Tải bản đầy đủ (.doc) (8 trang)

Đào tạo nghề cho lao động nông thôn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (169.15 KB, 8 trang )

Đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Phải quyết liệt và đồng bộ
Cập nhật ngày: 30/07/2012
Đào tạo nghề cho nông
dân là một chủ trương
lớn của Đảng, Nhà nước
ta, được cụ thể hóa qua
Đề án 1956 "Đào tạo
nghề cho lao động nông
thôn đến năm 2020".
Qua gần 2 năm triển
khai tại tỉnh ta, đề án đã
có những kết quả bước
đầu đáng ghi nhận.
Vợ chồng chị Nguyễn Thị Huyền đang làm việc tại trang trại nuôi lợn thịt
và ao cá ở xóm Tài Sơn, xã Đồng Văn, huyện Thanh Chương. Cả trang trại
lớn nhưng chỉ có 2 vợ chồng chị đảm đương từ chăn nuôi, chăm sóc, phòng
chống dịch bệnh cho đàn lợn. Mỗi năm trang trại của gia đình chị xuất
chuồng từ 4-5 tấn lợn thịt. Làm được những việc đó là nhờ chị đã theo học
lớp kỹ thuật chăn nuôi và thú y do huyện tổ chức theo Đề án 1956 "Đào tạo
nghề cho lao động nông thôn". Với chị, việc được học các kiến thức đã làm
thay đổi tập quán chăn nuôi bấy lâu nay, giúp chị tự tin hơn trong công việc.
Trường hợp gia đình chị Nguyễn Thị Huyền chỉ là một trong rất nhiều ví dụ
mà Đề án 1956 mang lại cho người nông dân.
Đào tạo nghề may công nghiệp cho thanh niên huyện Quỳ Châu.
Đề án "Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020" theo Quyết
định 1956 của Thủ tướng Chính phủ là đề án được ưu tiên về vốn đầu tư,
với tổng kinh phí gần 26 nghìn tỷ đồng. Trong đó, Nghệ An được phê duyệt
theo lộ trình đến năm 2020 là hơn 800 tỷ đồng. Triển khai từ tháng 10/2010
đến nay tuy chưa lâu nhưng với sự chỉ đạo quyết liệt từ tỉnh đến huyện, xã,
sự vào cuộc của các tổ chức, đoàn thể nên đã có những kết quả bước đầu
đáng ghi nhận.



Năm 2010, toàn tỉnh có 66.000 lượt người được đào tạo nghề, trong đó có
5.600 lượt lao động nông thôn được đào tạo theo Đề án 1956. Năm 2011, có
70.000 lượt người tham gia các lớp học nghề. Trong đó, kết quả đào tạo
nghề theo Đề án 1956 là 7.980 người với 266 lớp (nông nghiệp: 166 lớp với
4.980 người; phi nông nghiệp: 100 lớp với 3.000 người). Tỷ lệ lao động
nông thôn có việc làm sau đào tạo nghề là 75%. Với cách làm sáng tạo, tổ
chức dạy nghề cho nông dân thông qua một số mô hình hiệu quả như nuôi
lợn siêu nạc tại xã Thanh Lĩnh, huyện Thanh Chương; Chăn nuôi vịt bầu
Quỳ Châu tại huyện Quế Phong; Trồng rau cao sản ở xã Quỳnh Lương,
huyện Quỳnh Lưu, Chăn nuôi trâu, bò hàng hóa tại xã Thanh Dương,
huyện Thanh Chương đã giúp các học viên vừa nắm vững được lý thuyết,
vừa học tập được kinh nghiệm của các mô hình hiệu quả.

Để triển khai đào tạo nghề cho lao động nông thôn, toàn tỉnh đã huy động
48 cơ sở đào tạo nghề bao gồm các trường dạy nghề công lập, các trung tâm
dạy nghề của huyện và các cơ sở ngoài công lập. Trường Trung cấp nghề
Kinh tế - Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp được xây dựng với mục tiêu
dạy nghề cho lao động để phát triển, khôi phục lại nghề tiểu thủ công
nghiệp, làng nghề. Sau gần 10 năm thành lập trường đã được đầu tư cơ sở
vật chất, đội ngũ giáo viên đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực để khôi phục
và phát triển các nghề truyền thống của địa phương.

Không chỉ có các cơ sở dạy nghề, nhiều doanh nghiệp cũng tham gia vào
công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn như: Công ty TNHH Đức
Phong, Doanh nghiệp tư nhân Đức Quyền, HTX thủ công nghiệp thắng lợi,
HTX Thanh Thủy, HTX Dệt may thổ cẩm Hải Vân.

Trung tâm Dạy nghề Đồng Tâm của Công ty TNHH Đức Phong là một
trong số các trung tâm dạy nghề ngoài công lập được tham gia triển khai Đề

án 1956. Với nguồn kinh phí của đề án, sau 2 năm triển khai, trung tâm đã
đào tạo được 3 lớp cho 75 lao động thuộc diện thu hồi đất nông nghiệp với
tỷ lệ có việc làm sau đào tạo là 85%, thu nhập ổn định từ 1,2-1,4 triệu
đồng/tháng; 17 lớp học với 424 học viên thuộc các đối tượng gia đình chính
sách, hộ nghèo và diện bị thu hồi đất nông nghiệp. 83,2% số học viên này
sau đào tạo, kiểm tra tay nghề được công ty tiếp nhận vào làm việc.

Qua 2 năm thực hiện Đề án "Đào tạo nghề cho lao động nông thôn" theo
Quyết định 1956, Nghệ An đã thực hiện cơ bản các yêu cầu, nhiệm vụ theo
Quyết định của Chính phủ đề ra. Đề án đã góp phần nâng cao chất lượng tay
nghề cho lao động nông thôn, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã đủ
tiêu chuẩn phục vụ cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông
thôn; tạo việc làm, chuyển nghề, tăng thu nhập cho nhân dân. Tuy nhiên,
bên cạnh đó vẫn còn không ít tồn tại, khó khăn như: Tỷ lệ chưa qua đào tạo
trong lao động nông thôn còn cao, tập trung vào người nghèo, vùng núi cao,
đồng bào dân tộc thiểu số, vùng ven biển. Không phải tất cả các lớp mở ra
đều thật sự hiệu quả, nhiều người học xong không có điều kiện áp dụng vào
thực tế. Việc mở các lớp và vận động người dân theo học cũng gặp không ít
khó khăn. Có những cơ sở đào tạo chưa phát huy được chức năng, nhiệm vụ
của mình.

Để tiếp tục triển khai tốt Đề án 1956 trong thời gian tới, theo ông Bùi
Nguyên Lân -Giám đốc Sở LĐ-TB&XH thì cần phải có các giải pháp tích
cực, quyết liệt và đồng bộ từ tỉnh đến tận các cơ sở và sự tham gia vào cuộc
của các cấp, ngành liên quan và cả hệ thống chính trị. Phấn đấu thực hiện
mục tiêu đào tạo nghề bình quân hàng năm giai đoạn 2012-2015 là 75.000
lượt người; trong đó, đào tạo lao động trình độ cao đẳng, trung cấp nghề
15.000 người, phấn đấu tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề năm 2015 đạt 52%.
Dạy nghề cho lao động nông thôn giai đoạn 2012-2015 cho 164.000 người.
Trong đó, dạy nghề nông nghiệp: 96.760 người; dạy nghề phi nông nghiệp:

67.240 người; tỷ lệ lao động có việc làm sau đào tạo: 80%. Điều quan trọng
là phải chuyển đào tạo nghề cho lao động nông thôn từ đào tạo theo năng
lực sΩn có của cơ sở đào tạo sang đào tạo theo nhu cầu học nghề của lao
động nông thôn và yêu cầu của thị trường lao động.
Theo nghean24h.vn
Phát triển nguồn nhân lực: kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới
Cập nhật ngày: 09/07/2012
Trong xã hội hiện đại, nguồn nhân
lực là nguồn lực quan trọng nhất
đối với sự phát triển của bất kì
quốc gia, dân tộc nào, bởi phải có
những con người đủ khả năng,
trình độ mới khai thác tốt các
nguồn lực khác. Chính vì thế,
nhiều nước trên thế giới đã có
những chính sách phát triển
nguồn nhân lực trong nước và thu
hút nguồn nhân lực chất lượng
cao từ các nước khác
Giáo dục - đào tạo: kinh nghiệm ở một số nước
Với một chiến lược dài hạn, kinh phí cho giáo dục đại học của Mỹ đến từ
các nguồn khác nhau, như các công ty, tổ chức nhà nước, các tổ chức phi
chính phủ, tổ chức tôn giáo, nhà từ thiện Nguồn kinh phí dồi dào mang lại
cho các trường khả năng xây dựng cơ sở vật chất hiện đại, thuê giảng viên
giỏi cũng như xây dựng quỹ hỗ trợ sinh viên. Trong giáo dục đại học ở Mỹ,
tính cạnh tranh giữa các trường rất khốc liệt. Nếu sinh viên vào được các
trường đại học tốt, nổi tiếng và học giỏi, cơ hội có việc làm sẽ tăng lên rất
nhiều.
Để phát triển nguồn nhân lực, Mỹ rất coi trọng môi trường sáng tạo và
khuyến khích phát triển nhân tài, bồi dưỡng và thu hút nhân tài trong nhiều

lĩnh vực. Chiến tranh thế giới thứ hai đã mang lại cho Mỹ - nước duy nhất
trên thế giới, cơ hội thu hút nguồn chất xám rất lớn, đó là rất nhiều các nhà
khoa học, bác học giỏi từ châu Âu và nhiều nước khác đã nhập cảnh vào
Mỹ. Thực tế này trả lời cho câu hỏi, tại sao hiện nay Mỹ là một trong những
nước có nhiều nhà khoa học hàng đầu thế giới trong nhiều lĩnh vực.
Tại Cộng hòa Séc, để đón trước cơ hội và thúc đẩy hội nhập thành công vào
Liên minh châu Âu (EU), Séc đã xây dựng và hoàn thành Chiến lược phát
triển nguồn nhân lực (tháng 12-2000). Chiến lược này là một bộ phận cấu
thành của Chương trình Thị trường lao động và phát triển nguồn nhân lực.
Trong các chiến lược thành phần, đáng chú ý có chiến lược phổ cập tiếng
Anh, chiến lược cải thiện nhân lực hành chính công, chiến lược phát triển
giáo dục đại học - cao đẳng và liên kết với hoạt động nghiên cứu, chiến lược
phát triển đội ngũ giáo viên, chiến lược phát triển học suốt đời
Ở châu Á, Nhật Bản là một trong những nước đi đầu trong phát triển nguồn
nhân lực. Xuất phát từ việc xác định rằng, nước Nhật nghèo tài nguyên thiên
nhiên, để phát triển, chỉ có thể trông chờ vào chính mỗi người dân Nhật
Bản, Chính phủ nước này đã đặc biệt chú trọng tới giáo dục - đào tạo, thực
sự coi đây là quốc sách hàng đầu. Theo đó, chương trình giáo dục đối với
cấp tiểu học và trung học cơ sở là bắt buộc; tất cả học sinh trong độ tuổi từ 6
đến 15 tuổi được học miễn phí. Kết quả là, tỷ lệ học sinh thi đỗ vào các
trường đại học, cao đẳng ở nước này ngày càng nhiều. Nhật Bản trở thành
một trong những cường quốc giáo dục của thế giới.
Về sử dụng và quản lý nhân lực, Nhật Bản thực hiện chế độ lên lương và
tăng thưởng theo thâm niên. Nếu như ở nhiều nước phương Tây, chế độ này
chủ yếu dựa vào năng lực và thành tích cá nhân, thì ở Nhật Bản, hầu như
không có trường hợp cán bộ trẻ tuổi, ít tuổi nghề lại có chức vụ và tiền
lương cao hơn người làm lâu năm.
Tại Hàn Quốc, chính sách giáo dục được xây dựng phù hợp với đòi hỏi của
nền kinh tế. Đây là nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn
nhân lực của quốc gia này. Năm 1950, Chính phủ Hàn Quốc chủ trương xóa

mù chữ cho toàn dân. Những năm sau đó, hệ thống giáo dục dần được đẩy
mạnh như: phát triển giáo dục hướng nghiệp trong các trường trung học
(năm 1960); các trường dạy nghề kỹ thuật (năm 1970); đẩy mạnh hoạt động
nghiên cứu và giáo dục trên lĩnh vực khoa học cơ bản và công nghệ, nâng
cao chất lượng giáo dục và học suốt đời. Năm 1992, Hàn Quốc thực hiện
cải cách giáo dục với mục tiêu tái cấu trúc hệ thống giáo dục hiện có thành
một hệ thống giáo dục mới, bảo đảm cho người dân được học suốt đời.
Tháng 12-2001, Chính phủ Hàn Quốc công bố Chiến lược quốc gia lần thứ
nhất về phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2001-2005. Tiếp đó, Chiến lược
quốc gia lần thứ hai về phát triển nguồn nhân lực thời kỳ 2006-2010 được
xây dựng và thực hiện hiệu quả.
Nội dung chính của các chiến lược này đề cập tới sự tăng cường hợp tác
giữa các doanh nghiệp, trường đại học và các cơ sở nghiên cứu; nâng cao
trình độ sử dụng và quản lý nguồn nhân lực, nâng cao tính chuyên nghiệp
của nguồn nhân lực trong khu vực công; xây dựng hệ thống đánh giá và
quản lý kiến thức, kỹ năng và công việc; xây dựng kết cấu hạ tầng thông tin
cho phát triển nguồn nhân lực; xây dựng và phát triển thị trường tri thức
Tại Trung Quốc, Chính phủ đang hết sức quan tâm đến việc đào tạo và sử
dụng hiệu quả nguồn nhân lực hiện có trong nước, nhằm nâng cao chất
lượng nguồn lực này khi chuyển dần sang kinh tế tri thức.
Năm 2003, Trung Quốc đã đề ra Chiến lược tăng cường hơn nữa công tác
bồi dưỡng, đào tạo nhân tài nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng toàn diện xã
hội khá giả được đề ra trong Đại hội XVI của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Nội dung của chiến lược là: lấy nhân tài chấn hưng đất nước, xây dựng đội
ngũ đông đảo nhân tài có chất lượng cao; kiên quyết quán triệt phương
châm tôn trọng lao động, trí thức, tôn trọng nhân tài và sự sáng tạo, lấy thúc
đẩy phát triển làm xuất phát điểm cơ bản của công tác nhân tài, điều chỉnh
nhân tài một cách hợp lý, lấy xây dựng năng lực làm điều cốt lõi, ra sức đẩy
mạnh công tác bồi dưỡng nhân tài, kiên trì đổi mới sáng tạo, nỗ lực hình
thành cơ chế đánh giá và sử dụng nhân tài một cách khoa học

Trong khu vực Đông Nam Á, Xin-ga-po được coi là hình mẫu về phát triển
nguồn nhân lực. Thực tế đã minh chứng, quốc gia nhỏ bé này đã rất thành
công trong việc xây dựng một đất nước có trình độ dân trí cao và hệ thống
giáo dục phát triển hàng đầu châu Á.
Hệ thống giáo dục của nước này rất linh hoạt và luôn hướng đến khả năng,
sở thích cũng như năng khiếu của từng học sinh nhằm giúp các em phát huy
cao nhất tiềm năng của mình. Bên cạnh việc ứng dụng các tiến bộ của khoa
học - công nghệ mới vào giảng dạy, chương trình đào tạo của Xin-ga-po
luôn chú trọng vào giáo dục nhân cách, truyền thống văn hóa dân tộc.
Chủ trương thu hút sinh viên quốc tế đến học tập, Chính phủ Xin-ga-po
miễn xét thị thực cho du học sinh quốc tế, không đòi hỏi phải chứng minh
tài chính, chi phí học tập vừa phải, môi trường học tập hiện đại, các ngành
nghề đào tạo đa dạng Nhà nước Xin-ga-po chỉ đầu tư vào rất ít trường
công lập để có chất lượng mẫu mực, có chính sách tín dụng thích hợp để thu
hút đào tạo nhân tài. Đối với khối ngoài công lập, Chính phủ tạo điều kiện
để phát triển, khuyến khích việc liên thông, liên kết với nước ngoài, mời gọi
các đại học quốc tế đặt chi nhánh
Việt Nam với việc đổi mới nền giáo dục quốc dân
Trong nhiều năm qua, mặc dù giáo dục nước ta đã đạt được những thành tựu
nhất định, song nhìn chung, vẫn còn tồn tại nhiều nghịch lý, chưa theo kịp
trình độ phát triển của giáo dục thế giới, thậm chí còn nhiều tiêu cực nảy
sinh trong hệ thống giáo dục. Bước vào năm học mới, bên cạnh niềm vui
đưa con, nhìn con đến trường, hân hoan với sự trưởng thành của con cái, là
nỗi băn khoăn, lo lắng, của các bậc phụ huynh khi nghĩ đến những việc phải
làm đối với việc học tập của con trong suốt cả năm học.
Thực tế cho thấy, học sinh ở bậc tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ
thông học căng thẳng, chịu “tải” nhiều hơn ở bậc học đại học. Học sinh và
phụ huynh đều lao vào cuộc chạy đua trang bị kiến thức với sự mệt mỏi và
cảm giác “vô lý”, nhưng lại không yên tâm để dừng lại. Học sinh phải học
và nhớ nhiều kiến thức lý thuyết nhưng khi học xong, hoặc không nhớ, hoặc

chóng quên, trong khi kiến thức thực tế, cách cư xử trong gia đình, kỹ năng
làm việc theo nhóm, cách giao tiếp, hành xử trong cộng đồng , lại được đào
tạo, giáo dục không tương xứng.
“Chúng ta không thiếu việc làm mà thiếu cử nhân làm được việc”. Nhận xét
khái quát này cho thấy việc đào tạo học để có nghề và ra làm được nghề có
rất nhiều bất cập. Điều này tồn tại đã lâu và được nói đến nhiều nhưng vẫn
chưa thể khắc phục. Chính vì thế mà hằng năm Việt Nam có khoảng
223.000 sinh viên tốt nghiệp đại học hệ công lập và 22.700 sinh viên tốt
nghiệp đại học hệ dân lập (theo số liệu của Tổng cục Thống kê), nhưng tỷ lệ
sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường bị thất nghiệp là 63% (theo số liệu của
Bộ Giáo dục và Đào tạo).
Một hậu quả tiếp theo là, vì phần đông cử nhân ra trường vẫn mơ hồ về định
hướng nghề nghiệp, mục tiêu mong muốn đạt tới, hình mẫu lý tưởng trong
nghề nghiệp của mình, thiếu kiến thức thực tế và kỹ năng hành nghề, cũng
như kỹ năng thuyết trình, làm việc nhóm làm cho nhiều nhà tuyển dụng
thấy việc tuyển các cử nhân vào các vị trí làm việc rất khó khăn.
Một vấn đề nữa là, việc đào tạo ở bậc học đại học chưa thực sự gắn chặt với
nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, việc lựa chọn nghề nghiệp
theo học mang nhiều cảm nhận chủ quan. Dự báo quốc gia về nhu cầu lao
động trong tương lai chưa có, vì thế dẫn tới tình trạng mất cân đối trong đào
tạo nghề, và tiếp theo sẽ là thừa cung lao động trong một số nghề và thiếu
lao động trong nhiều nghề khác - những nghề mà hiện nay rất ít học sinh
nộp hồ sơ dự học, nhưng lại rất cần thiết đối với sự phát triển của đất nước.
Từ thực tiễn trong nước và kinh nghiệm của thế giới có thể thấy rằng, việc
xây dựng và phát triển nguồn nhân lực phù hợp với điều kiện thực tế của
nước ta có ý nghĩa hết sức quan trọng và cũng là yêu cầu bức thiết hiện nay.
Thứ nhất, Đại hội Đảng lần thứ XI đã nêu rõ: Phải đổi mới căn bản và toàn
diện nền giáo dục quốc dân theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội
hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý
giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt.

Để hiện thực hóa chủ trương, quan điểm của Đảng, cần xây dựng chiến lược
phát triển nguồn nhân lực gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội,
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế. Đây
không chỉ là trách nhiệm của các nhà hoạch định và tổ chức thực hiện chính
sách, mà còn là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của mỗi cá nhân.
“Bản thân người học phải tự thay đổi chính mình. Cần xác định mục tiêu và
định hướng nghề nghiệp cụ thể, lâu dài ”, từ đó tập trung tích lũy và xây
dựng kho kiến thức, kỹ năng cần thiết cho bản thân.
Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy rõ, coi trọng và quyết tâm thực thi
chính sách giáo dục - đào tạo phù hợp là nhân tố quyết định tạo ra nguồn
nhân lực chất lượng cao cho sự phát triển nhanh và bền vững.
Thứ hai, song song với việc phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài,
phát triển nguồn nhân lực cần đi đôi với xây dựng và hoàn thiện hệ thống
giá trị của con người trong thời đại hiện nay như trách nhiệm công dân, tinh
thần học tập, trau dồi tri thức; có ý thức và năng lực làm chủ bản thân, làm
chủ xã hội; sống có nghĩa tình, có văn hóa, có lý tưởng. Đây cũng là những
giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, rất cần được tiếp tục phát
huy trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nhất là đối với thế hệ trẻ.
Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực phải gắn với nâng cao chất lượng chăm
sóc sức khỏe người dân, bảo đảm an sinh xã hội. Đại hội XI đã đề cập tới
việc cụ thể hóa những hoạt động của lĩnh vực này nhằm nâng cao chất lượng
và hiệu quả chăm sóc sức khỏe nhân dân, đáp ứng yêu cầu của quá trình đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức trong bối cảnh
hội nhập, cạnh tranh gay gắt và yêu cầu cường độ lao động cao./.
Theo tapchicongsan.org.vn

×