía Nam thì từ 1.5-2%.
1.4 Tính chất cơ lí
Độ ẩm tự nhiên trung bình của đất Loess rất vừa phải, thường không quá 20-25%.
Khoảng biến thiên khoảng 5-6 đến 30 có khi 35%. Ở những kiểu nhẹ hơn thì độ ẩm trung
bình là 12-14%, những kiểu nặng hơn thì gần bằng 20-23%. Trong đới khí hậu không đủ
ẩm, độ ẩm của đất Loess là thấp nhất từ 5-6 đến 12-14%, ở những đới khí hậu ẩm hơn, độ
ẩm tự nhiên trung bình của đất Loess cao hơn. Độ ẩm của đất Loess phụ thuộc vào chiều
sâu thế nằm của nước dưới đất, tác dụng tẩm ướt nhân tạo khi tưới nước cho đồng ruộng,
trong phạm vi kênh đào và nhiều hệ thống công trình tưới nước khác, khi ngập từng
khoảnh riêng lẻ, còn trên nhiều diện tích xây dựng thì do làm rối loạn dòng chảy trên mặt
và do xả nước sản xuất. Hệ số bão hòa của đất Loess trong phần lớn trường hợp không
vượt quá 0.5, có khi đạt 0.6-0.7, ít khi cao hơn.
Khối lượng riêng bình thường, ở những loại chứa nhiều cacbonat hơn thì độ chặt cao
hơn trung bình một ít, đạt tới 2.75-2.81 g/cm
3
. Độ chặt của đất và cốt đất cũng như độ rỗng
đều chứng tỏ các trầm tích này có độ chặt kết cấu bị hạ thấp. Chúng là đất nén chưa đến
chặt, một số loại có kết cấu xốp, độ rỗng đạt 50% hoặc hơn. Các giá trị hệ số rỗng cũng
chứng tỏ độ chặt kết cấu thấp. Hệ số nén chặt tự nhiên của đất Loess thường có giá trị âm
đặc trưng cho đất nén chưa đến chặt.
Độ chặt kết cấu và khuynh hướng biến dạng của đất Loess còn được đánh giá bằng hệ
số rỗng đại. Đây là chỉ tiêu đặc biệt về trạng thái vật lí của đất Loess.
e=
n
m
=
n
'
+n

' '
m
m: thể tích cốt đất (m
3
)
n’: thể tích lỗ rỗng bình thường (m
3
)
n”: thể tích lỗ rỗng đại (m
3
)
n: thể tích lỗ rỗng trong 1 đơn vị thể tích đất
Tỉ số n’/m là hệ số rỗng bình thường của đất.
Tỉ số n”/m là hệ số rỗng đại của đất, kí hiệu e
đ
.
e
đ
được tính từ số liệu thí nghiệm nén lún:
e
đ
= e
σ
– e’
σ
e
σ
: hệ số rỗng của đất bị nén chặt bởi tải trọng σ, kG/cm
2
e’

σ
: hệ số rỗng của đất bị nén chặt bởi tải trọng σ’, kG/cm
2
Nếu hệ số rỗng bằng không tức là trong đất không có lỗ rỗng đại, điều này chứng tỏ
hoặc đất không phải là đất Loess hoặc là đất Loess đã bị khử nước. Hệ số rỗng đại càng có
giá trị cao thì các lỗ rỗng đại càng chiếm thể tích lớn trong đất và kết cấu của nó càng kém
chặt. Ở đất Loess hệ số này biến đổi từ 0.03-0.07 đến 0.37-0.4.
Các giới hạn chảy và dẻo ở đất Loess thường hơi thấp, theo giá trị số dẻo đất Loess
thông thường là đất loại sét vừa phải, khi bị ẩm nó dễ dàng chuyển sang trạng thái chảy.
Đất Loess không ổn định trong nước, bị tan rã cũng như rửa xói rất dễ dàng và nhanh
chóng. Tốc độ tan rã của của nó trong phòng thí nghiệm được tính bằng phút. Khi tan rã nó
bị chia tách ra thành các hợp thể và hạt cực nhỏ. Sự tan rã nhanh chóng của nó chứng tỏ
liên kết kiến trúc và đất nói chung đều không ổn định trong nước. Sự tan rã như vậy quyết
định tính chất bị rửa xói dễ dàng của đất, sự phát triển thuận lợi của các quá trình và hiện
tượng địa chất liên quan.
Đất Loess thuộc loại chứa ẩm trung bình, thấm nước yếu hoặc rất yếu. Hệ số thấm
trung bình của nó biến đổi từ dưới 1m đến hơn vài m/ ngày đêm. Độ thấm nước theo
phương thẳng đứng cao hơn nhiều so với phương ngang. Ngoài ra độ thấm nước của nó
còn biến đổi đáng kể theo thời gian.
Ở độ ẩm và độ chặt tự nhiên, khi chịu tác dụng của tải trọng vừa phải, đất Loess là đất
bị nén trung bình hoặc ít. Hệ số nén lún trong khoảng tải trọng từ 1 đến 2 kG/cm
2
.
Đất Độ ẩm Độ rỗng Mô đun tổng biến dạng
% % kG/cm
2
Hoàng thổ 10-17 47-48 225-320
Dạng hoàng thổ 6-8 46-48 220-280
Dạng hoàng thổ 8-14 47-49 190-220
Dạng hoàng thổ 12-18 43-45 100-400

Dạng hoàng thổ 22-25 40-45 100-240
Dạng hoàng thổ 22-25 45-48 80-150
Dạng hoàng thổ 25-30 40-45 70-130
Dạng hoàng thổ 25-30 45-48 45-90
Bảng 1.1: Trị số trung bình mô đun tổng biến dạng của đất Loess theo số liệu thí nghiệm bằng
tải trọng thử ( theo Yu.Ablev và M.Yu.Abelev)
Độ bền cũng như tính biến dạng của đất Loess đều phụ thuộc đáng kể vào độ ẩm và độ
chặt. Với độ ẩm vừa phải đất Loess có giá trị sức chống cắt tương đối cao. Góc ma sát
trong đạt 28-30
0
và cao hơn, còn lực dính từ 0.8-1.2 kG/cm
2
và lớn hơn. Tuy nhiên khi tăng
độ ẩm, độ bền các liên kết kết trúc và của đất nói chung đều giảm.
Độ chặt cốt đất
g/cm
3
Độ ẩm
%
φ tgφ
C
kG/cm
2
1.25-1.2
4
7
15
19
24
28

39
0
20’
33
0
50’
31
0
20’
30
0
10’
26
0
20’
26
0
00’
0.819
0.67
0.611
0.581
0.495
0.487
0.7
0.52
0.32
0.21
0.06
0.02

1.36-1.38 6 36
0
50’ 0.74 0.8
10
13
15
21
25
27
35
0
00’
31
0
20’
29
0
00’
28
0
20’
26
0
30’
25
0
20’
0.7
0.61
0.55

0.54
0.5
0.47
0.65
0.46
0.35
0.2
0.1
0.05
1.42-1.44
7
12
16
18
22
23
26
34
0
10’
28
0
50’
28
0
30’
28
0
20’
27

0
00’
26
0
30’
25
0
50’
0.68
0.55
0.54
0.54
0.51
0.5
0.49
0.96
0.58
0.46
0.4
0.26
0.2
0.1
1.46-1.5
8
10
14
19
24
37
0

10’
33
0
00’
28
0
20’
26
0
30’
26
0
00’
0.76
0.65
0.54
0.5
0.49
1.57
1.2
0.8
0.52
0.2
1.53-1.55
14
18
22
24
26
27

36
0
10’
34
0
30’
31
0
20’
26
0
10’
25
0
40’
25
0
10’
0.73
0.69
0.61
0.49
0.48
0.47
1.32
1
0.7
0.42
0.31
0.26

Bảng 1.2: Trị trung bình các chỉ tiêu chống cắt của đất Loess
(trích từ công trình nghiên cứu của Yu. M. Abelev và M. Yu. Abelev)
14
16
18
20
22
W, %
τ, kG/cm
2
Hình 1.3: Sự thay đổi sức chống cắt khi độ ẩm biến đổi
Khi đánh giá tính biến dạng của đất Loess để thiết kế và xây dựng công trình trên đó,
người ta đặc biệt chú ý đến những chỉ tiêu đặc trưng cho tính lún sập của nó, tức là tính
biến dạng khi bị ẩm ướt trong trạng thái không tải và có tải. Tại các vết lộ tự nhiên, đất
Loess giữ được mái dốc thẳng đứng, cao từ 2-3 đến 4-5m. Nhưng khi bị ẩm ướt đất tan rã
và sạt xuống nhanh chóng, sức chống cắt giảm xuống đột ngột, có khuynh hướng về
không.
Chương 2: TỒNG QUAN VỀ ĐẤT LOESS Ở VIỆT NAM
2.1 Tầng Loess ở Việt Nam
Tầng Loess Thủ Đức: có 3 phân vị: hệ tầng Loess Thủ Đức, hệ tầng Đất Xám, hệ tầng
Loess Phú quốc.
Hệ tầng Loess Thủ Đức( LeQ
III-IV
td): mặt cắt địa chất tiêu biểu khảo sát dọc theo xa
lộ Hà Nội, Quận Thủ Đức TP HCM. Dọc theo đường này lớp phủ nằm trên địa hình đồi
thoải, thành phần bao gồm sét bột cát màu vàng, đỏ vàng chứa những mảnh than gỗ màu
đen sắc cạnh. Hệ tầng Loess Thủ Đức nằm phủ bất chỉnh hợp trên bề mặt đá ong phong
hóa từ cuội sỏi thuộc hệ tầng Bà Miêu tuổi Plioxen Đệ Tứ. Chiều dày từ 3-6m.
Trầm tích Đất Xám (LeQ
III-IV

): thành phần thạch học giống với hệ tầng Loess Thủ
Đức, chúng phân bố ở những vùng có địa hình thấp hơn, có màu xám tối. Chiều dày 2-4m.
Hệ tầng Loess Phú Quốc (LeQ
II-IV
pq): đảo Phú Quốc được hình thành từ các đá vật
liệu thô như cát kết, cuội kết xen kẽ các đá mịn bột kết, sét kết. Xung quanh đảo là dải đồi
và thềm biển được bao phủ bởi lớp sét- bột cát màu vàng giống như hệ tầng Loess Thủ
Đức. Hệ tầng Loess Phú Quốc cũng nằm phủ bất chỉnh hợp trên bề mặt đá ong hoặc thềm
biển bào mòn có độ cao 5-10m trên mực nước biển. Chiều dày 3-10m.
Chúng là trầm tích Loess bở rời có nguồn gốc gió lần đầu tiên phát hiện ở Việt Nam,
vào thời kỳ mực nước biển trên vùng Đông Nam Á và thế giới xuống thấp nhất.
2.2 Tài liệu thực tế về thành tạo lớp phủ đồng bằng Nam Bộ
2.2.1 Mặt cắt địa chất lớp phủ ở đồng bằng miền Đông Nam Bộ
Đồng bằng miền Đông Nam Bộ có địa hình bằng phẳng, thoải, lượn sóng, có độ cao từ
5 đến 80m bao gồm diện tích các tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước và
một phần các TP. Bà Rịa- Vũng Tàu, TP. Hồ Chí Minh, tổng diện tích khoảng 10.000 km
2
được bao phủ bởi lớp đất phủ sét- bột cát nâu vàng hơi đỏ thuộc hệ tầng Loess Thủ Đức.
2.2.1.1 Các tuyến địa chất khoan nông
Trên đồng bằng miền Đông Nam Bộ có tới hàng chục lỗ khoan sâu và khoảng hơn
vài chục lỗ khoan nông nằm trên 2 tuyến chạy từ địa hình thấp thuộc tỉnh Tây Ninh, TP Hồ
Chí Minh và Bà Rịa – Vũng Tàu ở phía Tây tới vùng địa hình cao thuộc các tỉnh Tây Ninh,
Bình Phước, Đồng Nai về phía Đông.
Tuyến địa chất chạy từ huyện Châu Thành tỉnh Tây Ninh đi Bình Long thuộc Bình
Phước về phía Đông Bắc. Trên tuyến này có 12 lỗ khoan nông nằm trên địa hình cao từ +5
đến +80m, xuyên qua lớp phủ dày 2-6m.
2.2.1.2 Những vết lộ tiêu biểu của lớp phủ trên đồng bằng Đông Nam Bộ
Trên đồng bằng Đông Nam Bộ có rất nhiều vết lộ đã được nghiên cứu cho thấy
những lớp phủ không những chỉ có màu vàng đỏ hoặc màu nâu mà còn có cả màu xám,
xám tối. Những vết lộ phần nhiều do nhân tạo như hố khai thác khoáng sản, đường ô tô

mới xây dựng, giếng nước mới đào trên đó thấy rõ ràng chiều dày lớp phủ và ranh giới bất
chỉnh hợp giữa chúng và các đá khác nằm dưới lớp phủ.
2.2.1.3 Những mặt cắt trên khu vực TP Hồ Chí Minh
Có một số khu vực như các huyện Củ Chi, Hóc Môn, Quận Thủ Đức, Quận 9 nằm
phía Bắc và Đông Bắc cũng như các quận trung tâm TP. Hồ Chí Minh như Gò Vấp, Tân
Bình, Quận 12 cũng có bao phủ bởi lớp phủ Loess. Mặt cắt điển hình nằm ở Quận Thủ
Đức, Quận 9. Các mặt cắt địa chất lớp phủ lộ ra dọc theo xa lộ Hà Nội từ nhà máy xi măng
Hà Tiên đến đầu cầu Đồng Nai. Hầu hết các lớp phủ ở Quận Thủ Đức và Quận 9 có màu
vàng đỏ và màu nâu, chúng nằm phủ bất chỉnh hợp trên lớp đá ong phong hóa hoặc bị bào
mòn từ cuội sỏi của hệ tầng Bà Miêu tuổi Plioxen- Đệ Tứ và đá gốc khác. Trên bề mặt đá
ong có nhiều mảnh thiên thạch tektit sắc cạnh, màu đen đã được tìm thấy. Dọc theo quốc lộ
1 kéo dài tới huyện Thống Nhất tỉnh Đồng Nai theo hướng từ Đồng Nai đi Bà Rịa- Vũng
Tàu trên các đồi thoải lượn sóng có độ cao 30-70m cũng bị phủ bởi lớp phủ dày.
2.2.1.4 Những mặt cắt của lớp phủ trên tỉnh Tây Ninh
Các mặt cắt lớp phủ trên địa bàn tỉnh Tây Ninh giống với các mặt cắt trên địa phận TP
Hồ Chí Minh. Tây Ninh là một phần của đồng bằng Đông Nam Bộ, có địa hình thoải chia
cắt yếu nằm ở độ cao +5 đến +10m phía Tây Nam và cao dần +30 đến +40m về phía Đông
Bắc.
Dọc theo đường từ thị trấn Gò Dầu đến thị xã Tây Ninh có nhiều mặt cắt lớp phủ dày
2-4m. Những lớp phủ nằm bất chỉnh hợp với mặt đá ong trên đó có nhiều mảnh vụn đá ong
với cuội sỏi thạch anh mài tròn tốt. Ranh giới giữa lớp phủ và laterit thường là đường nét
tách biệt nhau thành 2 phần rõ rệt, phần trên là lớp phủ và phần dưới thuộc đá ong rắn chắc
có bề mặt mài mòn không bằng phẳng.
Mặt cắt lớp phủ nằm trên địa hình đồi thoải lượn sóng cao +40m các núi Bà Đen 3km
về phía Nam. Lớp phủ là sét bột cát màu vàng dày 3-4m là khối đồng nhất không phân lớp.
Có nhiều mảnh than gỗ màu đen sắc cạnh. Bề mặt đá ong màu đen rắn chắc trên đó có
nhiều mảnh tektite.
Màu sắc của lớp phủ phân bố trên phạm vi tỉnh Tây Ninh có biến đổi tùy thuộc vào
độ cao địa hình. Trên những địa hình cao chia cắt, màu vàng đỏ nâu chiếm ưu thế. Trên địa
hình thấp bằng phẳng hơn thường có màu xám tối. Màu sắc khác nhau của lớp phủ liên

quan chặt chẽ với điều kiện địa chất địa lí, khí hậu và môi trường của từng địa phương sau
thành tạo lớp phủ.
2.2.1.5 Các mặt cắt của lớp phủ trên địa phận tỉnh Bình Phước, Bình Dương
Các tỉnh này có độ cao địa hình ở phía Nam +35 đến +40m, địa hình thoải lượn sóng
nhưng phía Bắc Đông Bắc địa hình cao +70 đến +90m bị chia cắt mạnh và tạo thành đồi
dốc xen với các thung lũng sâu rộng. Có khoảng 3/4 diện tích 2 tỉnh này bị phủ bởi lớp phủ
màu vàng nâu đỏ. Dọc theo quốc lộ 22 từ Huyện Thuận An-Bình Dương về hướng Bắc
Đông Bắc Đồng Soài-Bình Phước, lớp phủ phân bố rộng rãi và phủ trên khắp địa hình
thoải lượn sóng của 2 tỉnh.
Mặt cắt tiêu biểu ở Thuận An-Bình Dương có lớp phủ dày hơn 3m lộ ra trên vách
đường, trên mặt cắt này lớp phủ nằm trên bề mặt đá ong có sườn dốc. Bề mặt đá ong nằm
dưới lớp phủ màu vàng, vàng xám dày 4m, trên bề mặt đá ong đó có rất nhiều mảnh tektite.
Các mặt cắt tiêu biểu của lớp phủ trên đồng bằng miền Đông phân bố trên các địa
hình bằng phẳng, lượn sóng có độ cao từ +5 đến +90m.Trên hầu hết mặt cắt của lớp phủ
nằm bất chỉnh hợp với bề mặt đá ong phong hóa từ trầm tích trẻ nhất là hệ tầng Mộc Hóa
đến trầm tích hệ tầng Bà Miêu. Ranh giới giữa lớp phủ và đá ong là đường cong sắc nét
phân biệt rõ ràng thành phần thạch học giữa 2 lớp. Bề mặt đá ong bị phủ gồ ghề, hơi dốc
đôi khi có rãnh xâm thực cắt sâu. Thành phần độ hạt là đồng nhất không có phân lớp và
chứa nhiều mảnh than gỗ màu đen sắc cạnh trong phần trên của lớp phủ sét bột cát màu
vàng, vàng đỏ, không liên quan gì với thành phần các lớp nằm dưới.
Các tài liệu trên là những mặt cắt điển hình có được khi đo vẽ bản đồ Đệ Tứ
1/200000 1980-1990 do TS. Hoàng Ngọc Kỷ và những người khác thực hiện. Kết quả trên
cho thấy lớp sét bột cát vàng của lớp phủ trên đồng bằng miền Đông không phải trầm tích
trong môi trường nước hay nguồn gốc sườn tàn tích mà chúng trầm tích trong môi trường
không khí do gió mang tới.
2.2.2 Mặt cắt địa chất của lớp phủ trên các đảo
Thổ Chu và Phú Quốc là 2 đảo ngoài khơi phía Tây và Tây Nam Việt Nam, trên đó lớp
sét bột cát của lớp phủ giống với những lớp phủ trên đồng bằng Đông Nam Bộ.
Mặt cắt địa chất trên đảo Thổ Chu: Đảo Thổ Chu nằm trên biển khơi Việt Nam cách thị
trấn Rạch Giá-Kiên Giang khoảng 200km về phía Tây Nam. Đảo này thành tạo bởi cát kết,

cuội kết xen kẽ các lớp sét kết tuổi Jura có góc cắm thoải từ 5-10
0
nghiêng về phía Đông
Nam nhô lên trên vùng biển khơi.

×