Tải bản đầy đủ (.doc) (60 trang)

quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực trạng và giải pháp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (421.56 KB, 60 trang )

LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian dài học tập, tìm hiểu và nghiên cứu, cùng với sự nỗ lực
của bản thân, sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, gia đình và bạn bè. Em đã hoàn
thành bài khoá luận này.
Trước tiên em xin chân thành cảm ơn TS. Phạm Huy Vinh, người đã trực
tiếp hướng dẫn em từ khi lựa chọn đề tài, cho đến khi hoàn thành khoá luận. Sự chỉ
bảo tận tình của thầy đã giúp em định hướng được tốt hơn trong quá trình thực hiện
đề tài.
Em xin cảm ơn Cô giáo Nhữ Kim Huế, giáo viên chủ nhiệm lớp Kinh tế
K11 cùng các thầy cô giáo trong khoa Quan Hệ Quốc Tế đã nhiệt tình giúp đỡ,
cung cấp thông tin và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em có thể hoàn thành bài khoá
luận này.
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã ủng
hộ em trong suốt thời gian vừa qua.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 01 tháng 0 5 năm 2009.
Sinh viên
Bùi Thị Quỳnh Trang
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT Nội dung cần viết tắt Từ viết tắt
1 Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài DNVNN
2 Doanh nghiệp trong nước DNTN
3 Đầu tư nước ngoài ĐTNN
4 Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI
5 Tổ chức Thương mại Thế giới WTO
6 Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình
Dương
APEC
7 Diễn đàn kinh tế Khu vực Á - Âu ASEM
8 Đô la Mỹ USD
9 Quản lý nhà nước QLNN


10 Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá CNH - HĐH
11 Ngân sách Nhà nước NSNN
12 Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ BTA
13 Khu công nghiệp KCN
14 Khu chế xuất KCX
15 Khu công nghệ cao KCNC
16 Liên minh Châu Âu EU
17 Các Công ty xuyên quốc gia TNCs
18 Các Công ty đa quốc gia MNCs
19 Hiệp hội các nước Đông Nam Á ASEAN
20 Đầu tư gián tiếp nước ngoài FPI
21 Hỗ trợ phát triển chính thức ODA
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bùi Tiến Quý, Quản lý nhà nước về kinh tế đối ngoại, NXB Lao động, năm
2005
2. Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Báo cáo nhanh đầu tư trực
tiếp nước ngoài năm 2008, Hà Nội 19/12/2008
3. Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tình hình đầu tư trực tiếp
nước ngoài, Hà Nội 31/12/2004
4. Đinh Văn Ân, Nguyễn Thị Tuệ Anh, Thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài
sau khi Việt Nam gia nhập WTO - kết quả điều tra 140 Doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài, NXB Lao động, Hà Nội năm 2008
5. Luật Đầu tư năm 2005, NXB Tư pháp, Hà Nội năm 2006
6. Nguyễn Văn Thường, Giáo trình Kinh tế Việt Nam, NXB Đại học Kinh tế
Quốc dân, Hà Nội năm 2008
7. Tạp chí Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, Hai mươi năm đầu tư nước ngoài
nhìn lại và hướng tới 1987 – 2007, NXB Tri thức, Hà Nội năm 2008
8. Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê 2007, Hà Nội năm 2008
9. Vũ Chí Lộc, Giáo trình đầu tư nước ngoài, NXB Giáo dục, Hà Nội năm
1997

10.Http:// www.mof.gov.vn.Deffault. Aspx?tabid=612&ltemID=31186
DANH MỤC CÁC HÌNH, BẢNG
STT Kí hiệu Tên Hình,Bảng Trang
I/ Các Hình
1 Hình 1.1 Các công cụ quản lý vĩ mô của nhà nước đối với các
DNVNN
5
2 Hình 2.1 Vòng luẩn quẩn của các nước có nền kinh tế chậm
phát triển
21
3 Hình 2.2 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
tính đến ngày 19/12/2008 (theo tỷ trọng dự án)
22
4 Hình 2.3 Cơ cấu vốn FDI cấp mới năm 2008 phân theo lĩnh
vực đầu tư
32
5 Hình 2.4 Cơ cấu vốn đầu tư thực hiện theo giá thực tế phân
theo thành phần kinh tế
38
II/ Các Bảng
1 Bảng 2.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép thời kì
1988 - 2007
25
2 Bảng 2.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2008 27
3 Bảng 2.3 Đầu tư trực tiếp nước ngoài cấp mới năm 2008 theo
hình thức đầu tư
28
4 Bảng 2.4 Tăng vốn 12 tháng 2008 phân theo ngành 30
5 Bảng 2.5 FDI được cấp phép thời kì 1988 – 2007 phân theo
ngành

31
6 Bảng 2.6 FDI được cấp phép thời kì 1988 -2007 phân theo
vùng
33
7 Bảng 2.7 Mười nước đầu tư lớn nhất vào Việt Nam thời kì
1988 - 2007
35
LỜI MỞ ĐẦU
Doanh nghiệp được coi là tế bào của nền kinh tế, là bộ phận có nhiều đóng
góp trong nền kinh tế quốc dân. Trong đó, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài có vai trò rất to lớn, điều này được thể hiện rất rõ với hoàn cảnh nước ta, một
nước nghèo nàn lạc hậu, hạn chế về vốn, việc phát triển các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài là một trong những chiến lược phát triển nền kinh tế đất nước.
Từ sau khi ban hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987, đặc
biệt trong giai đoạn hiện nay, khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ
150 của tổ chức Thương mại Thế giới - WTO (ngày 7/11/2006), lượng vốn FDI
đăng ký vào Việt Nam liên tục tăng, tính đến hết năm 2007 tổng vốn đăng ký đạt
khoảng 98 tỉ USD (kể cả vốn tăng thêm), với hơn 9.500 dự án đầu tư nước ngoài.
Mặc dù lượng vốn FDI đăng ký khá cao nhưng số vốn FDI thực hiện vẫn còn
khiêm tốn. Bên cạnh đó, hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
ở Việt Nam hiện nay chưa thực sự đạt được hiệu quả so với yêu cầu. Nguyên nhân
là do môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp vốn nước ngoài còn gặp nhiều
khó khăn. Vì vậy, việc tăng cường công tác quản lý của nhà nước đối với các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một yêu cầu cấp thiết, góp phần tạo
thêm nhiều thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vốn
nước ngoài.
Xuất phát từ mối quan tâm đến việc thu hút vốn FDI vào Việt Nam và công
tác quản lý, sử dụng nguồn vốn quan trọng này thông qua các doanh nghiệp vốn
nước ngoài, em đã quyết định chọn đề tài: Quản lý nhà nước đối với các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực trạng và giải pháp”.

Bên cạnh Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục chữ viết tắt, Danh mục tài liệu
tham khảo và Phụ lục, Nội dung chính của bài viết được chia làm 3 chương:
 Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài và kinh nghiệm của một số nước
 Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với các DNVNN ở
Việt Nam.
 Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN đối với
các DNVNN.
Trong quá trình thực hiên khoá luận, mặc dù nhận được sự giúp đỡ nhiệt
tình của thầy giáo hướng dẫn cũng như các thầy cô giáo trong khoa Quan Hệ
Quốc Tế, sự nỗ lực của bản thân, nhưng do kiến thức và trình độ của em còn
hạn chế, thời gian nghiên cứu có hạn nên khoá luận sẽ không thể tránh khỏi
những thiếu sót. Rất mong sẽ nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô và các
bạn để em có được nhận thức toàn diện hơn, sâu sắc hơn về vấn đề này.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH
NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT
SỐ NƯỚC
1. Cơ sở lý luận về Quản lý Nhà nước đối với các Doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài.
1.1. Chức năng quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước.
1.1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế và phát triển các
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước ở Việt Nam, việc thu hút các
nguồn vốn nước ngoài là vấn đề cấp bách nhằm thực hiện mục tiêu, chiến lược
phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020 mà Đại hội Đảng X đã đề ra là đưa nước ta
cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Muốn đạt được mục tiêu trên, nước ta phải
hoàn thành sự nghiệp CNH – HĐH, nói cách khác chúng ta phải tăng cường thu
hút và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN).
Nghị quyết Trung ương 9 khoá IX năm 2004 đã đề ra nhiêm vụ: “Tạo

chuyển biến cơ bản trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài, nhất là của các tập đoàn
xuyên quốc gia, hướng mạnh hơn vào những ngành, lĩnh vực quan trọng của nền
kinh tế, đặc biệt là các lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ nguồn. Mở rộng lĩnh
vực đầu tư và đa dạng hoá hình thức ĐTNN cho phù hợp với lộ trình hội nhập’’
Trong những năm qua, tình hình trong nước và quốc tế có rất nhiều chuyển
biến quan trọng tác động không nhỏ đến sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta,
trong đó có chủ trương đổi mới toàn diện nền kinh tế và xu hướng hội nhập kinh tế
quốc tế của nền kinh tế Việt Nam. Năm 2007, tình hình chính trị xã hội nước ta
tiếp tục ổn định, chính sách đổi mới thể chế kinh tế thị trường được hoàn thiện, nền
kinh tế tăng trưởng nhanh trong nhiều năm qua đã tạo lòng tin cho các nhà ĐTNN.
Thêm vào đó, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và các nước trên thế giới diễn ra
theo chiều hướng tích cực cũng là nhân tố quan trọng tác động đến quan hệ kinh tế
và thu hút vốn ĐTNN.
Vị thế của Việt Nam trên trường Quốc tế tiếp tục được nâng cao hơn sau khi
Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 150 của WTO, tổ chức thành công
hội nghị APEC lần thứ 14 và được Quốc hội Hoa Kỳ thông qua PNTR vào năm
2006.
Bối cảnh hội nhập toàn cầu hoá kinh tế đòi hỏi các nước phải ra sức sửa đổi, bổ
sung nhiều quy định hấp dẫn các nhà ĐTNN. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế
chung của Thế giới, để đẩy nhanh quá trình hội nhập, việc phát triển các Doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài (DNVNN) là một đòi hỏi không thể trì hoãn của Đảng và
Nhà nước ta ngay từ lúc này.
1.1.2. Các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước.
Để nền kinh tế - xã hội của đất nước ổn định, Nhà nước phải sử dụng các
công cụ quản lý kinh tế của mình để tác động lên các đối tượng cần quản lý. Quản
lý kinh tế vĩ mô nói chung và hệ thống công cụ quản lý của nhà nước đối với các
DNVNN nói riêng cần phải đạt được những mục tiêu cơ bản sau:
Tạo môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, lành mạnh, tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân được hoạt động thuận lợi, hiệu quả nhất,
trong đó có các DNVNN.

Đảm bảo tăng trưởng, phát triển nền kinh tế một cách mạnh mẽ, ổn định và bền
vững.
Đảm bảo phân phối một cách công bằng các nguồn lực cũng như kết quả đạt
được của nền kinh tế. Trong đó, việc phân phối nguồn lực được thực hiện theo
nguyên tắc cạnh tranh, bình đẳng trước pháp luật và đảm bảo hiệu quả cao. Nghĩa
là, Nhà nước phải tạo lập môi trường pháp lý sao cho mỗi đơn vị sản xuất kinh
doanh trong nền kinh tế, trong đó có các DNVNN đều có cơ hội bình đẳng như
nhau.
Bên cạnh môi trường pháp lý đồng bộ, hoàn chỉnh thì các môi trường khác
cũng phải được đảm bảo: Môi trường kinh tế nhiều tiềm năng; môi trường các
nguồn lực dồi dào, phong phú; môi trường hành chính thuận tiện, nhanh chóng, đáp
ứng được yêu cầu của quản lý kinh tế, quản lý sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp cũng như tăng khả năng giải quyết quan hệ lợi ích giữa các chủ thể kinh tế
trong nền kinh tế thị trường.
Để tạo lập những môi trường trên, Nhà nước đã sử dụng các công cụ quản lý
vĩ mô bao gồm:
Hình 1.1: Các công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với các DNVNN.
Các chính sách kinh tế - xã hội: là tổng thể các quan điểm, chuẩn mực, các
biện pháp mà chủ thể quản lý – Nhà nước sử dụng nhằm tác động lên đối tượng để
đạt được những mục tiêu chung của đất nước.
Bộ máy nhà nước: Bao gồm các cơ quan quyền lực Nhà nước, các cơ quan
quản lý Nhà nước, các cơ quan kiểm sát và xét xử, các cán bộ công chức Nhà
nước. Bộ máy Nhà nước khi phối hợp hoạt động nhịp nhàng sẽ thực hiện tốt các
chức năng nói chung của Nhà nước, trong đó có chức năng quản lý kinh tế - xã hội.
Các công cụ quản lý vĩ
mô của Nhà nước đối với
các DNVNN
Các
chính
sách

kinh tế
xã hội
Bộ máy
nhà
nước
Công
sản
Pháp
luật
Kế
hoạch
chiến
lược
Quyết
định
hành
chính
Văn
hóa
truyền
thống
………
Công
chức
nhà
nước
Ngân
sách
Đất đai Công
khố

Kết cấu
hạ tầng
Các
DNV
NN
Tài sản công: Bao gồm các nguồn vốn, các phương tiện vật chất mà Nhà
nước thay mặt quản lý và sử dụng để điều hành xã hội như: Ngân sách, tài sản tự
nhiên, Kho bạc Nhà nước, kết cấu hạ tầng v.v…
Pháp luật: là hệ thống các quy tắc xử xự mang tính bắt buộc chung do Nhà
nước đặt ra và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và cộng
đồng xã hội. Pháp luật là công cụ quản lý quan trọng nhất của bất kì một xã hội
nào, pháp luật cũng giữ vai trò quan trọng trong quản lý kinh tế.
Kế hoạch và các quyết định hành chính: trong đó, kế hoạch là tập hợp các
mục tiêu, nhiệm vụ, nguồn lực phải có để thực hiện mục tiêu chung. Các quyết
định hành chính Nhà nước là sản phẩm trí tuệ của các nhà lãnh đạo, công chức nhà
nước để điều hành, quản lý thông qua các mệnh lệnh đơn phương và duy trì sự ổn
định.
Ngoài các công cụ trên, Nhà nước còn sử dụng công cụ văn hoá truyền
thống để quản lý kinh tế - xã hội. Văn hoá là toàn bộ của cải vật chất và tinh thần
do con người tạo ra trong thực tiễn lịch sử dân tộc. Văn hoá vừa là nền tảng, thước
đo, chuẩn mực, vừa là mục tiêu, động lực, lại vừa là hệ điều tiết sự phát triển kinh
tế - xã hội của mỗi Quốc gia.
1.1.3. Sự cần thiết phải sử dụng các công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước
đối với các DNVNN.
Sự tồn tại và phát triển của các DNVNN ở mỗi Quốc gia nói chung và đặc
biệt ở các nước có nền kinh tế chậm phát triển nói riêng là một tất yếu khách quan
và có sự tác động tích cực đến nền kinh tế các Quốc gia bởi:
Thông qua các DNVNN, việc thu hút vốn ĐTNN đã tạo ra nguồn vốn bổ
sung quan trọng, bù đắp cho sự thiếu hụt vốn trong nước ở nước nhận đầu tư.Việc
phát triển kinh tế đòi hỏi phải huy động mọi nguồn vốn trong nước và ngoài nước,

nhưng đối với các nước lạc hậu, sản xuất còn ở trình độ thấp, nguồn vốn tích luỹ từ
trong nước còn hạn hẹp thì vốn đầu tư nước ngoài có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Ở các nước đang phát triển, sản xuất còn lạc hậu, nguồn vốn tích luỹ không
đủ khả năng đảm bảo cho việc xây dựng và phát triển kinh tế thì vốn ĐTNN thu
được là vô cùng quan trọng. Các nước này không có nhiều vốn tích luỹ nhưng lại
có nhiều lợi thế cạnh tranh đặc biệt về lao động và tài nguyên chưa có điều kiện
khai thác tốt. Trong khi đó, các nước Tư bản phát triển lại nắm trong tay một
nguồn vốn khổng lồ và có nhu cầu đầu tư ra nước ngoài nhằm mở rộng thị trường,
tìm kiếm lợi nhuận. Việc kết hợp thu hút nguồn vốn ĐTNN vào để phát huy lợi thế
cạnh tranh của các Quốc gia chậm phát triển sẽ là điều kiện, là động lực thúc đẩy
họ phát triển hơn, rút ngắn dần khoảng cách với các nước phát triển.
Thu hút vốn ĐTNN thông qua các DNVNN còn mang lại cho nước chủ nhà
kỹ thuật và công nghệ đi kèm. Trong thời đại công nghệ không ngừng phát triển
như hiện nay, việc các nước Đang phát triển tự nghiên cứu và phát triển là rất khó
khăn bởi sự thiếu hụt về vốn cũng như sự yếu kém về trình độ. Giải pháp tốt nhất
để khắc phục và phát triển khoa học kỹ thuật – công nghệ cũng như trình độ
chuyên môn là phải tận dụng những thành tựu tiên tiến của nước ngoài thông qua
chuyển giao công nghệ. Thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp ở các DNVNN, quá
trình chuyển giao công nghệ được thực hiện nhanh chóng và thuận tiện, nước nhận
đầu tư không chỉ nhận được vốn hiện vật là máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu mà
còn nhận được vốn vô hình đó là tiếp thu tri thức khoa học, kĩ năng quản lý tiên
tiến.
Chuyển giao công nghệ là một phương thức cho phép các nước Đang phát
triển tiếp cận với trình độ công nghệ - kỹ thuật hiện đại. Tuy nhiên, mức độ hiện
đại phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, nước nhận đầu tư có thể sẽ trở thành “bãi thải
công nghiệp” nếu không thực hiện tốt công tác thẩm định, quản lý khi tiếp nhận
vốn đầu tư và công nghệ đi kèm.
Việc thu hút FDI thông qua DNVNN tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế. Thực tế đã cho thấy, không một Quốc gia chậm phát triển nào có thể thoát
khỏi vòng luẩn quẩn của sự lạc hậu, nghèo nàn mà không đẩy mạnh mở cửa hội

nhập, thu hút ĐTNN, kết hợp sức mạnh nội lực với sức mạnh ngoại lực, còn Quốc
gia nào biết tận dụng và phát huy sự ủng hộ từ bên ngoài sẽ đạt được tốc độ tăng
trưởng cao hơn.
Một trong những chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả của hoạt động đầu tư và đóng
góp của nó đối với nền kinh tế một quốc gia là chỉ số ICOR (Incremental Capital
Output Ratio).
ICOR = I/∆ GDP
(∆ GDP = GDPt – DGPt-1)
Ý nghĩa: Để GDP tăng trưởng một đơn vị cần bao nhiêu đồng vốn đầu tư
Triển khai chỉ số ICOR:
Lấy k = I/GDP, g = ∆ GDP/GDP vậy ICOR = k/g
Trong đó: ICOR: tỷ lệ giữa vốn đầu tư và tăng trưởng kinh tế
I: vốn đầu tư của toàn bộ nền kinh tế
∆ GDP: mức tăng tổng sản phẩm quốc nội
k: tỷ lệ giữa vốn đầu tư và tổng sản phẩm quốc nội
g: tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế
suy ra: k = ICOR . g
Như vậy, nếu hệ số ICOR không đổi thì tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP (k) sẽ
quyết định tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế (g). Tỷ lệ đầu tư càng cao thì tốc độ
tăng trưởng càng cao và ngược lại.
Năm 1995, ICOR của Việt Nam là 3,39 thì năm 2007, 2008 đã lên tới gần 6.
(theo http:// www.mof.gov.vn/Default.aspx?tabid=612&ItemID=31186).
FDI thông qua các DNVNN giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế do tác động của
vốn và khoa học công nghệ. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ là đòi hỏi của
bản thân mỗi nền kinh tế trong quá trình phát triển mà còn là đòi hỏi của xu thế hội
nhập ngày nay. Các nước khi hội nhập vào nền kinh tế Thế giới là tham gia vào
quá trình phân công lao động Quốc tế, muốn đạt được lợi ích các Quốc gia phải
thực hiện chuyển dịch cơ cấu, tập trung chuyên môn hoá vào những ngành là lợi
thế của Quốc gia mình. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế khi phù hợp với trình độ
phát triển chung trên Thế giới sẽ tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước

ngoài, làm tăng luồng vốn FDI lưu chuyển và sử dụng nguồn vốn đó có hiệu quả
hơn. Ngược lại, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần thúc đẩy quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, không những phát triển và làm tăng tỷ trọng của những
ngành lợi thế trong nền kinh tế mà còn tạo ra những ngành, lĩnh vực mới ở nước
nhận vốn đầu tư.
Các DNVNN góp phần tạo việc làm, nâng cao trình độ và tăng thu nhập cho
người lao động. Mục đích của các nhà đầu tư là khai thác lợi thế so sánh của nước
nhận đầu tư về giá nhân công rẻ, có tác dụng làm giảm chi phí đầu vào, tăng thêm
lợi nhuận, họ thành lập các doanh nghiệp và các chi nhánh sản xuất kinh doanh tại
nước sở tại, tạo ra năng lực sản xuất kinh doanh mới. Như vậy các DNVNN đã giải
quyết được một phần vấn đề thất nghiệp đồng thời còn tạo ra thu nhập tương đối
cho người lao động.
FDI thông qua các DNVNN tạo điều kiện cho nước chủ nhà mở rộng quan
hệ đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế Khu vực và Thế giới. Các nhà đầu tư khi
đầu tư vào các nước đang phát triển để sản xuất ra sản phẩm nhằm xuất khẩu ra thị
trường thế giới, lúc này các DNVNN là công cụ quan trọng để thực hiện chiến lược
phát triển dựa vào xuất khẩu. Điều này đã giúp các nước nhận đầu tư tiếp cận với
thị trường thế giới, đẩy mạnh xuất khẩu, nhờ đó có thể tăng thu ngoại tệ, cải thiện
cán cân thanh toán và cán cân thương mại.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua các DNVNN còn đóng góp một phần
đáng kể vào ngân sách nhà nước (NSNN).
Từ những lợi ích trên cho thấy DNVNN có vai trò to lớn cho sự phát triển
của mỗi quốc gia, đặc biệt với các quốc gia chậm phát triển, vì thế cần phải tạo
điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển thuận lợi. Do vậy, việc sử dụng
các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước đối với các DNVNN là hết sức
quan trọng.
Để tiến hành quản lý DNVNN cũng như quản lý các doanh nghiệp trong nền
kinh tế nói chung, nhà nước thực hiện qua 5 bước cơ bản:
Bước 1: Hình thành quan điểm, chủ trương, đường lối và phương hướng để
phát triển DNVNN, từ đó hình thành kế hoạch cụ thể để phát triển DNVNN, Đây

là bước quan trọng nhất chi phối toàn bộ quá trình quản lý các DNVNN.
Bước 2: Hình thành, tổ chức bộ máy thích hợp để quản lý và sử dụng tài sản
quốc gia có hiệu quả.
Bước 3: Sử dụng đội ngũ cán bộ, người quản lý phù hợp với mục tiêu của bộ
máy để quản lý DNVNN cũng như tham gia trực tiếp tại các doanh nghiệp đó.
Bước 4: Lựa chọn phương pháp và hình thức quản lý các DNVNN có hiệu
quả trong từng phạm vi cụ thể.
Bước 5: Tạo lập và khai thác các thời cơ có lợi cho việc sử dụng các
DNVNN, đổi mới cơ chế và phương thức quản lý cho phù hợp với sự thay đổi
khách quan.
Tăng cường công tác quản lý của Nhà nước đối với các DNVNN bằng các
công cụ vĩ mô là hết sức cần thiết để tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp này phát
triển có hiệu quả, đồng thời hạn chế tối đa những rủi ro gặp phải trong quá trình
tiếp nhận vốn đầu tư nước ngoài.
1.2. Quá trình hình thành pháp luật để quản lý các DNVNN ở Việt Nam.
1.2.1. Giai đoạn 1987-1996.
Việc quản lý Nhà nước đối với hoạt động đầu tư ở Việt Nam lần đầu tiên
được thể hiện bằng văn bản pháp luật với sự ra đời của điều lệ ĐTNN do Hội đồng
Bộ trưởng ban hành kèm theo Nghị định số 115/CP ngày 18/4/1977. Điều lệ
ĐTNN (1977) được coi là văn kiện pháp lý đầu tiên hướng vào nền kinh tế thị
trường, thể hiện bước đầu quan điểm của Đảng và Nhà nước về nguồn vốn đầu tư
nước ngoài.
Tuy nhiên, điều lệ ĐTNN (1977) nói chung vẫn là sự thể chế hoá chính sách
nên còn thiếu những quy định cụ thể và chưa tạo được cơ sở, hiệu lực pháp lý cao.
Mặt khác, từ năm 1977 đến năm 1986 do sự bao vây, cấm vận kinh tế của Mỹ,
những khó khăn về kinh tế - xã hội của đất nước, hệ thống pháp luật chưa hoàn
chỉnh làm cho hoạt động ĐTNN chưa thu được nhiều thành tựu.
Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam (1986) đã đề ra đường lối
đổi mới với nội dung chủ yếu là xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần,
cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN. Lúc này,

chính sách đầu tư nước ngoài đứng trước đòi hỏi phải thay đổi, ngày 29/12/1987,
Quốc hội ban hành Luật ĐTNN tại Việt Nam.
Về khía cạnh QLNN, giai đoạn thực hiện Luật ĐTNN (1987) là giai đoạn
“vừa học vừa làm” của Nhà nước Việt Nam. Luật ĐTNN (1987) ra đời được các
nhà kinh doanh trên Thế giới đón nhận như là một văn bản thông thoáng và có sức
hấp dẫn, có nhiều quy định thể hiện tính cởi mở, tạo ra những lợi thế so sánh trong
cạnh tranh với các nước trong khu vực. Ví dụ: Cho phép nhà đầu tư nước ngoài
được thành lập doanh nghiệp 100% vốn, là hình thức mà một số nước trong vùng
lúc đó chưa cho phép.
Luật ĐTNN (1987) đã có bước tiến vượt bậc về nội dung, đặc biệt là những
quy định về QLNN đối với ĐTNN, thực sự là công cụ quản lý hữu hiệu của nhà
nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Nhưng do ra đời trong
khung cảnh pháp lý hiện hành chưa đầy đủ nên các quy định liên quan đến QLNN
và ĐTNN chưa đảm bảo yếu tố cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng giữa các nhà đầu
tư.
Để thực hiện yêu cầu tiếp tục hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật đầu
tư, ngày 30/6/1990, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật ĐTNN (1987) năm 1990, tiếp đó là Luật ĐTNN (sửa đổi) năm 1992, Luật
khuyến khích ĐTNN năm 1994. Ngày 12/11/1996, Luật ĐTNN tại Việt Nam được
Quốc hội thông qua trên cơ sở sửa đổi, bổ sung một cách cơ bản Luật ĐTNN năm
1987, Luật ĐTNN (sửa đổi) năm 1990 và Luật ĐTNN (sửa đổi) năm1992, tiếp tục
tạo môi trường pháp lý hấp dẫn, thể hiện nhất quán chính sách thu hút ĐTNN vào
Việt Nam theo quan điểm của Đảng và Nhà nước. Luật ĐTNN (1996) quy định rõ
hơn chức năng, thẩm quyền và sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan QLNN về
đầu tư nước ngoài, quy định các biện pháp tăng cường QLNN đối với ĐTNN như
giám định, nghiệm thu, v.v…
1.2.2. Luật ĐTNN (sửa đổi) năm 2000.
Luật ĐTNN (sửa đổi) năm 2000 là một bước tiến quan trọng trong nhận thức
về QLNN đối với ĐTNN, quy định rõ hơn về hoạt động QLNN với ĐTNN, cụ thể
là: quy định rõ trách nhiệm và thẩm quyền quản lý về đầu tư nước ngoài của các

Bộ, Ngành, Địa phương; cơ chế phối hợp, báo cáo giữa các cơ quan cấp giấy phép
đầu tư với nhau. Lần sửa đổi này đã bổ sung và sửa đổi một số vấn đề cơ bản nhằm
tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động của các
DNVNN; mở rộng quyền tự chủ trong quản lý kinh doanh của các DNVNN, giảm
sự can thiệp không cần thiết của nhà nước, bên cạnh đó là những điều chỉnh về
miễn thuế nhập khẩu, thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài.
1.2.3. Quá trình tiếp tục hoàn thiện pháp luật, chính sách liên quan đến đầu
tư nước ngoài giai đoạn mới.
Trong những năm qua, hệ thống các văn bản pháp luật về đầu tư của Việt
Nam đã góp phần điều chỉnh khá toàn diện hoạt động đầu tư trong và ngoài nước.
Tuy nhiên, trước yêu cầu tăng cường hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế mà trực
tiếp nhất là thực hiện các thoả thuận trong Hiệp định Đầu tư Khu vực ASEAN,
Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, pháp luật về đầu tư ở Việt Nam đã
bộc lộ nhiều hạn chế cần khắc phục. Sự chưa hoàn thiện và thiếu đồng bộ của hệ
thống pháp luật điều chỉnh các hoạt động kinh doanh nói chung chính là trở ngại
lớn nhất cho các nhà đầu tư tại Việt Nam.
Thực tế đã đặt ra yêu cầu phải không ngừng hoàn thiện môi trường pháp lý
về đầu tư. Trong nhiều nỗ lực nhằm cải thiện môi trường đầu tư ở Việt Nam thời
gian qua, tâm điểm phải kể đến việc Quốc hội thông qua Luật Đầu tư ngày
29/11/2005. Việc ban hành Luật Đầu tư (2005) là một bước tiến lớn trong sự phát
triển của pháp luật đầu tư hướng vào việc tạo cơ sở pháp lý bình đẳng, thống nhất
trong khuyến khích, đảm bảo đầu tư trong và ngoài nước.
Trong Luật Đầu tư (2005), chế định QLNN về đầu tư được quy định rất rõ
ràng và cụ thể. So với các văn bản pháp luật về đầu tư trước đây, có thể nói đây là
đạo luật có những quy định chi tiết nhất về nội dung, trách nhiệm của QLNN về
đầu tư nói chung và đầu tư nước ngoài nói riêng.
1.2.4. Các thoả thuận pháp lý song và đa phương của Chính phủ Việt Nam
về ĐTNN.
Đến nay, Việt Nam đã kí hơn 45 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư
với nước ngoài và vùng lãnh thổ, trong đó có Hiệp định Thương mại Việt Nam –

Hoa Kỳ (BTA); Hiệp định tự do hoá, khuyến khích và bảo hộ đầu tư với Nhật Bản.
BTA có hiệu lực từ tháng 12/2001 đã mở ra cơ hội mới cho doanh nghiệp trong
nước và DNVNN tiếp cận và mở rộng đầu tư, xuất khẩu.
Trong quá trình chuẩn bị đàm phán để gia nhập WTO, Việt Nam tiếp tục
thực hiện các cam kết, kí kết các thoả thuận song phương và đa phương về đầu tư
nước ngoài, tạo điều kiện cho hoạt động của các chủ đầu tư, hoạt động của các
DNVNN cũng như công tác quản lý của nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Nhìn chung, hệ thống pháp luật, chính sách về ĐTNN của Việt Nam đang
tiếp tục được hoàn thiện, điều chỉnh theo hướng xoá bỏ phân biệt đối xử giữa đầu
tư trong nước và nước ngoài, phù hợp hơn với yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế.
2. Kinh nghiệm quản lý của một số Quốc gia.
2.1. Thái Lan.
Thái Lan là một trong những nước có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam
về điều kiện tự nhiên, xã hội và về trình độ phát triển kinh tế.
Tuy vậy, những năm gần đây, nền kinh tế Thái Lan đã có sự phát triển vượt
bậc, trở thành một trong những ngôi sao trong khu vực Đông Nam Á. Để đạt được
thành công đó, Chính phủ Thái Lan đã khéo léo kết hợp chính sách của từng thời
kỳ phù hợp với mục tiêu của từng dự án đầu tư. Thái Lan duy trì chính sách thương
mại tự do, khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài và không phân biệt đối xử
giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Sau
khủng hoảng tài chính (1997), Thái Lan đã điều chỉnh chính sách thu hút vốn đầu
tư. Năm 1997 Luật Kinh doanh nước ngoài mới được ban hành thay thế cho Luật
năm 1972. Luật kinh doanh nước ngoài mới có hiệu lực từ năm 2000. Bên cạnh đó
còn có các Luật điều chỉnh các quan hệ về đất đai và các hoạt động chuyên ngành,
như luật về ngân hàng, tài chính và vận tải đường thuỷ, v.v…
Để thực hiện chiến lược thu hút đầu tư trên đây, Thái Lan đã thành lập cơ
quan chuyên trách về đầu tư (Hội đồng đầu tư) của Chính phủ do Thủ tướng đứng
đầu, có trách nhiệm thúc đẩy việc thực thi Bộ luật Khuyến khích đầu tư và định
hướng chính sách tổng thể phù hợp với nội dung của chiến lược thu hút đầu tư.
2.2. Singapo.

Là một quốc gia nhỏ nhưng Singapo đã đạt được những thành tựu rất ấn
tượng về phát triển kinh tế, điều đó là do một phần quốc gia này đã xây dựng được
một khung pháp luật về đầu tư được đánh giá là thông thoáng nhất trên thế giới.
Singapo khuyến khích ĐTNN, nhất là đối với những dự án đầu tư vào các ngành
công nghiệp mũi nhọn với mục tiêu cải tạo cơ sở công nghệ trong nước và nâng
cao hơn nữa chất lượng nhân công. Singapo không giới hạn liên kết giữa các công
ty của các nước khác nhau, trái lại, Singapo công nhận và khuyến khích sự phát
triển của các công ty đa quốc gia hoạt động trên lãnh thổ quốc gia này.
Cơ quan thực hiện chức năng QLNN về đầu tư là hội đồng phát triển kinh tế
Singgapo (EDB) trực thuộc Bộ thương mại và Công nghiệp Singapo. Hội đồng này
hoạt động theo cơ chế “một cửa” cho hoạt động đầu tư, chịu trách nhiệm cung cấp
thông tin hỗ trợ cho các nhà đầu tư.
Điểm khác biệt của pháp luật đầu tư tại Singapo là không có đạo luật đầu tư
riêng để điều chỉnh các quan hệ đầu tư nước ngoài mà các quan hệ ĐTNN được
điều chỉnh trong cùng một hệ thống pháp luật kinh doanh với các quan hệ ĐTTN.
Điều này chứng tỏ Singapo không phân biệt giữa ĐTTN và ĐTNN, thể hiện sự
bình đẳng giữa các nhà đầu tư.
Singapo là một trong những nước đi đầu và thành công trong việc thu hút
vốn ĐTNN phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế đất nước. Hệ thống pháp luật
nói chung và pháp luật đầu tư nói riêng rất phát triển và hoàn thiện, có hiệu quả
cao trong việc thu hút vốn đầu tư; Cơ quan QLNN về đầu tư hoạt động có hiệu
quả. Chính những điều này tạo nên một Singapo có khả năng cạnh tranh cao vào
bậc nhất trên Thế giới.
2.3. Trung Quốc.
Trung Quốc bắt đầu tiến hành mở cửa cải cách nền kinh tế từ năm 1978 và
đã đạt được những thành tựu vô cùng to lớn.
Các đạo luật chủ yếu quy định về ĐTNN tại Trung Quốc là Luật Liên doanh
góp vốn giữa Trung Quốc và nước ngoài, Luật Doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài, Luật liên doanh theo hợp đồng giữa Trung Quốc với nước ngoài, Luật thuế
thu nhập liên quan đến ĐTNN và DNVNN.

Trong số những nội dung quan trọng được đề cập đến trong luật pháp về đầu
tư của Trung Quốc phải kể đến những quy định cụ thể về chính sách đối với
ĐTNN trong ngành công nghiệp được ban hành năm 1995, bao gồm 3 loại danh
mục: danh mục các ngành công nghiệp khuyến khích ĐTNN; danh mục các ngành
công nghiệp cấm đầu tư; danh mục các ngành công nghiệp hạn chế đầu tư. Theo
đó, phạm vi các ngành công nghiệp khuyến khích ĐTNN đã được mở rộng hơn
trước. Mục đích của việc ban hành các loại danh mục nói trên là nhằm xác định cơ
chế và định hướng thu hút ĐTNN vào một số ngành công nghiệp nhất định, đồng
thời tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong việc cập nhật thông tin về
chính sách thu hút ĐTNN của Trung Quốc trong từng thời kỳ.
Ngoài ra, Chính phủ Trung Quốc cũng kịp thời ban hành các chính sách mới
rất hấp dẫn nhằm thu hút FDI như: mở cửa cho FDI vào những lĩnh vực nhạy cảm
(bưu chính, viễn thông, bảo hiểm, tài chính…); bổ sung, sửa đổi kịp thời các cơ
chế, chính sách ưu đãi; giảm nhanh chi phí đầu tư; đa dạng hoá các hình thức đầu
tư, các đối tác đầu tư.
Từ những kinh nghiệm của các quốc gia trên có thể nhận thấy, hầu hết các
nước đều xây dựng cơ quan QLNN về đầu tư để thực hiện chức năng quản lý nhằm
tạo ra môi trường thông thoáng cho các hoạt động đầu tư. Đóng vai trò quan trọng
hàng đầu trong đó là các thể chế pháp luật, tiếp đó là hệ thống các cơ quan dịch vụ
tư vấn đầu tư nhằm hỗ trợ và cung cấp những thông tin cần thiết cho các nhà đầu
tư nói chung.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC
DNVNN Ở VIỆT NAM
1.Khái quát chung về DNVNN.
1.1. Khái niệm DNVNN và tính tất yếu của việc tồn tại và phát triển các
DNVNN.
1.1.1. Khái niệm.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vào thế kỉ XIX, các nhà tư bản nước
ngoài, đặc biệt là các nhà tư bản Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Hà Lan,v.v… đã tích luỹ

được những khoản tư bản to lớn nên đã tiến hành xuất khẩu tư bản ra khỏi nước
mình để tìm kiếm lợi nhuận, việc đầu tư tư bản ra nước ngoài là một quá trình phát
triển tất yếu khách quan của sản xuất kinh doanh, đó là quá trình tích tụ và tập
trung tư bản vượt quá giới hạn khuôn khổ một quốc gia, đòi hỏi phải được thoát ra
khỏi lãnh thổ để tiếp tục quá trình phát triển của các hoạt động kinh doanh.
Kết quả của hoạt động xuất khẩu tư bản là hình thành nên những nhà đầu tư
nước ngoài – các tổ chức kinh tế, các cá nhân nước ngoài, các nhà đầu tư nước
ngoài là những chủ thể quan trọng của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài hình
thành nên các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Như vậy, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một hình thức tổ chức
kinh doanh quốc tế trong đó có ít nhất một bên là nhà ĐTNN, bỏ vốn trực tiếp để
tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động dịch vụ hoặc các hoạt
động nghiên cứu vì mục tiêu sinh lời phù hợp với các quy định luật pháp của nước
sở tại và thông lệ quốc tế, DNVNN thực hiện việc đầu tư trực tiếp của các nhà
ĐTNN vào các nước sở tại, nó là hình thức mà nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp bỏ
vốn vào kinh doanh ở một nước khác.
Theo khái niệm của IMF: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hoạt
động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh
nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế của nước chủ
đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự.
Luật Đầu tư năm 2005 mà Quốc hội khoá XI - nước CHXHCN Việt Nam đã
thông qua có các khái niệm “đầu tư”, “đầu tư trực tiếp’’, “đầu tư nước ngoài”, “đầu
tư ra nước ngoài” nhưng không có khái niệm “đầu tư trực tiếp nước ngoài”. Tuy
nhiên, từ các khái niệm trên, có thể hiểu FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu tư
nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở Việt Nam hoặc
nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở nước
ngoài theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Như vậy, thực chất FDI là sự đầu tư mà nhà đầu tư nước ngoài đóng góp vốn
đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ và trực tiếp tham gia điều hành đối
tượng mà họ đã góp vốn tạo nên, về hình thức, FDI chỉ diễn ra dưới một số dạng.

Ở Việt Nam các nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư dưới các hình thức sau:
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh,
- Doanh nghiệp liên doanh,
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài,
- Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (BOT),
- Hợp đồng phân chia sản phẩm (PSC),
- Thuê thiết bị,
- Khu công nghiệp (KCN), Khu chế xuất (KCX), Khu công nghệ cao
(KCNC).
1.1.2. Đặc điểm của DNVNN.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không chỉ đưa vốn vào nước tiếp
nhận đầu tư mà cùng với vốn còn có cả công nghệ, kỹ thuật, bí quyết sản xuất kinh
doanh, kinh nghiệm quản lý, v.v…Đây chính là đặc điểm cơ bản để phân biệt FDI
với hình thức đầu tư gián tiếp nước ngoài FPI (Foreign Porfolio Investment) và hỗ
trợ phát triển chính thức ODA (Official Development Asistance).
Các nhà ĐTNN phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp định
hoặc vốn điều lệ tuỳ theo quy định của pháp luật từng nước để giành quyền kiểm
soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư. Luật các nước thường quy
định không giống nhau về vấn đề này, Luật Mỹ quy định tỷ lệ này là 10%, Pháp và
Anh là 20%, Việt Nam theo điều 8 Luật ĐTNN 1996 là 30%.
Quyền quản lý doanh nghiệp phụ thuộc vào mức độ góp vốn, nghĩa là, tỷ lệ
góp vốn càng cao thì quyền quản lý và ra quyết định càng cao. Nếu nhà đầu tư
nước ngoài góp vốn 100% thì doanh nghiệp thuộc toàn quyền quản lý của nhà đầu
tư nước ngoài, nói cách khác chủ ĐTNN tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất
kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi, nhà ĐTNN được quyền tự lựa chọn
lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư, thị trường, quy mô cũng như công nghệ cho việc
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Thu nhập mà chủ đầu tư thu được phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của
doanh nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ
không phải lợi tức. Lợi nhuận cũng như rủi ro được chia theo tỷ lệ góp vốn trong

vốn pháp định sau khi nộp thuế cho Nhà nước.
Doanh nghiệp có vốn nước ngoài thường được thực hiện thông qua việc xây
dựng doanh nghiệp mới hoàn toàn hoặc mua lại toàn bộ hay từng phần doanh
nghiệp đang hoạt động hoặc sáp nhập các doanh nghiệp với nhau. Ở Việt Nam,
mới chỉ có rất ít hoạt động mua lại và sáp nhập, có thể lấy một vài ví dụ như:
Unilever mua lại nhãn hiệu kem đánh răng P/S hoặc Kinh Đô mua lại nhãn kem
Wall’s trên thị trường Việt Nam của Unilever.
Việc tiếp nhận FDI của các DNVNN không gây nên tình trạng nợ nước ngoài
cho nước chủ nhà, mà ngược lại nước chủ nhà nhận được sự giúp đỡ của nước ngoài
đồng thời có thể sử dụng, định hướng vào những mục tiêu trong phát triển kinh tế
nước nhà.
Nhà đầu tư tham gia vào các DNVNN thường là các công ty xuyên quốc gia
(TNCs) và các công ty đa quốc gia (MNCs) – các công ty chiếm đến 90% nguồn
vốn FDI đang luân chuyển trên toàn Thế giới. Các chủ đầu tư này thường có tỷ lệ
góp vốn rất cao nên có khả năng trực tiếp kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp và
đưa ra những quyết định có lợi cho việc sản xuất kinh doanh do có kinh nghiệm
quản lý tốt.
Quyền lợi của nhà ĐTNN gắn chặt với nguồn vốn bỏ ra nên họ rất quan tâm
đến hiệu quả kinh doanh, từ đó họ lựa chọn công nghệ thích hợp kết hợp với nâng
cao trình độ quản lý và tay nghề cho người lao động, điều này không chỉ mang lại
hiệu quả cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, mang lại lợi nhuận cho chủ
đầu tư nước ngoài mà nước nhận đầu tư cũng có lợi.
1.1.3. Tính tất yếu của việc tồn tại và phát triển các DNVNN.
Thực tế đã cho thấy việc di chuyển vốn ra nước ngoài để mở rộng sản xuất
kinh doanh và tìm kiếm lợi nhuận là một xu thế tất yếu, vốn đầu tư lại là yếu tố rất
cần thiết cho việc mở rộng quy mô sản xuất, thay đổi kỹ thuật, công nghệ cho hiện
đại và hiệu quả hơn.
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế của các quốc gia không tồn
tại riêng lẻ mà tham gia vào nền kinh tế chung trên toàn Thế giới, hình thành nên
luồng vốn hai chiều giữa các Quốc gia để khai thác tối đa lợi thế so sánh của mỗi

nước.
Đối với các nước Đang phát triển và Chậm phát triển, việc thu hút nguồn
vốn nước ngoài là nhu cầu tất yếu để xây dựng và phát triển nền kinh tế. Trước kia
phần lớn các nước như Trung Quốc, các nước Đông Nam Á, các nước Châu Phi,
Châu Mỹ La Tinh sau khi giành được độc lập đều phải đối mặt với hàng loạt
những khó khăn như: nạn đói, mù chữ, kinh tế lạc hậu, trình độ sản xuất thấp kém,
lạm phát cao, nhập siêu, cầu ngoại tệ lớn hơn cung làm tỷ giá hối đoái ở mức thấp
và không ổn định. Kết quả là các Quốc gia này rơi vào vòng luẩn quẩn, và Việt
Nam cũng không phải là ngoại lệ.
Hình 2.1: Vòng luẩn quẩn của các nước có nền kinh tế chậm phát triển.
Vượt qua vòng luẩn quẩn này nghĩa là các nước sẽ có được cơ hội để hội
nhập vào quỹ đạo tăng trưởng kinh tế của Thế giới. Tuy nhiên, để thoát ra khỏi
vòng luẩn quẩn, các nước chậm phát triển lại gặp phải trở ngại là thiếu vốn và kỹ
thuật, công nghệ để phát triển sản xuất, tăng sản lượng, tăng thu nhập.
Như vậy, tất yếu sẽ phải cần đến sự tác động tích cực từ môi trường bên
ngoài thì mới có cơ sở để giải quyết khó khăn và tạo tiền đề cho sự phát triển kinh
tế, dần rút ngắn khoảng cách tụt hậu về kinh tế so với các nước phát triển.
1.2. Các Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hiện có ở Việt Nam.
Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam hiện nay khá đa dạng,
trong đó chủ yếu là hình thức Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (chiếm 75,3%
số dự án đầu tư nước ngoài) và Liên doanh (chiếm 18,2% số dự án đầu tư nước
ngoài).
Thu nhập bình quân
thấp + công nghệ thấp
Hiệu quả, năng suất
lao động xã hội thấp
Tăng trưởng chậm
Tiết kiệm và đầu tư
thấp
Hình 2.2: Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam tính đến ngày

19/12/2008 (theo tỷ trọng dự án)
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư
1.2.1. Doanh nghiệp liên doanh.
Doanh nghiệp liên doanh là loại hình doanh nghiệp do hai bên hay nhiều bên
phía nước ngoài và nước nhận đầu tư (nước chủ nhà) hợp tác cùng góp vốn, cùng
kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận, cùng chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ góp vốn của mỗi
bên trong vốn pháp định.
Hình thức này thường được các nước chủ nhà ưa chuộng vì thông qua doanh
nghiệp này nước chủ nhà có điều kiện tiếp thu kỹ thuật, công nghệ mới, học tập
kinh nghiệm quản lý, đào tạo đội ngũ lao động và tiếp cận thị trường quốc tế.
Nhưng yêu cầu đặt ra đối với nước chủ nhà là phải đáp ứng được những điều kiện
về vốn, trình độ quản lý doanh nghiệp cùng với bên nước ngoài thì mới đạt được
hiệu quả mong muốn.
Doanh nghiệp liên doanh là loại hình DNVNN có vị trí quan trọng ở Việt
Nam cả về quy mô hợp tác lẫn hiệu quả mang lại. Một số doanh nghiệp điển hình
là Liên doanh dầu khí giữa Việt Nam và Liên Bang Nga thiết lập năm 1980, trong
năm 1998 bán được 12,3 triệu tấn dầu thô, trị giá 1,3 tỷ USD; Liên doanh Khách
sạn Hà Nội – Sheraton với số vốn đăng kí 780 triệu USD, Công ty liên doanh
Honda Việt Nam với vốn đăng kí 100 triệu USD v.v…
1.2.2. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà
đầu tư nước ngoài. Loại doanh nghiệp này có thể do một hoặc nhiều tổ chức hoặc
cá nhân người nước ngoài thành lập tại nước nhận đầu tư, họ tự đứng ra tổ chức

×