Tải bản đầy đủ (.pdf) (134 trang)

nghiên cứu chất lượng cuộc sống của dân cư vùng đông bắc việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.54 MB, 134 trang )


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

i

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM




VŨ BÍCH HẠNH





NGHIÊN CỨU CHẤT LƢỢNG CUỘC SỐNG
CỦA DÂN CƢ VÙNG ĐÔNG BẮC VIỆT NAM

Chuyên ngành: ĐỊA LÝ HỌC
Mã số: 60.31.95


LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ĐỊA LÝ




Người hướng dẫn khoa học: TS. DƢƠNG QUỲNH PHƢƠNG






THÁI NGUYÊN - 2011



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào khác.
Tôi cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Tác giả luận văn

Vũ Bích Hạnh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ii
LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc và tình cảm chân thành nhất, tôi xin bày tỏ lời
cảm ơn tới TS. Dương Quỳnh Phương - Người đã hướng dẫn tận tình, đầy
tâm huyết trong cả quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn
của tôi ngày hôm nay.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong Khoa Địa lý trường

Đại học Sư phạm Thái Nguyên và Đại học Sư phạm Hà Nội, các thầy cô làm
công tác quản lý ở Khoa sau Đại học, Ban Giám hiệu trường Đại học Sư phạm
Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập tại trường.
Xin cảm ơn tới các cơ quan ban ngành đã cung cấp cho tôi những tư
liệu bổ ích để tôi có thể hoàn thành luận văn của mình.
Và cuối cùng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới những người thân, bạn
bè, đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện
đề tài này.

Tác giả luận văn

Vũ Bích Hạnh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iii
MỤC LỤC

Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ, cụm từ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
Danh mục các bản đồ, hình viii
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 4
3.1. Mục tiêu 4

3.2. Nhiệm vụ 4
4. Giới hạn nghiên cứu 5
5. Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu 5
5.1. Các quan điểm nghiên cứu 5
5.2. Phương pháp nghiên cứu 7
6. Đóng góp của luận văn 8
7. Cấu trúc của luận văn 8
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƢỢNG
CUỘC SỐNG DÂN CƢ 9
1.1. Cơ sở lý luận 9
1.1.1. Khái niệm về chất lượng cuộc sống (CLCS) 9
1.1.2. Các chỉ tiêu đánh giá CLCS 12
1.1.2.1. Chỉ số phát triển con người (HDI) 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iv
1.1.2.2. Chỉ số về thu nhập 15
1.1.2.3. Chỉ số về sức khoẻ (tuổi thọ trung bình) 17
1.1.2.4. Chỉ số về giáo dục 19
1.1.2.5. Một số chỉ tiêu khác 20
1.2. Cơ sở thực tiễn 24
1.2.1. Tổng quan về CLCS của dân cư trên thế giới 24
1.2.2. CLCS của dân cư Việt Nam 29
Tiểu kết chương 1 35
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƢỢNG CUỘC SỐNG DÂN
CƢ VÙNG ĐÔNG BẮC 36
2.1. Khái quát về vùng Đông Bắc 36
2.1.1. Vị trí địa lý và phạm vi lãnh thổ 36
2.1.2. Đặc điểm về tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 39

2.1.3. Đặc điểm về dân cư - xã hội 47
2.1.4. Về cơ sở hạ tầng 54
2.1.5. Sự phát triển kinh tế 56
2.1.6. Thị trường và vốn đầu tư 59
2.1.7. Đường lối, chính sách 60
2.2. Thực trạng CLCS dân cư vùng Đông Bắc 61
2.2.1. Chỉ số thu nhập trong HDI 61
2.2.2. Chỉ số giáo dục trong HDI 67
2.2.3. Chỉ số tuổi thọ trong HDI 70
2.2.4. Thực trạng CLCS qua chỉ số HDI 72
2.2.5. Một số chỉ tiêu khác 81
2.2.5.1. Chỉ số nghèo khổ tổng hợp (HPI) và chỉ số phát triển giới (GDI) 81
2.2.5.2. Tỷ lệ nghèo đói và mức thu nhập 83
2.2.5.3. Giáo dục 87

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

v
2.2.5.4. Y tế 89
2.2.5.5. Nhà ở 93
2.2.5.6. Điều kiện sinh hoạt của hộ dân cư 95
2.2.6. Đánh giá chung về CLCS của dân cư vùng Đông Bắc 97
Tiểu kết chương 2 99
Chƣơng 3. CÁC ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐỂ NÂNG
CAO CLCS CHO DÂN CƢ VÙNG ĐÔNG BẮC 100
3.1. Các định hướng về việc cải thiện và nâng cao CLCS cho dân cư 100
3.1.1. Các định hướng chung 100
3.1.2. Các mục tiêu cụ thể 103
3.2. Các giải pháp để nâng cao CLCS cho dân cư vùng Đông Bắc 107
3.2.1. Giải pháp về kinh tế, xoá đói, giảm nghèo 107

3.2.2. Giải pháp về giáo dục - đào tạo 108
3.2.3. Giải pháp để nâng cao tuổi thọ, sức khoẻ 110
3.2.4. Phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, tăng cường giao lưu, nâng cao
đời sống văn hoá cộng đồng các dân tộc vùng Đông Bắc 111
3.2.5. Xây dựng các dự án, chương trình phát triển bền vững cho vùng
Đông Bắc 112
Tiểu kết chương 3 115
KẾT LUẬN 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
PHỤ LỤC 120

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

vi
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
STT
Viết tắt
Viết đầy đủ
1
CLCS
Chất lượng cuộc sống
2
KT – XH
Kinh tế - xã hội
3
HDI
Chỉ số phát triển con người
4
GDI
Chỉ số phát triển giới

5
GEM
Số đo quyền lực theo giới
6
HPI
Chỉ số nghèo khổ tổng hợp
7
UNDP
Chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc
8
GDP
Tổng sản phẩm quốc dân
9
GDP/người
Thu nhập bình quân đầu người
10
PPP-USD
Phương pháp sức mua tương đương tính theo đô la Mỹ
11
VNĐ
Việt Nam đồng
12
GD – ĐT
Giáo dục – đào tạo
13
TDMNPB
Trung du miền núi phía Bắc
14
THCS
Trung học cơ sở

15
THPT
Trung học phổ thông
16
Nxb
Nhà xuất bản
17
KH & CN
Khoa học và công nghệ
18
WB
Ngân hàng thế giới

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

vii
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1. Tóm tắt các báo cáo phát triển con người từ 1990 - 2010 25
Bảng 1.2. Chỉ số HDI của một số quốc gia trên thế giới giai đoạn 1990 - 2009 27
Bảng 1.3. Chỉ số HDI theo vùng miền và các nhóm nước năm 2008 28
Bảng 1.4. Chỉ số HDI của Việt Nam giai đoạn 1995 - 2009 30
Bảng 1.5. Chỉ số HDI của một số quốc gia, báo cáo năm 2007 - 2008 32
Bảng 1.6. HDI và thứ hạng HDI theo vùng năm 2004 33
Bảng 1.7. HDI của một số địa phương trên cả nước năm 2004 34
Bảng 2.1. Diện tích, dân số, mật độ dân số và đơn vị hành chính các tỉnh
vùng Đông Bắc năm 2009 năm 2000 và 2009 42
Bảng 2.2. Quy mô và tỉ lệ dân số vùng Đông Bắc, giai đoạn 2000 - 2009 47
Bảng 2.3. GDP và GDP/người vùng Đông Bắc giai đoạn 1995 - 2009 57
Bảng 2.4. Chỉ số về thu nhập của các tỉnh vùng Đông Bắc năm 1999 & 2009 63

Bảng 2.5. Chỉ số giáo dục các tỉnh vùng Đông Bắc 1999 - 2009 68
Bảng 2.6. Chỉ số tuổi thọ các tỉnh vùng Đông Bắc 1999 - 2009 71
Bảng 2.7. HDI và các chỉ tiêu thành phần của cả nước, các vùng giai
đoạn 1999 - 2009 72
Bảng 2.8. HDI và các chỉ tiêu thành phần của các tỉnh vùng Đông Bắc
giai đoạn 1999 - 2009 75
Bảng 2.9. Tổng hợp điểm đánh giá HDI vùng Đông Bắc - 2009 77
Bảng 2.10. Chỉ số HPI và GDI của cả nước và các vùng giai đoạn 1999 - 2004 81
Bảng 2.11. Thực trạng nghèo của các vùng trên cả nước giai đoạn 2006 - 2008 84
Bảng 2.12. Tỷ trọng dân số từ 15 tuổi trở lên chia theo trình độ học vấn
và chuyên môn kỹ thuật 87
Bảng 2.13. Một số chỉ tiêu về y tế của các tỉnh vùng Đông Bắc năm 2009 89
Bảng 2.14. Tỷ suất sinh, tử của các tỉnh Đông Bắc năm 2009 91
Bảng 2.15. Chỉ tiêu về nhà ở của các tỉnh vùng Đông Bắc năm 2009 93
Bảng 2.16. Một số chỉ tiêu về điều kiện sinh hoạt của hộ dân cư năm 2009 96

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

viii
DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ

Bản đồ hành chính vùng Đông Bắc 37
Bản đồ phân bố dân cư vùng Đông Bắc 50
Bản đồ thể hiện sự phân hoá CLCS qua chỉ số HDI! 79



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ix

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1. Sơ đồ mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến CLCS 10
Hình 1.2. Mô hình HDI và các chỉ số thành phần 13
Hình 2.1. Biểu đồ cơ cấu sử dụng các nhóm đất vùng Đông Bắc năm
2000 và 2009 42
Hình 2.2. Biểu đồ chuyển dịch cơ cấu kinh tế phân theo ngành của vùng
Đông Bắc giai đoạn 2000 - 2009 58
Hình 2.3. Biểu đồ chỉ số thu nhập (I
GDP
) các tỉnh vùng Đông Bắc năm
1999 & 2009 66
Hình 2.4. Biểu đồ tỷ lệ hộ nghèo phân theo các tỉnh vùng Đông Bắc năm
2006 & 2008 85
Hình 2.5. Biểu đồ thu nhập bình quân đầu người/tháng của các tỉnh vùng
Đông Bắc năm 2008 86


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chất lượng cuộc sống (CLCS) của con người đã và đang là vấn đề
được cả thế giới quan tâm, vì CLCS phản ánh rõ nét trình độ văn minh của
mỗi quốc gia. Đặc biệt, trong thời đại ngày nay, trên thế giới đang có những
biến động to lớn: xu thế quốc tế hoá, khu vực hoá nền kinh tế, cuộc cách
mạng khoa học kỹ thuật công nghệ ngày càng phát triển mạnh… đã và đang
làm cho nền kinh tế thế giới có những tăng trưởng đáng kể, đồng thời CLCS
dân cư cũng không ngừng được nâng lên. Tuy nhiên, trên thực tế thì mức

sống của dân cư các quốc gia trên thế giới có sự phân hóa rất rõ nét và khoảng
cách chênh lệch giàu - nghèo ngày càng lớn. Ở những nước có nền kinh tế
phát triển thì CLCS của dân cư rất cao. Ngược lại, ở các nước đang phát triển,
nhất là một số quốc gia ở Châu Phi thì CLCS còn thấp và luôn luôn phải đối
mặt với sự đói nghèo. Do đó, việc đấu tranh nhằm nâng cao CLCS của con
người nói chung và CLCS cho người dân nghèo nói riêng nhằm làm giảm bớt
khoảng cách chênh lệch giàu - nghèo đã và đang được nhiều người biết đến
tại hầu hết các quốc gia, trên nhiều diễn đàn quốc tế và khu vực.
Ở Việt Nam hiện nay, vấn đề CLCS với tư cách là một khái niệm khoa
học đã được quan tâm trong thời gian gần đây khi chúng ta thực hiện chính
sách kinh tế mới. Đảng và Nhà nước ta luôn nhấn mạnh “Con người là trung
tâm của sự phát triển, là mục tiêu và cũng là động lực của sự phát triển”.
Do đó, nâng cao CLCS cả về thể chất, trí tuệ, tinh thần và vật chất cho nhân
dân là mục tiêu phấn đấu nhằm đáp ứng cho sự nghiệp phát triển bền vững
của đất nước.
Đông Bắc là một trong hai tiểu vùng của Trung du miền núi Bắc Bộ -
cái nôi căn cứ địa cách mạng trong kháng chiến và là nơi ghi dấu những năm
tháng lịch sử hào hùng của dân tộc. Trong những năm gần đây, cùng với sự

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước thì CLCS của dân
cư vùng Đông Bắc cũng đang từng bước đạt được những kết quả đáng khích
lệ. Tuy nhiên, vẫn có sự phân hoá, chênh lệch đáng kể về CLCS giữa các tỉnh
trong vùng; giữa vùng với cả nước. Trước sự tác động của nền kinh tế thị
trường hiện nay, sự phân hoá ấy lại càng trở nên sâu sắc. Do vậy, việc nâng
cao CLCS của nhân dân trong vùng đã trở thành một trong những mục tiêu
phấn đấu phát triển KT - XH hàng năm của các tỉnh vùng Đông Bắc nhằm
thúc đẩy sự phát triển của vùng và góp phần vào việc thực hiện mục tiêu

chung của đất nước.
Thực trạng CLCS của dân cư vùng Đông Bắc ra sao và làm thế nào để
nâng cao CLCS cho nhân dân các dân tộc trong vùng? Đó là vấn đề vừa có tính
lý luận đối với Địa lý học vừa có tính thực tiễn cao, góp phần làm phong phú
thêm những định hướng và giải pháp phát triển bền vững cho vùng trong thời
gian tới. Vì những lý do trên tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: "Nghiên cứu
chất lượng cuộc sống của dân cư vùng Đông Bắc Việt Nam".
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Sự gia tăng dân số chưa từng thấy trong nhiều thập kỷ trước đã gây ra
nhiều vấn đề áp lực đối với sự phát triển và cải thiện CLCS. Bên cạnh việc gia
tăng dân số, sự khai thác quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên đã làm
cho CLCS của con người cũng bị ảnh hưởng theo chiều hướng tiêu cực.
Trước những vấn đề đó, trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học tập
trung nghiên cứu mối quan hệ giữa dân số và CLCS như R.C.Sharma, Wiliam
Bell, M.Un Hat và nhiều tác giả khác. Trong đó, công trình nghiên cứu của
R.C.Sharma về "Dân số - Tài nguyên - Môi trường và CLCS" được coi là
"cuốn kim chỉ nam" về giáo dục dân số và CLCS. Năm 1990, Liên Hiệp Quốc
cũng đã đưa ra chỉ số HDI (chỉ số phát triển con người) dựa trên những chỉ
tiêu về thu nhập, sức khoẻ, tri thức và được coi như là một khía cạnh quan

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
trọng để phản ánh CLCS. Cho đến nay, các số liệu và tình hình CLCS dân cư
vẫn thường xuyên được cập nhật qua các báo cáo phát triển con người hàng
năm đồng thời thông qua đó người ta có thể so sánh được trình độ phát triển
kinh tế xã hội và mức sống của dân cư các nước trên thế giới.
Ở Việt Nam, cũng có nhiều tác giả rất quan tâm đến vấn đề này như
GS.TS Tống Văn Đường, GS.TS Lê Thông, PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ…
Trong những năm qua đã có những công trình nghiên cứu về CLCS ở tầm

vĩ mô như cuốn "Báo cáo phát triển con người Việt Nam, 2001" của
Trung tâm Khoa học - Xã hội và Nhân văn Quốc gia; NXB Chính trị Quốc
gia, Hà Nội 2001, được coi là "Báo cáo đầu tiên của Việt Nam do chính người
Việt Nam viết đã đề cập một cách hệ thống, tương đối toàn diện và sâu sắc
các vấn đề cơ bản nhất về phát triển con người Việt Nam hiện nay". Lần đầu
tiên cuốn sách đã đưa ra các chỉ số cơ bản về phát triển con người ở Việt Nam
như: HDI, HPI, GDI… của 61 tỉnh thành trong cả nước. Cũng theo hướng
này, năm 2006, một công trình nữa về Báo cáo Phát triển con người Việt Nam
(giai đoạn 1999 - 2004) đã ra đời với tiêu đề “Những thay đổi và xu hướng
chủ yếu”, trong đó làm rõ nhiều vấn đề về phương hướng và giải pháp phát
triển con người Việt Nam thời kỳ phát triển và hội nhập. Trong những năm
gần đây cũng xuất hiện nhiều báo cáo và các kết quả nghiên cứu về chỉ số
phát triển con người như: “Con người và phát triển con người ở Hoà Bình:
Một số vấn đề về lý luận và thực tiễn” (2007) của PGS.TS Hồ Sĩ Quý,
“Nghiên cứu chỉ số phát triển con người - HDI của Việt Nam” (2008) do
PGS.TS Đặng Quốc Bảo làm chủ biên hay đề tài KH&CN cấp Bộ “Chỉ số
phát triển con người ở tỉnh Thái Nguyên” (2009) của Th.S Vũ Vân Anh,…
Trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo đã có một số đề tài nghiên cứu về
CLCS dân cư của các địa phương, tỉnh thành trong cả nước. Đó là luận án tiến
sĩ địa lý của tác giả Nguyễn Thị Kim Thoa (2004) về thành phố Hải Phòng,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
cũng như một vài luận văn thạc sĩ trong những năm gần đây tại khoa Địa lý -
trường ĐHSP Hà Nội về CLCS các tỉnh Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hải Dương,
Nam Định, Thái Nguyên,…
Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về CLCS ở các vùng trên
phạm vi cả nước hầu như còn rất ít. Gần đây nhất, năm 2010 PGS.TS Phạm
Thành Nghị mới xuất bản cuốn sách “Phát triển con người vùng Tây Bắc”

nhằm đánh giá thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp
cải thiện CLCS của người dân vùng Tây Bắc. Đây là một hướng nghiên cứu
rất sát với thực tế và mang tính lý luận cao. Do vậy, việc lựa chọn vấn đề
CLCS của dân cư vùng Đông Bắc, chúng tôi cũng mong muốn sẽ góp một
phần công sức nhỏ bé của mình để làm phong phú và sâu sắc thêm về lý luận
và thực tiễn của vấn đề có tính toàn cầu này.
3. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1. Mục tiêu
Vận dụng cơ sở lý luận và phương pháp luận về địa lý dân cư và CLCS
vào địa bàn vùng Đông Bắc nhằm phân tích thực trạng và sự phân hoá về
CLCS. Trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao CLCS cho
nhân dân các dân tộc sống trong vùng.
3.2. Nhiệm vụ
- Hệ thống hoá những quan niệm về CLCS.
- Phân tích những chỉ tiêu cơ bản phản ánh CLCS của dân cư.
- Phân tích thực trạng CLCS của dân cư vùng Đông Bắc, so sánh với
các vùng khác trong cả nước và làm rõ sự phân hoá CLCS giữa các tỉnh trong
khu vực.
- Đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao CLCS của nhân dân
trong thời gian tới.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
4. GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU
- Trong khuôn khổ của đề tài này, tôi chủ yếu tập trung đi sâu nghiên
cứu, phân tích thực trạng CLCS của dân cư vùng Đông Bắc thông qua các chỉ
tiêu cơ bản đó là: GDP bình quân trên đầu người (GDP/người), tuổi thọ trung
bình, trình độ học vấn và đánh giá một cách tổng quát thông qua chỉ số phát
triển con người HDI cùng một số chỉ tiêu bổ sung.

- Phạm vi lãnh thổ nghiên cứu: vùng Đông Bắc.
- Thời gian nghiên cứu: từ 1999 => 2009.
5. CÁC QUAN ĐIỂM VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1. Các quan điểm nghiên cứu
* Quan điểm hệ thống
Quan điểm hệ thống đảm bảo tính logic của vấn đề. Địa lý của một
vùng, một địa phương (tỉnh, huyện) là một hệ thống. Nghiên cứu về CLCS
của dân cư vùng Đông Bắc, chúng ta cần phải đặt nó trong một hệ thống nhất
định để tìm ra được những mối quan hệ tác động qua lại với nhau và tác động
đến CLCS. Từ những lý luận chung vận dụng vào từng đối tượng cụ thể,
thông qua thực tiễn đó vừa làm sáng tỏ, sâu sắc thêm cho lý luận, định hướng
và nêu ra các giải pháp phát triển CLCS của dân cư trong toàn vùng.
* Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Mỗi đối tượng địa lý đều tồn tại và phát triển trên một lãnh thổ nhất
định. Tìm ra sự phân hóa của các sự vật, hiện tượng chính là một nhiệm vụ
của khoa học địa lý. Vận dụng quan điểm này để tìm hiểu các cấu trúc bên
trong và động lực phát triển của CLCS dân cư vùng Đông Bắc. Đây là quan
điểm cơ bản nhất mang tính chất địa lý, đánh giá một vấn đề phải được xem
xét dưới nhiều góc độ khác nhau, ở không gian lãnh thổ cụ thể.
Bên cạnh đó, sự phân hoá lãnh thổ về CLCS có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng trong nghiên cứu. Nghiên cứu những khác biệt trên nhằm phát hiện các

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
mối quan hệ hữu cơ trong một tổng thể hoặc đã được phân hoá, hoặc đang
trong quá trình phân hoá sang một thể thống nhất đa dạng. Dựa trên sự khác
biệt về CLCS giữa các khu vực trong lãnh thổ nghiên cứu để từ đó tìm ra các
giải pháp phát triển riêng cho từng khu vực.
* Quan điểm sinh thái

Quan điểm sinh thái có ý nghĩa đặc thù trong nghiên cứu địa lý địa
phương và được ứng dụng ngày càng nhiều trong nghiên cứu ảnh hưởng của
tự nhiên, mối quan hệ tác động qua lại giữa tự nhiên và con người, đặc biệt
giữa con người với việc sử dụng, khai thác, phá huỷ và tái tạo hệ địa lý tự
nhiên. Con người được coi là chủ thể của hoạt động sản xuất và tiêu dùng, tác
động đến hệ thống môi trường nhằm đạt được hiệu quả nhất định trong các hệ
địa sinh thái khác nhau. Vận dụng quan điểm này vào việc nghiên cứu chất
lượng môi trường sống của dân cư trong vùng hiện nay ra sao, trên cơ sở đó
đưa ra những giải pháp thích hợp nhằm giải quyết vấn đề này.
* Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Mỗi một hiện tượng địa lý đều có quá trình phát sinh, phát triển mà
trong đó sự hoạt động của con người qua từng phương thức sản xuất đóng vai
trò quan trọng. Nghiên cứu CLCS của dân cư vùng Đông Bắc phải đặt trong
một khoảng giới hạn nhất định về không gian, thời gian với những xu hướng
phát triển từ quá khứ - hiện tại để đi đến tương lai và đều có mối quan hệ
nhân - quả diễn ra trong những chu trình khép kín. Bởi vậy, khi xem xét, phân
tích CLCS của dân cư vùng Đông Bắc ở hiện tại thì đồng thời phải xem xét cả
giai đoạn quá khứ và dự đoán chiều hướng phát triển tương lai sẽ ra sao.
* Quan điểm phát triển bền vững
Khi nghiên cứu bất cứ một yếu tố KT - XH nào cũng phải xem xét
trong mối quan hệ phát triển bền vững với các yếu tố khác (kinh tế - xã hội -
môi trường) thì mới đem lại hiệu quả lâu bền. Trên cơ sở đánh giá tổng hợp

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
mối quan hệ giữa Tự nhiên - Kinh tế - Xã hội và Môi trường, phải luôn đặt sự
phát triển con người là trung tâm, là mục đích cuối cùng của mọi hoạt động
kinh tế - xã hội.
Trong quá trình nghiên cứu các quan điểm trên được vận dụng kết hợp

và hỗ trợ với nhau để giúp cho đề tài không bị phiến diện một chiều mà sẽ
đem lại kết quả có độ tin cậy cao.
5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
* Phương pháp thu thập, xử lý, phân tích - tổng hợp nguồn tài liệu
Phương pháp này sử dụng kết quả của việc thu thập tài liệu, quan sát
thực tế, xử lý thông tin qua hệ thống phân tích - tổng hợp, kết hợp giữa nội
suy và ngoại suy. Tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu được thu thập từ nhiều
nguồn khác nhau như: Niên giám thống kê các năm của Tổng cục Thống kê,
Cục thống kê các tỉnh, Một số văn kiện của Đảng và Nhà nước, Chiến lược
phát triển KT - XH trong giai đoạn hiện nay, Báo cáo tổng hợp tình hình KT-
XH của UBND các tỉnh Các tài liệu có tính chất lý luận và thực tiễn về
CLCS dân cư. Ngoài ra còn cập nhật các thông tin từ báo chí, mạng internet…
Qua đó, tiến hành xử lý, phân tích, tổng hợp nguồn tài liệu để làm rõ vấn đề,
làm cơ sở minh chứng cho quá trình nghiên cứu và so sánh. Từ các nguồn tài
liệu thô thu thập được cần phải xử lý thành tài liệu tinh để từ đó rút ra những
thông tin chính xác đánh giá về CLCS của dân cư vùng Đông Bắc. Trong việc
xử lý tài liệu, tôi đã thực hiện nhất quán 2 nguyên tắc cơ bản là: Thống nhất
về nguồn tài liệu; Các số liệu thu thập được quy nạp về cùng thời gian nhất
định. Số liệu sau khi thu thập được sẽ tiến hành lập bảng số liệu phục vụ yêu
cầu của đề tài. Những số liệu còn thiếu, phải được sưu tầm bổ sung từ các
nguồn khác có thể được, nếu không có thì phải sử dụng đến phương pháp
ngoại suy.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
* Phương pháp toán học
Trong nghiên cứu đề tài, rất cần phải sử dụng các phương pháp thuộc lý
thuyết xác suất và thống kê toán học để vận dụng các công thức vào tính toán,
xử lý số liệu; đồng thời sử dụng các mô hình toán học để xác định quan hệ,

động lực và xu hướng phát triển của CLCS dân cư vùng Đông Bắc.
* Phương pháp chuyên gia
Phương pháp này chủ yếu tham khảo ý kiến của các chuyên gia có trình
độ chuyên môn sâu về vấn đề nghiên cứu. Thông qua tiếp xúc, trao đổi… để
tìm ra các giải pháp tối ưu cho vấn đề còn đang vướng mắc.
* Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, phương pháp bản đồ, biểu đồ được
sử dụng trong các khâu như: phân tích, xử lý số liệu, biên tập bản đồ, lựa chọn
các phương pháp biểu hiện, so sánh, đối chiếu để thấy rõ thực trạng CLCS
của dân cư vùng Đông Bắc. Đồng thời thông qua sự hỗ trợ của phần mềm
Mapinfor để thể hiện sự phân hoá về chất lượng cuộc sống dân cư theo không
gian địa lý.
6. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Tổng quan có chọn lọc về cơ sở lý luận và thực tiễn chất lượng cuộc
sống con người nói chung từ đó vận dụng vào địa bàn nghiên cứu cụ thể là
vùng Đông Bắc để nêu bật được bức tranh chất lượng cuộc sống dân cư trong
vùng. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng cuộc sống
của đại bộ phận cư dân, góp phần ổn định kinh tế - xã hội của vùng.
7. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Gồm 3 phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận.
Phần nội dung gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về CLCS dân cư
- Chương 2: Thực trạng CLCS dân cư vùng Đông Bắc
- Chương 3: Các định hướng và giải pháp cơ bản để nâng cao CLCS
cho dân cư vùng Đông Bắc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
Chƣơng 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ CHẤT LƢỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƢ
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1. Khái niệm về chất lƣợng cuộc sống (CLCS)
Chất lượng cuộc sống là một khái niệm mang tính tổng hợp có nội
dung rất phong phú liên quan đến mọi mặt của đời sống con người. Nó thể
hiện trong những nhu cầu được thoả mãn về vật chất cũng như tinh thần của
cá nhân, cộng đồng và toàn thể xã hội. CLCS phụ thuộc vào khả năng đáp
ứng ngày càng tốt hơn một cách bền vững và ổn định những nhu cầu cơ bản
của cuộc sống (có sức khoẻ, có việc làm, có thu nhập đầy đủ, có điều kiện ăn
mặc - ở - đi lại - học tập và giao tiếp tốt), được sống trong một môi trường an
toàn, sạch sẽ, trong một xã hội trật tự và lành mạnh. Đây là một khái niệm
động, phát triển từ thấp lên cao phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế, chế độ
chính trị, quan niệm về văn hoá truyền thống của mỗi quốc gia, dân tộc ở từng
giai đoạn phát triển của hình thái xã hội.
Trong tài liệu “Một số vấn đề cơ bản về giáo dục dân số”, các tác giả
dự án VIE/94/P01 đã đưa ra khái niệm về CLCS như sau: “CLCS là điều kiện
sống được cung cấp đầy đủ nhà ở, giáo dục, dịch vụ y tế, lương thực, vui
chơi giải trí cho nhu cầu của con người. Điều kiện này làm cho con người
dễ dàng đạt được sự hạnh phúc, an toàn gia đình, khoẻ mạnh về thể chất
và tinh thần”.
CLCS có quan hệ qua lại với nhiều yếu tố như nguồn tài nguyên, sự
phát triển dân số, hệ thống chính trị xã hội, lối sống, các giá trị văn hoá, tôn
giáo và trình độ phát triển KT - XH. Mỗi nhân tố lại có nhiều bộ phận hợp
thành, chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau đồng thời tác động lên CLCS.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10



























Hình 1.1: Sơ đồ mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hƣởng đến CLCS
Nguồn: [10, tr 46]
CLCS ở cấp vi mô
và vĩ mô



Thương mại
Viện trợ
Ưu tiên
P. triển
MQH
quốc tế
Hệ thống
kinh tế
Quá trình
phát triển

Con người
Vốn, KT
Lương
thực
Thiên nhiên
Tài nguyên

Quy mô
Tỷ lệ
sinh, tử
Tốc độ
gia tăng
Sự di dân
Cơ cấu
Các động
lực dân số

Hệ thống XH

H. thống
chính trị
Giá trị
tôn giáo
Văn hoá
Lối sống
HT. Chính
trị & xã hội

GDP/người
Giáo dục
Y tế
Phúc lợi XH
Nhà ở
Mức sống

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
Đồng thời, CLCS cũng phản ánh điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và
môi trường sinh thái mà trong đó con người tồn tại và phát triển. Theo Wiliam
Bell, CLCS được đặc trưng bởi 12 điểm:
(1) Sự an toàn
(2) Sung túc về kinh tế
(3) Công bằng theo pháp luật
(4) An ninh quốc gia
(5) Được bảo hiểm lúc già và ốm đau
(6) Hạnh phúc về tinh thần
(7) Tích cực tham gia vào đời sống xã hội
(8) Bình đẳng về giáo dục, nhà ở và nghỉ ngơi

(9) Đời sống văn hoá được nâng cao
(10) Có quyền tự do công dân
(11) Chất lượng môi trường kỹ thuật tốt (giao thông, thiết bị sinh hoạt,
thiết bị giáo dục, y tế )
(12) Chất lượng môi trường sống đảm bảo.
Như vậy, CLCS phản ánh sự đáp ứng những nhu cầu cơ bản, tối thiểu
của con người, mức đáp ứng càng cao thì cuộc sống của con người càng được
đảm bảo. CLCS cao chính là đặc trưng cơ bản của một xã hội văn minh, có
trình độ phát triển về mọi mặt. Khái niệm CLCS rất rộng và phức tạp bởi nó
có nhiều khía cạnh và nhiều yếu tố tác động tới. Dưới góc độ địa lý KT - XH
có 3 chỉ tiêu quan trọng đó là: tuổi thọ trung bình, giáo dục và GDP/người.
Tuy nhiên, ở những nước có chế độ chính trị và trình độ kinh tế khác nhau thì
quan niệm về CLCS có nhiều điểm khác nhau và mỗi nước lại có những hệ
thống chỉ tiêu riêng để phản ánh CLCS phù hợp với điều kiện của từng nước.
Bởi vậy những điều cơ bản nêu trên chỉ là nội dung chính để được nhiều
người chấp nhận.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
1.1.2. Các chỉ tiêu đánh giá CLCS
Để đo lường kết quả những thành tựu phát triển con người và đánh giá
chất lượng cuộc sống con người được nâng lên hay giảm đi, Báo cáo phát
triển con người năm 1990 và các Báo cáo tiếp theo của Chương trình phát
triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) đã đưa ra một loạt các chỉ số. Trong đó, chỉ số
được coi là tổng hợp nhất được đưa ra từ năm 1990 (và được điều chỉnh lại
năm 1999) là chỉ số phát triển con người - HDI (Human Development Index)
dựa trên hệ thống chỉ tiêu thống kê của hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Ngoài ra cũng có một số chỉ tiêu khác được bổ sung để làm rõ hơn các khía
cạnh đời sống con người trên toàn thế giới.

1.1.2.1. Chỉ số phát triển con người (HDI)
Chỉ số phát triển con người (HDI) đã được chương trình phát triển con
người của Liên Hiệp Quốc triển khai tính toán từ lần đầu tiên vào năm 1990
do một nhóm chuyên gia kinh tế về phát triển nghiên cứu đề xuất dưới sự chỉ
đạo của ông Mahbub ul Haq - người đặt nền móng cho HDI - nguyên là Bộ
trưởng Bộ kế hoạch và tài chính của Pakixtan, sau đó làm cố vấn đặc biệt cho
ban quản trị của UNDP. Ông đã thể hiện lòng mong mỏi của mình về chỉ số
HDI: “Chúng ta cần có một thước đo cùng mức độ thô sơ như GNP - chỉ có
một con số - nhưng là một thước đo không che giấu các khía cạnh của đời
sống con người”. Ông hy vọng HDI là một thước đo cần thiết giúp cho các
nhà quản lý và nhân dân cùng quan tâm đến một số khía cạnh cơ bản trong số
phận của họ và của cộng đồng mà họ là thành viên.
HDI là một chỉ số tổng hợp về phát triển con người trên các phương
diện sức khoẻ, tri thức và thu nhập; 3 chỉ tiêu thành phần phản ánh ở khía
cạnh sau:
- Một cuộc sống dài lâu và khoẻ mạnh, được đo bằng tuổi thọ trung
bình từ lúc mới sinh (năm) (I
tuổi thọ
).

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
- Kiến thức giáo dục đo bằng tỉ lệ người lớn biết chữ từ 15 tuổi trở lên
(%) với trọng số 2/3 và tỉ lệ nhập học tổng hợp các cấp giáo dục tiểu học,
trung học và đại học của cư dân tuổi từ 6 - 24 so với dân số trong độ tuổi (%)
với trọng số 1/3 => (I
giáo dục)
.
- Mức sống đo bằng GDP bình quân đầu người, được quy đổi theo sức

mua tương đương (PPP - USD) tính bằng đô la Mỹ (I
thu nhập)
.














Hình 1.2: Mô hình HDI và các chỉ số thành phần
Nguồn:[3]
Tổng hợp 3 chỉ tiêu trên tạo thành chỉ số phát triển con người:
HDI = 1/3 (I
tuổi thọ
+ I
giáo dục
+ I
thu nhập
)
HDI gắn liền với lý thuyết phát triển con người của Liên Hiệp Quốc, có
thể nói đây là một hệ tiêu chí có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển bền
HDI


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14
vững trong giai đoạn hiện nay. Để tính được chỉ số HDI, cần phải tính từng
chỉ số cho 3 phương diện thành phần. Quy tắc chung để tính các chỉ số này là
sử dụng các giá trị tối thiểu và tối đa (còn gọi là các giới hạn đích hay các giá
trị biên) cho từng chỉ số và áp dụng theo công thức sau:

Giá trị thực - Giá trị tối thiểu
Chỉ số thành phần = –––––––––––––––––––––––––––––
Giá trị tối đa - Giá trị tối thiểu
Chỉ số HDI tính được là giá trị trung bình của các chỉ số thành phần.
Các giá trị biên để tính chỉ số HDI
Văn phòng Báo cáo phát triển con người của UNDP đã qui định các giá
trị biên của các thành phần về tuổi thọ, tri thức và thu nhập để tính được HDI
như sau:
Chỉ tiêu thành phần
Giá trị tối đa
Giá trị tối thiểu
- Tuổi thọ (năm)
85
25
- Tỷ lệ người lớn biết chữ (%)
100
0
- Tỷ lệ nhập học các cấp (%)
100
0
- GDP thực tế đầu người (PPP $)

40.000
100
Đây là những giá trị biên của các chỉ tiêu thành phần được rút ra từ các
thống kê thực tế được theo dõi nhiều năm của các quốc gia và các vùng lãnh
thổ trên thế giới.
Một số đặc điểm của HDI:
- 0 < HDI < 1
- Các chỉ số thành phần (giáo dục, tuổi thọ và thu nhập) đều đóng góp
như nhau (bằng 1/3) vào giá trị của HDI.
- HDI càng gần 1 thì trình độ phát triển con người và chất lượng cuộc
sống càng cao và ngược lại.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
Vì đây là thước đo tổng hợp cho sự phát triển nên HDI được sử dụng để
làm công cụ quản lý và đề ra các chính sách. Trên cơ sở tính toán HDI và các
chỉ số thành phần, người ta có thể dễ dàng phát hiện những khía cạnh non yếu
để từ đó có những giải pháp thích hợp nhằm nâng cao đời sống cho người
dân. Với HDI việc đánh giá thành tựu phát triển trở nên toàn diện hơn và phản
ánh chân thực hơn tính mục tiêu của nó. Thông qua HDI các quốc gia còn lựa
chọn và xác định chính sách phát triển. Ví dụ ở nước ta, GDP thấp, HDI cao
vậy bên cạnh các chính sách phát triển xã hội phải ưu tiên tăng trưởng; còn
các nước GDP cao, HDI thấp thì phải đẩy mạnh chính sách xã hội.
Trong Báo cáo phát triển con người năm 2006 với chủ đề “Không chỉ
là sự khan hiếm quyền lực, nghèo đói và cuộc khủng hoảng nước sạch toàn
cầu” đã công bố:
- Tuổi thọ trung bình từ lúc sinh của người dân Việt Nam là 70,8 tuổi,
xếp vị trí thứ 83/177 nước;
- Tỷ lệ người lớn biết chữ là 90,3%, đứng vị trí thứ 56/128 nước được

xếp hạng;
- Tỷ lệ nhập học thô các cấp đạt 62,8%, xếp thứ 123/172 nước;
- GDP bình quân đầu người theo sức mua tương đương (PPP USD) là
2.745 USD, xếp thứ 118/172 nước được xếp hạng;
Như vậy, chỉ số phát triển con người của Việt Nam đạt 0,709 đứng ở vị
trí 109/177 quốc gia.
Theo các nhà chuyên môn đánh giá, muốn tăng HDI lên thêm 0,010 thì
phải tăng GDP bình quân đầu người lên 18%, tăng tuổi thọ trung bình lên 1,8
năm và tăng tỷ lệ nhập học các cấp thêm 3%. Qua đó có thể thấy rằng càng
phát triển lên mức cao hơn thì càng gặp khó khăn hơn trong việc nâng cao
thêm chỉ số phát triển con người.
1.1.2.2. Chỉ số về thu nhập
- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP - Gross Dometic Product): Là tổng
sản phẩm hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng cuối cùng mà một nền kinh tế tạo ra

×