Tải bản đầy đủ (.pdf) (109 trang)

các nguyên nhân dẫn đến hiện tượng quay cóp của sinh viên trong thi học kỳ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.28 MB, 109 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
  





HUỲNH THỊ MAI HOA




CÁC NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN HIỆN TƯỢNG QUAY CÓP
CỦA SINH VIÊN TRONG THI HỌC KỲ
(Nghiên cứu trường hợp tại trường Cao đẳng Y Tế Khánh Hòa)







LUẬN VĂN THẠC SỸ





Hà Nội, Năm 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI


VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
  



HUỲNH THỊ MAI HOA


CÁC NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN HIỆN TƯỢNG QUAY CÓP
CỦA SINH VIÊN TRONG THI HỌC KỲ
(Nghiên cứu trường hợp tại trường Cao đẳng Y tế Khánh Hòa)


Chuyên ngành: Đo lường và đánh giá trong giáo dục
(Chuyên ngành đào tạo thí điểm)


LUẬN VĂN THẠC SỸ



Người hướng dẫn khoa học: TS. LÊ VĂN HẢO





Hà Nội, Năm 2013

LỜI CẢM ƠN



Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn TS. Lê Văn Hảo đã
tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Viện Đảm bảo Chất lượng Giáo
dục - ĐHQG Hà Nội, Ban Giám đốc Trung tâm Khảo thí và Đánh giá Chất lượng
Đào tạo ĐHQG Tp.HCM đã tạo mọi điều kiện để tôi có thể hoàn thành khoá học và
trình bày luận văn này.
Xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các giảng viên đã tham gia giảng dạy khoá
học vì đã cung cấp, chia sẽ những kiến thức quý báu về Đo lường và Đánh giá trong
Giáo dục cho tôi cũng như các học viên khác.
Xin trân trọng cảm ơn quý Thầy (Cô), các anh chị đồng nghiệp và các bạn
sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Khánh Hoà đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập
dữ liệu và đóng góp ý kiến quý báu trong quá trình nghiên cứu.
Xin trân trọng cảm ơn!



LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn với tiêu đề: “Các nguyên nhân dẫn đến hiện
tượng quay cóp của sinh viên trong thi học kỳ (nghiên cứu trường hợp tại trường
Cao đẳng Y tế Khánh Hoà)” hoàn toàn là kết quả nghiên cứu của chính bản thân
tôi và chưa được công bố trong bất kỳ một công trình nghiên cứu nào của người
khác. Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã thực hiện nghiêm túc các quy tắc
đạo đức nghiên cứu, các kết quả trình bày trong luận văn là sản phẩm nghiên cứu,
khảo sát của riêng cá nhân tôi; tất cả các tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn
đều được trích dẫn tường minh theo đúng quy định.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của số liệu và các nội
dung khác trong luận văn của mình


Hà Nội, ngày 04 tháng 6 năm 2013
Tác giả luận văn
(Ký và ghi rõ họ tên)




Huỳnh Thị Mai Hoa










1

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG 5
DANH MỤC CÁC HÌNH 6
MỞ ĐẦU 7
1. Lý do chọn đề tài 7
2. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu của đề tài 9
2.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài 9

2.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 9
3. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 10
3.1. Câu hỏi nghiên cứu 10
3.2. Giả thuyết nghiên cứu 10
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 11
4.1. Khách thể nghiên cứu 11
4.2. Đối tượng nghiên cứu 11
5. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 12
6. Phương pháp nghiên cứu 12
6.1. Phương pháp nghiên cứu định lượng 12
6.2. Phương pháp nghiên cứu định tính 12
6.3. Phương pháp chọn mẫu 12
6.4. Phương pháp thống kê toán học 13
7. Phạm vi nghiên cứu của đề tài 13
8. Ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn 13
8.1. Ý nghĩa về mặt lý luận 13
8.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn 13
2

Chương 1. TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 14
1.1. Một số kết quả nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam 14
1.2. Các phương pháp tiếp cận chính 21
1.3. Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 24
1.4. Một số cơ sở pháp lý liên quan đến nội dung nghiên cứu 30
Chương 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1. Nội dung nghiên cứu của đề tài 33
2.2. Phương pháp nghiên cứu 33
2.2.1 Bối cảnh nghiên cứu và thực trạng 33
a. Bối cảnh 33
a.1. Sơ lược lịch sử ra đời của Trường Cao đẳng Y tế Khánh Hòa 33

a.2. Chức năng, nhiệm vụ và quy mô đào tạo của Trường 34
b. Thực trạng về tổ chức thi học kỳ và vi phạm quy chế thi của sinh viên 38
b.1. Thực trạng về công tác tổ chức thi học kỳ 38
b.2. Thực trạng về vi phạm quy chế thi học kỳ của sinh viên 41
2.2.2. Đặc điểm mẫu nghiên cứu 44
a. Chọn mẫu với khảo sát định lượng 44
b. Chọn mẫu với khảo sát định tính 46
2.2.3. Thiết kế nghiên cứu 46
a. Phương pháp nghiên cứu 46
b. Qui trình nghiên cứu đề tài 48
2.2.4. Thiết kế công cụ khảo sát 49
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 53
3.1 Mô tả mẫu điều tra 53
3.2. Đánh giá độ tin cậy và độ hiệu lực của công cụ đo lường 55
3.3. Phân tích nhân tố khám phá EFA 56
3.3.1. Phân tích nhân tố khám phá với thành phần các biến độc lập 56
3

3.3.2. Phân tích nhân tố khám phá với thành phần các biến phụ thuộc 60
3.4. Phân tích hồi quy tuyến tính 61
3.4. Kết quả khảo sát 65
3.4.1. Nhân tố cán bộ coi thi 66
3.4.2. Nhân tố nội dung đề thi 67
3.4.3. Quan niệm về học tập cho hiện tại của sinh viên 68
3.4.4. Quan niệm về học tập cho tương lai của sinh viên 69
3.4.4. Kế hoạch thi 69
3.4.5. Khó khăn về nội dung đề thi 70
3.4.6. Kết quả điều tra về phương tiện sử dụng quay cóp 72
3.4.6. Kết quả điều tra về nhóm môn học thường quay cóp 73
3.4.7. Đánh giá chung về kết quả nghiên cứu thực tiễn 74

3.4.8. Kiểm định giả thuyết nghiên cứu 75
KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý GIẢI PHÁP 80
1. Kết luận của nghiên cứu 80
2. Hạn chế của nghiên cứu 81
3. Một số gợi ý giải pháp nhằm hạn chế hiện tượng quay cóp 81
4. Hướng phát triển đề tài 83
Tài liệu tham khảo 85
PHỤ LỤC 89

4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Stt Chữ viết tắt Chữ đầy đủ
1

Bộ GD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo
2

BM Bộ môn
3

BHG Ban Giám hiệu
4

BM ĐĐ Nhi Bộ môn điều dưỡng Nhi
5

BM ĐĐ Nội Bộ môn điều dưỡng Nội
6


BM ĐĐ Ngoại Bộ môn điều dưỡng Ngoại
7

BM ĐĐCB Bộ môn điều dưỡng cơ bản
8

ĐD Nha khoa Điều dưỡng Nha khoa
9

CĐ Dược Cao đẳng Dược
10

CĐĐD Cao đẳng Điều dưỡng
11

CĐ Hộ sinh Cao đẳng Hộ sinh
12

CĐKTHAYH Cao đẳng Kỹ thuật hình ảnh y học
13

CĐKTXN Cao đẳng Kỹ thuật Xét nghiệm
14

CT-GDTC-QP Chính trị- Giáo dục thể chất-Quốc phòng
15

Khoa ĐĐ-KTYH Khoa điều dưỡng-Kỹ thuật y học
16


HVQC Hành vi quay cóp
17

Phòng ĐT-NCKH-HTQT Phòng Đào tạo-Nghiên cứu Khoa học-Hợp tác
Quốc tế
18

Phòng TC-HC-TH Phòng Tổ chức-Hành chính-Tổng hợp
19

Phòng CTCT-HSSV Phòng Công tác Chính trị-Học sinh sinh viên
20

Tổ KT-KĐCL GD Tổ Khảo thí - Kiểm định Chất lượng giáo dục
21

Trường CĐYT KH Trường Cao đẳng Y tế Khánh Hòa
22

Trường THCS Trường Trung học Cơ sở
23

SV sinh viên
24

HSSV Học sinh sinh viên
25

HS Học sinh


5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng

Tên bảng Trang
2.1 Thống kê số lượng SV trường CĐYTKH giai đoạn 2009-2012 35
2.2 Thống kê đội ngũ cán bộ của trường CĐYTKH 36
2.3
Tình hình vi phạm quy chế thi theo ngành học giai đoạn 2009-2012
41
2.4
Thống kê số lượng SV vi phạm quy chế thi theo giới tính (2011-2012)
43
2.5 Tổng hợp tình hình vi phạm quy chế thi (2009-2012) 43
2.6 Bảng thống kê số lượng sinh viên điều tra chính thức 45
2.7 Cấu trúc bảng hỏi khảo sát sinh viên 50
2.8 Mô tả hệ số Cronbach’s Alpha 50
3.1 Thống kê số lượng sinh viên điều tra chính thức 54
3.2 Bảng ma trận nhân tố xoay lần 1 57
3.3 Bảng ma trận nhân tố xoay lần 2 59
3.4 Phân tích nhân tố khám phá EFA 61
3.5 Kết quả hồi qui của mô hình 62
3.6 Phân tích phương sai ANOVA 62
3.7 Các hệ số hồi qui trong mô hình 63
3.8 Kết quả kiểm định Pearson của phần dư chuẩn hoá và 7 nhân tố 66
3.9 Cán bộ coi thi 66
3.10 Sự phù hợp của nội dung đề thi 68

3.11 Thống kê kết quả khảo sát quan điểm về học tập cho hiện tại 68
3.12 Thống kê kết quả khảo sát quan điểm về học tập cho tương lai 69
3.13 Thống kê kết quả đánh giá về kế hoạch thi 70
3.14 Khó khăn trong nội dung đề thi 71
3.15 Các nguyên nhân dẫn đến hành vi quay cóp của sinh viên 72
3.16 Thống kê số lượng sinh viên thực hiện hành vi quay cóp 74
3.17 Kiểm định sự khác biệt giữa SV nam và SV nữ trong quay cóp 76
3.18 Kiểm định sự khác biệt giữa nhóm môn cơ bản và nhóm môn
chuyên ngành trong quay cóp
77
3.19 Kiểm định sự khác biệt giữa nhóm SV có học lực giỏi-khá và trung
bình-yếu
78
3.20 Kiểm định tương quan tuyến tính giữa hành vi quay cóp và quan
điểm cho điểm số là quan trọng nhất
79
6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình

Tên hình Trang
1.1 Mô hình nghiên cứu 24
2.1 Thống kê số lượng SV vi phạm quy chế thi 42
2.2 Thống kê mức vi phạm quy chế thi (2009-2012) 44
2.3 Quy trình nghiên cứu 48
3.1
Biểu đồ phân tán phần dư và giá trị dự đoán của mô hình hồi qui
tuyến tính

64
3.2 Thống kê phương tiện sử dụng trong quay cóp 72
3.3 Thống kê nhóm môn học thường xuyên quay cóp 73
3.4 Thống kê % sinh viên thực hiện hành vi quay cóp 74









7

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Chất lượng là một trong những yếu tố quan trọng trong giáo dục đại học. Hầu hết
các trường trong hệ thống giáo dục Việt Nam đang từng bước hoàn thiện mình để nâng
cao chất lượng giáo dục.
Đánh giá kết quả học tập của sinh viên là một khâu rất quan trọng trong công tác
đào tạo. Nếu công tác đánh giá không được phát triển đúng đắn, công bằng sẽ ảnh
hưởng rất lớn đến kết quả học tập cũng như vốn kiến thức mà sinh viên được trang bị
trong quá trình học tập. Theo chúng tôi, một trong những lý do góp phần làm cho việc
đánh giá kết quả học tập hiện nay chưa chính xác là hiện tượng quay cóp hay nói cách
khác là hiện tượng gian lận trong thi cử của sinh viên.
Hiện tượng quay cóp hay hành vi gian lận trong thi cử đã và đang được rất nhiều
báo chí đề cập đến. Chẳng hạn như, trên trang web ngày 24 tháng
10 năm 2011 có bài “Một kỳ thi lạ: Thoải mái quay cóp, chép bài bạn” (theo báo Tuổi

trẻ), đã nêu lên hiện tượng quay cóp của sinh viên trong kỳ thi liên thông đại học. Sinh
viên thoải mái sử dụng tài liệu, chép bài của bạn, thậm chí tụm lại thành từng nhóm
trao đổi trong phòng thi. Hay bài viết tại ngày 7 tháng 7 năm 2006 có
tên “Gian lận thi cử thời hi-tech” (Theo VietNamNet). Bài viết này đề cập đến công
cụ dùng để quay cóp mà sinh viên sử dụng trong khi thi: điện thoại di động, máy MP3
hay máy ghi âm bài viết cũng đề cập đến vấn đề “Chống gian lận như thế nào?”.
Bài viết “Xã hội chưa chú trọng xây dựng lòng tự trọng cho học sinh” của tác
giả M.Hà trên trang web />dung-long-tu-trong-cho-hoc-sinh/10864941/478/ (02/06/2004) cho rằng nguyên nhân
chính của hiện tượng quay cóp trở nên phổ biến như hiện nay là giáo dục của chúng ta
chưa chú trọng đến việc xây dựng lòng tự trọng cho HSSV. Nếu hiện tượng quay cóp
8

của HSSV được xem là “bình thường” thì xã hội sẽ chưa có nhiều hi vọng vào thế hệ
mai sau.
Ở một khía cạnh khác của hiện tượng quay cóp cũng đã đề cập đến nhân cách
của sinh viên qua bài phỏng vấn của Hà Mỹ - Thu Thảo trên
(19/04/2011) có tên: “Gian lận trong thi cử: Ảnh hưởng hình thành nhân cách”.
Thầy Nguyễn Quốc Bình (Hiệu trưởng Trường THPT Việt Đức - Hà Nội) thì cho rằng
hiện tượng quay cóp là hình thức ăn cấp kiến thức, được HSSV thể hiện dưới nhiều
hình thức khác nhau, và việc này cứ lập đi lập lại sẽ hình thành trong các em những
mánh khóe. Theo Thầy có lẽ HSSV chưa thấy hết giá trị của việc học, các em học để
đối phó, học để được cái gì đó chứ không phải là tìm kiếm kiến thức cho bản thân
Còn theo cô giáo Ứng Bình Loan (giảng viên Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội) nhận
định “Thực chất là các em không tự nhận thức được mục đích quan trọng nhất của việc
học là lấy kiến thức cho mình. Nhiều em có lối học hình thức, đối phó với thầy cô,
muốn được điểm cao nhưng lười học, còn thiếu lòng tự trọng với thầy cô và chính bản
thân mình”.
Tình trạng quay cóp của SV Trường Cao đẳng Y tế Khánh Hòa cũng đang là một
trong những vấn đề mà Nhà trường rất quan tâm. Mặc dù nội dung đề thi bám sát nội
dung chương trình học, thế nhưng hiện tượng quay cóp của SV trong thi học kỳ vẫn

còn khá phổ biến. Thống kê tình hình SV vi phạm quy chế thi trong 3 năm gần đây:
năm học 2009-2010 có 8,5% trên tổng số 960 SV đang theo học tại trường vi phạm quy
chế thi (trong đó: 5% đình chỉ thi, 3% khiển trách và 0,5% cảnh cáo); năm học 2010-
2011 cho thấy có 9% trên tổng số 1.217 SV đang theo học tại trường vi phạm quy chế
thi (trong đó: 4% đình chỉ thi, 3% khiển trách và 2% cảnh cáo); năm học 2011-2012 có
đến 10% trên tổng số 1.528 SV đang theo học tại trường vi phạm quy chế thi (trong đó:
9

5% đình chỉ thi, 3% khiển trách và 2% cảnh cáo)
1
. Vậy đâu là nguyên nhân dẫn đến
hiện tượng này? Giải pháp nào có thể giúp giảm thiểu hiện tượng quay cóp của sinh viên?
Như chúng ta đã biết, dù bất cứ xã hội nào, giàu hay nghèo, phát triển hay lạc
hậu thì bản chất và mục đích của việc tổ chức các kỳ thi là để đánh giá đúng năng lực
và khả năng của người dự thi.
Với những lý do trên, luận văn muốn tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến hiện
tượng quay cóp của sinh viên để trên cơ sở đó xác định những giải pháp nhằm hạn chế
tối đa hiện tượng này, góp phần vào việc đánh giá kết quả học tập của HSSV chính
xác, công bằng, đồng thời tạo cơ sở để nâng cao chất lượng đào tạo tại Trường Cao
đẳng Y tế Khánh Hòa. Chính vì thế mà việc thực hiện nghiên cứu: “Các nguyên nhân
dẫn đến hiện tượng quay cóp của sinh viên trong thi học kỳ (nghiên cứu trường hợp
tại Trường Cao đẳng Y Tế Khánh Hòa)” vừa cần thiết, vừa có ý nghĩa thiết thực
nhằm tìm ra các nguyên nhân và đưa ra các giải pháp để giảm thiểu tối đa hiện tượng
quay cóp của SV hiện nay.
2. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến hiện tượng quay cóp của sinh viên trong thi học
kỳ để trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu hiện tượng quay cóp của
sinh viên, từ đó nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.
2.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu này nhằm:
Đánh giá được thực trạng về hiện tượng quay cóp của sinh viên tại trường Cao đẳng
Y Tế Khánh Hòa.
Xác định các nguyên nhân dẫn đến hiện tượng quay cóp của sinh viên trong thi học kỳ.

1
Theo nguồn cung cấp của Phòng Đào tạo - NCKH - HTQT Trường Cao đẳng Y Tế Khánh Hòa

10

3. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
3.1. Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi chính:
Những nguyên nhân nào dẫn đến hiện tượng quay cóp của sinh viên trong thi học kỳ?
Câu hỏi phụ:
1. Trong số những nguyên nhân được chỉ ra, những nguyên nhân nào là chủ yếu?
2. Có sự khác biệt trong hiện tượng quay cóp giữa hai nhóm sinh viên nam và nữ?
3. Có sự khác biệt trong hiện tượng quay cóp giữa nhóm môn cơ bản và nhóm môn
chuyên ngành?
4. Có sự khác biệt trong hiện tượng quay cóp giữa các nhóm sinh viên có học lực khác
nhau (Giỏi-Khá, Trung bình-Yếu).
3.2. Giả thuyết nghiên cứu
Để có thể đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề ra, đề tài tập trung hướng đến nhằm
kiểm chứng các giả thuyết sau:
Căn cứ vào kết quả nghiên cứu của các tác giả McCabe Trevino (1993) và Crown,
Spiller (1998) cho rằng nguyên nhân dẫn đến hiện tượng quay cóp của sinh viên là
ngoài yếu tố cá nhân còn có thêm yếu tố môi trường giáo dục. Dựa vào cơ sở này,
nghiên cứu đưa ra giải thuyết sau:
GT
1

: Các yếu tố cá nhân (học lực, động cơ học tập sai lầm, chuẩn bị bài chưa tốt, )
và môi trường (đề thi, cán bộ coi thi, mức độ xử lý vi phạm, ) là các nguyên nhân dẫn
đến hiện tượng quay cóp của sinh viên.
Căn cứ vào nhận định chung của Nguyễn Quốc Bình, Ứng Bình Loan (2006) cho
rằng: nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng quay cóp là do công tác tổ chức thi không
chặt chẽ, đề thi mang tính chất học thuộc nhiều và nhận thức của HSSV chưa đầy đủ về
giá trị của việc học. Trên cơ sở này, nghiên cứu đưa ra giả thuyết GT
2
như sau:
11

GT
2
: Sinh viên quay cóp nhiều bởi các nguyên nhân chính: giảng viên ra đề thường
đặt yêu cầu học thuộc lòng quá lớn; công tác tổ chức thi không chặt chẽ; quan niệm về
học tập không đúng (nhiều sinh viên cho rằng điểm số cao là mục tiêu hàng đầu chứ
không phải là kiến thức)
Trên cơ sở của một số nghiên cứu trước đây của các tác giả Saeeda, Btool, Anam
Abbas, Zahra Naeemi (1992) và kết quả nghiên cứu của tác giả Kerkvliet (1994) cho
rằng nam giới có xu hướng quay cóp nhiều hơn nữ giới. Trên cơ sở này nghiên cứu đưa
ra giải thuyết GT
3
.
GT
3
: Có sự khác biệt đáng kể trong hiện tượng quay cóp đối với hai nhóm sinh viên
nam và nữ.
Căn cứ vào thực trạng trong thi học kỳ tại Trường Cao đẳng Y Tế Khánh Hòa về các
yếu tố tác động vào hiện tượng quay cóp cũng như là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng
quay cóp. Trên cơ sở này nghiên cứu đưa ra giả thuyết 4, 5, 6:

GT
4
: Có sự khác biệt đáng kể trong hiện tượng quay cóp giữa nhóm môn cơ bản
với nhóm môn chuyên ngành và giữa các nhóm sinh viên có học lực giỏi và khá với
nhóm trung bình và yếu.
GT
5
:
Có sự khác biệt đáng kể trong hiện tượng quay cóp giữa nhóm sinh viên có
học lực giỏi và khá với nhóm trung bình và yếu.
GT
6
: Hiện tượng quay cóp chủ yếu gắn với số HSSV xem điểm số là kết quả quan
trọng nhất trong học tập.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Sinh viên hệ cao đẳng và giảng viên, cán bộ tham gia các đợt thi học kỳ tại
Trường Cao đẳng Y tế Khánh Hòa.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Các nguyên nhân dẫn đến hiện tượng quay cóp của sinh viên hệ cao đẳng trong
các đợt thi học kỳ tại Trường Cao đẳng Y tế Khánh Hòa.
12

5. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu tổng quan về hiện tượng quay cóp của sinh viên ở các trường đại học,
cao đẳng trên thế giới.
Tìm hiểu thực trạng quay cóp tại trường Cao đẳng Y Tế Khánh Hòa.
Khảo sát và tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng quay cóp của sinh
viên trong thi học kỳ tại trường Cao đẳng Y Tế Khánh Hòa.
Gợi ý một số giải pháp nhằm giải thiểu hiện tượng quay cóp.

6. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phối kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và
nghiên cứu định tính nhằm đi sâu vào phản ánh đầy đủ các nguyên nhân dẫn đến hiện
tượng quay cóp của SV trong thi học kỳ.
6.1. Phương pháp nghiên cứu định lượng
Tiến hành thu tập các tài liệu về quy trình tổ chức ra đề, tổ chức thi học kỳ và
báo cáo tình hình sinh viên vi phạm quy chế thi học kỳ của sinh viên cao đẳng hệ chính
qui tại Phòng Đào tạo - Nghiên cứu Khoa học - Hợp tác Quốc tế của Trường Cao đẳng
Y tế Khánh Hoà.
Tiến hành phát phiếu khảo sát cho SV để thu thập thông tin liên quan đến nội
dung nghiên cứu của đề tài.
6.2 . Phương pháp nghiên cứu định tính
Sau khi có kết quả khảo sát từ bảng hỏi, chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu một
số SV, giảng viên, cán bộ tham gia thi học kỳ nhằm làm rõ thêm một số vấn đề liên
quan đến nghiên cứu, đồng thời giúp cho chúng tôi có cái nhìn đầy đủ và toàn diện hơn.
6.3 . Phương pháp chọn mẫu
Tổng thể: là sinh viên cao đẳng hệ chính qui, cán bộ, giảng viên đang công tác và
học tập tại Trường Cao đẳng Y Tế Khánh Hòa.
13

Phương pháp chọn mẫu: sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng
theo tỷ lệ.
6.4 . Phương pháp thống kê toán học
Trong nghiên cứu, chúng tôi thực hiện việc xử lý và phân tích các kết quả nghiên
cứu bằng phần mềm SPSS, Excel 2007.
7. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu này chỉ tập trung vào sinh viên hệ cao đẳng chính qui thuộc khoá
học 2011-2012 gồm năm thứ nhất, năm thứ hai và năm thứ ba hiện đang học tập tại
trường Cao đẳng Y tế Khánh Hoà.
8. Ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn

8.1. Ý nghĩa về mặt lý luận
Đề tài thành công sẽ góp phần vào việc làm sáng tỏ các nguyên nhân dẫn đến
hành vi quay cóp của HSSV, đồng thời cũng làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về
lĩnh vực này.
8.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu góp phần, làm sáng tỏ thực trạng hiện tượng quay cóp của
SV tại Trường Cao đẳng Y Tế Khánh Hòa. Từ việc xác định được nguyên nhân dẫn
đến hiện tượng quay cóp của SV, chúng tôi gợi ý đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế
hiện tượng quay cóp của SV tại Trường, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tại
Trường Cao đẳng Y Tế Khánh Hòa.




14

Chương 1. TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Một số kết quả nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1. Một số kết quả nghiên cứu trên thế giới
Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo như chương trình đào tạo, đội ngũ
giảng viên, cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học, các phương pháp dạy học, và một
trong những yếu tố cũng ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục là hiện tượng quay cóp
của SV trong thi cử, nó có ảnh hưởng không nhỏ đến việc đánh giá kết quả học tập của
SV cũng như là chất lượng đào tạo của mỗi trường.
Trong những năm qua, vấn đề gian lận trong thi cử luôn là đề tài được công luận
báo chí quan tâm và đề cập nhiều. Quay cóp đã trở nên khá phổ biến trong sinh viên ở
các trường đại học, cao đẳng trong cũng như là ngoài nước. Vậy nguyên nhân của
hiện tượng này bắt nguồn từ đâu?. Và do đâu mà hiện tượng này lại trở nên khá phổ
biến trong giới SV ngày nay?.

Hiện tượng quay cóp là một trong những vấn đề phổ biến trong môi trường giáo
dục, với những tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ cũng như là áp lực về điểm
số, áp lực về gia đình, áp lực về bằng cấp cao, áp lực về chương trình học,…. đã dẫn
đến những hành vi thiếu trung thực trong học tập, chính vì thế mà hiện tượng quay cóp
đã trở nên khá phổ biến trong SV ở các trường và đây là một trong những hiện tượng
đáng lo ngại của toàn xã hội.
Theo Bunn, Caudill, và Gropper (1992) [29] thì hiện tượng quay cóp không may
đã trở thành một phần rất bình thường trong cuộc sống của nhiều sinh viên. Nghiên cứu
cho rằng lợi ích của việc quay cóp đem lại cho sinh viên có được điểm số cao và chính
vì thế mà có thể xin được một công việc tốt sau khi tốt nghiệp.
Nghiên cứu “Thái độ của sinh viên đối với hành vi quay cóp và mối quan hệ với
yếu tố nhân khẩu” của Lama M. Al-Qaisy, Đại học Kỹ thuật Tafila kết luận rằng: Có
sự khác biệt giữa nam và nữ về hành vi quay cóp (nam giới có hành vi quay cóp nhiều
hơn nữ giới); không có khác biệt giữa trình độ học vấn và hành vi quay cóp [35].
15

Tác giả Kerkvliet (1994) [34] cũng không nằm ngoài ý kiến trên.
Bài viết “Hành vi quay cóp của sinh viên đại học” của nhóm tác giả Saeeda
Batool, Anam Abbas, Zahra Naeemi [1996] cho rằng nam giới có xu hướng quay cóp
nhiều hơn nữ giới, và nguyên nhân dẫn đến hiện tượng quay cóp là thiếu sự chuẩn bị
cho kỳ thi cũng như là thời gian tham gia các hoạt động ngoại khóa của sinh viên nhiều.
Nghiên cứu của Genereux và McLeod (1995) thì có đến 85% nam giới và 79%
nữ giới tại một trường cao đẳng cộng đồng thừa nhận rằng có ít nhất một lần thực hiện
hành vi quay cóp; hơn 25% sinh viên thực hiện nhiều hơn một lần như: chia sẻ các câu
hỏi thi, danh sách tài liệu tham khảo, cho phép người khác sao chép bài,
Trong khi đó, Diekhoff, LaBeff, Clark, Williams, Francis, Haines, (1996) [33]
lại cho rằng: không có mối tương quan giữa giới tính và hành vi quay cóp.
Pincus và Schmelkin (2003) [39] cho rằng, có nhiều hình thức quay cóp, nhưng
một trong những hình thức đơn giản nhất là sao chép bài của người khác và lấy điểm
cho mình.

Tác giả Crown, Spiller (1998) [31] và McCabe, Trevino (1993) [37] lại cho
rằng ngoài yếu tố cá nhân còn có thêm một yếu tố nữa đó là yếu tố của môi trường học
tập chẳng hạn như văn hóa giáo dục tại trường học, danh hiệu của trường,
Whitley (1998) [41], khi đánh giá hơn 40 nghiên cứu về hành vi quay cóp của
sinh viên thấy rằng 70% sinh viên đại học có hành vi quay cóp. Trong số những sinh
viên này, có 43% quay cóp trong các kỳ thi, 41% sao chép của người khác, và thêm
41% sao chép bài tập về nhà.
Báo cáo của Schab (1969, 1979, 1989) cho rằng hành vi quay cóp đang ngày
càng gia tăng. Cụ thể, hành vi quay cóp của sinh viên vào năm 1969 là 33%, 60% vào
năm 1979 và 67% vào năm 1989. Điều này cho thấy, hành vi quay cóp của sinh viên
không hề suy giảm theo thời gian.
16

Theo kết quả khảo sát của một số trường đại học ở Mỹ thì thấp nhất là 15-20%,
nhiều nhất là 81% sinh viên thừa nhận có quay cóp trong khi thi (Maramark and
Maline, 1993).
Haines et al. (1996) đã tìm thấy mối quan hệ giữa năm học và hiện tượng quay
cóp, Nowell và Laufer (1997) báo cáo rằng các sinh viên năm thứ ba và thứ tư có
nhiều khả năng quay cóp hơn so với sinh viên năm đầu và năm thứ hai.
David A.Rettinger (Đại học Yeshiva) và Augus E. Jordan (Trường Cao đẳng
Middllebury) thuộc khoa Tâm lý nghiên cứu về mối liên hệ giữa hiện tượng quay cóp,
tôn giáo, động lực và thái độ đối với hiện tượng này. Nghiên cứu trong lớp học về tôn
giáo thì cho rằng hiện tượng quay cóp của sinh viên hầu như rất ít xảy ra.
Bài viết của các tác giả Matthew Fawkner & Greta Keremidchieva [36] thảo luận
về hiện tượng quay cóp, thiếu trung thực học tập và nguồn gốc của hành vi sai trái này.
Hầu như các thông tin cần tìm kiếm đều có thể tìm thấy trên Internet, chính vì thế mà
việc sao chép thông tin một cách tràn lan là điều khó có thể cưỡng lại được. Có thể coi
đây là sự cám đỗ dẫn đến hành vi sao chép tài liệu. Bên cạnh đó, áp lực để thành công
cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng thiếu trung thực của sinh
viên. Ngoài ra, các tác giả còn đề cập đến vấn đề sinh viên lạm dụng công nghệ hiện

đại để thực hiện hành vi sai trái của mình, chẳng hạn như: gởi câu hỏi để bạn bè ở
ngoài trả lời bằng email, SMS, chụp ảnh đề thi, Nghiên cứu còn cho biết có đến 95%
sinh viên cho biết là họ không bị bắt quả tang khi thực hiện hành vi quay cóp.
Một số nghiên cứu khác tìm hiểu về công cụ quay cóp của sinh viên. Điện thoại
di động đã trở thành một trong những công nghệ truyền thông phát triển nhanh nhất.
Theo Walker (2002) [42], SV sử dụng điện thoại di động để tìm kiếm tư liệu cho kỳ thi
trên web. Sinh viên sử dụng điện thoại di động để thực việc quay cóp thông qua tính
năng như máy ảnh. Câu hỏi mà các nhà nghiên cứu đặt ra là: Điện thoại di động có nên
cho phép sử dụng trong trường học?, và hậu quả của việc sử dụng điện thoại trong
trường học?.
17

Tóm lại, qua các nội dung trình bày trên cho thấy nghiên cứu của Bunn, Caudill
& Gropper (1992) cho rằng lợi ích của hành vi quay cóp đem lại cho SV điểm số cao
và có được công việc tốt hơn sau khi tốt nghiệp. Kết quả nghiên cứu của tác giả
McCabe Trevino (1993) & Crown, Spiler (1998) thì cho yếu tố môi trường học tập
cũng là nguyên nhân gây nên hiện tượng quay cóp (văn hóa giáo dục tại trường, danh
hiệu, ) chứ không phải chỉ có yếu tố cá nhân. Haines (1996) tìm ra mối liên hệ giữa
năm học và quay cóp, SV những năm cuối có hiện tượng quay cóp nhiều hơn những
SV mới vào trường. Tác giả Matthew Fawkner & Greta Keremidchieva (2004) cho
rằng nguồn gốc của hành vi quay cóp là do thông tin có sẵn trên Internet, tài liệu tham
khảo ở thư viện của các trường và áp lực để thành công quá lớn. Nghiên cứu của tác
giả Saeeda, Batllo, Anam Abbas, Zahra Naremi (2011) thì nguyên nhân dẫn đến hiện
tượng này phần lớn là do thiếu sự chuẩn bị trong thi cử và thời gian hoạt động ngoại
khóa của HSSV quá nhiều, ngoài ra nghiên cứu còn cho biết nam giới quay cóp nhiều
hơn nữ giới. Bên cạnh việc đi tìm nguyên nhân dẫn đến hiện tượng quay cóp thì Waller
(2002) đi tìm hiểu về công cụ mà SV sử dụng để thực hiện hành vi quay cóp của mình,
đó chính là điện thoại di động hỗ trợ nhiều chức năng như văn bản, chụp hình, email,
một số tác giả như Kerkvliet (1994), Saeeda Batool, Anam Abbas (2011), Lama M. Al-
Qaisy (2008) đều có chung một kết luận có sự khác biệt về giới tính trong hành vi quay

cóp (nam giới có hành vi quay cóp nhiều hơn nữ giới). Trong khi đó, Diekhoff, LaBeff,
Clark, Williams, Francis, Haines (1996) lại cho rằng không có mối tương quan giữa
giới tính và hành vi quay cóp.
1.1.2. Một số kết quả nghiên cứu ở Việt Nam
Nghiên cứu “Một số chỉ báo về vấn đề học tập của sinh viên hiện nay” của tác
giả Đặng Vũ Cảnh Linh, Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông (2008) [11] cho
rằng nguyên nhân dẫn đến hiện tượng quay cóp của sinh viên là do bài vở nhiều, quan
niệm học và thi là khác nhau, không có thời gian học bài. Bên cạnh đó, một số sinh
viên cho rằng quay cóp để được điểm cao, vì không bị xử lý, vì không làm ảnh hưởng
18

đến ai và không phải việc xấu. Tác giả cho rằng hiện tượng quay cóp có quan hệ tỷ lệ
thuận với sự lỏng lẽo về tính kỷ luật trong môi trường giáo dục. Ngoài ra, tác giả cũng
kết luận là có sự khác biệt biểu hiện về giới tính, đó là nhóm sinh viên nữ có tỷ lệ ít
quay cóp hơn so với nhóm sinh viên nam.
Một nghiên cứu khác đáng quan tâm là nghiên cứu về “Thực trạng biểu hiện
hành vi lệch chuẩn của học sinh trung học cơ sở trên địa bàn Hà Nội”, thực hiện năm
2003-2005, chủ nhiệm đề tài là tác giả Hoàng Gia Trang [18]. Nhóm tác giả đi sâu vào
nghiên cứu thực trạng biểu hiện hành vi lệch chuẩn của học sinh trên bốn trường THCS
trên địa bàn Hà Nội bao gồm: trường THCS Quang Trung, trường THCS Huy Văn,
trường THCS Xuân Đỉnh và trường THCS Cổ Nhuế. Từ kết quả nghiên cứu của nhóm
tác giả đã đưa ra kết luận: Hành vi lệch chuẩn của học sinh THCS là kết quả tác động
của rất nhiều yếu tố khác nhau. Do học sinh phải học căng thẳng, phải chịu áp lực lớn
về điểm số và kết quả học tập từ phía gia đình, nhà trường. Điều này dẫn đến các em có
phản ứng tiêu cực, xuất hiện hành vi lệch chuẩn, vi phạm nội quy, kỷ luật của nhà
trường Tác giả cho rằng: về phía gia đình chúng ta không nên gây áp lực hay gây
căng thẳng cho các em về điểm số cũng như là kết quả học tập; về phía nhà trường phải
đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học nhằm tạo hứng thú, đồng thời giảm áp lực học
tập cho học sinh
Nghiên cứu “Khảo sát, đánh giá thực trạng tiêu cực trong thi cử, làm luận văn

thuộc hệ thống giáo dục quốc dân: nghiên cứu đề xuất giải pháp khắc phục”, thực hiện
từ 11/2007 đến 11/2008, chủ nhiệm đề tài Phạm Ngọc Trúc, thành viên bao gồm Tăng
Thị Hoa, Lê Quang Hướng, Trần Thị Vương và Trần Thị Oanh [21]. Nhóm tác giả đi
sâu vào việc nghiên cứu bản chất của tiêu cực trong thi cử và điều tra, khảo sát thực
trạng tiêu cực trong thi cử, từ đó đưa ra được những đánh giá đúng đắn về nguyên nhân
của các tiêu cực nói trên đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục và tiến tới cơ
bản xóa bỏ tiêu cực trong thi cử; áp dụng thử một số giải pháp tại một số địa phương và
cơ sở giáo dục đại học để rút kinh nghiệm, kiến nghị triển khai rộng khắp trong toàn
19

quốc. Nghiên cứu được thực hiện tại Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Nghệ An và trường
Đại học Vinh. Từ kết quả nghiên cứu nhóm tác giả đưa ra kết luận: Hành vi gian lận
phổ biến xảy ra khi thi các môn cơ bản, và theo đặc điểm ngành nghề, nhóm tác giả
cho rằng khối ngành kinh tế, xã hội và nhân văn có biểu hiện gian lận trong thi cử
nhiều hơn khối ngành kỹ thuật. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn đưa ra các nguyên nhân
dẫn đến hành vi gian lận trong thi cử là do ý thức của người học, do thái độ của người
dạy và do sự buông lỏng quản lý của các trường, ngoài ra còn có các nguyên nhân
khách quan như ảnh hưởng của cơ chế thị trường; ảnh hưởng của bệnh thành tích; do
sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật cao; do áp lực cạnh tranh; do chưa thực hiện
nghiêm các quy định về quản lý giáo dục; do công tác thanh tra, kiểm tra còn yếu. Đây
là những lý do mà khiến cho hiện tượng gian lận trong thi cử ngày càng gia tăng. Tác
giả cho rằng, chúng ta nên tuyên truyền, giáo dục ý thức học tập đúng đắn cho người
học, nâng cao ý thức trách nhiệm của người thầy, tuyên truyền, vận động sự tham gia
của toàn xã hội; ngoài ra chúng ta cũng cần hoàn thiện việc phân công, phân cấp quản
lý giáo dục, xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý đào tạo, ứng dụng công
nghệ thông tin trong quản lý giáo dục, xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý
giáo dục và nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra và giám
sát nhân dân đồng thời cải tiến chế độ tiền lương, phụ cấp ngành giáo dục, đổi mới
công tác thi đua khen thưởng. Cần phối hợp các tổ chức đoàn thể phát động phong trào
hưởng ứng cuộc vận động lớn của toàn ngành “Nói không với tiêu cực trong thi cử và

bệnh thành tích trong giáo dục”; hưởng ứng cuộc vận động lớn của toàn ngành “Nói
không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”, bên cạnh đó các
trường cần tăng cường tự thanh tra, kiểm tra hoạt động dạy và học, việc tổ chức thi và
chấm thi. [21]
Qua các nội dung trình bày trên cho thấy nghiên cứu về biểu hiện hành vi lệch
chuẩn của nhóm tác giả Hoàng Gia Trang (2003-2005) cho rằng học sinh có hành vi
lệch chuẩn (không tuân thủ theo nội quy, quy định của nhà trường) một phần là học
20

sinh phải học quá nhiều, áp lực về điểm số cao. Nghiên cứu của Đặng Nguyễn Cảnh
Linh cho rằng hành vi quay cóp tỷ lệ thuận với sự lỏng lẽo về công tác tổ chức thi của
nhà trường. Nghiên cứu về khảo sát, đánh giá thực trạng tiêu cực trong thi cử, làm luận
văn thuộc hệ thống giáo dục quốc dân: nghiên cứu đề xuất giải pháp khắc phục của
Phạm Ngọc Trúc thì cho rằng nguyên nhân dẫn đến hành vi gian lận trong thi cử là do
ý thức của người học, do thái độ của người dạy và do sự buông lỏng quản lý của các
trường, ngoài ra còn có các nguyên nhân khách quan như ảnh hưởng của cơ chế thị
trường; ảnh hưởng của bệnh thành tích; do sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật cao;
do áp lực cạnh tranh; do chưa thực hiện nghiêm các quy định về quản lý giáo dục; do
công tác thanh tra, kiểm tra còn yếu. Ngoài ra tác giả còn cho rằng hành vi gian lận phổ
biến xảy ra khi thi các môn cơ bản, và theo đặc điểm ngành nghề. Khối ngành kinh tế,
xã hội và nhân văn có biểu hiện gian lận trong thi cử nhiều hơn khối ngành kỹ thuật.
1.1.3. Nhận định chung về các kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài
Qua các phần đã trình bày ở trên cho thấy các nghiên cứu về hiện tượng quay
cóp của SV ở nước ngoài rất phong phú và đa dạng cả về nguyên nhân lẫn công cụ sử
dụng để thực hiện hành vi quay cóp, trong khi đó các nghiên cứu về vấn đề này trong
nước còn rất hạn chế, mặc dù vấn đề này không mới đối với ở giáo dục Việt Nam.
Ở đây chúng ta có thể thấy, hầu như các nghiên cứu đều tập trung vào các
nguyên nhân như: áp lực của gia đình về điểm số, thời gian tham gia các hoạt động
ngoại khóa nhiều, thiếu sự chuẩn bị cho kỳ thi, và gần như các nghiên cứu nước ngoài
đều cho rằng nam giới thực hiện hành vi quay cóp nhiều hơn nữ giới, bên cạnh đó họ

còn cho rằng kết quả điểm trung bình có mối tương quan với hiện tượng quay cóp,
Với đề tài này, chúng tôi sẽ kế thừa những nghiên cứu trước đó và tiến hành tìm
hiểu thêm về nguyên nhân dẫn đến hiện tượng quay cóp như: quan niệm sai lệch về học
tập của SV; công tác tổ chức thi; nội dung đề thi; liệu nhóm môn cơ bản và nhóm môn
chuyên ngành thì nhóm môn nào có hiện tượng quay cóp nhiều hơn?; có sự khác biệt
giữa nhóm SV có học sinh giỏi và khá với nhóm SV có học lực trung bình và yếu?;
kiểm tra xem có sự khác biệt về hành vi quay cóp giữa nhóm SV nam và nhóm SV nữ
21

hay không; hiện tượng quay cóp chủ yếu gắn với số SV xem điểm số là kết quả quan
trọng nhất trong học tập tại Trường Cao đẳng Y tế Khánh Hoà.
1.2. Các phương pháp tiếp cận chính
Để thực hiện được các mục tiêu của đề tài, chúng tôi đã phối kết hợp một số
phương pháp nghiên cứu, đồng thời cũng sử dụng các lối tiếp cận sau đây làm cơ sở
khoa học cho nghiên cứu này:
Thuyết động cơ: có rất nhiều thuyết về động cơ, tuy nhiên nghiên cứu chỉ tập
trung vào thuyết Nhận thức về động cơ.
Thuyết hành vi.
1.2.1. Thuyết Nhận thức về động cơ
Thuyết này cho rằng con người hành động, hoạt động là do nhận thức được rằng
hành động ấy, hoạt động ấy là sự tặng thưởng cho mình, là niềm tin và mong đợi của mình.
Động cơ học tập của SV dưới góc độ của tâm lý học họat động và động cơ học
tập được phân thành hai loại: động cơ hoàn thiện tri thức và động cơ quan hệ xã hội.
Với hướng nghiên cứu của đề tài chúng tôi chỉ quan tâm đến động cơ quan hệ xã hội,
nghĩa là SV học bởi sự lôi cuốn hấp dẫn của các yếu tố khác như: đáp ứng mong đợi
của cha mẹ, cần có bằng cấp vì lợi ích tương lai, lòng hiếu danh hay sự khâm phục của
bạn bè, …
Hoạt động học tập được thúc đẩy bởi động cơ quan hệ xã hội ở mức độ nào đó
mang tính cưỡng bức, có những lực chống đối nhau chẳng hạn như kết quả học tập
không đáp ứng mong muốn của gia đình. Và vì thế nó dẫn đến sự căng thẳng tâm lý,

đòi hỏi phải đấu tranh với chính bản thân, hoặc cũng có thể do giám thị coi thi dễ dãi,
đề thi thiên về học thuộc quá lớn, phòng thi quá nhỏ mà số lượng thi thì quá đông,
mà điều này dễ dẫn đến SV vi phạm quy chế thi, lơ là trong việc học Động cơ học tập
không có sẵn hay tự phát, mà được hình thành dần dần trong quá trình học tập của học
sinh dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên.

×