Tải bản đầy đủ (.doc) (11 trang)

phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua bài tập hoá học

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (140.33 KB, 11 trang )

PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO LẠC THUỶ
TRƯỜNG PTCS ĐỒNG TÂM
=======o0o=======
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH
THÔNG QUA BÀI TẬP HOÁ HỌC
Người viết: Đậu Kiên Cường
TỔ: KHOA HỌC - TỰ NHIÊN
TRƯỜNG PTCS ĐỒNG TÂM

Năm học: 2004 - 2005
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu có tác dụng to lớn trong
công cuộc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước ta chính vì
thế việc đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường phổ thông
theo tinh thần nghị quyết IX của đảng được chỉ rõ “phương pháp giáo
dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo
của học sinh phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, từng môn học,
bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức
vào thực tiễn tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học
tập cho học sinh”.
Để đạt được những điều đó cùng với sự thay đổi về nội dung,
hình thức tổ chức dạy học, cần hình thành cho học sinh kỹ năng phân
tích, tổng hợp, tạo cho học sinh năng lực tự học, tự rèn luyện bồi bổ
kiến thức cho mình là việc vô cùng quan trọng.
Đối với nhà trường THCS việc tự rèn cho mình khả năng phân
tích tổng hợp là rất cần thiết đối với tất cả các bộ môn trong đó có bộ
môn hoá học, bởi hoá học là bộ môn khoa học có rất nhiều ứng dụng
đối với các nghành khoa học khác. Góp phần đẩy mạnh sự thay đổi
của đất nước, đặc biệt là trong thời kỳ đất nước đang đổi mới.
Trong chương trình hoá học phổ thông để nắm bắt đầy đủ các


kiến thức của bộ môn thì bài tập hoá học được đặc biệt quan tâm vì nó
là phương tiện hữu hiệu trong giảng dạy bộ môn hoá học. Bài tập hoá
học góp phần nâng cao khả năng tư duy sáng tạo cho học sinh trong
quá trình lĩnh hội kiến thức mà các em được học.
PHẦN II: NỘI DUNG
I. CƠ SỞ KHOA HỌC
1.Cơ sở lí luận:
Trong quá trình hơn 10 năm làm công tác giảng dạy hoá học ở
trường phổ thông tôi nhận thấy bài tập hoá học là phương tiện hữu
hiệu trong giảng dạy hoá học.
-Bài tập hoá học là nguồn để hình thành, rèn luyện, củng cố,
kiểm tra các phương thức, kĩ năng cho học sinh.
2
-Bài tập hoá học có tác dụng mở rộng, nâng cao kiến thức cho
học sinh.
-Bài tập hoá học giúp việc vận dụng kiến thức vào thực tế.
-Bài tập hoá học giúp giáo viên rèn luyện nhân cách cho học
sinh: Tính chủ động sáng tạo, tính cẩn thận kiên trì ý chí quyết tâm
trong học tập.
-Đặc biệt bài tập hoá học còn giúp việc rèn luyện tư duy sáng tạo
cho học sinh.
2.Cơ sở thực tiễn:
Thực tiễn qua quá trình dạy học tôi nhận thấy:
-Nếu không chú trọng rèn luyện khả năng tư duy cho học sinh thì
kiến thức học sinh tiếp thu rất rộng và hời hợt.
-Độ bền và nhớ kiến thức không lâu.
-Việc tạo hứng thú và niềm tin cho học sinh trong quá trình học
sẽ gặp nhiều khó khăn.
II. NỘI DUNG CỤ THỂ:
Trên cơ sở thực tiễn và lý luận đã phân tích ở trên chúng tôi thấy

việc rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua bài tập hoá học
là cần thiết.
Bồi dưỡng năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh là một quá
trình liên tục, phức tạp trải qua nhiều giai đoạn, nhiều mức độ.
*Một mặt: Trong hoạt động học tập nhận thức cần nâng dần từng
bước từ mức độ thấp đến cao:
-Tích cực động não.
- Độc lập suy nghĩ.
-Tích cực sáng tạo.
* Mặt khác: Cần rèn luyện học sinh nâng dần các dạng hoạt động
từ dễ đến khó.
-Vận dụng kiến thức cơ bản.
-Tổng hợp kiến thức.
-Phát hiện xây dựng kiến thức mới.
-Nâng cao kiến thức.
Theo tôi để rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh trước hết phải:
1.Hình thành cho học sinh một hệ thống kiến thức cơ bản
vững vàng sâu sắc.
3
Đó là hình thành các khái niệm, các định luật, các tính chất, các
quy luật về cấu tạo chất và về phản ứng hoá học.
2. Rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy logic chính xác:
Học sinh thông qua các thao tác: Quan sát, Phân tích , tổng hợp
và dựa vào bản chất của vấn đề để tìm ra cách giải quyết ngắn gọn
sáng tạo.
Thí dụ:
Cho hỗn hợp X Gồm FeO, Fe
2
O
3

và có khối lượng 30,4 g. Nung
hỗn hợp này trong một bình kín chứa 22,4 lít CO (ĐKTC), khối lượng
hỗn hợp khí thu được là 36 g. Xác định thành phần hỗn hợp khí. Biết
rằng X bị khử hoàn toàn tạo thành Fe.
*Algrit giải:
+Gọi số mol FeO, Fe
2
O
3
tham gia phản ứng lần lượt là a,b
(a,b > 0)
+Viết 2 phương trình phản ứng.
+Tính số mol CO
2
sinh ra
+Lập phương trình bậc nhất 2 ẩn theo khối lượng 2 ô xít.
+ Lập phương trình bậc nhất 2 ẩn theo khối lượng khí tạo thành.
+Giải hệ phương trình tìm ra a = 0,2 mol; b = 0,1 mol
+Tính số mol CO dư ( n
CO(dư)
= 0,5 mol )
+Tính số mol CO
2
tạo thành ( n
CO2
= 0,5 mol )
*Cách khác: Học sinh đọc đề, phân tích đề, nhận xét:
Độ tăng khối lượng của khí = khối lượng ô xi lấy ra từ 2 ô xít.
+n
COban đầu

= 1mol

M
CO
= 28g
+Độ tăng khối lượng khí = 36 - 28 = 8g = m
O
+Số mol 0 n
O
=
16
8
= 0,5 mol
+Cứ 0,5 mol CO kết hợp với 0,5 mol O tạo thành 0,5 mol CO
2
+Thành phần hỗn hợp khí sau khi phản ứng gồm:
0,5 mol CO dư
0,5 mol CO
2
Phân tích: Nếu giáo viên hướng dẫn học sinh biết dùng nguyên
lý bảo toàn nguyên tử, ta có thể đơn giản cách tính mà không phải tính
riêng lẻ cho từng phản ứng. Như vậy tư duy logic, chính xác được phát
triển, thể hiện học sinh đã biết dựa vào bản chất hoá học của bài toán
chứ không chỉ chú trọng nhiều tính toán để tìm ra đáp số của bài.
4
3.Rèn luyện năng lực tư duy khái quát hoá trong giải bài tập
hoá học
Năng lực khái quát cao là khả năng phát hiện phát hiện những
nét chung bản chất của nhiều vấn đề, nhiều đối tượng để đưa vấn đề
đó về một kiểu nhất định. Trong giải bài tập hoá học khả năng khái

quát thể hiện ở năng lực học sinh biết phân dạng bài tập hoá học, và
biết tìm phương pháp giải chung cho từng dạng bài.
4.Rèn khả năng độc lập suy nghĩ :
Là khả năng biết tự đặt ra vấn đề, giải quyết vấn đề, kiểm tra
cách giải quyết vấn đề, không thoả mãn với những cái có sẵn, luôn
luôn tìm ra cách giải quuyết mới ngay cả trong các bài tập quen thuộc.
Thí dụ: Trong sách giáo khoa hoá 9 có bài tập
Từ 80 tấn quặng Firit chứa 40
0
0
S sản xuất được 92 tấn axit
sunfuric. Tính hiệu suất của quá trình.
*Alorit giải:
+ Viết 3 phương trình
t
0
4FeS
2
+ 11O
2
= 8SO
2
+ 2 Fe
2
O
3
(1)
t
0


2SO
2
+ O
2
= 2SO
3
(2)
xúc tác
SO
3
+ H
2
O = H
2
SO
4
(3)
+Tính khối lượng S có trong 80 tấn quặng Firit
+Dựa vào phương trình (1) tính khối lượng SO
2
+Dựa vào phương trình (2) tính khối lượng SO
3
+Dựa vào phương trình (3) tính khối lượng H
2
SO
4

+Tính hiệu suất.
*cách khác:
Học sinh nhận thấy quá trình sản suất H

2
SO
4
từ quặng Firit
gồm nhiều phản ứng kế tiếp (sản phẩm của phản ứng này là chất
tham gia của phản ứng kế tiếp )
Học sinh lập hồ sơ chuyển hoá từ 3 phản ứng trên
1mol FeS
2


2 mol SO
2


2 mol SO
3


2 mol H
2
SO
4

Hay 1mol FeS
2
(chứa 2 mol S)

2 mol H
2

SO
4

5
+Tính lượng S có trong 80 tấn quặng Firit
+Tính khối lượng H
2
SO
4
thu được theo lý thuyết
+Tính hiệu suất.
Phân tích: Trong giảng dạy bài tập hoá học nếu giáo viên chú ý
hướng dẫn các em thao tác so sánh, khái quát hoá, chú ý đến bản chất
phản ứng, thấy rõ mối quan hệ giữa các đại lượng thì học sinh đã được
rèn tốt tư duy sáng tạo.
5. Rèn luyện tư duy sáng tạo linh hoạt thông qua việc tìm các
cách giải của một bài tập.
Thí dụ: Cho 10,8 g một kim loại hoá trị III tác dụng với Clo có
dư thu được 53,8 g muối. Xác định kim loại theo phản ứng.
Cách 1: Tính theo phương trình hoá học
Gọi kim loại hoá trị III là A, nguyên tử khối là a ( a>0 )
PTHH : 2A + 3Cl
2
= 2ACl
3

2 mol : 3 mol : 2 mol

a
8,10

mol
35,35
4,53
xa +
mol ACl
3
Ta có:
5,106
4,538,10
+
=
aa
a = 27. Kim loại đó là Al
Cách 2:
Dựa vào định luật bảo toàn khối lượng. Vì kim loại phản ứng hết
ta có:
m
Kim loại
+ m
clo tham gia phản ứng
= m
muối
mCl = 53,4 - 10,8 = 42,6 (g)
nCl =
71
6,42
= 0,6 mol
Từ phương trình

n

A
=
3
26,0 x
= 0,4 (mol)


a x 0,4 = 10,8
a = 27 Kim loại đó là Al
Cách 3:
Khối lượng nguyên tố Clo có trong 53,4 g muối
54,3 - 10,8 = 42,6 g
Số mol nguyên tố Clo có trong muối
6
n
cl
=
5,35
6,42
= 1,2 ( mol )
Số mol muối tạo thành =
3
2,1
= 0,4 ( mol )
Ta có: 0,4 x ( a + 35,5 x 3 ) = 53,4

a = 27 Kim loại đó là Al
Phân tích:
Thực hiện yêu cầu này tuy tốn nhiều thời gian nhưng cùng một
lúc nó giúp ta đạt được nhiều mục đích.

+Phát huy năng lực sáng tạo của học sinh.
+Tổng kết các phương pháp giải bài tập.
+So sánh và đánh giá các phương pháp giải.
6.Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua việc
hướng dẫn học sinh ra đề, tự giải và tự kiểm định kết quả.
Việc tự ra một đề bài tập đặt học sinh vào vị trí phải sử lý nhiều
tình huống khác nhau, theo các mức độ khác nhau.
Thí dụ:
Từ sơ đồ mối quan hệ giữa các loại chất vô cơ hoặc hữu cơ, tôi
thường yêu cầu học sinh:
+ Học sinh tự ra đề về một chuỗi biến hoá ( trong đó các chất đã
biết CTHH ) sau đó tự viết phương trình, rồi kiểm nghiệm đúng sai.
+ Tự ra đề về một chuỗi biến hoá ở mức độ cao hơn ( trong chuỗi
biến hoá đó chỉ có một hoặc vài chất đã biết CTHH )
+ ở mức độ cao hơn nữa: Học sinh tự ra đề về chuỗi biến hoá thể
hiện bằng các chữ cái yêu cầu học sinh xác định các chất ứng với các
chữ đó trong dãy biến hoá, viết phương trình.
- Kiểm định đúng sai.
Phân tích: Nếu học sinh tự ra đề và tự giải thành công sẽ cuốn
hút học sinh vào hoạt động học, kích thích óc sáng tạo, sự phát triển tư
duy của các em.
7. Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh gắn liền với việc
rèn luyện phong cách làm việc khoa học:
Giải bài tập hoá học là một hoạt động trí tuệ, kết quả hoạt đọng
này phụ thuộc vào năng lực tư duy và năng lực tổ chức hoạt động trí
tuệ một cachs khoa học.
Giải bài tập hoá học gồm những bước chung:
7
Bước 1: Giai đoạn định hướng:
- Đọc kỹ đề bài nắm vững các dữ kiện của bài toán hoá học:

Những điều đã biết, những điều cần tìm.
- Tóm tắt đề bài.
- Phân tích đề để tìm ra đâu là nội dung hoá học, đâu là nội dung
toán học.
Bước 2: Giai đoạn hành động:
Vận dụng tổng hợp các kiến thức và kỹ năng để lập và thực hiện
chương trình.
Bước 3: Giai đoạn kiểm tra:
Kiểm tra và đánh giá việc giải, biện luận và khẳng định đáp án.
III. HIỆU QUẢ:
Phát triển tư duy cho học sinh thông qua bài tập hoá học đã góp
phần nâng cao chất lượng học tập, giúp học sinh yêu thích bộ môn đặc
biệt tăng sự linh hoạt, sáng tạo trong toàn bộ quá trình tư duy.
Hình thành kỹ năng phân tích giải các bài tập hoá học làm cho
chất lượng giờ dạy được nâng cao hơn, làm thoả mãn hứng thú của học
sinh trong việc tiếp nhận kiến thức mới nâng cao khả năng tự tìm tòi
nghiên cứu của các em, tạo điều kiện cho các em chủ động chiếm lĩnh
tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo.
Rèn được kỹ năng này cho học sinh, một phần cũng giúp cho
giáo viên năng động sáng tạo, luôn trăn trở tìm ra cái mới đáp ứng
được yêu cầu dạy học, nâng cao tay nghề, là một phương pháp tự học,
tự bồi dưỡng rất có hiệu quả.
Qua rèn luyện phát triển tư duy cho học sinh thông qua bài tập
hoá học tôi thấy rõ chất lượng được nâng lên cụ thể là:
Kết quả các lần K/S học sinh lớp 9 năm học 2004-2005
Sĩ số
Số
lần
K/S
Giỏi Khá Trung bình Yếu

SL % SL % SL % SL %
24
1 1 4,2% 5 20,8% 15 62,5% 3 12,5%
2 3 12,5% 9 37,5% 11 45,8% 1 4,2%
3 6 25% 12 50% 6 25% 0 0
Nhìn vào số liệu giỏi, khá, trung bình, yếu của các lớp
qua các lần khảo sát từ đầu đến cuối năm học, khi chưa áp dụng và đã
8
áp dụng phương pháp phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh thông
qua bài tập hoá học ta thấy: Số học sinh khá, giỏi tăng, số học sinh
trung bình, yếu giảm đặc biệt nhiều học sinh yếu đã vươn lên trung
bình, chứng tỏ phương pháp đã có hiệu quả rõ rệt.
PHẦN III: KẾT LUẬN CHUNG:
- Trong quá trình giảng dạy thực tế, tôi thấy rằng giờ học nào học
sinh được luyện tập nhiều thì giờ học đó học sinh sẽ tiếp thu kiến thức
một cách vững vàng.
- Trong quá trình giảng dạy bài tập hoá học, nếu chú trọng rèn tốt
tư duy cho sinh thì các em sẽ hiểu, nhớ, vận dụng kiến thức tốt hơn,
học sinh sẽ được củng cố hệ thống hoá, mở rộng nâng cao kiến thức
đồng thời các kỹ năng cũng được rèn tốt hơn.
Tóm lại: Rèn tốt tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua bài tập
hoá học nói riêng và thông qua các loại bài tập nói chung đều góp
phần rất tích cực vào việc hình thành nhân cách cho học sinh gồm:
Tính chủ động, sáng tạo, niềm tin và ý chí quyết tâm
Đó cũng chính là mục tiêu giáo dục con người trong thời đại
mới.
* Những kiến nghị đề xuất.
-Tổ chức nhiều chuyên đề có chất lượng, có giờ dạy minh hoạ
hoặc bằng băng đĩa hình.
- Tổ chức các buổi ngoại khoá để các em học sinh trao đổi về cách

học tập của mình, phổ biến cách học của mình cho các bạn khác
tham khảo.
- Riêng sách tham khảo nên lưu hành những sách giải các bài
tập tương tự để học sinh mua và tham khảo, không nên lưu hành sách
giải sẵn bài tập hoá học ở các khối lớp vì học sinh sẽ ỉ lại, không chịu
suy nghĩ và khám phá.
- Đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị thí nghiệm hoá chất, đồ dùng
dạy học cho giáo viên và học sinh. Yêu cầu đồ dùng, thiết bị,
hoá chất có chất lượng.
- Muốn được tham khảo những sáng kiến của đồng nghiệp để
áp dụng cho bản thân.
9
Đồng Tâm, ngày 20 tháng 5 năm 2005
Người viết.
Đậu Kiên Cường
MỤC LỤC
Phần thứ nhất:Đặt vấn đề trang 1
10
Phần thứ hai: Nội dung trang 2
Cơ sở khoa học trang 3
Cơ sở lý luận trang 4
Cơ sở thực tiễn trang 5
Nội dung cụ thể trang 6
Hiệu quả của sáng kiến trang 7
Phần thứ ba:Kết luận chung trang 8
Kiến nghị- Đề xuất
11

×