Tải bản đầy đủ (.pdf) (155 trang)

Quá trình chuyển đổi kinh tế từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp ở huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.43 MB, 155 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
___________________________

Mai Thị Chuyên

Chuyên ngành : Địa lý học
Mã số
: 60 31 95

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS ĐẶNG VĂN PHAN

Thành phố Hồ Chí Minh – 2009


LỜI CẢM ƠN
Với lịng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tác giả xin chân thành gửi lời
cảm ơn đến các Thầy, Cô giáo trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí
Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập và
thực hiện đề tài.
Tác giả xin chân thành cảm ơn PGS. TS. Đặng Văn Phan – người đã
tận tình hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn
thiện luận văn.
Qua đây, tác giả cũng trân trọng gửi lời cảm ơn đến các cơ quan:
UBND huyện Long Thành, Phịng Thống kê huyện Long Thành, Phịng Tài
ngun – Mơi trường huyện Long Thành, Phòng Kinh tế huyện Long Thành,
BGH trường THPT Long Thành, Bưu điện huyện Long Thành đã giúp đỡ tác
giả trong quá trình thu thập số liệu, tài liệu và thơng tin có liên quan đến nội


dung nghiên cứu.
Cuối cùng, tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, đồng nghiệp và
người thân đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt thời
gian học tập và thực hiện luận văn.
TP. Hồ Chí Minh, ngày … tháng …. năm 2009
Tác giả luận văn
Mai Thị Chuyên


DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CN

: Cơng nghiệp

CNH

: Cơng nghiệp hóa

CNXH

: Chủ nghĩa xã hội

DT

: Diện tích

HĐH

: Hiện đại hóa


KT

: Kinh tế

NN

: Nơng nghiệp

NS

: Năng suất

SL

: Sản lượng

TB

: Trung bình

TCLTNN : Tổ chức lãnh thổ nơng nghiệp
TCSX

: Tổ chức sản xuất

THCS

: Trung học cơ sở

THPT


: Trung học phổ thông

TTCN

: Trung tâm công nghiệp

XH

: Xã hội


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đất nước ta đang trên con đường hội nhập với q trình cơng nghiệp hóa –
hiện đại hóa (CNH – HĐH) sơi nổi, có sức lan truyền tới mọi địa phương. Quá trình
này đã làm thay đổi rất lớn tới kinh tế, xã hội, tới đời sống của người dân. Bên cạnh
những đóng góp tích cực, q trình này cũng đã làm xuất hiện nhiều vấn đề mà
trong thực tế khó tìm được cách giải quyết hợp tình, hợp lí.
Long Thành – một trong những huyện thuộc tỉnh Đồng Nai – đã, đang và sẽ
chịu ảnh hưởng rất lớn từ q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa. Do vị trí đặc biệt
quan trọng trên tuyến quốc lộ 51 nối liền các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam, lại có thể thơng với quốc lộ 1A nên quá trình này càng phải có tốc độ
phát triển nhanh hơn nữa để kịp thời đáp ứng những nhu cầu của xã hội. Vì vậy bên
cạnh những thành tựu to lớn mà quá trình này đem lại thì cũng có nhiều vấn đề
phức tạp đã nảy sinh.
Là người sống tại địa phương, dưới góc độ khoa học Địa lí, chúng tơi muốn
tìm hiểu q trình chuyển đổi kinh tế từ một huyện sản xuất nông nghiệp sang sản
xuất công nghiệp ở huyện Long Thành trong thời kì CNH – HĐH nhằm tìm ra
những ảnh hưởng của nó đến kinh tế, xã hội, mơi trường và đời sống người dân địa

phương. Nhận thấy đây là vấn đề cịn mới, tơi mạnh dạn chọn nó làm đề tài nghiên
cứu của mình với tên: Quá trình chuyển đổi kinh tế từ sản xuất nông nghiệp sang
sản xuất công nghiệp ở huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai thời kì CNH – HĐH.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích của đề tài được xác định là:
- Nghiên cứu quá trình chuyển đổi kinh tế từ huyện sản xuất nông nghiệp sang
sản xuất công nghiệp ở huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai.
- Kiến nghị những phương hướng và biện pháp giải quyết những vấn đề nảy
sinh khi chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp ở huyện
Long Thành trên cơ sở khoa học và lâu dài.
Dựa trên mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài được xác định là:


- Hệ thống hóa các vấn đề có liên quan đến q trình cơng nghiệp hóa và hiện
đại hóa đất nước, tìm hiểu các khái niệm và những tác động của quá trình này đến
kinh tế, xã hội, đặc biệt là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm chuyển đổi quá trình
sản xuất của các địa phương.
- Điều tra, khảo sát các số liệu cần thiết.
- Phân tích tác động của quá trình chuyển đổi kinh tế từ sản xuất nông nghiệp
sang sản xuất công nghiệp đến một số mặt kinh tế, xã hội, môi trường và đời sống
người dân trên địa bàn huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai: những thành tựu đạt được
và những hạn chế cần khắc phục.
- Tham khảo và đưa ra những định hướng phát triển của huyện trong tương lai
và những biện pháp thực hiện khả thi.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của đề tài được xác định là quá trình chuyển đổi kinh tế từ sản xuất
nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai trong
thời kì CNH – HĐH và những ảnh hưởng của nó đến kinh tế - xã hội dưới góc độ
địa lý kinh tế - xã hội.

3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: tập trung nghiên cứu q trình chuyển đổi kinh tế từ sản xuất
nơng nghiệp sang sản xuất công nghiệp huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai trong
thời kì CNH – HĐH và những ảnh hưởng của nó.
Về khơng gian: nghiên cứu trên địa bàn huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai
Về thời gian: chủ yếu tập trung nghiên cứu trong giai đoạn từ 1995 cho đến
nay (năm 1994 huyện Nhơn Trạch mới tách ra khỏi Long Thành).
4. Hệ thống quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1. Hệ thống quan điểm
4.1.1. Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Đây là quan điểm cơ bản, truyền thống và được xem là đặc trưng của Địa lý
học, đó là: khi xem xét các sự vật hiện tượng địa lý phải đặt chúng trong mối quan


hệ về không gian. Quan điểm này luôn chiếm được sự đồng thuận bởi trong thực tế
các sự vật và hiện tượng địa lý ln ln có sự phân hóa về khơng gian, làm cho
chúng có sự khác biệt giữa nơi này với nơi khác. Trong nghiên cứu về quá trình
chuyển đổi kinh tế từ sản xuất nơng nghiệp sang sản xuất cơng nghiệp trong thời kì
CNH – HĐH, chúng tôi luôn đặt Long Thành trong mối quan hệ không gian với các
huyện khác trong tỉnh và trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam để xem xét và
đánh giá.
4.1.2. Quan điểm hệ thống
Quá trình chuyển đổi kinh tế từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công
nghiệp của một địa phương khơng phải là một q trình đơn lẻ, độc lập mà sẽ gắn
kết với các quá trình khác. Xét trong mối quan hệ nhân quả thì đây vừa là kết quả
của những vấn đề kinh tế xã hội này, vừa là nguyên nhân của những vấn đề kinh tế
xã hội khác. Vì thế khi nghiên cứu quá trình này tại huyện Long Thành, chúng tơi
ln đặt q trình này trong quan điểm hệ thống để nghiên cứu nhằm có những
phân tích mang tính khoa học và đảm bảo tính chất dây chuyền của các đối tượng.
4.1.3. Quan điểm lịch sử - viễn cảnh

Các sự vật hiện tượng trong tự nhiên không chỉ biến đổi về mặt không gian mà
cịn có sự phát triển theo thời gian. Việc nghiên cứu q trình chuyển đổi kinh tế từ
sản xuất nơng nghiệp sang sản xuất công nghiệp ở huyện Long Thành tỉnh Đồng
Nai được xem xét kĩ lưỡng ttrong mối liên hệ quá khứ - hiện tại – tương lai để làm
rõ hơn bản chất của vấn đề theo thời gian và dự báo được hướng phát triển của nó,
bảo đảm tính logic, khoa học và chính xác.
4.1.4. Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
Quá trình phát triển của con người ln chịu ảnh hưởng từ mơi trường bên
ngồi. Đồng thời con người cũng có những tác động làm biến đổi môi trường xung
quanh. Để hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của con người trong quá trình phát
triển của mình đến mơi trường xung quanh cần phải qn triệt quan điểm sinh thái
và phát triển bền vững khi nghiên cứu vấn đề. Trong việc nghiên cứu quá trình
chuyển đổi kinh tế từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp tại huyện


Long Thành tỉnh Đồng Nai cũng phải xem xét đến ảnh hưởng của nó đến mơi
trường xung quanh và đưa ra những giải pháp nhằm đảm bảo sự hài hòa giữa phát
triển kinh tế - xã hội, tài nguyên môi trưvờng à phát triển bền vững.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong q trình thực hiện đề tài, chúng tơi đã thực hiện các phương pháp
nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp sưu tầm và xử lí tài liệu: q trình thực hiện nghiên cứu đề tài
có nhiều nguồn tư liệu khác nhau nên cần có một q trình sưu tầm và xử lí số liệu
sao cho có hiệu quả và đáng tin cậy.
- Phương pháp điều tra, đánh giá: do địa phương nghiên cứu giới hạn trong
một huyện nên những tài liệu tìm được chưa đủ để có thể hồn thành đề tài. Vì vậy,
việc điều tra đánh giá để tìm ra những số liệu mới là rất quan trọng để có thể hồn
thành được đề tài.
- Phương pháp thực địa: là phương pháp cần thiết để tăng thêm độ tin cậy và
tính khách quan cho đề tài.

- Phương pháp bản đồ: phương pháp này tạo một cái nhìn tổng quát và khách
quan, đặc biệt là đối với những đối tượng khơng thể kiểm sốt hết bằng mắt thường
trong thực tế, đồng thời tìm ra mối quan hệ giữa các đối tượng với nhau để có
những hướng giải quyết phù hợp.
- Phương pháp chuyên gia: trong quá trình thực hiện đề tài, để đảm bảo tính
khoa học và đưa ra được những dự báo chính xác, hợp lí... cần phải tham khảo ý
kiến của các chuyên gia, những nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực qui hoạch, kinh
tế, môi trường...
5. Ý nghĩa của đề tài
Cho đến hiện nay, chưa có đề tài nghiên cứu nào tại địa phương nghiên cứu về
vấn đề này. Do vậy, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp cung cấp một cách nhìn
khách quan những vấn đề đang tồn tại và buộc các nhà quản lí phải có những thay
đổi để giải quyết những vấn đề đó trong q trình chuyển Long Thành thành một
huyện sản xuất công nghiệp.


Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của đề tài cũng giúp cho những địa phương
khác có được những bài học kinh nghiệm để có thể thực hiện q trình cơng nghiệp
hóa, hiện đại hóa của mình tốt hơn.
6. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Quá trình CNH ở Việt Nam diễn ra muộn hơn rất nhiều so với các nước khác
trên thế giới. Vì vậy Việt Nam có nhiều lợi thế trong việc học hỏi kinh nghiệm từ
các nước đi trước để có được những kết quả nhanh chóng và hiệu quả như mong
muốn. Việc gắn CNH với HĐH là một sự sáng tạo trong chủ trương, chính sách của
Đảng và nhà nước, do đó nó cũng nhận được nhiều sự quan tâm từ phía các nhà
lãnh đạo, nhà khoa học và nhà kinh tế...
Ở cấp vĩ mô và trong nhiều ngành kinh tế, đã có rất nhiều sách và cơng trình
nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau viết về vấn đề CNH – HĐH và những ảnh
hưởng của nó như:
- Trong giai đoạn đầu thực hiện CNH – HĐH, tác giả Đặng Kim Sơn đã cho

xuất bản cuốn sách có tựa đề CNH từ nơng nghiệp – lí luận thực tiễn và triển vọng
áp dụng ở Việt Nam (2001) đã đặt nền móng cho việc thực hiện CNH – HĐH từ
nông nghiệp và nông thôn Việt Nam.
- Năm 2002, dưới sự chủ biên của GS.TS. Nguyễn Trong Chuẩn; PGS.TS.
Nguyễn Thế Nghĩa; PGS. TS. Đặng Hữu Toàn cuốn sách có tựa đề CNH, HĐH ở
Việt Nam – Lý luận và thực tiễn do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành đã
cung cấp cho người đọc một cái nhìn tổng quan, tồn diện về q trình CNH – HĐH
ở Việt Nam trong những năm đầu của thế kỉ XXI.
- Năm 2004, đóng góp vào những nghiên cứu về q trình CNH – HĐH ở Việt
Nam để có được kết quả tồn diện và sâu sắc hơn, nhóm tác giả Đào Thế Tuấn, Đào
Thế Anh và Nguyễn Vũ Quang đã cho xuất bản cuốn sách Cơ sở khoa học của vấn
đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH – HĐH ở
Việt Nam trong tương lai.
- Để cụ thể hóa những chỉ tiêu trong quá trình thực hiện CNH – HĐH đất
nước, tác giả Vũ Năng Dũng cũng đã cho ra đời cuốn sách được Bộ Nông nghiệp và


phát triển nơng thơn cấp phép có tựa đề Nghiên cứu cơ sở khoa học để xây dựng
tiêu chí, bước đi, cơ chế chính sách trong q trình CNH – HĐH nơng nghiệp nơng
thơn (năm 2004).
- Năm 2006, nhìn lại chặng đường 20 năm đổi mới, tác giả Đỗ Quốc Sam đã
viết Một số vấn đề CNH, HĐH sau 20 năm đổi mới với những đánh giá hết sức
khách quan về những thành tựu đạt được và những tồn tại trong quá trình thực hiện
CNH – HĐH đất nước.
- Với những thay đổi to lớn của đất nước, các khía cạnh của quá trình CNH –
HĐH cũng như ảnh hưởng của nó đến các ngành kinh tế cũng được nghiên cứu kĩ
hơn trong những cơng trình nghiên cứu sau:
+ Đề tài Xác định nội dung và phương thức CNH – HĐH trong thương mại ở
nước ta thời kì tới 2010 (năm 2003) của tác giả Vũ Tiến Dương và đề tài Nghiên
cứu cán cân thương mại trong sự nghiệp CNH – HĐH ở Việt Nam (năm 2005) của

tác giả Nguyễn Văn Lịch thuộc Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh đã nghiên
cứu rất kĩ những vấn đề trong ngành thương mại ở nước ta thời kì CNH – HĐH.
+ Nói đến một khía cạnh khác, tác giả Nguyễn Thành Nghị cũng có viết
Nghiên cứu và đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả quản lí và sử dụng nguồn nhân
lực trong quá trình CNH – HĐH đất nước (năm 2005). Bên cạnh đó, tác giả Đặng
Hữu cũng có viết Xu hướng phát triển nền kinh tế tri thức và tác động của nó đến
sự phát triển và lựa chọn chiến lược CNH – HĐH ở Việt Nam (năm 2005), giúp
chúng ta có một cách nhìn mới về q trình CNH – HĐH.
+ Quan tâm đến việc phát triển kinh tế của lãnh thổ trong sự nghiệp CNH –
HĐH đất nước, năm 2006 tác giả Nguyễn Xuân Thu đã cho ra đời cuốn sách có tựa
đề Phát triển kinh tế vùng trong quá trình CNH – HĐH.
+ Việc thay đổi cơ cấu kinh tế cũng là một vấn đề đáng quan tâm trong q
trình CNH – HĐH. Do đó Viện kinh tế Việt Nam đã cho xuất bản cuốn sách
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong quá trình CNH – HĐH năm 2006.
Nhìn chung, có rất nhiều cơng trình trong và ngồi nước nghiên cứu đến vấn
đề CNH – HĐH nhưng đa số đều ở tầm vĩ mô chứ chưa nghiên cứu nó trong một


phạm vi lãnh thổ nhỏ (một huyện). Với đề tài Q trình chuyển đổi kinh tế từ sản
xuất nơng nghiệp sang sản xuất công nghiệp ở huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai thì
vấn đề CNH – HĐH với những ảnh hưởng của nó lần đầu tiên được nghiên cứu ở
cấp độ vi mô và cũng là đề tài đầu tiên nghiên cứu về quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế huyện Long Thành trong thời kì CNH – HĐH.


Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Cơng nghiệp hóa – Hiện đại hóa
1.1.1. Cơng nghiệp hóa
1.1.1.1. Khái niệm
Trong q trình phát triển của tất cả các nước trên thế giới, cơng nghiệp hóa

(CNH) được xem là xu thế tất yếu khách quan. Vậy cơng nghiệp hóa là gì?
Có nhiều cách hiểu khác nhau về CNH: [9], [21]
- Theo B. Mazlish: “CNH là một quá trình được đánh dấu bằng một sự chuyển
động của một nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp sang một nền kinh tế được gọi là
công nghiệp”.
- Một tác giả khác, Ladriere lại cho rằng: “CNH là một quá trình mà các xã hội
ngày nay chuyển từ một kiểu kinh tế chủ yếu dựa trên nông nghiệp với các đặc
điểm năng suất thấp và tăng trưởng cực kì thấp hay bằng 0 sang một kiểu kinh tế về
cơ bản dựa trên công nghiệp với các đặc điểm năng suất cao và tăng trưởng tương
đối cao”.
- Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) lại đưa ra một
khái niệm về CNH có chiều sâu hơn như sau: “CNH là một quá trình phát triển kinh
tế, trong quá trình này, một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân
được động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nước với kĩ thuật
hiện đại. Đặc điểm cơ cấu kinh tế này là có một bộ phận chế biến ln thay đổi để
sản xuất ra những tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng có khả năng bảo đảm cho toàn
nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao, bảo đảm đạt tới sự tiến bộ về kinh tế - xã
hội”. [21]
Sự khác biệt của định nghĩa này là đã đặt CNH trong bối cảnh chung của phát
triển kinh tế với nội dung cơ bản là phát triển cơ cấu kinh tế (trong đó cơng nghiệp
chế tạo đóng vai trị quan trọng) trên cơ sở công nghiệp hiện đại nhằm đẩy nhanh
nhịp độ phát triển kinh tế, đồng thời hướng vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội.


- Bên cạnh đó, Encyclpelu Francies năm 1973 cũng đưa ra một định nghĩa
tương đối ngắn gọn: “CNH là hoạt động mở rộng tiến bộ kĩ thuật với sự lùi dần tính
thủ cơng trong sản xuất và cơng nghiệp hàng hóa và dịch vụ”. [27]
Tiếp thu các quan niệm về CNH của các nước, các nhà nghiên cứu và các nhà
kinh tế ở Việt Nam lại có những quan niệm về CNH riêng cho mình.
- Theo văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 10: “cơng nghiệp

hóa là q trình chuyển đổi cơ bản tồn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh,
quản lý kinh tế, quản lý xã hội từ dựa vào lao động thủ công là chính sang dựa vào
lao động kết hợp cùng với phương tiện, phương pháp công nghệ, kỹ thuật tiên tiến
hiện đại để tạo ra năng suất lao động cao”. [4]
Dựa trên định nghĩa này, Đại hội cũng đặt ra mục tiêu đến năm 2020, Việt
Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp với tỉ trọng trong GDP của nông
nghiệp chiếm 16-17%, công nghiệp khoảng 40-41%, dịch vụ chiếm 42-43%, tỷ
trọng lao động trong tổng lao động xã hội, lao động công nghiệp và dịch vụ là 50%,
nông nghiệp là 50%.
1.1.1.2. Đặc điểm của quá trình CNH
Dù trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về CNH, nhưng tựu chung lại
tất cả các khái niệm CNH đều toát lên 3 đặc điểm của quá trình CNH: [21]
- CNH là một sự biến đổi cơ cấu của nền kinh tế (theo cách phổ biến hiện nay
là chuyển dịch cơ cấu kinh tế), một sự chuyển dịch từ kiểu kinh tế nông nghiệp và
thủ công nghiệp sang kiểu kinh tế được gọi là công nghiệp và sự biến đổi trong bản
thân ngành công nghiệp, trước hết là trong công nghiệp chế tạo – một bộ phận đặc
trưng nhất của công nghiệp.
Đây là đặc điểm có tính chất bao trùm của q trình CNH. Một mặt là sự giảm
phần của khu vực nơng nghiệp trong tồn bộ nền kinh tế, sau đó là sự giảm tương
đối của khu vực công nghiệp do sự gia tăng của khu vực dịch vụ nhờ chính kết quả
phát triển của khu vực công nghiệp. Mặt khác, là sự thay đổi trong nội bộ khu vực
công nghiệp chế tạo.
Chính sự chuyển dịch cơ cấu sẽ là nguyên nhân của sự tăng trưởng kinh tế.


- CNH đặc trưng với kiểu kinh tế công nghiệp có năng suất cao, tăng trưởng
nhanh nhờ sự ra đời của những cơng nghệ mới và việc tích cực áp dụng cơng nghệ
đó.
Cơng nghệ là nhân tố đặc biệt quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu. Phát triển
công nghệ là một nội dung quan trọng và không thể tách rời của CNH. Trong lịch

sử CNH thế giới có 3 con đường phát triển công nghệ khác nhau:
+ Phát triển công nghệ chủ yếu lấy nghiên cứu cơ bản làm cơ sở.
+ Phát triển công nghệ bắt đầu bằng sử dụng cơng nghệ nhập từ nước ngồi.
+ Tự lực về cơng nghệ trên cơ sở coi trọng nghiên cứu cơ bản kết hợp với việc
nhập công nghệ.
Đáng chú nhất đối với các nước đang phát triển là mơ hình về chính sách cơng
nghệ trong cơng nghiệp hóa của Hàn Quốc: nước này đã chọn con đường thứ hai sử
dụng công nghệ nhập, truyền bá, đồng hóa, thích nghi và cải tiến công nghệ nhập
kết hợp với sáng tạo công nghệ mới và đã thành cơng, đẩy nhanh q trình CNH
của nước mình. Quá trình tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc trong suốt 25 năm
(1967 – 1991) gắn chặt với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, với sự giảm tương đối
của tỉ trọng nông nghiệp và tăng tỉ trọng công nghiệp trong GDP với bước đi từ
công nghiệp nhẹ, qua công nghiệp nặng tới công nghiệp điện tử cao cấp.
- CNH phải được đặt trong bối cảnh chung của phát triển kinh tế và đó là cách
đi đạt được tăng trưởng nhanh, thúc đẩy sự phát triển.
Dù trong thực tế lịch sử phát triển CNH có những hậu quả tiêu cực xảy ra về
mặt xã hội, môi trường và văn hóa, CNH vẫn ln ln là một giai đoạn phát triển
mà các quốc gia từ một nền kinh tế lạc hậu, chủ yếu là nơng nghiệp muốn vươn lên
nhanh chóng đến một trình độ phát triển cao đều nhất thiết phải trải qua.
CNH chắc chắn là nguyên nhân của quá trình phát triển kinh tế. Vì vậy, phát
triển kinh tế thực chất được coi ngang với CNH.
1.1.2. Hiện đại hóa
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về hiện đại hóa (HĐH). Đây là một cụm
từ có từ gốc là một tính từ: hiện đại. Từ này có nhiều cách giải thích khác nhau theo


nhiều lĩnh vực về sử học, về văn học nghệ thuật, về kiến trúc… và rất ít khi trùng
khớp với nhau.
Theo cách dùng thơng thường, hiện đại có nghĩa là “thuộc thời đại ngày nay”
(Từ điển Tiếng Việt – 1996, Hoàng Phê chủ biên), đối lập với truyền thống là thói

quen nhiều đời đã qua, tương tự như mới với cũ, tiên tiến với lạc hậu. Theo nghĩa
này, HĐH là q trình biến đổi từ tính chất truyền thống cũ sang trình độ tiên tiến,
hiện đại. HĐH chỉ có tính so sánh về thời gian trước sau, còn thời gian khởi đầu và
thời gian kết thúc lại xác định tùy theo ngữ cảnh cụ thể. [3]
Theo ý nghĩa về kinh tế, HĐH được giải thích là q trình chuyển dịch căn
bản từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại, kéo dài từ thế kỉ 17 – 18 cho đến
ngày nay vẫn còn chưa kết thúc. HĐH về kinh tế vừa là sự thay đổi về tính chất, vừa
có tính xác định về thời gian (có thời gian khởi đầu và thời gian kết thúc từng giai
đoạn). Giai đoạn đầu của quá trình HĐH được coi là trùng với thời kì CNH, nên
nhiều người cho rằng CNH là cốt lõi của HĐH trong giai đoạn này. Nếu tính đến
định nghĩa CNH theo nghĩa rộng , có xét đến các mặt xã hội, văn minh, thì nội hàm
của CNH và HĐH giai đoạn đầu cũng không khác nhau bao nhiêu. Sau giai đoạn
đầu, HĐH sẽ chuyển sang giai đoạn hậu CNH, giai đoạn kinh tế tri thức (có thể tạm
gọi là giai đoạn tri thức hóa). Có người cịn nói đến một giai đoạn hậu hiện đại.
Giữa HĐH và CNH có một mối quan hệ ràng buộc khơng dễ tách bạch ra được. [4]
Ở mỗi trình độ phát triển khác nhau, HĐH mang những đặc trưng khác nhau.
Đối với các nước phát triển, HĐH là quá trình chuyển dịch từ xã hội kinh tế công
nghiệp sang xã hội kinh tế tri thức. Đối với các nước đang phát triển, HĐH là quá
trình đẩy nhanh phát triển để đuổi kịp các nước phát triển, trước mắt là giai đoạn
CNH.
1.1.3. Quá trình cơng nghiệp hóa – hiện đại hóa ở Việt Nam
1.1.3.1. Hình thành đường lối CNH – HĐH
Chính sách CNH ở nước ta đã được nêu ra từ sau khi đổi mới, nó là một q
trình tự nhiên và khơng thể tránh khỏi trên con đường phát triển của Việt Nam cũng
như của các nước khác trên thế giới. Tuy nhiên, đến Hội nghị đại biểu toàn quốc


giữa nhiệm kì khóa VII của Đảng (1/1994) vấn đề cơng nghiệp hóa gắn kết với
HĐH mới chính thức được đề xuất, khi nêu lên những thành tựu quan trọng về phát
triển kinh tế xã hội đã và đang tạo ra những tiền đề đưa đất nước chuyển dần sang

một thời kì phát triển mới, thời kì đẩy tới một bước CNH, HĐH đất nước, kèm theo
là 7 nhiệm vụ kinh tế - xã hội cho thời gian còn lại của nhiệm kì Đại hội VII. [4]
Tiếp theo Hội nghị giữa nhiệm kì, Nghị quyết Hội nghị TW 7 khóa VII
(7/1994) đã cụ thể hóa bước đầu ý tưởng CNH, HĐH nêu trên, đi đến hình thành
một đường lối CNH, HĐH cho đất nước với một định nghĩa về CNH, HĐH cụ thể;
đưa ra mục tiêu và quan điểm về CNH, HĐH cũng như các chủ trương phát triển
công nghiệp và khoa học, cơng nghệ cùng các chính sách và biện pháp CNH, HĐH.
CNH, HĐH được hiểu là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt
động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lí kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động
thủ cơng là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công
nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của
công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao. [3]
Mục tiêu và các quan điểm CNH – HĐH đã được chuẩn xác hóa trong văn
kiện Đại hội VIII (1996). Đại hội VIII đã khẳng định những yếu tố cơ bản của
đường lối CNH – HĐH của Việt Nam. Trong khi xác định mục tiêu thời gian, từ
nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp, và nhiệm vụ trước mắt là đẩy mạnh CNH – HĐH (khác năm 1994 là đẩy
nhanh một bước CNH). Đại hội VIII củng đã tái khẳng định: Mục tiêu của CNH –
HĐH là xây dựng nước ta thành một nước cơng nghiệp có cơ sở vật chất kĩ thuật
hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lí, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an
ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội cơng bằng, văn minh. [4] Bên cạnh
đó, Đại hội cũng phác thảo một cách định tính những mục tiêu cụ thể về cơ cấu kinh
tế, khoa học công nghệ, quan hệ sản xuất, đời sống vật chất và văn hóa… với một
chỉ tiêu định lượng duy nhất cho năm 2020 là GDP tăng từ 8 đến 10 lần so với 1990.


Sáu quan điểm về CNH – HĐH cũng đã được thông qua:
- Độc lập tự chủ đi dôi với hợp tác quốc tế.
- CNH – HĐH là sự nghiệp của toàn dân.

- Nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho phát triển nhanh và bền vững.
- Khoa học và công nghệ là động lực của CNH – HĐH.
- Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn phát triển.
- Kết hợp kinh tế với quốc phòng an ninh.
Đến Đại hội IX, đường lối CNH – HĐH xây dựng từ Đại hội VIII đã được cụ
thể hóa trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm từ 2010 đến 2020, trong
đó có bao hàm phần chiến lược CNH – HĐH giai đoạn 2001 – 2010. Chiến lược
này đề ra nhiệm vụ tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một
nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Đại hội cũng đã bổ sung, hoàn thiện nhiều
quan điểm về CNH – HĐH. Văn kiện đại hội yêu cầu tìm ra con đường rút ngắn
thời gian, nhấn mạnh đến trình độ cơng nghệ tiên tiến, từng bước phát triển kinh tế
tri thức trong điều kiện CNH gắn với HĐH ngay từ đầu và trong suốt các giai đoạn
phát triển.
Trong bối cảnh trong nước và quốc tế mới, Đại hội đã nhấn mạnh yêu cầu phát
triển vừa nhanh vừa bền vững; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ nhưng chủ
động hội nhập quốc tế; đề cao vai trò của giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ là
nền tảng và động lực của CNH – HĐH; đẩy nhanh CNH – HĐH nông nghiệp và
nông thôn là nhiệm vụ lớn và cấp thiết của quá trình CNH – HĐH.
Như vậy, quá trình hình thành đường lối CNH – HĐH có thể được tóm tắt như
sau:
- Năm 1994: Hội nghị giữa nhiệm kì khóa VII đã khởi động lại q trình CNH
với ý tưởng CNH – HĐH gắn kết với nhau.
- Năm 1996: Đại hội VIII đã hình thành đường lối CNH – HĐH thời kì mới.
- Năm 2001: Đại hội IX đã hoàn thiện đường lối CNH – HĐH và xây dựng
bước đầu chiến lược CNH – HĐH.


1.1.3.2. Đặc điểm chủ yếu của quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam
CNH, HĐH ở Việt Nam có nhiều nét đặc thù cả về nội dung, hình thức, qui
mơ, cách thức tiến hành và mục tiêu chiến lược. Những nét đặc thù này thể hiện ở

một số điểm sau:
- Quá trình CNH, HĐH ở nước ta là một quá trình rộng lớn, phức tạp và tồn
diện. Có nghĩa là nó diễn ra trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã
hội, có sự kết hợp giữa các bước đi tuần tự và các bước đi nhảy vọt, kết hợp giữa
phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu, kết hợp giữa biến đổi về
lượng và biến đổi về chất, … của các tác nhân tham gia quá trình. Mục tiêu của quá
trình CNH, HĐH mang tính chất bao trùm rất cao, theo đó đến năm 2020 nước ta về
cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, nhưng mục tiêu sâu xa
hơn là nước ta trở thành một nước dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh.
- Trong bối cảnh tồn cầu hóa và cách mạng khoa học, công nghệ đang diễn ra
mạnh mẽ, nước ta không thể chờ thực hiện xong CNH rồi mới tiến hành HĐH, mà
phải thực hiện đồng thời và đồng bộ CNH và HĐH như một quá trình thống nhất.
Về đại thể, riêng về mặt kinh tế, có thể nhìn nhận q trình này từ hai mặt thống
nhất với nhau: một là quá trình xây dựng nền cơng nghiệp hiện đại, cũng có nghĩa
là tạo nền tảng vật chất – kỹ thuật (lực lượng sản xuất) của nền kinh tế; và hai là
quá trình cải cách hệ thống thể chế và cơ chế kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hóa
tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường, hội nhập [4]. CNH gắn
với HĐH là cách làm đẩy lùi nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước
trong khu vực và trên thế giới, nhanh chóng đưa nước ta tiến kịp các nước trong khu
vực, hội nhập vào sự phát triển chung của khu vực và thế giới.
- Quá trình CNH, HĐH ở nước ta có thể được rút ngắn. Việc cần được rút
ngắn ở đây là đòi hỏi khách quan của nhiệm vụ thốt khỏi tình trạng tụt hậu phát
triển. Bên cạnh đó, bối cảnh mới trong nước cũng như trên thế giới cho phép nước
ta có khả năng rút ngắn q trình CNH, HĐH. Về cơ bản, cách để nước ta có thể
thực hiện CNH, HĐH rút ngắn bao gồm hai mặt: một là đạt và duy trì tốc độ tăng


trưởng cao hơn các nước đi trước liên tục trong một thời gian dài để rút ngắn
khoảng cách chênh lệch về trình độ so với các nước đó (thực chất là tăng tốc để

đuổi kịp); và hai là lựa chọn và áp dụng một phương thức CNH, HĐH cho phép bỏ
qua một số bước đi vốn là bắt buộc theo kiểu tuần tự, để đạt tới một nền kinh tế có
trình độ phát triển cao hơn (thực chất là lựa chọn con đường, bước đi và giải pháp
CNH để đi nhanh tới hiện đại). Hai mặt này không đối lập mà có thể thống nhất với
nhau và đang tiếp tục được làm rõ để định hình sáng tỏ hơn con đường đẩy nhanh
CNH, HĐH ở nước ta.
- Quá trình CNH, HĐH ở nước ta có quan hệ chặt chẽ với việc từng bước phát
triển kinh tế tri thức. Trong thời gian qua, tại khơng ít diễn đàn khoa học và cơng
trình nghiên cứu, mối quan hệ hai chiều giữa CNH, HĐH với phát triển kinh tế tri
thức đã từng bước được làm rõ. Về đại thể, có mạnh dạn đi ngay vào phát triển kinh
tế tri thức mới có khả năng thay đổi phương thức và đẩy nhanh tốc độ CNH, HĐH.
Hay nói cách khác, phát triển kinh tế tri thức tạo điều kiện cho việc thực hiện mơ
hình CNH, HĐH rút ngắn ở nước ta. Ngược lại, việc thực hiện các bước đi và mục
tiêu của quá trình CNH, HĐH tạo ra kết cấu hạ tầng kĩ thuật và hạ tầng xã hội để đi
vào kinh tế tri thức. Quá trình CNH, HĐH ở nước ta phải nắm bắt các tri thức và
công nghệ mới nhất của thời đại để hiện đại hóa nơng nghiệp và các ngành kinh tế
hiện có, đồng thời phát triển nhanh các ngành cơng nghiệp và dịch vụ dựa vào tri
thức, vào khoa học và công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng
nhanh các ngành kinh tế tri thức.
Từ những phân tích trên, có thể thấy nội dung cốt lõi về kinh tế của quá trình
CNH, HĐH ở Việt Nam trong thời gian tới như sau:
+ Đạt và duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
+ Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỉ trọng của các
ngành công nghiệp và dịch vụ.
+ Nắm bắt tri thức và công nghệ mới nhất để hiện đại hóa nơng nghiệp và các
ngành kinh tế hiện có.


+ Phát triển nhanh các ngành công nghiệp và dịch vụ dựa trên tri thức, khoa
học và công nghệ.

+ Không ngừng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.
1.1.3.3. Mục tiêu CNH, HĐH ở Việt Nam
a. Chặng đường đến năm 2010
Tính đến nay, chúng ta đã thực hiện được gần hết chặng đường của chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001-2010. Những kết quả đạt được cho đến nay
tạo điều kiện và là tiền đề quan trọng cho chặng đường CNH, HĐH đến năm 2020.
Trong những năm tới, nước ta tập trung tạo chuyển biến cơ bản về năng lực nội sinh
về khoa học công nghệ và công nghiệp của đất nước, tiếp tục nâng cao vị thế trong
hội nhập và chủ trương mở rộng hội nhập quốc tế, định hình về cơ bản nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN, xây dựng nền tảng cho một nước công nghiệp. Cụ
thể hơn là phải hoàn thành các mục tiêu chủ yếu sau:
- Tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, nâng cao tích
lũy trong nước. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, theo đó cơ cấu ngành và lĩnh
vực tạo được hiệu quả cao và bền vững, cơ cấu kinh tế theo vùng tạo được sự hài
hòa giữa vùng động lực phát triển và các vùng khác, các vùng khó khăn có thể tự
lực phát triển và cơ bản hết đói nghèo. Trong nền kinh tế hình thành một số ngành,
lĩnh vực chủ lực, mũi nhọn; khoa học và cơng nghệ có cơ sở tốt để chủ động tiếp
nhận chuyển giao cơng nghệ từ bên ngồi và tự tạo được đáng kể công nghệ tiên
tiến của nước ta; giáo dục và đào tạo phát triển hình thành đội ngũ lao động và quản
lí có trình độ đáp ứng yêu cầu cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế ở mức cao
hơn.
- Định hình về cơ bản nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với cơ cấu, thể
chế đồng bộ, hoàn chỉnh. Tiếp tục đẩy mạnh hội nhập kinh tế khu vực ở một vị thế
tốt hơn, cân bằng lợi ích và mở rộng hội nhập ngoài khu vực. Hoàn chỉnh đồng bộ
các kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội để đáp ứng yêu cầu phát triển của chặng đường
tiếp theo.


- Tạo sự chuyển biến rõ rệt về đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân: no
đủ, lành mạnh, yên vui, có nhiều yếu tố văn minh, hiện đại; chỉ số phát triển con

người (HDI) đạt mức trung bình cao trong so sánh quốc tế. Giải quyết tốt hơn, toàn
diện hơn các vấn đề xã hội; cơ bản xóa nghèo, tạo nhiều việc làm, tạo điều kiện để
đi tới thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng và khoảng cách về mức sống
giữa các tầng lớp dân cư.
Tựu trung lại, kết thúc chặng đường 10 năm, quá trình CNH, HĐH đất nước đã
định hình nên cơ sở vật chất, kĩ thuật, kinh tế để nước ta đi nhanh hơn, mạnh hơn,
vững chắc hơn trong chặng đường tiếp theo (2010-2020).
b. Chặng đường từ 2010-2020
Trong chặng đường này, nước ta đã hội đủ nhiều điều kiện mang tính tiền đề
về kết cấu hạ tầng, khung thể chế, nguồn nhân lực, năng lực nội sinh, sức cạnh tranh
và khả năng hội nhập quốc tế để tiếp tục đẩy mạnh CNH, HĐH, thực hiện thành
công các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2020. Cụ thể đó là:
- Tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh. Đẩy mạnh chuyển dịch và
nâng cấp cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH có hiệu quả và bền vững. Tỉ trọng
nông nghiệp trong GDP và tỉ trọng lao động trong nơng nghiệp giảm; ở nơng thơn
có nền nơng nghiệp và kết cấu hạ tầng cơ bản hiện đại, phát triển đa dạng các ngành
công nghiệp và dịch vụ, thực hiện sự chuyển biến căn bản bộ mặt nông thôn Việt
Nam phù hợp với một xã hội công nghiệp. Công nghiệp có đủ khả năng hợp tác và
cạnh tranh ngang bằng với các nước trong khu vực, có chỗ đứng vứng chắc trên thị
trường quốc tế. Khu vực dịch vụ phát triển đa dạng, trong đó dịch vụ tài chính, ngân
hàng, viễn thơng phát triển hiện đại, tiếp cận trình độ quốc tế.
- Hình thành hồn chỉnh thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN tương
hợp với trình độ quốc tế. Mở rộng hội nhập quốc tế ở mức độ sâu hơn trong các lĩnh
vực đầu tư, tài chính, tiền tệ, lao động, cơng nghệ, thơng tin. Tham gia có hiệu quả
vào WTO và các tổ chức quốc tế khác, về kinh tế có vị thế của một nước có trình độ
phát triển trung bình trên thế giới.


- Tiếp tục phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực theo kịp trình độ
quốc tế. Hình thành đội ngũ các nhà quản lí nhà nước tinh thơng nghiệp vụ, trung

thành, trung thực và tận tụy với công việc; đội ngũ doanh nhân giỏi, năng động,
nhạy bén, sáng tạo; đội ngũ trí thức có trình độ cao, tâm huyết; và đội ngũ công
nhân kĩ thuật lành nghề theo kịp yêu cầu phát triển đất nước đi dần tới hiện đại hóa
và nền kinh tế tri thức. Chỉ số HDI đạt trên mức trung bình của thế giới.
- Tạo dựng và phát huy năng lực công nghệ nội sinh, kể các lĩnh vực công
nghệ cao như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, chế
tạo máy, tự động hóa, hóa dầu, năng lượng… và sự kết hợp các cơng nghệ đó; có
chỗ đứng vững chắc trên thị trường cơng nghệ, đạt trình độ tiên tiến về công nghệ
trong khu vực. Tăng cường ứng dụng và nâng cao hiệu quả ứng dụng tiến bộ khoa
học và công nghệ vào phát triển kinh tế - xã hội, tạo điều kiện cho sự rút ngắn trong
một số ngành, lĩnh vực, tiến thẳng đến trình độ hiện đại.
- Hình thành lối sống và đạo đức trong xã hội lành mạnh, văn minh, hiện đại,
gắn kết các cá nhân với cộng đồng và dân tộc; nền dân chủ được mở rộng, mọi
người dân có điều kiện tiếp cận và hưởng thụ cơng bằng các thành quả phát triển;
quản lí xã hội có hiệu quả; các tệ nạn xã hội khơng cịn là điều suy tư, lo lắng của
gia đình và xã hội; môi trường tự nhiên và sinh thái được giữ gìn, hài hịa với cuộc
sống con người. An ninh chính trị, xã hội ln ln được củng cố vững chắc.
1.2. Cơ cấu kinh tế
1.2.1. Khái niệm
Cơ cấu (hay kết cấu) là một khái niệm mà triết học duy vật biện chứng dùng để
chỉ cách thức tổ chức bên trong của một hệ thống, biểu hiện sự thống nhất của các
mối quan hệ qua lại vững chắc giữa các bộ phận của nó. Trong khi chỉ rõ mối quan
hệ biện chứng giữa bộ phận và tồn thể, nó biểu hiện ra như một thuộc tính của sự
vật, hiện tượng và sự biến đổi sự vật, hiện tượng. Như vậy, có thể thấy rất nhiều
trình độ, nhiều kiểu tổ chức cơ cấu của các khách thể và các hệ thống.
Đối với nền kinh tế quốc dân, cơ cấu kinh tế là một hệ thống phức tạp có nhiều
bộ phận hợp thành, có sự vận động biến đổi và phát triển theo thời gian. Như vậy có


thể hiểu: “Cơ cấu của nền kinh tế quốc dân là tổng thể những mối quan hệ về chất

lượng và số lượng giữa các bộ phận cấu thành nền kinh tế trong không gian, thời
gian và điều kiện kinh tế - xã hội nhất định”. [11]
Cơ cấu kinh tế là tổng hợp các ngành, lĩnh vực, các bộ phận kinh tế có quan hệ
hữu cơ tương đối ổn định hợp thành.
Cơ cấu kinh tế quốc dân là phạm trù phản ánh cấu tạo cùng các quan hệ bên
trong của nền kinh tế quốc dân, trong đó nền kinh tế được hiểu như một hệ thống
tồn tại trong một giai đoạn lịch sử nhất định.
Như vậy, nghiên cứu cơ cấu kinh tế nhằm nhận biết cấu trúc của nền kinh tế và
phát hiện xu hướng vận động của nền kinh tế theo từng thời kì để có những tác động
cần thiết, thúc đẩy các xu hướng tích cực hay hạn chế những tiêu cực, tiến tới đạt
các mục tiêu định trước. Nghiên cứu cơ cấu kinh tế có ý nghĩa rất lớn đối với thực
tiễn phát triển kinh tế trong từng thời kì phát triển KT - XH của đất nước.
Nhìn chung, cơ cấu kinh tế không chỉ quy định về số lượng và tỉ lệ giữa các
yếu tố cấu thành, biểu hiện về lượng (là sự tăng trưởng của hệ thống), mà còn thể
hiện những mối quan hệ cơ cấu giữa các yếu tố, biểu hiện về chất (là sự phát triển
của hệ thống). Nền kinh tế chỉ có thể ổn định và tăng trưởng bền vững khi có cơ cấu
cân đối, hợp lí.
Trên phạm vi cả nước, cơ cấu kinh tế biểu hiện tập trung của chiến lược KT XH. Một cơ cấu kinh tế hợp lí phản ánh sự tác động của các quy luật phát triển
khách quan. Cơ cấu kinh tế mang tính lịch sử xã hội nhất định và luôn biến động
phụ thuộc vào sự biến đổi của tình hình kinh tế, chính trị thế giới và đặc điểm kinh
tế xã hội của đất nước. Sự biến đổi cơ cấu kinh tế nhằm đạt hiệu quả cao về mặt KT
– XH và môi trường theo hướng CNH, HĐH trong những điều kiện cụ thể của đất
nước. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với sự biến đổi và phát triển không ngừng
của các yếu tố, các bộ phận cấu thành nền kinh tế và những mối liên hệ giữa chúng.
Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ VI chỉ rõ: Nền kinh tế quốc dân có một
cơ cấu kinh tế hợp lí là cơ cấu kinh tế trong đó các ngành, các vùng, các thành phần,
các loại hình sản xuất có quy mơ và trình độ kĩ thuật khác nhau phải được bố trí cân


đối, liên kết với nhau, phù hợp với điều kiện kinh tế, bảo đảm cho nền kinh tế phát

triển ổn định.
Cơ cấu kinh tế là một hệ thống động, biến đổi không ngừng theo đà phát triển
của lực lượng sản xuất và những nhân tố quy định nó. Ứng với mỗi giai đoạn phát
triển nhất định, trong những điều kiện cụ thể nhất định, phải xây dựng, điều chỉnh
cơ cấu kinh tế cho phù hợp.
1.2.2. Các khía cạnh của cơ cấu kinh tế
1.2.2.1. Cơ cấu ngành
Cơ cấu ngành kinh tế thể hiện mối quan hệ gắn bó với nhau theo những tỉ lệ
nhất định giữa các ngành sản xuất, trong nội bộ nền kinh tế quốc dân cũng như
giữa các ngành nghề và các doanh nghiệp trong các ngành [27]. Cơ cấu ngành là
bộ phận then chốt trong cơ cấu kinh tế, vì cơ cấu ngành quyết định trạng thái chung
và tỉ lệ đầu vào, đầu ra của nền kinh tế quốc dân.
Đối với nền kinh tế quốc dân, chuyển dịch cơ cấu ngành có nghĩa là sự vận
động và biến đổi của các ngành kinh tế thuộc khu vực I, II, III theo chiều hướng
tăng tỉ lệ các ngành khu vực II, III, giảm tỉ lệ các ngành khu vực I trong cơ cấu tổng
sản phẩm quốc nội.
Trong công nghiệp xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành thể hiện bằng sự gia
tăng tỉ trọng các ngành cơng nghiệp có thiết bị tiên tiến, công nghệ hiện đại, tăng
sản phẩm có hàm lượng chất xám, giảm tỉ trọng các ngành, các xí nghiệp có thiết bị
và cơng nghệ lạc hậu, sử dụng nhiều lao động.
1.2.2.2. Cơ cấu thành phần kinh tế
Cơ cấu thành phần kinh tế gắn với các loại hình sở hữu nhất định về tư liệu
sản xuất. Tùy theo phương thức sản xuất mà có các thành phần kinh tế chiếm địa vị
chi phối hay chủ đạo và các thành phần kinh tế khác cùng tồn tại.
Nước ta chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, lấy kinh
tế quốc doanh và kinh tế tập thể làm nền tảng. Trong đó, kinh tế quốc doanh đóng
vai trị chủ đạo. Kinh tế tư bản nhà nước được phát triển phổ biến và tồn tại dưới
nhiều hình thức. Kinh tế cá thể, kinh tế tư bản là bộ phận hợp thành quan trọng.



1.2.2.3. Cơ cấu lãnh thổ kinh tế
Cơ cấu lãnh thổ kinh tế phản ánh sự phân công lao động xã hội về mặt khơng
gian địa lí. Thực chất của việc phân chia này là để làm cơ sở cho hoạch định chiến
lược, xây dựng kế hoạch phát triển, thực thu chính sách sát thực và phù hợp với đặc
điểm của từng lãnh thổ nhằm đạt hiệu quả cao trên từng vùng và toàn lãnh thổ.
Cơ cấu kinh tế theo ngành, theo thành phần và theo vùng kinh tế là sự biểu
hiện về bản chất ở những khía cạnh khác nhau của một nền kinh tế, giữa chúng có
mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, trong đó cơ cấu theo ngành giữ vai trị chủ
đạo trong tồn bộ q trình phát triển, cơ cấu theo thành phần kinh tế giữ vai trò
quan trọng để thực hiện cơ cấu ngành và cơ cấu theo vùng là cơ sở cho các ngành,
các thành phần kinh tế phân bố hợp lí các nguồn lực, tạo sự phát triển đồng bộ, cân
đối và đạt hiệu quả cao giữa các ngành và giữa các thành phần kinh tế của một nền
kinh tế.
1.2.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Có nhiều cách lí giải khác nhau về chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Song dù được lí
giải như thế nào thì chuyển dịch cơ cấu kinh tế vẫn được xem là sự thay đổi trang
thái cơ cấu của nền kinh tế từ thời điểm này sang thời điểm khác.[19]
Quá trình phát triển KT – XH là quá trình biến đổi diễn ra trên tất cả các lĩnh
vực KT – XH nhưng trước hết là sự gia tăng năng lực sản xuất và chuyển dịch các
nguồn lực được sử dụng vào quá trình sản xuất của các ngành. Xu hướng chung
trong thực tế là khi thu nhập bình quân đầu người tăng lên thì tỉ trọng sản phẩm
nông nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân sẽ giảm xuống, tỉ trọng sản phẩm công
nghiệp và dịch vụ tăng lên, đến một trình độ nhất định thì tỉ trọng dịch vụ sẽ tăng
nhanh hơn so với công nghiệp. Để lí giải cho q trình này E. Engel cho rằng: khi
thu nhập của các gia đình tăng lên, tỉ lệ chi tiêu của họ cho lương thực, thực phẩm
sẽ giảm xuống và cho sản phẩm công nghiệp và dịch vụ tăng lên, dẫn tới tỉ trọng
nông nghiệp trong tổng sản phẩm quốc nội giảm xuống.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thực chất là quá trình cải biến KT – XH từ lạc hậu,
mang tính chất tự cấp tự túc bước vào chun mơn hố hợp lí, trang bị kĩ thuật,



công nghệ hiện đại, trên cơ sở tạo ra năng suất lao động cao và nhịp độ tăng
trưởng mạnh cho nền kinh tế [9]. Q trình chuyển dịch này khơng chỉ diễn ra giữa
các ngành của nền kinh tế mà bắt đầu từ nội bộ của từng ngành theo những xu
hướng nhất định.
1.3. Vai trị của q trình CNH – HĐH đối với sự phát triển KT - XH
CNH – HĐH ở Việt Nam được hiểu là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện
các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lí KT – XH từ sử dụng lao
động thủ cơng là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công
nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của
công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
Về thực chất, CNH – HĐH không chỉ là quá trình tăng thêm một cách đơn giản tốc
độ và tỉ trọng của sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân mà cịn là q
trình chuyển dịch cơ cấu, gắn liền với việc đổi mới công nghệ một cách thường
xuyên, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng bền vững và có hiệu quả cao của tồn bộ
nền kinh tế. Cũng có thể thấy rằng CNH – HĐH là một quá trình xây dựng một xã
hội văn minh, cải biến căn bản các ngành kinh tế, các hoạt động xã hội theo phong
cách của nền công nghiệp hiện đại, tạo ra sự phát triển bền vững và không ngừng
cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động. Chính vì vậy, q trình
này có những tác động sâu sắc đến sự phát triển KT – XH khơng chỉ của quốc gia
nói chung mà các lãnh thổ ở cấp nhỏ hơn đều chịu ảnh hưởng.
1.3.1. Tích cực
1.3.1.1. Đối với các ngành kinh tế
Quá trình CNH – HĐH tác động đến nhiều mặt của nền kinh tế. Cụ thể:
- Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của các ngành kinh tế thông qua việc ứng dụng
một cách triệt để sự tiến bộ của khoa học và công nghệ nhằm mục đích cuối cùng là
tạo ra năng suất lao động xã hội cao nhất có thể. Và q trình này tác động đến tất
cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân nên khơng chỉ trong tồn bộ nền kinh tế mà
nội bộ từng ngành cũng có sự tăng trưởng mạnh mẽ.



×