Tải bản đầy đủ (.doc) (83 trang)

Hoàn thiện công tác Phân tích tài chính doanh nghiệp của Công ty TNHH phát triển công nghệ giáo dục Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (365.79 KB, 83 trang )

M ỤC L ỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
PHẦN MỞ ĐẦU

v
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮ
-
TNHH: Trách nhiệm hưu hạ
-
LNST: Lợi nhuận sau thu
-
TSLĐ: Tài sản lưu độn
i
-
TSCĐ: Tài sản cố địn
-
BHXH: Bảo hiểm xã hộ
-
BHYT: Bảo hiểm y t
-
KPCĐ: Kinh phí công đoà
-
GTGT: Giá trị gia tăn
ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ Đ
Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức bộ máy hoạt động công ty TNHH phát triển công
nghệ giáo dục ViệtNam
Bảng 2.1: Báo cáo kết quả hoạt đông kinh doanh năm 2007 – 200
Bảng 2.2: Bảng cân đối kế toán năm 2007 – 2
9


Bảng 2.3: Tình hình tăng giảm vốn chủ sở hưu và các

Bảng 3.1: Chỉ tiêu kế hoạch năm 2
iii
PHẦN MỞ
Trong điều kiện kinh tế thị trường, các doanh nghiệp muốn tồn tại, đứng
vững và ngày càng phát triển, đòi hỏi phải có một tiềm lực tài chính mạnh mẽ để
tiến hành sản xuất kinh doanh và cạnh tranh có hiệu quả. Mặt khác, theo đà phát
triển của nền kinh tế, các mối quan hệ kinh tế tài chính ngày càng trở nên phong
phú và phức t
.
Vì vậy, vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là phải thường xuyên tiến hành
công tác phân tích tài chính và không ngừng hoàn thiện công tác này, trên cơ sở đó,
định hướng cho các quyết định nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, cải
thiện tình hình tài chính của doanh nghiệp. Thực tiễn đã chứng minh, nếu các nhà
quản trị doanh nghiệp quan tâm đúng mức tới công tác phân tích tài chính thì họ sẽ có
iv
những quyết định đúng đắn và có nhiều cơ hội thành đạt trong kinh doanh, ngược lại
họ sẽ khó tránh khỏi những quyết định tài chính sai lầm và thất b
.
Công ty TNHH phát triển công nghệ giáo dục ViNamệt l à một công ty
hoạt động trong lĩnh vực giáo dục. Công tác phân tích tài chính của Công ty đã
bước đầu được quan tâm và có nhiều tiến bộ, tuy nhiên vẫn không tránh khỏi
những khó khăn, hạn c
.
Nhận thức được tầm quan trọng của phân tích tài chính, nghiên cứu thực
trạng công tác phân tích tài chính của Công ty, sau thời gian thực tập tại phòng Tài
chính - Kế toán, được sự giúp đỡ của Ban Giám đốc, các cơ, chú trong phòng tài
chính - kế oán và th ầy giáo hướng dẫn TS Đinh Ngọc Dinh em đã lựa chọề tài “
H ồn thiện công tác Phân tích tài chính doanh nghiệp của Công ty TNHH phát

triển công nghệ giáo dc Việt Nam ” làm đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp của
mình. Em xin chân thành cảm ơn các cơ, các chú trong Công ty TNHH phát triển
công nghệ giáo dục Việt Nam và thấy giáo Đinh Ngọc Dinh đã tận tình giúp đỡ
em hoàn thành ch
ên đề này.
Kết cấu chuyên đề
m 3 chương:
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI
CHÍNH CỦA
OANH NGHIỆP
v
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI
CÔNG TY TNHH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ GIÁO
ỤC VIỆT NAM
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG
TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY TNHH PHÁT TRIỂN
CÔNG NGHỆ GI
vi
VIỆT NAM
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN
ÍCH TÌNH HÌNH
TÀI CHÍNH C
OANH NGHIỆP
1.1Khái niệm và mục tiêu phân tích tài chí
doanh nghiệp
.1.1Khái niệm
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động
kinh doanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị
a chủ sở hữu.
Doanh nghiệp là một cách thức tổ chức hoạt động kinh tế của nhiều cá

nhân. Có nhiều hoạt động kinh tế chỉ có thể thực hiện được bởi các doanh nghiệp
chứ không ph
các cá nhân.
Ở Việt Nam, theo Lut doanh nghiệp : doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có
tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo
quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh - tức
là thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản
xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục
ích sinh lợi.
Tài chính doanh nghiệp được hiểu là những quan hệ giá trị giữa doanh
nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế. Các quan hệ tài chính doanh nghiệp chủ
yếu là: quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước, quan hệ giữa doanh nghiệp với
1
thị trường tài chính, quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trường khác, quan hệ
trong nội bộ doanh nghiệp. Việc quản lý tài chính luôn luôn giữ một vị trí trọng
yếu trong hoạt động quản lý của doanh nghiệp, nó quyết định tính độc lập, sự
thành bại của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh, đặc biệt trong xu thế hội
nhập khu vực và quốc tế, trong điều kiện cạnh tranh đang diễn ra khốc liệt trên
phạm vi toàn thế giới, quản lý tài chính càng trở nên quan trọng h
bao giờ hết.
Nghiên cứu phân tích tài chính là một khâu quan trọng trong quản lý doanh
nghiệp. Phân tích tài chính được các nhà quản lý bắt đầu chú ý từ cuối thế kỷ XIX.
Từ đầu thế kỉ XX đến nay, phân tích tài chính thực sự được phát triển và được chú
trọng hơn bao giờ hết bởi nhu cầu quản lý doanh nghiệp có hiệu quả ngày càng
tăng, sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống tài chính, sự phát triển của các tập đoàn
kinh doanh và khả năng sử dụng rộng rãi công
hệ thông tin.
Phân tích tài chính là sử dụng một tập hợp các khái niệm, phương pháp và
các công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý
nhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ

và chất lượng hiệu quả hoạt động của d
nh nghiệp đó.
Quy trình thực hiện phân tích tài chính ngày càng được áp dụng rộng rãi
trong mọi đơn vị kinh tế được tự chủ nhất định về tài chính như các doanh nghiệp
thuộc mọi hình thức, các tổ chức xã hội, tập thể và các cơ quan quản lý, tổ chức
công cộng. Đặc biệt sự phát triển của các doanh nghiệp, các ngân hàng và của thị
trường vốn đã tạo nhiều cơ hội để phân tích tài chính chứng tỏ thực sự là có ích và

ùng cần thiết.
1.1.2 Mục tiêu của phân tích tài chí
doanh nghiệp
Thông qua việc tính toán các chỉ tiêu tài chính, xem xét các mối quan hệ
chiến lược, phân tích tài chính giúp cho người sử dụng thông tin đánh giá chính
xác sức mạnh tài chính, khả năng sinh lãi, triển vọng phát triển của doanh nghiệp
và là cơ sở để dự báo về tình hình tài chính, đưa ra các quyết định tài chính. Bởi
2
vậy, phân tích tài chính là mối quan tâm của nhiều nhóm người khác nhau như:
Ban giám đốc, các nhà đầu tư, các cổ đông, các chủ nợ, các khách hàng, các nhà
quản lý, kể cả các cơ quan Nhà nước và bản thân người lao động trong doanh
nghiệp. Mỗi đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các
góc độ khác nhau, sử dụng các chỉ số và các thông tin thu được để đưa ra các q
ết định khác nhau.
Phân tích tài chính đối
i các nhà quản trị
Các hoạt động nghiên cứu tài chính trong doanh nghiệp được gọi là phân
tích tài chính nội bộ khác với phân tích tài chính bên ngoài do các nhà phân tích
ngoài doanh nghiệp tiến hành, do có thông tin đầy đủ và hiểu rõ hơn về doanh
nghiệp, các nhà phân tích tài chính trong doanh nghiệp có nhiều lợi thế để có thể
phân tí
tài chính tốt nhất.

Phân tích tài chính nội
ộ có nhiều mục tiêu:
- Tạo thành các chu kỳ đánh giá đều đặn về các hoạt động kinh doanh quá
khứ, giúp nhà quản trị tài chính đánh giá được hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, xác định điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp từ đó tiến hành cân đối
tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, trả nợ và rủi ro tài
hính của doanh nghiệp.
- Định hướng các quyết định của Ban giám đốc cũng như của Giám đốc tài
chính: quyết định về đầu tư, tài trợ, ph
chia lợi tức cổ phần…
- Là cơ sở cho các dự báo tài chính: kế hoạch đầu tư,
ần ngân sách tiền mặt…
- Cuối cùng phân tích tài chính là công cụ để kiểm soá
các hoạt động quản lý.
Phân tích tài chính làm nổi bật tầm quan trọng của dự báo tài chính và là cơ
sở cho các nhà quản trị, làm sáng tỏ không chỉ chính sách tài chính mà còn làm
3
các chnh sách chung.
Phân tí ch tài
ính với các nhà đầu tư
Các nhà đầu tư có thể là các cá nhân hoặc các tổ chức đã giao vốn cho
doanh nghiệp - là cổ đông của doanh nghiệp hoặc là những người có vốn nhưng
chưa đầu tư và đang có nhu cầu sử dụng vốn mua cổ phiếu của doanh nghiệp. Thu
nhập của các nhà đầu tư sẽ là tiền chia lợi tức và giá trị tăng thêm của vốn đầu tư
(thu nhập trên cổ phiếu), hai yếu tố này chịu ảnh hưởng của lợi nhuận kỳ vọng của
doanh nghiệp. Ngoài ra, một phần không nhỏ thu nhập mà các nhà đầu tư kỳ vọng
là phần giá trị tăng thêm của vốn đầu tư do sự biến động của giá
ổ phiếu trên thị trường.
Các nhà đầu tư thường không hài lòng với lợi nhuận tính theo sổ sách kế
toán mà họ thường dựa vào kết quả phân tích tài chính của các nhà chuyên môn để

dự báo vể triển vọng của doanh nghiệp, đánh giá cổ phiếu của doanh nghiệp. Họ
rất quan tâm tới tình hình thu nhập của chủ sở hữu, tới khả năng sinh lời của
doanh nghiệp. Đó là một trong những căn cứ giúp nhà đầu tư ra quyết định có bỏ
vốn vào doanh nghiệp hay không, có nên mua thêm hay bán cổ
hiếu mà họ đang nắm giữ?
Phân tích t
chính với người cho vay
Người cho vay phân tích tài chính để nhận biết khả năng vay và trả nợ của
khách hàng. Chẳng hạn, để quyết định cho vay, một trong những vấn đề mà người
cho vay cần xem xét là doanh nghiệp có thực sự có nhu cầu vay hay không? Khả
năng trả nợ của doanh nghiệp như thế nào? Vì vậy việc phân tích tài chính khách
hàng là rất cần thiết nhằm mục tiêu xác định rõ hiện trạng tài chính của khách
hàng: giá trị tài sản, tình hình công nợ, khả năng thanh toán. Dự báo về tình hình
tài chính của khách hàng trong tương lai, dự báo về các rủi ro có thể xảy ra ảnh
hưởng đến khả
ng trả nợ của khách hàng.
Việc phân tích tài chính đối với những khoản nợ dài hạ
và ngắn hạn là khác nhau:
4
- Nếu là những khoản cho vay ngắn hạn, người cho vay đặc biệt quan tâm
đến khả năng thanh to
nhanh của doanh nghiệp.
- Nếu là những khoản vay dài hạn, người cho vay phải tin chắc khả năng
hoàn trả và khả năng sinh lời của doanh nghiệp mà việc hoàn trả vốn và lãi sẽ tuỳ
thuộ
vào khả năng sinh lời này.
Phân tích tài chính với những người hưở
lương trong doanh nghiệp
Khoản tiền lương nhận được từ doanh nghiệp luôn là nguồn thu nhập đáng
kể của những người lao động trong doanh nghiệp vì vậy kết quả hoạt động sản

xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ có tác động lớn đến tiền lương và thu nhập
khác của họ. Ngoài ra, trong một số doanh nghiệp, người lao động được tham gia
mua một lượng vốn cổ phần nhất định, nên có quyền lợi và trách nhiệm gắn với
doanh nghiệp như một nhà đầu tư. Do đó họ rất quan tâm đến tình
nh tài chính doanh nghiệp.
Ngoài ra, phân tích tài chính cũng rất cần thiết đối với một số đối tượng
khác như các cán bộ thuế, thanh tra, cảnh sát kinh tế, luật sư…Dự họ công tác ở
các vị trí khác nhau, nhưng họ đều muốn hiểu biết về hoạt động của doanh nghiệp
nhằm
ục vụ cho côngviệc của mình.
1.2 Công tác p
n tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Xây dựng qu trình ph
tích tài chính doa nh nghiệp
Phân tích tài chính có ý nghĩa quyết định đến kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh, vì vậy công tác phân tích tài chính phải có hiệu quả, mang lại những
thông tin chính xác, đầy đủ phục vụ cho việc ra quyết định của người sử dụng
thông tin. Muốn vậy, công tác phân tích tài chính cần phải được tổ chức thực hiện
theo một quy trình hoàn thiện với nguồn thông tin chất lượng, với phương pháp và
nội dung phân tích phù hợp, khoa hoc. Công tác phân tích tài chính có thể
5
ợc tiến hành theo các bước sau:
Bước 1:
huẩn bị cho công tác phân tích
- Xác định mục tiêu, kế hoạch phân tích, từ đó lập ra các kế hoạch chi tiết
về nguồn thông tin sử dụng, thời gian tiến hành phân tích, số lượng nhân sự, yêu
cầu trình độ, chuyên môn cán bộ cần cho công tác phân tích, tổ c
c phân công công việc khoa học…
- Lập kế hoạch phối hợp giữa các b
phận trong quá trình phân tích.

- Lựa chọn các phương pháp và nội dung phân tíc
nhằm hoàn thành mục tiêu đề ra.
- Thu thập và xử lý sơ bộ các nguồn thông tin
n trong và bên ngoài doanh
hiệp
Bước 2: Tiến hành phân tích
- Tính toán các chỉ tiêu, nhóm chỉ tiêu tài chính cần thiết, trên cơ sở đó, tuỳ
theo góc độ nghiên cứu khác nhau mà sẽ đi sâu vào ph
tích các nội dung có liên quan.
- Lập bảng biểu để so sánh, phân tích các chỉ tiêu đã tính toán, nhằm tìm ra
nguyên nhân gây
thực trạng của tình hình tài chính.
Bước 3
Báo cáo kết quả phân tích tài chính.
- Đưa ra nhận xét đánh giá về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Dựa vào đó, đề xuất những giải pháp nhằm phát huy những
ành công và khắc phục những hạn chế.
- Lập k
hoạch, dự báo tài chính cho năm t
6
.
1.2.2 Thu thập và
ử lý thông tin
* Thu thập thông tin
Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải, thuyết
minh thực trạng hoạt động tài chính của doanh nghiệp, phục vụ quá trình dự đoán
tài chính. Nó bao gồm cả những thông tin nội bộ và những thông tin bên ngoài,
những thông tin kế toán và cả những thông tin quản lý khác, những thông tin về số
lượng và giá trị trong đó các thông tin kế toán phản ánh tập trung trong các báo
cáo tài chính

à những nguồn thông tin đặc biệt
uan trọng.
Thông tin bên ngoài doanh nghiệp
Trong thông tin bên ngoài, doanh nghiệp cần lưu ý thu thập những thông tin
chung (thông tin liên quan đến trạng thái nền kinh tế, cơ hội kinh doanh, chính
sách thuế, lãi suất), thông tin về ngành kinh doanh (thông tin liên quan đến vị trí
của ngành trong nền kinh tế, cơ cấu ngành, các sản phẩm của ngành tình trạng
công ng
, thị phần, hệ thống hỉ tiêu trung bình ngành)
- Các thông tin chung : hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
chịu tác động của nhiều yếu tố thuộc môi trường kinh tế vĩ mô, nên khi tiến hành
phân tích tài chính doanh nghiệp nhà phân tích cần đặt tình hình của doanh nghiệp
trong bối c
h chung của nền kinh tế trong nước và khu vực.
Sự suy thoái hoặc tăng trưởng của nền kinh tế có tác động mạnh mẽ đến cơ
hội kinh doanh, đến sự biến động của các yếu tố đầu vào và thị trường tiêu thụ sản
phẩm đầu ra, từ đó tác động đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Khi các tác động diễn ra theo chiều hướng có lợi, hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp được mở rộng, lợi nhuận tăng và nhờ đó kết quả kinh
doanh trong năm là khả quan. Tuy nhiên, khi các tác động diễn ra theo chiều
hướng bất lợi, nó sẽ tác động xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Ngoài ra, các chính sách thuế như thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập
7
khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế thu nhập doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn đến
các quyết định tài trợ và sản xuất của doanh nghiệp. Bên cạnh đó các cơ hội kinh
doanh, các định hướng phát triển kinh tế của Nhà nước, sự ổn định chính trị, xã
hội…cũng ảnh hưởng không
ỏ tới kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Chính vì vậy, để có sự đánh giá một cách khách quan, chính xác về tình
hình tài chính của doanh ngiệp chúng ta phải xem

t cả các thông tin kinh tế b ân ngài có liên quan.
- Các thông tin theo ngành kinh tế : Nội dung nghiên cứu trong phạm vi
ngành là việc đặt sự phát triển của doanh nghiệp trong mối
ên hệ với các hoạt động chung của
ành kinh doanh.
Việc nghiên cứu theo ngành chỉ rõ:
+ T
quan trọng của ngành nghiên cứu trong nền kinh
.
+ Các sản phẩm và
ạt động khác nhau
a ngành.
+ Quy trình công nghệ
+ Các khoản đầu tư
+ C
cấu ngành (mức độ tập trung hoá, các tập đoàn chủ
ếu…)
+ Độ lớn của thị trường và triển vọng phát triển.
Thông tin theo ngành kinh tế đặc biệt là hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành
là cơ sở tham chiếu để người phân tích có thể đánh giá
kết luận chính xác về tình hình tài
8
hính doanh nghiệp.
Thông tin trong nội bộ doanh nghiệp
Để đánh giá một cách cơ bản tình hình tài chính của một doanh nghiệp, có
thể sử dụng thông tin kế toán trong nội bộ doanh nghiệp như là một nguồn thông
tin quan trọng bậc nhất. Đó là các thông tin tổng quát về tình hình tài sản, sự hình
thành tài sản, sự vận động và thay đổi của chúng qua mỗi chu kỳ kinh doanh của
doanh nghiệp. Tất cả các thông tin n
được phản ánh khá đầy đủ trong cá

báo cáo tài chín. Hệ thống báo cáo tài chính gồm có:
Bảng cân đối kế toán : Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính mô tả
tình trạng tài chính của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó. Đây
là một báo cáo tài chính có ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi đối tượng có quan
hệ sở hữu, quan hệ kinh doanh và quan hệ quản lý với doanh nghiệp. Thông
thường, Bảng cân đối kế toán được trình bày dưới dạng bảng cân đối số dư các tài
khoản kế toán: Một bên
ản ánh tài sản và một bên phản ánh nguồn vốn của doanh nghiệp.
Bên tài sản của Bảng cân đối kế toán phản ánh giá trị của toàn bộ tài sản
hiện có tại thời điểm lập báo cáo thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh
nghiệp bao gồm tài sản cố định và tài sản lưu động. Bên nguồn vốn phản ánh số
vốn để hình thành các loại tài sản của doanh nghiệp đến thời điểm lập báo cáo: đó
là vốn chủ sở hữu và các khoản nợ. Các khoản mục trên Bảng cân đối kế toán
được sắ
xếp theo khả năng chuyển hoá thành tiền giảm dần từ trên xuống dưới.
Về mặt kinh tế, bên tài sản phản ánh quy mô vốn và kết cấu các loại tài sản;
bên nguồn vốn phản ánh cơ cấu tài trợ, cơ cấu vốn cũng như khả năng độc lập về
tài chính của doanh nghiệp. Bên tài sản và bên nguồn vốn của Bảng cân đối kế
toán đều có các cột chỉ tiêu: số đầu kỳ, số cuối kỳ. Ngoài các khoản mục trong nội
bảng còn có một số khoản mục ngoài Bảng cân đối kế toán như: Một số tài sản
thuê ngoài, vật tư
hàng hoá nhận giữ hộ, nhận gia công, hàng hoá nhận bán hộ, ngoại tệ các
loại…
9
Mặt hạn chế của Bảng cân đối kế toán cũng như của các báo cáo tài chính
nói chung làm ảnh hưởng đến công tác phân tích tình hình tài chính, đó là dữ liệu
chúng cung cấp thuộc về quá khứ trong khi phân tích lại hướng đến tương
lai.
Tuy nhiên, Bảng cân đối kế toán vẫn là một tư liệu quan trọng bậc nhất
giúp cho các nhà phân tích đánh giá được khả năng cân bằng tài chính, khả năng

thanh toán và khả năng cân đối vốn của doanh nghiệp. Nhìn vào Bảng cân đối kế
toán, nhà phân tích có thể nhận bi
được loại hình doanh nghip, quy mô, mức độ tự chủ tài chính của doanh
nghiệp.
Báo cáo kết quả kinh doanh : Báo cáo kết quả kinh doanh cho biết sự dịch
chuyển của tiền trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và cho phép
dự tính khả năng hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai. Báo cáo kết quả
kinh doanh cũng giúp nhà phân tích so sánh doanh thu với số tiền thực nhập quỹ
khi bán hàng hoá dịch vụ, so sánh tổng chi phí phát sinh với số tiền thực xuất quỹ,
nó cung cấp những thông tin tổng hợp về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm
năng về vố
lao động, kỹ thuật và trình độ quản lý sản xuất - kinh doanh của doanh
nghiệp.
Nội dung của Báo cáo kết quả kinh
anh là chi tiết hoá của các chỉ
iêu của đẳng thức tổng quát quá trình kinh doanh:
Doanh thu – Chi phí = Lợi nhuận
Từ đó Báo cáo kết quả kinh doanh cho biết tình hình sản xuất - kinh doanh
của doanh nghiệp trong năm là lỗ hay lãi. Báo cáo kết quả kinh doanh bao gồm
các khoản mục: doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh thu từ hoạt
động tài chín
doanh thu từ các hoạt động bất thường và chi phí tương ứng với từng hoạt
động đó.
Hạn chế của Báo cáo kết quả kinh doanh là các chỉ tiêu chi phí phụ thuộc
vào quan điểm của kế toán trong quá trình hoạch toán, doanh thu bán hàng được
10
ghi nhận ngay khi khách hàng chấp nhận thanh toán, trong khi việc thanh toán tiền
hàng lại xảy ra vào m
thời điểm khác. Nhược điể này dẫn đến sự cần thiết của Báo cáo lưu
chuyển tiền tệ.

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ : Để đánh giá một doanh nghiệp có đảm bảo
được chi trả hay không, cần tìm hiểu tình hình Ngân quỹ của doanh nghiệp. Ngân
quỹ thường được xác định cho thời hạn ngắn (thường là từng tháng), xác định
hoặc dự báo dòng tiền thực nhập quỹ từ hoạt động kinh doanh; dòng tiền thực
nhập quỹ từ hoạt động đầu tư, dòng tiền thực nhập quỹ từ hoạt động bất thường.
Xác định dự báo dòng tiền thực xuất quỹ bao gồm: Dòng tiền xuất quỹ thực hiện
sản xuất kinh doanh, dòng tiền xuất quỹ thự
hiện hoạt động đầu tư, tài chính; dòng tiền xuất quỹ thực hiện hoạt động bất
thường.
Về cơ bản có hai phương pháp lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: Phương
pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp. Phương pháp trực tiếp đơn giản với
người lập và dễ dàng cho người đọc thuộc mọi đối tượng, bắt đầu từ tiền thu bán
hàng, đi qua tất cả các nghiệp vụ kinh tế có liên quan đến chi, thu tiền thực tế để
đến dòng ngân lưu. Phương pháp gián tiếp khá trừu tượng dựa vào các suy luận
ngược, bắt đầu từ lợi nhuận ròng sau đó điều chỉnh các khoản hạch toán thu chi
không dùng đến tiền mặt, loại trừ các khoản lỗ lãi từ hoạt động đầu tư và hoạt
động tài chính, sau đó điều chỉnh những thay đổi của tài sản lưu động trên bảng
cân đối kế toán, để đi đến dòng ngân lưu. Phương
áp gián tiếp nói rõ mối quan hệ giữa Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết
quả kinh doanh.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cùng với Báo cáo kết quả kinh doanh, Bảng cân
đối kế toán chỉ ra được chất lượng của lợi nhuận. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ còn
giúp nhà phân tích giải thích được nguyên nhân thay đổi về tình hình tài sản,
nguồn vốn, khả năng thanh toán của doanh nghiệ
và thiết lập mức ngân quỹ dự hòng tối thiểu cho doanh nghiệp nhằm mục
tiêu đảm bảo chi trả.
Thuyết minh báo cáo tài chính : Đây là báo cáo quan trọng được trình bày
bằng lời văn nhằm giải thích thêm chi tiết của những nội dung thay đổi về tài sản,
nguồn vốn mà các dữ liệu bằng số trong các báo cáo tài chính không thể thể hiện
11

hết được như: đặc điểm hoạt động kinh doanh (hình thức sở hữu, hình thức hoạt
động, lĩnh vực kinh doanh…), chế độ kế toán áp dụng tại doanh nghiệp, phương
thức phân bổ chi phí, phương thức trích khấu hao, tỉ giá hối đoái được dựng để
hạch toán trong kỳ, sự thay đổi trong
ầu tư, ài sản cố định, vốn chủ sở hữu, tình hình thu nhập của nhân viên và
các tình hình khác.
Tóm lại , để phân tích tình hình tài chính của một doanh nghiệp, các nhà
phân tích cần phải đọc và hiểu được các báo cáo tài chính, qua đó, họ nhận biết
ược và tập trung vào các chỉ tiêu tài chính liên quan trực tiếp tới mục tiêu
phân tích của họ.
Thu thập thông tin trong phân tích tài chính là bước đầu tiên nhưng có ý
nghĩa xuyên suốt quá trình phân tích tài chính doanh nghiệp. Trong bước này, căn
c
vào mục đích của ông tác phân tích tài chính, nhà phân tích sẽ lựa chọn
thông tin cho phù hợp.
* Xử lý thông tin : Giai đoạn tiếp theo của phân tích tài chính là quá trình
xử lý thông tin đã thu thập được. Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ở
các góc độ nghiên cứu, ứng dụng khác nhau, có phương pháp xử lí thông tin khác
nhau phục vụ mục tiêu phân tích đã đặt ra. Xử lý thông tin là quá trình sắp xếp các
thông tin theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích,
nh giá, xác định nguyên nhân của các kết quả đã đạt được phục vụ cho quá
trình dự đoán và quyết định.
Tuy nhiên phân tích tài chính không có ý nghĩa khi chỉ đơn thuần là công
việc tổng hợp và sắp xếp số liệu trong khi các đối tượng tài chính cần nghiên cứu
lại luôn luôn biến động về số lượng và trạng thái tồn tại. Cho nên ở bước này, các
nhà phân tích tài chính phải biết đặt một đối tượng tài chính này trong mối quan hệ
biện c
ng với các đối tượng khácvà trong mối liên hệ với các tiêu chuẩn, các định
mức tài chính và kinh tế.
* Dự đoán và ra quyết định : Thu thập xử lí thông tin nhằm chuẩn bị những

tiền đề và điều kiện cần thiết để người sử dụng thông tin dự đoán nhu cầu và đưa
ra các quyết định tài chính. Có thể nói, mục tiêu của phân tích tài chính là đưa ra
12
các quyết định tài chính. Đối với chủ doanh nghiệp phân tích tài chính nhằm đưa
ra các quyết định liên quan tới mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tăng
trưởng, phát triển, tối đa hoá giá trị xí nghiệp. Đối với người cho vay và đầu tư
vào xí nghiệp là đưa ra các quyế
định về tài trợ và đầu tư, đối với cấp trên của doanh nghiệp đưa ra các
quyết định quản lý doanh nghiệp …
Tuy nhiên hiệu quả của công tác dự đoán và ra quyết định tài chính còn phụ
thuộc vào trình
chuyên môn của các nhà nhân tích cũng như nhữ
người sử dụng thông tin từ hoạt động phân tích tài chính.
1.2.3 Lựa chọn phương pháp phân tích tài chính
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ và
biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối liên hệ bên
trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và b
n đổi tài chính, các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết, nhằm đánh giá
tình hình tài chính doanh nghiệp.
Lựa chọn phương pháp phân tích tài chính là một nội dung cơ bản của công
tác phân tích tài chính trong các doanh nghiệp, là chìa khó để cung cấp thông tin
cho nhà quản trị theo các lợi ích khác nhau. Xuất phát từ đặc điểm hoạt động kinh
doanh của từng bộ phận, từng doanh nghiệp khác
au trong quá trình phân tích có thể vận dụng những phương pháp cho phù
hợp với mục đích của việc nghiên cứu.
Về lý thuyết có nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh n
iệp nhưng trên thực t
người ta thường sử dụng phương pháp so sánh, phương pháp tỷ số và
phương pháp Dupont.
* Phương pháp so sánh

Phương pháp so sánh là phương pháp sử dụng phổ biến và quan trọng
trong phân tích kinh tế nói riêng và phân tích tài chính nói chung. Theo phương
pháp này, nhà phân tích thường đối chiếu các chỉ tiêu kinh tế với nhau để thấy
được mức độ biến động của các đối tượn
13
đang nghiên cứu. Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, ít tính toán khi
phân tích nên được sử dụng rộng rãi.
Để áp dụng phương pháp so sánh cần phải đảm bảo các điều kiện để có thể
so sánh được của các chỉ tiêu tài chính (thống nhất về không gian, thời gian, nội
dung, tính chất và đơn vị tính toán ) và theo mục đích phân tích mà xác định gốc
so sánh. Gốc so sánh được chọn là gốc về mặt thời gian hoặc không gian, kỳ phân
tích được lựa ch
là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế
oạch, giá trị so sánh có thể lựa chọn bằng số tuyệt đối, số tương đối hoặc số
bình quân.
Nội dung so sánh bao gồm:
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu
hướng
ay đổi về tài chính doanh nghiệp. Đánh giá sự tăng trưởng hay thụt lùi trong
hoạt độn
kinh doanh của doanh nghiệp.
- So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy mức độ phấn đấu của
doanh nghiệp.
- So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình của ng
h, của các doanh nghiệp khác để đánh giá tình hình tài chính của doanh
nghiệp mình tốt hay xấu, được hay chưa được.
- So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng
thể, so sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ đ
thấy được sự biến đổi cả về số tương đối và số tuyệt đối của một chỉ tiêu
nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp.

Phương pháp này thường được áp dụng rộng rãi trong hầu hết các doanh
nghiệp vì tính đơn giản, dễ thực hiện lại đánh giá được rất nhiều các chỉ tiêu kinh
tế, đặc biệt là các doanh nghiệp thường xuyên xây dựng đ
h mức, kế hoạch, d
nh nghiệp thuộc các ngành đã xây dựng được hệ thống chỉ tiêu trung bình
ngành để làm chuẩn mực.
14
*Phương pháp tỷ số
Phương pháp truyền thống được áp dụng trong phân tích tài chính là
phương pháp tỷ số. Phương pháp tỷ số là phương pháp trong đó các tỷ số được sử
dụng để phân tích, đó là các tỷ số đơn được thiết lập bởi chỉ tiêu này so với chỉ
tiêu khác. Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện áp dụng
ngày càng được bổ sung và hoàn thiện do nguồn thông tin kế toán và tài chính
được cải tiến, cung cấp đầy đủ hơn là cơ sở để hình thành những tỷ lệ tham chiếu
đáng tin cậy; việc áp dụng công nghệ tin học cho phép tích luỹ
liệu và thúc đẩy nhanh quá trình tính toán các tỷ số, hệ thống được hàng
loạt các tỷ số theo chuỗi thời gian liên tục.
Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực của các tỷ số của đại lượng
tài chính trong các quan hệ tài chính. Sự biến đổi các tỷ số phản ánh sự biến đổi
của các đại lượng tài chính. Các tỷ số này được phân thành các nhóm tỷ số đặc
trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu hoạt động của doanh
nghiệp. Bao gồm nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán, nhóm chỉ tiêu về cơ cấu
vốn, nhóm chỉ tiêu về năng lực hoạt động và nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời.
Mỗi nhóm tỷ số lại bao gồm nhiều tỷ số phản ánh riêng lẻ từng bộ phận hoạt động
tài chính trong mỗi trường hợp khác nh
, tuỳ theo giác độ phân tích, người phân tích lựa chọn các nhóm chỉ tiêu
khác nhau để phục vụ mục tiêu phân tích của mình.
Cũng như phương pháp so sánh,phương pháp tỷ số đơn giản và được sử
dụng ở rất nhiều doanh nghiệp, nó yêu cầu phải xác định được các ngưỡng, các
định mức, để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, trên cơ sở so

sánh các tỷ số của doanh nghiệp với tỷ lệ tham ch
u. Vì vậy để nâng c
hiệu quả phân tích tài chính, phương pháp tỷ số thường được sử dụng kết
hợp với phương pháp so sánh.
*Phương pháp Dupont
Ngoài hai phương pháp trên, người ta còn hay sử dụng phương pháp
Dupont. Phương pháp này do Công ty Dupont của Mỹ sử dụng trong phân tích tài
chính lần đầu tiên vào khoảng sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Ngay sau đó,
phương pháp này đã nhanh chóng thu hút
15
ự chú ý của giới chuyên môn vì tính hữu dụng của nó và dưới nhiều hình
thức được áp dụng rộng rãi tại các công ty lớn ở Mỹ.
Bản chất của phương pháp phân tích tài chính Dupont là tách một tỷ số
tổng hợp thành tích của chuỗi các tỷ số có mối liên hệ nhân quả với nhau. Điều đó
cho phép phân tích những ảnh hưởng của các tỷ số thành phần với tỷ số tổng hợp.
Với phương p
p này, các nhà phân tích có thể nhận ra những nguyên nhân dẫn đến các
hiện tượng tốt, xấu trong hoạt đ
a doanh nghiệp.
Ví dụ từ chỉ tiêu doanh lợi tài sản - ROA, áp dụng phương pháp Dupont ta
có một cách tính mới như sau:
Với cách tính ROA mới này có thể thấy khả năng sinh lợi của đồng vốn
doanh nghiệp bỏ
a đầu tư chịu ảnh hưởng bởi khả năng sinh lợi từ hoạt động tiêu thụ sản
phẩm và hoạt động quản lý tài sản của doanh nghiệp.
Phương pháp Dupont rất có hiệu quả trong phân tích, tuy nhiên nó không
được áp dụng rộng rãi mà chỉ áp dụng cho các công ty lớn, có đội ngũ cán bộ phân
tích chuyên trách, có trình độ là do phương pháp này không chỉ đòi hỏi đánh giá
sự tác động của chỉ tiêu th
h phần với chỉ tiêu tổng hợp mà còn sử dụng kinh tế lượng để đánh giá mức

độ tác động của các chỉ tiêu thành phần với nhau.
Trong quá trình xây dựng quy trình phân tích tài chính, người làm công tác
quản lý phải biết lựa chọn những phương pháp phân tích phù hợp t
thuộc vào ưu nhược điểm, điều kiện áp dụng
a từng phương pháp cũn như đặc điểm, điều kiện cụ thể
ủa doanh nghiệp mình.
16
ROA = LNST / Tài sản = LNST / Doanh thu x Doanh thu / Tài sản
1.2.4 Xác định nội dung phân tích tài chính
*Phân tích khái quát h oạt động tài chính doanh nghiệp
Qua các số liệu từ Báo cáo kết quả kinh doanh và Bảng cân đối kế toán,
chúng ta tiến hành phân tích một cách khái quát nhất tài chính doanh ngh
p để thấy được xu hướng thay đổi của từng khoản mục theo thời gian. Việc
phân tích được tiến hành ở 3 nội dung chủ yếu sau:
- Về tài sản: so sánh số đầu kỳ với số cuối kỳ về số tuyệt đối và tỷ trọng, s
sánh tỷ trọng từng khoản mục bên tài sản với tổng số tài sản hiện có để thấy
được xu hướng biến động của chúng qua các năm.
- Về nguồn vốn cũng so sánh tương tự như phần tài sản nhằm r
ra những kết luận chung nhất về khả năng thanh mở rộng hoạt động sản
xuất kinh doanh, về khả năng tài trợ cho các tài sản.
- Về kết quả kinh doanh: xem xét sự thay đổi của doanh thu thuần, lợi
nhuận thuần cũng như tỷ trọng của từng loại chi phí trong tổng doanh thu (giá vốn
hàng bán, chi ph
bán hàng, chi phí quản lý) để đánh giá xu hướ
thay đổi của từng chỉ tiêu và đánh giá kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp.
*Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn
Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn là xem xét và đánh giá sự
thay đổi của các chỉ tiêu cuối kỳ so với đầu kỳ trên Bảng cân đối kế toán về nguồn
vốn và cách thức sử dụng vốn của doanh nghiệp. Để tiến hành phân tích diễn biến

nguồn vốn và sử dụng vốn trước tiên nhà phân tích tiến hành lập bảng kê ngu
vốn và sử dụng vốn (Bảng tài trợ), nó giúp nhà quản lý xác định rõ các
nguồn cung ứng vốn và việc sử dụng các nguồn vốn đó.
Để lập bảng này, trước hết phải liệt kê sự thay đổi các khoản mục trên bảng
cân đối kế toán từ đầu kỳ đến cuối kỳ. Mỗi sự thay đổi được phân biệt ở hai cột:
Sử dụng vốn và nguồn vốn theo nguyên tắc: nếu các khoản mục bên tài sản tăng
hoặc các khoản mục bên nguồn vốn giảm thì điều đó thể hiện
17
BẢNG TÀI TRỢ
ĐVT: vnđ
Khoản mục N-1 N Sử dụng vốn Nguồn vốn
I.Tài sản
1. Tiền và tương đương tiền
2. Phải thu
3. Dự trữ
4. Tài sản cố định hữu hình
5.Tài sản cố định vĩ hình
6.Tài sản tài chính
II. Nguồn vốn
1. Phải trả nhà cung cấp
2. Phải trả, phải nộp khác
3. Vay ngắn hạn
4. Vay dài hạn
5. Vốn ban đầu
6. Quỹ
7.Lợi nhuận chưa phân phối
Tổng cộng
nếu các khoản mục bên tài sản giảm hoặc các khoản mục bên nguồn vốn
tăng thì điều đó thể hiện việc tạo nguồn.
18

V
c thiết lập Bảng tài trợ là cơ sở để chỉ ra những trọng điểm đầu tư vốn và
những nguồn vốn chủ yếu được hình thành để đầu tư.
Ngoài phân tích việc sử dụng vốn và nguồn vốn, người ta còn phân tích tình
hình tài chính theo luồng tiền để xác
nh sự tăng (giảm) tiền và nguyên nhân tăng giảm tiền. Trên cơ s
đó, doanh nghiệp sẽ có những biện pháp quản lý ngân quỹ tốt hơn.
*Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh
Để tiến hành sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp cần có tài sản bao gồm
Tài sản lưu động (TSLĐ) và đầu tư ngắn hạn, Tài sản cố định (TSCĐ) và đầu
dài hạn. Để hình thành hai loại tài sản này phải có các nguồn tài trợ tương
ứng bao gồm nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn.
- Nguồn vốn ngắn hạn là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng trong
khoảng thờ
gian dưới 1 năm cho hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm: nợ ngắn hạn,
nợ quá hạn, nợ nhà cung cấp và nợ phải trả ngắn hạn khác.
- Nguồn vốn
i hạn là nguồn vốn doanh nghiệp sử dụng lâu dài cho hoạt động kinh doanh
bao gồm: vốn chủ sở hữu, nguồn vốn vay trung và dài hạn.
Nguồn vốn dài hạn trước hết được dựng để hình thành TSCĐ, phần dư của
nguồn vốn dài hạn và nguồn vốn ngắn hạn được đầu tư hình thành TSLĐ. Chênh
lệch
iữa vốn dài hạn với TSCĐ hay giữa vốn ngắn hạn với T
Đ được gọi là vốn lưu động thường xuyên (hay còn gọi là vốn
u động ròng).
Vốn lưu động thường xuyên = Nguồn vốn dài hạn – TSCĐ
19

×