Tải bản đầy đủ (.pdf) (115 trang)

quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế NQD

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (532.39 KB, 115 trang )

Lời nói đầu
Thuế ra đời và phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của Nhà nước và là
một đòi hỏi khách quan đối với sự tồn tại của Nhà nước đó. Do vậy, thuế là một
khoản đóng góp mang tính bắt buộc, cưỡng chế, pháp lý cao, là nguồn thu chủ yếu
cho ngân sách Nhà nước mà trong đó thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc
doanh chiếm tỷ trọng cao trong Ngân sách Nhà nước. Phải quản lý thu thuế đối với
khu vực kinh tế NQD như thế nào? Đó là một câu hỏi cấp bách đặt ra cần có những
giải pháp.
Thực hiện công cuộc đổi mới các thành phần kinh tế NQD hình thành và phát triển
góp phần quan trọng và việc thực hiện thành công các mục tiêu kinh tế, xã hội do
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần VI, VII, VIII đề ra. Đảng Cộng sản Việt Nam
lần thứ IX đã xác định “Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản
thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kinh tế hiện đại, cơ cấu kinh tế pháp
lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển lực lượng sản xuất, đời
sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh
XHCN, dân chủ văn minh”. Để đạt được mục tiêu này cần phải sử dụng các giải
pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế NQD ở
nước ta hiện nay. Theo xu hướng phát triển kinh tế của các nước trên thế giới, nên
kinh tế thị trường hoạt động theo cơ chế thị trường bao gồm nhiều thành phần kinh
tế trong đó có 5 thành phần kinh tế cơ bản đựơc phân tích trong Kinh tế Chính trị
Mác- Lênin
Nền kinh tế Việt nam không nằm ngoài sự chi phối của quy luật khách quan của
một nền kinh tế nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường.. Có thể phân
chia nền kinh tế thành hai khu vực. Kinh tế trong nước và kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài. Trong đó khu vực kinh tế trong nước lại chia thành hai khu vực là khu
vực Kinh tế Nhà nước và khu vực Kinh tế Ngoài quốc doanh.
Trong phạm vi của luận văn này chỉ đề cập đến các giải pháp để hoàn thiện công tác
quản lý thu thuế NQD, mà hẹp hơn là đối với 2 thành phần kinh tế là tư bản tư nhân
và kinh tế cá thể tiểu chủ, cụ thể là khu vực kinh tế này bao gồm các doanh nghiệp
NQD và các hộ kinh doanh cá thể hoạt động trong lĩnh vực phi nông nghiệp.
Lý do em chọn đề tài này là do khu vực kinh tế có phạm vi rộng nguồn thu lớn cho


Ngân sách Nhà nước, đồng thời 2 thành phần kinh tế này mới được Đại hội Đảng
Cộng sản Việt Nam lần thứ VI chính thức thừa nhận tồn tại khách quan trong thời
kỳ quá độ.
Luận văn được kết cấu như sau:
Chương I: Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và nội dung của quản lý thu thuế đối
với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.
Chương II: Thực trạng công tác công tác hoàn thuế của Bộ Tài Chính đối với khu
vực kinh tế ngoài quốc doanh hiện nay.
Chương III: Giải pháp hoàn thiện công tác hoàn thuế của Bộ Tài Chính đối với khu
vực kinh tế ngoài quốc doanh hiện nay.
Chương I
khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh và Nội dung của quản lý thu thuế đối với khu
vực kinh tế Ngoài quốc doanh
I. Đặc điểm của khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh
1.Sự tồn tại khách quan của khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh
Thời kỳ quá độ lên CNXH theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin sẽ trải qua
một thời gian dài trong lịch sử. Trong suốt thời kỳ đó vẫn tồn tại các thành phần
kinh tế phi CNXH cạnh tranh gay gắt với thành phần kinh tế CNXH. Nhà nước
XHCN có vai trò to lớn trong việc làm cho các thành phần kinh tế XHCN ngày
càng phát triển và chiếm ưu thế, đảm bảo thắng lợi của CNXH.
Vậy quá độ đi lên CNXH bỏ qua phát triển TBCN không thể không quan tâm đến
sự tồn tại và phát triển tất yếu khách quan của các thành phần kinh tế khác trong đó
có các thành phần kinh tế của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh (NQD). Nước ta
quá độ lên CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, tiềm lực kinh tế còn chưa
mạnh, cơ sở vật chất còn nghèo nàn không đồng nhất giữa các ngành các vùng,
trình độ quản lý kinh tế còn thấp kém lại vừa qua khỏi chiến tranh. Mâu thuẫn giữa
nhu cầu cải tiến đời sống nhân dân với khả năng của sức sản xuất đang hết sức gay
gắt. sự lựa chọn có phát triển kinh tế nhiều thành phần trong đó có kinh tế NQD hay
không có tính chất quyết định. Tuy nhiên chấp nhận sự tồn tại của kinh tế NQD
không có nghĩa là để quan hệ sản xuất TBCN xác lập thống trị xã hội mà chỉ để

quan hệ sản xuất tồn tại phục vụ cho các mục đích phát triển kinh tế, đẩy mạnh sự
phát triển của các lực lượng sản xuất, tăng nhanh năng xuất lao động, tăng trưởng
kinh tế. Do đó bỏ qua chế độ TBCN là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan
hệ sản xuất chứ không có nghĩa xoá bỏ hoàn toàn kinh tế NQD. Nhưng muốn quan
hệ sản xuất TBCN không trở thành thống trị trong nền kinh tế của xã hội thì không
phải bằng con đường bóp nghẹt như đã làm trước đây, mà phải bằng cách xoá bỏ
dần dần bằng sự tác động của các nhân tố khác trong đó kinh tế nông nghiệp là quan
trọng nhất.
Vậy sự tồn tại khách quan của khu vực kinh tế NQD trong thời kỳ quá độ đã
được khẳng định và nó tiếp tục phát triển trong nền kinh tế thị trường, kinh tế NQD
là thành phần kinh tế không thể thiếu được và đóng vai trò ngày càng quan trọng
đối với nền kinh tế quốc dân. Hiện nay nước ta đang trong quá trình chuyển đổi
sang nền kinh tế thị trường, một số định kiến xã hội trước đây đối với khu vực kinh
tế NQD vẫn còn khá nặng nề. Khuôn khổ pháp luật để phát triển kinh tế NQD đang
xây dựng, chưa hoàn chỉnh. Song từ khi có Luật Doanh nghiệp (DN) có hiệu lực,
môi trường kinh doanh đã bước đầu được cải thiện, các loại giấy phép bất hợp lý đã
được xoá bỏ, nhiều doanh ngiệp đã phát huy được tính chủ động sáng tạo, tận dụng
được hết năng lực vốn có và tăng vốn đầu tư, mở rộng địa bàn để phát triển sản
xuất, kinh doanh...
Vậy định hướng đi lên XHCN, bỏ qua chế độ TBCN tất yếu khách quan phải
trải qua thời kỳ quá độ bên cạnh đó khẳng định sự tồn tại tất yếu khách quan của
kinh tế NQD và xu hướng nền kinh tế này phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh
tế của đất nước trong thời nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.
2. Vai trò của khu vực kinh tế NQD trong nền kinh tế
Khu vực kinh tế NQD bao gồm các doanh nghiệp NQD (Công ty TNHH, công ty
Cổ phần, công ty Hợp danh, doanh nghiệp tư nhân) và các hộ cá nhân có hoạt động
sản xuất kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trường, kinh tế NQD là thành phần kinh
tế không thể thiếu và đóng vai trò ngày càng mạnh mẽ, tương xứng với tiềm năng
và đóng góp xứng đáng vào sự tồn tại vào sự phát triển nền kinh tế thị trường theo
định hướng XHCN đòi hỏi Nhà nước phải có các chính sách, điều kiện thuận lợi để

khu vực này phát huy được vai trò của mình trong tình hình kinh tế hiện nay.
2.1. Khu vực kinh tế NQD phát triển góp phần làm tăng của cải vật chất cho xã hội,
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Nước ta là nước có nền kinh tế đang trên đà phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nhiều thành phần do vậy mục tiêu phát triển kinh tế là hàng đầu. Khu vực kinh tế
NQD là khu vực có nhiều đặc điểm thuận lợi cho quá trình làm tăng của cải vật chất
cho xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế như là: khu vực thu hút nhiều lao động, đối
tượng hoạt động rộng tạo thuận lợi cho việc phát triển kinh tế ở mọi nơi trong nước
rút ngắn khoảng cách về thu nhập giữa thành thị và nông thôn, đồng thời góp phần
khai thác những tiềm năng to lớn của nền kinh tế như tài nguyên, sức lao động, thị
trường...mà vẫn chưa được khai thác một cách hiệu quả. Bên cạnh đó do đặc thù rất
linh hoạt, nhanh nhậy trong sản xuất để thu lợi nhuận cao nhất nên khu vực này có
khả năng phát huy nội lực, mở rộng sản xuất kinh doanh phù hợp với nhu cầu của
thị trường. Vậy khu vực kinh tế NQD là khu vực có vai trò hết sức quan trọng đồng
thời là khu vực góp phần vào việc thực hiện các chỉ tiêu về tăng trưởng kinh tế do
Nhà nước đề ra.
2.2. Khu vực kinh tế NQD phát triển góp phần giải quyết công ăn việc làm cho
người lao động
Nước ta là nước có dân số hơn 80 triệu dân, do đó đối tượng lao động là rất lớn.
Vấn đề thất nghiệp được đặt ra cần được giải quyết. Trong khi khu vực kinh tế Nhà
nước và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài luôn đòi hỏi lao động phải có
văn hóa, trình độ kỹ thuật nhất định thì mới có thể làm việc trong khu vực trên dẫn
đến một khối lượng lớn lao động đang ở tuổi lao động không thể làm việc ở trong
hai khu vực này. Vậy điều đáng nói ở đây là so với 2 khu vực trên thì khu vực kinh
tế NQD có vai trò thu hút nhiều thành phần lao động, từ những lao động có trình độ
cao đến những lao động thủ công, từ những hợp đồng ngắn hạn đến những hợp
đồng dài hạn, theo mùa vụ hoặc theo thời gian nhất định... Do đó khu vực này góp
phần giải quyết thất nghiệp và tạo ra sự phát triển cân đối cho nền kinh tế.
2.3. Khu vực kinh tế NQD phát triển tạo cho ngân sách có nguồn thu ổn định
và ngày càng tăng

Trước hết phải khẳng định các khoản nộp ngân sách của khu vực kinh tế NQD mới
đúng bản chất là “thuế”. Vì khác với các doanh nghiệp Nhà nước, Nhà nước không
phải chủ sở hữu tư liệu sản xuất, Nhà nước thu thuế của khu vực này mà không phải
đầu tư trực tiếp vào khu vực này. Nguồn thu từ khu vực này rất lớn ngày càng tăng
và được dùng chủ yếu để đầu tư vào các ngành nghề kinh tế mũi nhọn, xây dựng cơ
sở hạ tầng, hỗ trợ các ngành kinh tế yếu kém...đồng thời khu vực này còn tham gia
đóng góp tài chính cho đất nước nhiều hơn nữa thông qua các hoạt động tự nguyện
hưởng ứng các phong trào do Nhà nước, đoàn thể phát động như ủng hộ đồng bào
bị lũ lụt, thương binh, gia đình liệt sĩ, xây dựng trường học, đường xá đóng góp vào
các quỹ an ninh, đền ơn đáp nghĩa....Vậy khu vực kinh tế NQD có vai trò điều hoà
thu nhập và đóng góp vào ngân sách Nhà nước rất lớn.
2.4. Khu vực kinh tế NQD phát triển góp phần tăng vốn đầu tư cho xã hội
Khu vực này tạo ra một thị trường vốn tín dụng lớn và hứa hẹn nhiều tiềm năng cho
sự phát triển của các ngân hàng ở nước ta do sự đổi mới kinh tế, nhờ chính sách
phát triển kinh tế nhiều thành phần nên khu vực NQD đã hình thành và huy động
một lượng vốn đầu tư lớn cho xã hội. Đây là một nguồn vốn quan trọng, song khai
thác chưa hiệu quả. Bên cạnh đó khu vực kinh tế NQD càng phát triển thì nhu cầu
về vốn ngày càng gia tăng và có mối quan hệ mật thiết với các ngân hàng, đóng góp
vào sự lớn mạnh của hệ thống ngân hàng trong công tác huy động vốn.
2.5. Ngoài những vai trò trực tiếp nêu trên, khu vực kinh tế NQD tồn tại và phát
triển còn có tác dụng trên nhiều mặt sau
- Khu vực NQD phát triển thoả mãn một phần nhu cầu tiêu dùng xã hội, giúp cho
Nhà nước trong điều kiện vốn còn hạn hẹp, có thể tập trung đầu tư vào những ngành
nghề mũi nhọn, có tác dụng đến toàn bộ nền kinh tế và đời sống xã hội, tránh đầu tư
phân tán, dàn trải...Thực tiễn cho thấy có khu vực này nhiều ngành nghề, mặt hàng
và lĩnh vực kinh doanh Nhà nước không cần phải đầu tư hoặc chỉ đầu tư có hạn còn
về cơ bản khu vực kinh tế NQD đã đảm đương các chức năng bán lẻ các mặt hàng
tiêu dùng và tổ chức các dịch vụ tiêu dùng cho xã hội, đặc biệt ở địa bàn nông thôn
và miền núi.
- Khu vực kinh tế NQD tồn tại và phát triển góp phần thúc đẩy sự hình thành và

phát triển kinh tế hàng hóa, tạo ra sự cạnh tranh sống động trên thị trường, thúc đẩy
kinh tế Nhà nước tăng cường hạch toán kinh doanh, đổi mới công nghệ, nâng cao
năng lực sản xuất, hạ giá thành sản phẩm. Trước đây trong điều kiện chỉ có kinh tế
quốc doanh và kinh tế hợp tác, sản phẩm hàng hóa dù sản xuất ra với bất kỳ chất
lượng nào, giá cả ra sao đều được tiêu thụ. Nhưng từ khi có kinh tế NQD với đặc
điểm tư hữu cao, khu vực này rất linh hoạt năng động với tinh thần trách nhiệm rất
cao trong sản xuất, tìm kiếm thị trường đồng thời luôn tập trung cao độ tinh thần
làm việc, phát huy mọi khả năng sẵn có của mình. Để cạnh tranh với khu vực NQD
thì buộc khu vực kinh tế quốc doanh phải cải tiến hàng hoá sản xuất ra nếu không sẽ
không được thị trường chấp nhận. Bên cạnh sự cạnh tranh đó thì nếu hai khu vực
này không còn hợp tác, thúc đẩy nhau để sản phẩm sản xuất ra được hoàn thiện với
chất lượng cao hơn. Vậy hợp tác và cạnh tranh chính là động lực thúc đẩy sự phát
triển của hai khu vực kinh tế này.
- Khu vực kinh tế NQD hình thành và phát triển còn tác động cả vào cơ chế quản lý
làm thay đổi phương thức quản lý sản xuất kinh doanh, thay đổi tác phong, lề lối
làm việc của cán bộ công chức nhà nước, của người lao động.
Trước hết đối với các cơ quan quản lý và cán bộ công chức Nhà nước, phát triển
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, cơ chế quản lý tập trung bao cấp không còn
thích hợp nữa vì Nhà nước không thể ra lệnh cho các đơn vị kinh tế NQD phải sản
xuất cái gì, phải bán theo giá quy định, mà cho quy luật giá trị, do thị trường do nhu
cầu xã hội quyết định. Với khu vực kinh tế NQD các cơ quan quản lý, công chức
Nhà nước không thể can thiệp vào quá trình sản xuất kinh doanh của họ. Đây chính
là những tiền đề đặt ra cần phải đổi mới cơ chế quản lý và phải luôn hoàn thiện cơ
chế quản lý của nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.
Phát triển khu vực kinh tế NQD cũng có tác động và làm thay đổi ý thức, tác phong
làm việc của công chức các cơ quan quản lý Nhà nước. Vì khu vực kinh tế NQD
toàn bộ vốn và tài sản thuộc sở hữu tư nhân, họ có quyền quyết định phương án sản
xuất kinh doanh và chỉ chịu sự quản lý của Nhà nước thông qua pháp luật. Cán bộ
công chức Nhà nước không có quyền can thiệp vào công việc kinh doanh của họ.
Quan hệ giữa đơn vị kinh tế NQD và công chức Nhà nước là quan hệ bình đẳng

trước pháp luật.
Đối với người lao động và những người quản lý sản xuất kinh doanh, câu hỏi đặt ra
là làm sao thu được lợi nhuận cao nhất. Muốn vậy phải cải tiến sản xuất, kinh
doanh, nâng cao trình độ chuyên môn để sản xuất ra hàng hoá chất lượng cao, giá
thành hạ.
Quan hệ giữa người bán hàng dịch vụ và người mua hàng dịch vụ được thay đổi từ
quan niệm “bán như cho” thời bao cấp bằng quan niệm coi “khách hàng là thượng
đế” đã được hình thành.
Khu vực kinh tế NQD phát triển tác động cả vào các cơ quan quản lý trong việc
hoạch định chính sách và cải cách hành chính.
Vậy chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần trong đó vai trò của khu vực
kinh tế NQD đã đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn và phản ánh đúng quy luật khách
quan của thời kỳ qua độ. Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng
6/1991) đã đánh giá: “Chính sách này được nhân dân hưởng ứng rộng rãi và đã đi
nhanh vào cuộc sống chính sách ấy đã góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân
dân về kinh tế, khơi dậy được nhiều tiềm năng va sức sáng tạo của nhân dân để phát
triển sản xuất, dịch vụ, tạo việc làm và sản phẩm cho xã hội, thúc đẩy sự hình thành
và phát triển nền kinh tế hàng hoá, tạo ra sự cạnh tranh sống động trên thị trường”.
Ngoài ra góp phần vào phát triển và tăng trưởng kinh tế ngoài quốc doanh có sự
tham giam tích cực của các cơ quan quản lý trong việc hoạch định chính sách và cải
cách hành chính đồng thời Nhà nước đã ban hành 51 luật, pháp lệnh và các Nghị
định, quyết định, chỉ thị của Chính phủ điều chỉnh và quản lý mọi hoạt động kinh tế
xã hội của đất nước nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển và lành
mạnh hoá các quan hệ kinh tế xã hội.
3. Quan điểm của Đảng ta về phát triển kinh tế NQD và các chính sách kinh tế của
Nhà nước
3.1.Quan điểm của Đảng về phát triển khu vực kinh tế NQD
Nước ta đi lên CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, các luận điểm của Mác -
Ang ghen - Lênin về thời kỳ quá độ có thể vận dụng vào nước ta vì giai đoạn này là
giai đoạn Nhà nước của giai cấp công nhân đang đảm nhận nhiệm vụ lịch sử phát

triển sức sản xuất, một nhiệm vụ đáng lẽ ra giai cấp tư bản phải làm. Mặt khác do
lực lượng sản xuất phát triển không đồng đều giữa các ngành, các vùng, vì vậy tất
yếu tồn tại kinh tế NQD.
Tuy nhiên để có được nhận thức đúng đắn về sự tồn tại của các thành phần kinh tế
trong thời kỳ quá độ không phải là dễ dàng, đã có thời kỳ ta chủ trương sớm xoá bỏ
kinh tế NQD bằng làn sóng quốc doanh hóa, hợp tác hoá, tạo nên bức tường ngăn
cách giữa kinh tế XHCN và kinh tế NQD dẫn đến những hậu quả tiêu cực làm cho
tiềm lực kinh tế của đất nước không được khai thác, lực lượng sản xuất bị lãng phí,
kinh tế bị kìm hãm không phát triển được, đời sống nhân dân gặp khó khăn.
Qua đánh giá quá trình cải tạo các thành phần kinh tế và vận dụng luận điểm của
Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta. Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần
thứ VI đã đề ra chủ trương đổi mới toàn diện và sâu sắc để đi tới CNXH một cách
vững chắc. Trọng tâm là đổi mới kinh tế, mà trước hết là đổi mới tư duy kinh tế.
Điều quan trọng là phải nhận thức và tính toán lại hình thức, và bước đi của quá
trình cải tạo XHCN, làm sao để phát huy được sức mạnh của các thành phần kinh tế
trong công cuộc xây dựng đất nước giầu mạnh và cái đích vẫn là CNXH. Từ những
phê bình về những biểu hiện nóng vội muốn xoá bỏ ngay các thành phần kinh tế phi
XHCN, từ thực tế của đất nước và vận dụng quan điểm của Lênin coi nền kinh tế
nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ, Đảng ta đã đề ra chính sách
sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế khác. Đại hội đại biểu Đảng
toàn quốc lần thứ VI đã chỉ ra nhiệm vụ đẩy mạnh cải tạo XHCN là một nhiệm vụ
thường xuyên, liên tục trong suốt thời kỳ quá độ đi lên CNXH với những bước đi
thích hợp làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng
sản xuất. Cần phải “phát huy tác dụng tích cực của cơ cấu kinh tế nhiều thành
phần”.
Đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần còn được tiếp tục xác định tại Đại hội
Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VII, VIII, IX. Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng
CSVN lần IX khẳng định.
“Kinh tế cá thể ở nông thôn và thành thị có vị trí quan trọng lâu dài. Nhà nước tạo
điều kiện và giúp đỡ để phát triển, khuyến khích các hình thức HTX tự nguyện làm

vệ tinh cho các doanh nghiệp phát triển lớn hơn, khuyến khích phát triển kinh tế tư
nhân rộng rãi, trong những ngành nghề sản xuất kinh doanh mà pháp luật không
cấm. Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để kinh tế NQD
phát triển trên những hướng ưu tiên của Nhà nước.”
Ngoài ra còn nêu rõ ở nước ta hiện nay có các thành phần kinh tế sau:
+ Kinh tế tư bản Nhà nước.
+ Kinh tế cá thể, tiểu chủ.
+ Kinh tế tư bản tư nhân.
+ Kinh tế Nhà nước.
+ Kinh tế Hợp tác.
Thành phần kinh tế Nhà nước: là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu nhà
nước về tư liệu sản xuấtchủ yếu, gồm những đơn vị kinh tế mà toàn bộ số vốn thuộc
về Nhà nước hoặc phần của Nhà nước chiếm phần khống chế.
Kinh tế quốc doanh hiện nay vẫn giữ vững vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nước
ta, được hình thành do Nhà nước đầu tư xây dựng các cơ sở kinh tế trong tất cả các
ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, ngoài ra còn được hình thành bằng
con đường quốc hữu hoá các xí nghiệp tư nhân.
Thành phần kinh tế tập thể: là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tập thể, gồm các
dơn vị kinh tế do nhũng người lao động tự nguyện góp vốn, góp sức kinh doanh
theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, bình đẳng và cùng có lợi.
Hợp tác xã là hình thức chủ yếu của nền kinh tế tập thể, bao gồm hợp tác xã nông
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, hợp tác xã mua bán, tín dụng. Những loại hình hợp tác
xã trên được hình thành với quy mô và mức độ khác nhau phù hợp với sự phát triển
của lực lượng sản xuất, yêu cầu của sản xuất và đời sống. Xu hướng vận động và
phát triển của kinh tế tập thể theo hướng kinh thành những cơ sở, tổ hợp kinh tế
công nông nghiệp để đi lên sản xuất lớn.
Thành phần kinh tế tư bản tư nhân: là thành phần kinh tế dựa trên chế độ tư hữu tư
bản chủ nghĩa và bóc lột lao động làm thuê, mặc dù không còn nguyên nghĩa như xã
hội cũ. Nó tồn tại trong những ngành có lợi trong quốc kế dân sinh, được Nhà nước
khuyến khích, kiểm soát và hướng theo con đường kinh tế tư bản Nhà nước.

Thành phần này bao gồm các đơn vị kinh tế phần lớn vốn của tư nhân (cả trong và
ngoài nước) đầu tư, hoạt động dưới hình thức xí nghiệp tư doanh, hoặc công ty cổ
phần được luật pháp quy định. Thành phần này có ưu điểm mạnh về vốn, kỹ thuật,
công nghệ, kinh nghiệm và trình độ quản lý. Nó có vai trò to lớn trong việc phát
triển lực lượng sản xuất, giải quyết việc làm, tăng thu nhập kinh tế quốc dân, nâng
cao đời sống.
Thành phần kinh tế cá thể: là thành phần kinh tế dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu
sản xuất và lao động của bản thân người sản xuất.
Đặc điểm cơ bản của thành phần kinh tế này là tư liệu sản xuất và sức lao động
được kết hợp trực tiếp bởi cùng một chủ thể. Mặc dù người sản xuất được tự do sản
xuất kinh doanh, nhưng vẫn chịu tác động trực tiếp của các thành phần kinh tế khác
và của thị trường. Trong suốt thời kỳ quá độ, đặc biệt chặng đường đầu, thành phần
kinh tế cá thể có vai trò rất quan trọng trong việc sản xuất dịch vụ, tư liệu sinh hoạt
phục vụ đời sống và sản xuất. Kinh tế cá thể tồn tại độc lập, có thể liên doanh liên
kết với các đơn vị kinh tế của các thành phần kinh tế khác bằng nhiều hình thức,
hoặc tham gia hợp tác xã tự nguyện nếu người lao động thấy cần thiết.
Thành phần kinh tế tư bản Nhà nước: là thành phần kinh tế mà chủ thể của nó là tư
bản Nhà nước cùng góp vốn để hoạt động sản xuất kinh doanh; gồm các đơn vị kinh
tế ở các ngành, các lĩnh vực dưới các hình thức công ty hợp doanh, gia công, thuê
tài sản...Có thể khẳng định rằng trong thời kỳ quá độ, đây là hình thức kinh tế trung
gian thích hợp nhất để chuyển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn ở nước ta.
Các thành phần kinh tế cơ bản trên tồn tại trên cơ sở ba loại sở hữu chủ yếu: sở hữu
Nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân. Ngoài ra, còn có những hình thức tổ
chức kinh tế hoạt động không thuộc thành phần kinh tế nào như hình thức kinh tế
hỗn hợp nhiều loại sở hữu công ty, xí nghiệp cổ phần, liên doanh, liên kết hai bên
và nhiều bên giữa các chủ thể, giữa các thành phần kinh tế trong và ngoài nước.
Trên giác độ nghiên cứu, có thể phân chia khu vực kinh tế trong nước thành hai khu
vực nhỏ hơn: khu vực kinh tế quốc doanh và khu vực kinh tế ngoài quốc doanh cho
phù hợp với những thuật ngữ đang được sử dụng phổ biến trong nhiều văn bản của
Nhà nước và trong các cuộc hội thảo.

Điểm khác biệt căn bản giữa thành phần kinh tế quốc doanh (KTQD) và thành phần
kinh tế NQD là tính chất sở hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu. Kinh tế quốc doanh
dựa trên sở hữu của Nhà nước, kinh tế ngoài quốc doanh dựa trên sở hữu tư nhân,
sở hữu tập thể, sở hữu hỗn hợp giữa tư nhân với tập thể hay giữa các tư nhân với
nhau. Đảng và Nhà nước ta qua các kỳ Đại hội đã khẳng định kinh tế quốc doanh
giữ vai trò chủ đạo, kinh tế ngoài quốc doanh giữ vai trò mở đuờng cho sự nghiệp
phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.
3.2.Các chính sách kinh tế của Nhà nước để phát triển kinh tế NQD
Quán triệt đường lối đổi mới kinh tế của Đảng nêu tại đại hội Đảng Cộng sản Việt
nam lần thứ VI, lần thứ VII, lần thứ VIII và Nghị quyết các hội nghị Trung ương.
Nhà nước đã nhanh chóng cụ thể hóa thành những chính sách cụ thể và luật hoá để
thực hiện. Trước hết cần phải được thể chế thành điều luật trong hiến pháp, điều 15
Hiến pháp năm 1992 đã qui định “ Nhà nước phát triển kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng
XHCN. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh
doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân,
trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng”.
Về kinh tế NQD, điều 21 Hiến pháp năm1992 qui định: “kinh tế ngoài quốc doanh
được chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp
không bị hạn chế về qui mô hoạt động trong những ngành nghề có lợi cho quốc kế
dân sinh”. Mục đích chính sách kinh tế của Nhà nước là làm cho dân giàu, nước
mạnh đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân. Chính
sách kinh tế của Nhà nước còn nhằm giải phóng năng lực sản xuất, phát huy mọi
tiềm năng của các thành phần kinh tế thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước.
Bằng các qui định của Hiến pháp, Nhà nước và xã hội đã chính thức thừa nhận sự
tồn tại của nền kinh tế NQD trong thời kỳ quá độ. Tuy nhiên, nếu chỉ công nhận khu
vực kinh tế NQD tồn tại thôi thì chưa đủ mà cần phải định hướng cho khu vực kinh
tế NQD phát triển theo đúng đường lối của Đảng, đúng mục đích đã định ra không
để kinh tế NQD phát triển tự phát, chệch hướng. Vì vậy cần tiếp tục thể chế đường

lối của Đảng, Hiến pháp thành những chính sách cụ thể. Trong những năm qua Nhà
nước đã nghiên cứu, ban hành các chính sách cụ thể tạo hành lang pháp lý cho kinh
tế NQD phát triển, đồng thời liên tục chỉnh lý cho các chính sách thật phù hợp với
đời sống thực tiễn, khơi dậy mọi tiềm năng của khu vực kinh tế này. Trong các
chính sách đó đáng chú ý là:
- Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp tư nhân được Quốc hội thông qua năm 1990 và
được thay thế bằng Luật doanh nghiệp được Quốc hội khoá X thông qua ngày
16/6/1999 và thống nhất thực hiện từ 1/1/2000.
- Luật doanh nghiệp ra đời qui định việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động
của các doanh nghiệp. Từ Luật công ty, Luật doanh nghiệp tư nhân nay là Luật
doanh nghiệp (Bao gồm các công ty Cổ phần, công ty TNHH, công ty Hợp doanh
và Doanh ngiệp tư nhân) vừa thể hiện được tính nhất quán của Đảng và Nhà nước
ta, vừa thể hiện sự phát triển về nhận thức và hành động nhằm khuyến khích phát
triển khu vực kinh tế này. So với Luật công ty, Luật doanh nghiệp tư nhân ban hành
trước đây, Luật doanh nghiệp mới có nhiều sửa đổi bổ xung cho phù hợp với thực
tiễn cuộc sống, tạo môi trường thoáng cho doanh nghiệp thành lập và hoạt động nên
tuy mới chỉ sau một vài năm đã phát huy những tác dụng to lớn.
- Nghị định của Chính phủ về cá nhân và nhóm cá nhân kinh doanh công thương
nghiệp dịch vụ: qui định về đăng ký kinh doanh, tổ chức quản lý và hoạt động của
cá nhân và nhóm cá nhân kinh doanh có vốn thấp hơn vốn pháp định để thành lập
doanh nghiệp. Theo Nghị định này mọi cá nhân, nhóm cá nhân có nguyện vọng sản
xuất kinh doanh chỉ thực hiện thủ tục khai báo đơn giản, cơ quan quản lý Nhà nước
có trách nhiệm phải cấp đăng ký kinh doanh, nếu cá nhân và nhóm cá nhân kinh
doanh những ngành nghề không thuộc loại cấm.
- Ban hành các luật thuế xuất nhập khẩu, thuế doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế
lợi tức - sau này thuế doanh thu thay thế bằng thuế gía trị gia tăng, thuế lợi tức thay
bằng thuế thu nhập doanh nghiệp, được áp dụng thống nhất cho các thành phần kinh
tế.
Việc ban hành các luật thuế áp dụng cho mọi thành phần kinh tế là sự thể hiện rõ
nét nhất tính chất bình đẳng của các thành phần kinh tế trong cạnh tranh. Trước năm

1990 nhằm phục vụ công cuộc cải tạo XHCN, Nhà nước ta áp dụng ba chính sách
thu ngân sách cho ba khu vực khác nhau: Khu vực kinh tế Nhà nước áp dụng chính
sách thu quốc doanh và phân phối lợi nhuận, khu vực công thương nghiệp và dịch
vụ NQD áp dụng chính sách thu thuế công thương nghiệp và thuế hàng hoá, khu
vực nông nghiệp áp dụng chính sách thu thuế nông nghiệp. Ngay khu vực ngoài
quốc doanh công thương nghiệp và dịch vụ cũng có sự phân biệt giữa kinh tế tập thể
và kinh tế cá thể, theo khuynh hướng khuyến khích kinh tế tập thể bằng ưu đãi khi
tính thuế, miễn giảm thuế...
Để phù hợp với chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế
thị trường, cần phải có một chính sách thuế thống nhất để tạo điều kiện cạnh tranh
công bằng và bình đẳng. Do đó việc ban hành các luật thuế áp dụng chung cho mọi
cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế là kịp thời và cần thiết. Về
nguyên tắc chung, hệ thống chính sách thuế mới đã đảm bảo sự điều tiết vĩ mô của
Nhà nước, khuyến khích sản xuất phát triển, hướng dẫn tiêu dùng hợp lý.
- Ban hành luật khuyến khích đầu tư trong nước, thể hiện cụ thể về chủ trương của
Đảng và Nhà nước khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi người dân bỏ vốn sản
xuất kinh doanh. Trong luật khuyến khích đầu tư trong nước cũng ban hành luôn
các danh mục ngành nghề, danh mục các địa bàn khuyến khích đầu tư và chính sách
ưu đãi cụ thể đối với từng ngành nghề và từng địa bàn. Trong đó đặc biệt là các
chính sách ưu đãi miễn giảm thuế được các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế
NQD quan tâm và hoan nghênh.
Ngoài ra các chính sách về tín dụng như áp dụng chung một mức lãi suất, chính
sách về xuất nhập khẩu quy định mọi cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành
phần kinh tế đều được tham gia trực tiếp xuất nhập khẩu, chính sách về lao động
quy định mọi công dân đến tuổi lao động ở mọi hình thức, mọi thành phần kinh tế
đều có quyền lợi ngang nhau, chính sách về tiền lương cũng được ban hành mới và
sửa đổi, bổ xung cho phù hợp với chủ trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần. Đồng thời Nhà nước cũng chỉ đạo mạnh mẽ việc cải tiến thủ tục hành
chính tạo môi trường sản xuất kinh doanh, môi trường đầu tư lành mạnh, thông
thoáng đã góp phần quyết định cho sự tồn tại và phát triển của khu vực kinh tế

ngoài quốc doanh.
4. Đặc điểm của khu vực kinh tế NQD tác động đến quản lý thu thuế
- Các thành phần kinh tế thuộc khu vực kinh tế NQD dựa trên quan hệ sở hữu tư
nhân, toàn bộ vốn, tài sản... đều thuộc sở hữu tư nhân. Trong hầu hết trường hợp
chủ sở hữu là người quản lý và ra quyết định kinh doanh và chịu toàn bộ trách
nhiệm về kết quả kinh doanh. Mục tiêu lớn nhất của tất cả các doanh nghiệp NQD
là lợi nhuận. Vì vậy các doanh nghiệp rất nhanh nhậy trong tìm hiểu đầu tư và đầu
tư có thể sẵn sàng bằng bất cứ giá nhào để kiếm được thật nhiều lợi nhuận với
những phương án kinh doanh rất táo bạo và mạo hiểm. Đôi khi để đạt được mục
đích họ có thể xem thường pháp luật kể cả trốn thuế... gây hậu quả cho xã hội.
- Đối tượng kinh doanh lớn, kinh doanh ở tất cả các lĩnh vực nhưng về mặt
quy mô còn nhiều hạn chế, một số hoạt động ở lĩnh vực sản xuất do trình độ công
nghệ lạc hậu nên năng suất lao động thấp... Đối tượng kinh doanh vừa lớn lại trải
trên diện rộng ở khắp các địa phương trong cả nước làm cho việc quản lý đối tượng
thêm phức tạp.
- Khu vực kinh tế NQD có số đông người lao động là trình độ văn hoá thấp
dẫn đến trình độ quản lý, trình độ công nghệ thấp trong số những người lao động ở
khu vực này có cả những người già, cán bộ công nhân viên nghỉ hưu, nghỉ mất sức
hoặc không có công việc làm phải kinh doanh để kiếm sống... Do đó việc tuyên
truyền giải thích chính sách gặp nhiều vấn đề khó khăn, công tác quản lý có nhiều
trở ngại do hạn chế về khả năng ngoại ngữ, thiếu thông tin về thị trường... vì vậy
khó ứng phó được với tác động thị trường bên ngoài.
- Khu vực kinh tế NQD có ý thức chấp hành pháp luật rất kém. Tình trạng
kinh doanh không có giấy phép hay vi phạm điều lệ đăng ký kinh doanh tương đối
phổ biến. Theo số liệu điều tra liên ngành thì năm 1997 có 65% số hộ kinh doanh là
không đăng ký, 25% số doanh nghiệp kinh doanh vi phạm về đăng ký kinh doanh...
Đa số doanh nghiệp có sử dụng lao động vi phạm chế độ sử dụng lao động như
không đóng bảo hiểm xã hội...Cũng tương tự như trên có 1 bộ phận không nhỏ số
hộ kinh doanh không xin cấp mã số thuế, không đăng ký nộp thuế đối với các doanh
nghiệp NQD cũng có tình trạng tương tự, nhiều doanh nghiệp xin thành lập nhưng

không hoạt động, còn tình trạng lập sổ sách kế toán, hoá đơn, chứng từ không đúng
thực tế nhằm mục đích trốn thuế diễn ra phổ biến.
- Khu vực kinh tế NQD có mô hình tổ chức quản lý và kinh doanh gọn nhẹ, năng
động và nhậy bén, là khu vực chiếm phần đông trong nền kinh tế song quy mô nhỏ
do vốn ít, cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, linh hoạt, dễ dàng thích ứng nhanh với sự biến
động của thị trường và sự tiến bộ không ngừng khoa học kỹ thuật, đồng thời trong
các doanh nghiệp số lượng lao động ít và thường đảm nhận chức vụ theo kiểu đa
năng giúp cho chi phí nhân công thấp tạo lợi thế cạnh tranh về giá và sản phẩm
cung cấp cho thị trường trong nước nhưng do quy mô quá nhỏ bé dẫn đến khó cạnh
tranh được trên thị trường quốc tế.
Trên đây là một số đặc điểm cơ bản của các thành phần kinh tế NQD. Từ đó ta có
thể thấy được những ưu, nhược điểm để tìm cách tạo điều kiện phát huy thế mạnh
cho khu vực kinh tế NQD góp phần vào quá trình hội nhập và phát triển kinh tế đất
nước.
ii. Nội dung quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế NQD
1. Các sắc thuế áp dụng đối với khu vực kinh tế NQD
1.1. Thuế môn bài
Thuế môn bài thu một năm một lần nhằm mục đích hoàn thiện việc kiểm kê, kiểm
soát của Nhà nước đối với các cơ sở kinh doanh qua đó có căn cứ phân loại cơ sở
kinh doanh theo quy mô lớn, vừa hay nhỏ để có biện pháp quản lý thích hợp với
từng đơn vị và động viên một phần đóng góp của cơ sở kinh doanh ngay từ đầu mỗi
năm để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho ngân sách Nhà nước trong khi nhiều khoản
thuế chưa phát sinh nguồn thu. Thuế môn bài hiện nay đang áp dụng theo Nghị
định số 52/CP ngày 9/9/1996 quy định:
- Về đối tượng nộp thuế môn bài bao gồm:
+ Các cơ sở kinh doanh hạch toán kinh tế độc lập (DNNN, công ty, DN tư nhân, xí
nghiệp tư nhân, DN hoạt động theo luật đầu tư nước ngoài, tổ chức, các cá nhân
người nước ngoài đang kinh doanh tại Việt nam, các tổ chức hành chính sự nghiệp,
đoàn thể đăng ký hoạt động kinh tế) nộp thuế theo mức 850 nghìn đồng/năm.
+ Các cơ sở kinh doanh, cửa hàng, cửa hiệu hạch toán phụ thuộc hoặc báo sổ, Hợp

tác xã, nộp thuế môn bài theo mức 550 nghìn đồng/ năm
+ ở các cơ sở kinh doanh trên có cửa hàng, điểm kinh doanh dịch vụ ở nhiều nơi
khác nhau, thì cửa hàng đó phải nộp thuế môn bài theo mức 325 nghìn đồng/năm.
- Các đối tượng khác nộp thuế môn bài theo biểu sau.
Các đối tượng khác gồm:
+ Hộ sản xuất kinh doanh cá thể.
+ Cán bộ công nhân viên, xã viên hợp tác xã, người lao động trong các doanh
nghiệp NQD nhận khoán tự trang trải mọi khoản chi phí, tự chịu trách nhiệm về kết
quả sản xuất kinh doanh.
+ Nhóm cán bộ công nhân viên, nhóm xã viên Hợp tác xã, nhóm người lao động
nhận khoán nhưng từng cá nhân trong nhóm nhận khoán lại kinh doanh riêng rẽ,
từng cá nhân trong nhóm còn phải nộp thuế môn bài riêng.
+ Các cơ sở kinh doanh trên danh nghĩa là các công ty Cổ phần, công ty
TNHH...nhưng từng thành viên của công ty vẫn kinh doanh độc lập chỉ nộp một
khoản tiền nhất định cho công ty để phục vụ yêu cầu quản lý chung thì thuế môn bài
thu theo từng thành viên.

Bảng 1: Biểu thuế môn bài áp dụng cho đối tượng khác nộp thuế
1 Trên 1250 850
2 Trên 900 đến 1250 550
3 Trên 600 đến 900 325
4 Trên 350 đến 600 165
5 Trên 150 đến 350 60
6 Dưới 150 25
Nguồn: Thông tư số 69 TC/TCT - Bộ Tài chính ngày 5/11/1996
- Thời gian nộp thuế môn bài:
+ Cơ sở kinh doanh có hoạt động sản xuất trong khoảng thời gian của 6 tháng đầu
năm thì nộp thuế môn bài cả năm.
+ Cơ sở kinh doanh có hoạt động sản xuất trong khoảng thời gian của 6 tháng cuối
năm thì nộp 50% mức thuế cả năm.

+ Cơ sở đang sản xuất kinh doanh thì nộp thuế môn bài ngay tháng đầu của năm
dương lịch
+ Cơ sở mới ra kinh doanh thì nộp thuế môn bài ngay tháng bắt đầu kinh doanh.
- Nơi nộp thuế môn bài:Cơ sở kinh doanh đăng ký nộp thuế với cơ quan thuế cấp
nào thì nộp thuế môn bài tại cơ quan thuế cấp đó.
1.2. Thuế Giá trị gia tăng (GTGT).
Luật thuế GTGT thay thế luật doanh thu được áp dụng thống nhất kể từ 1/1/1999.
Thuế GTGT tính từ trên khoản GTGT thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh ở từng
khâu trong quá trình sản xuất, lưu thông, tiêu dùng nên khắc phục được nhược điểm
đánh thuế trùng lặp của thuế doanh thu. Thuế được hoàn đối với hàng hóa xuất khẩu
sẽ phát huy hết tác dụng khi xuất khẩu, tạo điều kiện cho xuất khẩu có thể cạnh
tranh trên thị truờng quốc tế. Thuế GTGT kết hợp với hàng nhập khẩu làm tăng giá
vốn đối với hàng nhập khẩu, góp phần tích cực bảo vệ hàng hóa sản xuất trong nước
tăng cường hạch toán kế toán kinh doanh, thúc đẩy việc mua bán hàng hóa thực
hiện tốt chế độ hóa đơn để được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, khuyến khích hiện
đại hoá, chuyên môn hóa sản xuất, nâng cao chất lượng, hạ gía thành sản phẩm...
- Đối tượng đánh thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng ở nước ta kể cả hàng
hoá sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu, hàng tiêu dùng nội bộ hay làm quà
biếu, tặng, đem trao đổi trừ 26 mặt hàng được quy định trong luật thuế GTGT.
- Đối tượng nộp thuế là mọi tổ chức, cá nhân (không phân biệt thành phần kinh tế)
có hoạt động sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ. Đối tượng
phải kê khai thuế GTGT từng tháng và nộp thuế theo hạn thời hạn ghi trong báo cáo
nộp thuế của cơ quan thuế, chậm nhất không quá ngày 25 của tháng tiếp theo. Hết
năm phải kê khai để quyết toán thuế.
- Giá tính thuế GTGT là giá chưa có thuế GTGT. Khi bán hàng hoá hay cung cấp
dịch vụ trên hoá đơn phải ghi rõ giá bán hàng chưa có thuế GTGT, tiền thuế GTGT
phải nộp và giá bán gồm cả thuế GTGT.
- Về thuế suất: Có 4 mức thuế suất áp dụng đối với từng loại hàng hoá, dịch vụ.
+ Mức 0% áp dụng cho hàng hoá xuất khẩu.
+ Mức 5% áp dụng đối với hàng hoá và dịch vụ cần khuyến khích sản xuất tiêu

dùng cần thiết cho nhu cầu đời sống.
+ Mức 10% áp dụng đối với các hàng hoá và dịch vụ phổ thông.
+ Mức 20% áp dụng cho các loại hàng hoá, dịch vụ không khuyến khích cần điều
tiết cao
- Về phương pháp có 2 phương pháp: Khấu trừ thuế và tính trực tiếp trên GTGT:
+ Phương pháp khấu trừ thuế được áp dụng đối với mọi cơ sở kinh doanh phải thực
hiện chế độ hoá đơn GTGT và sổ sách kinh doanh, có căn cứ xác định thuế đầu ra
và thuế đầu vào để thực hiện chế độ khấu trừ thuế:
Thuế GTGT = Thuế GTGT đầu ra - Thuế GTGT đầu vào
+ Phương pháp trực tiếp được thực hiện đối với các cơ sở kinh doanh không có điều
kiện thực hiên chế độ sổ sách hoá đơn GTGT, chủ yếu áp dụng đối với các hộ nhỏ,
thuế tính theo tỷ lệ GTGT trên doanh thu khoán trong một thời gian 6 tháng đến
một năm.
Thuế GTGT = GTGT x Thuế suất.
+ Về nguyên tắc: Thuế GTGT là thuế gián thu mà cơ sở kinh doanh đã thu hộ Nhà
nước khi bán hàng nên không có chế độ miễn giảm thuế cho cơ sở kinh doanh. Tuy
nhiên trong bước đầu chuyển từ thuế doanh thu có 11 mức thuế sang thuế GTGT có
4 thuế suất, một số cơ sở kinh doanh phải nộp thuế GTGT cao hơn thuế doanh thu
trong những năm đầu bị lỗ thì được xét giảm thuế GTGT trong từng năm dương
lịch. Thời gian được xét giảm thuế tối đa từ 3 năm kể từ khi luật thuế GTGT tương
ứng với số lỗ của năm xét giảm thuế, nhưng tối đa không quá 50% số thuế GTGT
phải nộp trong năm và theo thêm quyền xét giảm thuế GTGT được quy định cho
từng cấp.
1.3. Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN)
Thuế TNDN thay thế Luật thuế lợi tức được thi hành từ 1/1/1999 nhằm bao quát và
điều tiết tất cả các khoản thu nhập đã, đang và sẽ phát sinh của cơ sở kinh doanh
trong cơ chế thị trường, khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài và khuyến khích
các tổ chức, cá nhân trong nước tiết kiệm vốn cho đầu tư phát triển kinh doanh qua
các chế độ miễn giảm thuế từng bước thu hẹp sự khác biệt về chính sách thuế để
đảm bảo sự bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế, hệ

thống hoá những quy định ưu đãi về thuế.
- Về giá tính thuế:
Điều 7 Nghị định 54 của Chính phủ ngày 28/8/1993 quy định. Giá tính thuế hàng
nhập khẩu là giá mua tại cửa khẩu nhập (bao gồm cả phí vận chuyển, phí bảo
hiểm...) theo hợp đồng. Còn với hàng xuất nhập khẩu không đủ điều kiện xác định
giá tính thuế theo hợp đồng hay giá ghi trên hợp đồng quá thấp so với giá mua bán
tối thiểu tại cửa khẩu và đối với hàng hoá xuất, nhập khẩu theo phương thức khác
không phải là mua, bán, không thanh toán qua ngân hàng) thì giá tính thuế là giá
mua, bán tối thiểu tại cửa khẩu.
- Về chính sách miễn giảm thuế:
Ngoài các đối tượng được miễn giảm thuế sau khi đã làm thủ tục hải quan như:
hàng Viện trợ không hoàn lại, hàng là tài sản di chuyển, hàng trong tiêu chuẩn hành
lý miễn thuế của khách nhập cảnh... Luật thuế xuất, nhập khẩu hiện hành còn quy
định những đối tượng sau được xét miễn giảm thuế: hàng chuyên dùng cho an ninh
quốc phòng, nghiên cứu giáo dục và đào tạo...
Quy định nói trên cho thấy chính sách miễn giảm thuế hiện nay còn khá rộng rãi so
với các nước trong khu vực làm cho chính sách thuế thiếu tính minh bạch, giảm tính
trung lập của thuế.
1.4. Thuế Tiêu thụ đặc biệt (TTĐB)
Như các luật thuế khác, luật thuế TTĐB quy định mọi tổ chức cá nhân không phân
biệt thành phần kinh tế có sản xuất kinh doanh hàng hoá và kinh doanh dịch vụ
thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB là đối tượng nộp thuế TTĐB. Căn cứ tính thuế
TTĐB là giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và thuế suất.
1.5. Các sắc thuế khác
Ngoài các sắc thuế nói trên, các cơ sở sản xuất kinh doanh còn phải nộp các khoản
thuế khác như thuế nhà đất, thuế tài nguyên...Tuy nhiên vì các khoản này không
phát sinh thường xuyên hay rất nhỏ nên không trình bày kỹ mục đích ý nghĩa, nội
dung chính sách thu.
2- Nội dung quản lí thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
2.1 Qui trình quản lí thu thuế đối với các doanh nghiệp

×