Tải bản đầy đủ (.doc) (109 trang)

quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương việt nam chi nhánh hà nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.24 MB, 109 trang )

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả trong luận văn là trung thực, xuất phát từ thực tế hoạt động của NHTMCP
Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Hà Nội – nơi tôi làm việc.
Học viên
Hoàng Minh Hà
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả trong luận văn là
trung thực, xuất phát từ thực tế hoạt động của NHTMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Hà Nội
– nơi tôi làm việc 1
Học viên 1
Hoàng Minh Hà 1
DANH MỤC KÝ TỰ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ 4
BẢNG: 4
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của NHTMCPNT Việt Nam Chi nhánh Hà Nội hiện nay 39
Về hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu, đây là một thế mạnh của NHNT nói
chung và VCBHN nói riêng. Tuy nhiên trước biến động chung của toàn nền kinh
tế, đặc biệt là những biến động mạnh về giá cả của các mặt hàng XNK chủ yếu
như dầu thô, sắt thép, lương thực… cũng như sự thay đổi bất thường trong cung
cầu hàng hóa của thị trường thế giới nhưng kim ngạch xuất khẩu cả nước vẫn có
mức tăng khả quan là 30,3% và kim ngạch nhập khẩu tăng 25,8%. Điều này đã
tác động tới tình hình thanh toán XNK của VCB HN 47
Tính đến 30/06/2011, tổng doanh số XNK đạt 177 triệu USD, đạt 40% so với kê
hoạch được giao năm 2011, giảm 11,9% so với cùng kỳ năm 2010, trong đó kim
ngạch xuất khẩu đạt 87 triệu USD và kim ngạch nhập khẩu đạt 90 triệu USD. Dư
nợ bảo lãnh đạt 177 tỷ đồng, đạt 63% kế hoạch TW giao 47
Trong thời gian tới, công tác thanh toán quốc tế tại VCBHN sẽ gặp nhiều khó
khan do sự cạnh tranh về thị phần giữa các ngân hang, chính sách của Nhà nước
trong việc hạn chế nhập khẩu, biến động phức tạp của tỷ giá trên thị trường, sự


căng thẳng cung cầu khi vào mùa nhậpkhẩu cuối năm 47
b. Kinh doanh ngoại tệ 48
DANH MỤC KÝ TỰ VIẾT TẮT
1. HĐQT – Hội đồng quản trị
2. GHTD – Giới hạn tín dụng
3. NHNN – Ngân hàng nhà nước
4. NHTMCPNT VN – Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt
Nam
5. NHTM – Ngân hàng thương mại
6. QHKH – Quan hệ khách hàng
7. QLN – Quản lý nợ
8. QLRR – Quản lý rủi ro
9. VCB HN – Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam chi
nhánh Hà Nội
10. RRTD – Rủi ro tín dụng
11. KH – Khách hàng
12. BCTC – Báo cáo tài chính
13. TSĐB – Tài sản đảm bảo
14. TCTD – Tổ chức tín dụng
15. NQH – Nợ quá hạn
16. TW – Trung ương
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
BẢNG:
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CAM ĐOAN 1
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả trong luận văn là
trung thực, xuất phát từ thực tế hoạt động của NHTMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Hà Nội
– nơi tôi làm việc 1
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả trong luận văn là
trung thực, xuất phát từ thực tế hoạt động của NHTMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Hà Nội

– nơi tôi làm việc 1
Học viên 1
Học viên 1
Hoàng Minh Hà 1
Hoàng Minh Hà 1
DANH MỤC KÝ TỰ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC KÝ TỰ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ 4
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ 4
BẢNG: 4
BẢNG: 4
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của NHTMCPNT Việt Nam Chi nhánh Hà Nội hiện nay 39
Về hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu, đây là một thế mạnh của NHNT nói
chung và VCBHN nói riêng. Tuy nhiên trước biến động chung của toàn nền kinh
tế, đặc biệt là những biến động mạnh về giá cả của các mặt hàng XNK chủ yếu
như dầu thô, sắt thép, lương thực… cũng như sự thay đổi bất thường trong cung
cầu hàng hóa của thị trường thế giới nhưng kim ngạch xuất khẩu cả nước vẫn có
mức tăng khả quan là 30,3% và kim ngạch nhập khẩu tăng 25,8%. Điều này đã
tác động tới tình hình thanh toán XNK của VCB HN 47
Tính đến 30/06/2011, tổng doanh số XNK đạt 177 triệu USD, đạt 40% so với kê
hoạch được giao năm 2011, giảm 11,9% so với cùng kỳ năm 2010, trong đó kim
ngạch xuất khẩu đạt 87 triệu USD và kim ngạch nhập khẩu đạt 90 triệu USD. Dư
nợ bảo lãnh đạt 177 tỷ đồng, đạt 63% kế hoạch TW giao 47
Trong thời gian tới, công tác thanh toán quốc tế tại VCBHN sẽ gặp nhiều khó
khan do sự cạnh tranh về thị phần giữa các ngân hang, chính sách của Nhà nước
trong việc hạn chế nhập khẩu, biến động phức tạp của tỷ giá trên thị trường, sự
căng thẳng cung cầu khi vào mùa nhậpkhẩu cuối năm 47
b. Kinh doanh ngoại tệ 48
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhằm
hội nhập với nền kinh tế khu vực và trên thế giới. Đặc biệt là trong giai đoạn hiện
nay, khi Việt Nam đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, cạnh tranh ngày
càng gay gắt thì hoạt động sản xuất và đầu tư diễn ra ngày càng sôi động, nhu cầu
về vốn đầu tư cho các dự án, đầu tư để mở rộng sản xuất, cũng như nhu cầu vốn cho
tín dụng ngày càng tăng. Do đó Ngân hàng và hoạt động tín dụng đang ngày càng
có vai trò to lớn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Cùng với sự tồn tại tất yếu phát triển không ngừng của hệ thống ngân hàng,
tín dụng ngân hàng đã thực sự trở thành trụ cột vững chắc cho sản xuất và lưu
thông. Trong nền kinh tế hàng hoá, tín dụng ngân hàng phải làm sao tạo được thị
trường đầu vào để tăng nhanh nguồn vốn tín dụng và mở rộng thị trường đầu ra để
sử dụng nguồn vốn có hiệu quả cao nhất. Tín dụng ngân hàng là một khâu cơ bản
của hệ thống tài chính quốc gia nên cần góp phần tích cực bảo đảm cung cấp vốn
dài hạn, trung hạn, và ngắn hạn, cả nội tệ và ngoại tệ đáp ứng nhu cầu về vốn của
nền kinh tế quốc dân. Trong khi đó đặc thù hoạt động kinh doanh của hầu hết các
ngân hàng luôn chứa đựng hàng loạt những rủi ro, mà nguy hiểm nhất hiện nay là
rủi ro tín dụng, chiếm tới 90% trong số các loại rủi ro cơ bản. Rủi ro trong hoạt
động tín dụng có thể gây tác động xấu đến các hoạt động kinh doanh khác, có khi
đe doạ cả sự tồn tại của ngân hàng thương mại. Trong giai đoạn hiện nay, với sự gia
tăng của các dự án đầu tư, việc gia tăng các khoản tín dụng trung và dài hạn là điều
không thể tránh khỏi. Tuy nhiên đây là một lĩnh vực hoạt động tồn tại nhiều rủi ro,
chính vì vậy để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng tăng cường quản
lý rủi ro tín dụng tín dụng không chỉ là hoạt động mang tính cấp bách lúc này mà
còn mang tính lâu dài, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong hoạt động kinh doanh
của ngân hàng. Hiện nay nợ xấu đang là vấn đề nóng bỏng cần quan tâm để làm
trong sạch bảng cân đối của ngân hàng, nâng cao năng lực tài chính, tăng sức cạnh
tranh cho NHTM.
Sau khi cổ phần hóa, VCB đang trên đường hình thành và phát triển theo
1
hướng là tập đoàn tài chính ngân hàng đa năng, đa sở hữu, hội nhập kinh tế quốc tế,

được định hướng theo yêu cầu phát triển của nền kinh tế. Để tạo được một hình ảnh
đẹp trong mắt bạn bè trong nước và quốc tế, Vietcombank cần nỗ lực hơn nữa trong
công tác quản lý rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng, xử lý nợ để làm trong sạch, lành
mạnh hóa tài chính của bản thân ngân hàng.
Xuất phát từ thực tế đó, nhận thấy được tầm quan trọng của vấn đề, đồng
thời trên cơ sở lý luận được học tại trường và qua quá trình làm việc tại Ngân hàng
Ngoại Thương Việt Nam chi nhánh Hà Nội, tác giả đã chọn đề tài “QUẢN TRỊ
RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI
THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH HÀ NỘI” làm đề tài luận văn thạc sỹ của
mình.
2. Mục đích nghiên cứu của luận văn
- Hệ thống lại những vấn đề lý luận về rủi ro tín dụng để khẳng định rủi ro tín
dụng là một tất yếu song có thể hạn chế được để đảm bảo an toàn và khả năng sinh
lời của ngân hàng.
- Phân tích thực trạng hoạt động tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng tại
NHTMCPNT Việt Nam chi nhánh Hà Nội, đánh giá những kết quả đạt được và
những hạn chế còn tồn tại.
- Đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường quản trị rủi ro trong hoạt động tín
dụng tại NHTMCPNT Việt Nam chi nhánh Hà Nội.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn:
+ Những lý luận cơ bản về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng
+ Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại NHTMCPNT Việt Nam chi nhánh Hà Nội
+ Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại NHTMCPNT Việt Nam
chi nhánh Hà Nội
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn: RRTD tại NHTMCPNT Việt Nam chi
nhánh Hà Nội giai đoạn 2008 – nửa đầu 2011.
4. Phương pháp nghiên cứu
2
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu lý thuyết về quản trị rủi

ro tín dụng để phân tích thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại NHTMCP Ngoại
thương chi nhánh Hà Nội. Bên cạnh đó còn sử dụng số liệu thực tế để làm luận
chứng thông qua các phương pháp so sánh, thống kê, đồ thị, áp dụng phương pháp
nghiên cứu định tính và định lượng trong thu thập và xử lý thông tin.
Luận văn sử dụng nguồn dữ liệu thu thập từ các tài liệu, thông tin nội bộ của
NHTMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Hà Nội, và các nguồn dữ liệu thu thập
ở bên ngoài như mạng Internet, báo chí…
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng
Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần
ngoại thương Việt Nam chi nhánh Hà Nội
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại
Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam chi nhánh Hà Nội
3
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG
VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
1.1. RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1.1. Quan niệm về rủi ro tín dụng
Để hiểu thế nào là rủi ro tín dụng, trước hết ta cần phải hiểu thế nào là rủi ro.
“Rủi ro là khả năng xảy ra các biến cố không lường trước được, khi các biến cố này
xảy ra sẽ gây tổn thất cho ngân hàng hay rủi ro là những sự cố xảy ra gây mất mát
do những yếu tố không mong muốn nằm ngoài sự kiểm soát của ngân hàng.”
Trong nền kinh tế thị trường, sự ra đời và phát triển các loại hình ngân hàng,
các tổ chức tín dụng cùng với tính đa dạng của các hoạt động và hình thức tín dụng
đã tạo nên một thị trường tín dụng sôi động. Song điều đó cũng chứa đựng nhiều
yếu tố rủi ro có thể xảy ra với các ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng. Mặt khác,

ngân hàng là một trung gian tài chính. Vai trò trung gian của ngân hàng thể hiện qua
viêc ngân hàng là đầu mối kết nối giữa các chủ thể của nền kinh tế. Trong đó, một
phía là các chủ thể có tiền, còn phía bên kia là những chủ thể cần tiền. Với vai trò
đó, ngân hàng có thể hứng chịu rủi ro đến từ hai phía. Rủi ro và kinh doanh là hai
mặt đối lập nhau trong một thể thống nhất của quá trình kinh doanh, chúng luôn tồn
tại và mâu thuẫn với nhau. Mặt khác, hoạt động kinh doanh của ngân hàng rất
phong phú đa dạng. Các loại rủi ro có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, một loại rủi
ro này có thể đưa tới một loại rủi ro khác, bao gồm một số loại rủi ro sau : rủi ro tín
dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái, rủi ro thanh khoản….
Như vậy, rủi ro là điều không thể tránh khỏi đối với tất cả ngân hàng thương
mại khi kinh doanh. Trong các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại thì nghiệp vụ
tín dụng chứa đựng nhiều rủi ro nhất và gây thiệt hại nhiều nhất, ảnh hưởng tới sự
phát triển của ngân hàng thương mại.
Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh từ các giao dịch đối với các nghĩa vụ trả
4
nợ hiện tại và tương lai của đối tác. Đây là loại rủi ro gắn liền với hoạt động của
ngân hàng, bởi vì hoạt động tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của các NHTM,
nó đem lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng, thông qua hoạt động tín dụng ngân
hàng mới có thể phát triển thêm các loại hình dịch vụ khác. Khi rủi ro tín dụng xảy
ra, ngân hàng sẽ không trang trải đủ chi phí có thể dẫn đến tình trạng phá sản.
Rủi ro tín dụng tồn tại dưới nhiều hình thức. Lúc đầu doanh nghiệp có thể
chậm trả lãi, rồi sau đó chậm trả gốc, hơn nữa là không thể trả lãi và cuối cùng là
không thể trả gốc. Lúc này ngân hàng thực sự rơi vào tình trạng rủi ro. Tuy nhiên
không phải lúc nào rủi ro tín dụng của ngân hàng cũng phải trải qua cả bốn hình
thức trên. Có khi doanh nghiệp trả lãi rất đầy đủ, đúng hạn nhưng cuối cùng lại
không trả nợ gốc nên ngân hàng chỉ có khoản mục nợ quá hạn phát sinh rồi chuyển
sang nợ quá hạn không có khả năng thu hồi. Các trường hợp trên chỉ là các tình
huống tổng quát, khi nghiên cứu rủi ro tín dụng người ta thường chú trọng vào nguy
cơ xẩy ra rủi ro như lãi treo và đặc biệt là nợ quá hạn không có khả năng thu hồi
được được coi là các tình huống rủi ro thực sụ nên thường được xem xét để giải

quyết hậu quả và rút ra bài học.
1.1.2. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là rủi ro tiềm ẩn bên trong ngân hàng, tồn tại một cách tất
yếu khách quan. Có rất nhiều nguyên nhân gây nên rủi ro tín dụng, đó có thể là
nguyên nhân chủ quan từ bản thân ngân hàng, hoặc nguyên nhân do những yếu tố
bên ngoài đưa tới.
1.2.2.1. Rủi ro xuất phát từ những yếu tố khách quan bất khả kháng
- Sự thay đổi chính sách của Nhà nước về kinh tế xã hội
Quá trình phát triển kinh tế của một đất nước đều trải qua những thời kỳ biến
động khác nhau. Chính vì vậy, Nhà nước cần thay đổi các chính sách về kinh tế xã
hội để phù hợp với từng giai đoạn phát triển. Việc thay đổi quá nhanh các chính
sách đã ảnh hưởng rất lớn đến các yếu tố đầu vào, đầu ra của doanh nghiệp, dẫn đến
việc khách hàng cũng như NHTM không thu hồi được vốn.
- Hệ thống thông tin còn nhiều bất cập
5
Trước khi quyết định cho vay một khách hàng, các cán bộ tín dụng phải tiến
hành thu thập thông tin từ nhiều nguồn và bằng nhiều phương thức để tìm hiểu kỹ
về khách hàng đó. Tuy nhiên, những thông tin thu thập được đó còn nhiều bất cập,
thiếu tính chính xác.
- Thị trường tài chính ngân hàng biến động mạnh
Thị trường tài chính ngân hàng luôn vận động và biến đổi mạnh, tác động
không nhỏ tới hoạt động đầu tư sản xuất của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến đời sống
xã hội, kinh tế nói chung. Các điều kiện kinh tế trong từng thời kỳ có ảnh hưởng
đến chất lượng tín dụng. Chẳng hạn trong một nền kinh tế phát triển quá nóng, Chính
phủ để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng bền vững đề ra một số biện pháp nhằm hạn chế
đầu tư. Định hướng này của chính phủ sẽ tác động đến hệ thông ngân hàng thông qua
chính sách tiền tệ. Các ngân hàng sẽ phải thắt chặt chính sách tín dụng, các khoản tài
trợ cho nền kinh tế sẽ được xem xét một cách kỹ lưỡng hơn trước khi quyết định đầu tư
thay cho các quyết định nhanh chóng trước kia, từ đó khả năng xảy ra rủi ro cho ngân
hàng sẽ ít hơn. Hơn nữa để đáp ứng nhu cầu tín dụng cho một nền kinh tế đang phát

triển, đòi hỏi bản thân ngân hàng cũng phải đổi mới cho phù hợp với tình hình mới. Sự
đổi mới này diễn ra ở tất cả các khâu bao gồm công tác tổ chức, trang thiết bị, trình độ
nhân sự chất lượng tín dụng do đó cũng được nâng lên.
- Các yếu tố thuộc về tự nhiên
Bên cạnh các yếu tố trên còn một số yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến chất
lượng tín dụng của ngân hàng chẳng hạn môi trường tự nhiên: thiên tai làm cho hoạt
động của doanh nghiệp bị đình trệ thậm chí phá sản dẫn tới không trả nợ được cho
ngân hàng. Tuy nhiên đây là một yếu tố bất khả kháng, trong trường hợp này các
ngân hàng vẫn có thể tiếp tục tài trợ cho khách hàng để tiếp tục kinh doanh từ đó có
thể thu hồi được cả nợ cũ lẫn nợ mới.
1.2.2.2. Rủi ro từ phía khách hàng
a. Từ phía khách hàng cá nhân:
Rủi ro từ các khách hàng cá nhân có thể xuất phát từ hoàn cảnh gia đình, tình
trạng ốm đau bệnh tật, tình hình kinh doanh của doanh nghiệp nơi khách hàng đó
công tác đi xuống, có thể dẫn đến thất nghiệp, khả năng quản lý tài chính của khách
6
hàng yếu kém, hoặc khách hàng đó không trung thực và chủ tâm lừa ngân hàng.
b. Từ phía khách hàng doanh nghiệp:
• Do khách hàng không thể trả nợ, xuất phát từ các nguyên nhân sau
- Khả năng quản lý yếu kém thể hiện ở những chiến lược sai lầm, thiều tầm
nhìn, thiếu tập trung, thiếu kiểm soát. Khi khách hàng vay tiền ngân hàng để mở
rộng quy mô kinh doanh, đa phần là tập trung vốn đầu tư vào tài sản vật chất chứ ít
khách hàng nào dám mạnh dạn đổi mới cung cách quản lý, đầu tư cho bộ máy giám
sát kinh doanh, tài chính, kế toán theo đúng chuẩn mực. Quy mô kinh doanh phình
ra quá to so với tư duy quản lý là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của các phương
án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó phải thành công trên thực tế.
Doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả, thường xuyên thua lỗ, văn hoá
doanh nghiệp, quản trị nhân sự, quản trị yếu tố đầu vào, công tác Marketing không
được chú trọng… cũng là một trong những biểu hiện mà ngân hàng cần phải xem
xét để tránh rủi ro.

- Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém. Quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ
bé là đặc điểm chung của hầu hết các khách hàng vay vốn Việt Nam. Ngoài ra, thói
quen ghi chép đầy đủ, chính xác, rõ ràng các sổ sách kế toán vẫn chưa được các
khách hàng tuân thủ nghiêm chỉnh và trung thực. Do vậy, sổ sách kế toán mà các
khách hàng cung cấp cho ngân hàng nhiều khi chỉ mang tính chất hình thức hơn là
thực chất. Khi cán bộ ngân hàng lập các bảng phân tích tài chính của doanh nghiệp
dựa trên số liệu do các khách hàng cung cấp thường thiếu tính thực tế và xác thực.
Đây cũng là nguyên nhân vì sao ngân hàng vẫn luôn xem nặng phần tài sản thế chấp
như là chỗ dựa cuối cùng để phòng chống rủi ro tín dụng.
- Về triển vọng kinh doanh, thông thường khi doanh nghiệp đưa vốn của ngân
hàng vào kinh doanh, một doanh nghiệp đang trong tình trạng thị phần của mình bị
thu hẹp, nhà cung cấp không ổn định, hoạt động kinh doanh gặp nhiều khó khăn thì
tất nhiên khả năng hoàn trả vốn tín dụng cho ngân hàng sẽ không được đảm bảo.
Ngược lại một triển vọng kinh doanh sáng sủa đồng nghĩa với việc ngân hàng sẽ
mạnh dạn trong việc tài trợ cho doanh nghiệp các nhu cầu về vốn do ngân hàng có
7
thể xác định được các khoản tín dụng cấp cho khách hàng là có chất lượng hay
không
• Do khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả
nợ vay
Đa số các khách hàng khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án kinh
doanh cụ thể, khả thi. Nếu khách hàng trung thực sử dụng vốn vay đúng mục đích
thì rủi ro xảy ra đối với ngân hàng sẽ ít đi do để dẫn tới quyết định cung cấp vốn
cho khách hàng ngân hàng đã có một quá trình xét duyệt hồ sơ xin vay và nếu như
quá trình này thực hiện một cách chính xác thì khi vốn sử dụng đúng mục đích như
hồ sơ xin vay, sẽ xảy ra ít rủi ro hơn. Trong thời gian qua một tỷ lệ rủi ro tín dụng
tương đối cao xuất phát từ nguyên nhân sử dụng vốn sai mục đích. Đặc biệt là có
một số doanh nghiệp tư nhân làm ăn theo kiều lừa đảo khiến cho các ngân hàng
không dám cho vay nhiều đối với thành phần kinh tế này. Số lượng các doanh
nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, cố ý lừa đảo ngân hàng để chiếm đoạt tài sản

không nhiều. Tuy nhiên, những vụ việc phát sinh lại hết sức nặng nề, liên quan đến
uy tín của các cán bộ, làm ảnh hưởng xấu đến các khách hàng khác.
1.2.2.3. Rủi ro từ phía ngân hàng thương mại
• Chính sách tín dụng không hợp lý và khả năng phân tích tín dụng yếu
Bất kỳ một lỗi nhỏ nào trong chính sách tín dụng và quy trình phân tích, khả
năng phân tích tín dụng của cán bộ tín dụng cũng có thể gây ra rủi ro khó tránh cho
ngân hàng. Nói cách khác, nếu kết cấu danh mục cho vay không hợp lý, quyền phán
quyết tín dụng được phân bổ cho những cán bộ ít kinh nghiệm, khả năng phán xét
và tính nhất quán chưa cao, chính sách lãi suất không hiệu quả, các tiêu chuẩn về
chất lượng tín dụng không rõ ràng sẽ dẫn đến giảm sút chất lượng tín dụng, ngân
hàng sẽ phải đối mặt với rủi ro.
• Công nghệ ngân hàng yếu kém
Công nghệ ngân hàng có vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo cho hệ
thống ngân hàng vận hành một cách trôi chảy, nhanh chóng và hiệu quả. Ngân hàng
nào nắm giữ công nghệ hiện đại, ngân hàng đó sẽ có khả năng rút ngắn được thời
8
gian tác nghiệp, phát hiện và phòng ngừa trước các rủi ro kịp thời hơn, hạn chế
được những tổn thất xảy ra. Ngược lại, công nghệ yếu kém sẽ dẫn đến sự trì trệ,
chậm trễ trong việc phát hiện và xử lý rủi ro.
• Thiếu giám sát và quản lý sau khi cho vay:
Các ngân hàng thường có thói quen tập trung nhiều công sức cho việc thẩm
định trước khi cho vay mà lơi lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi
cho vay. Khi ngân hàng cho vay thì khoản cho vay cần phải được quản lý một cách
chủ động để đảm bảo sẽ được hoàn trả. Theo dõi nợ là một trong những trách nhiệm
quan trọng nhất của cán bộ tín dụng nói riêng và của ngân hàng nói chung. Việc
theo dõi hoạt động của khách hàng vay nhằm tuân thủ các điều khoản đề ra trong
hợp đồng tín dụng giữa khách hàng và ngân hàng nhằm tìm ra những cơ hội kinh
doanh mới và mở rộng cơ hội kinh doanh. Tuy nhiên, trong thời gian qua các
NHTM chưa thực hiện tốt công tác này. Điều này do một phần yếu tố tâm lý ngại
gây phiền hà cho khách hàng của cán bộ ngân hàng, một phần do hệ thống thông tin

quản lý phục vụ kinh doanh của các khách hàng quá lạc hậu, không cung cấp được
kịp thời, đầy đủ các thông tin mà NHTM yêu cầu.
• Bố trí cán bộ thiếu đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ:
Một số vụ án kinh tế lớn trong thời gian vừa qua có liên quan đến cán bộ
NHTM đều có sự tiếp tay của một số cán bộ ngân hàng cùng với khách hàng làm
giả hồ sơ vay, hay nâng giá tài sản thế chấp, cầm cố lên quá cao so với thực tế để rút
tiền ngân hàng.
Đạo đức của cán bộ là một trong các yếu tố quan trọng để giải quyết vấn đề
hạn chế rủi ro tín dụng. Một cán bộ kém về năng lực có thể bồi dưỡng thêm, nhưng
một cán bộ tha hóa về đạo đức mà lại giỏi về mặt nghiệp vụ thì thật vô cùng nguy
hiểm khi được bố trí trong công tác tín dụng.
Bên cạnh đó, một số cán bộ tín dụng có trình độ chuyên môn nghiệp vụ chưa
cao, không năng động, không chịu học hỏi, tiếp thu hay tìm hiểu sâu hơn về công
việc, dẫn đến tình trạng thẩm định và đánh giá sai về khách hàng hay khoản vay,
làm tăng rủi ro tín dụng cho NHTM.
• Sự hợp tác giữa các NHTM quá lỏng lẻo
9
Kinh doanh ngân hàng là một nghề đặc biệt huy động vốn để cho vay hay nói
cách khác đi vay để cho vay, do vậy vấn đề rủi ro trong hoạt động tín dụng là không
thể trách khỏi, các ngân hàng cần phải hợp tác chặt chẽ với nhau nhằm hạn chế rủi
ro. Sự hợp tác nảy sinh do yêu cầu quản lý rủi ro đối với cùng một khách hàng khi
khách hàng này vay tiền tại nhiều ngân hàng. Trong quản trị tài chính, khả năng trả
nợ của một khách hàng là một con số cụ thể, có giới hạn tối đa của nó. Nếu do sự
thiếu trao đổi thông tin dẫn đến việc nhiều ngân hàng cùng cho vay một khách hàng
đến mức vượt quá giới hạn tối đa này thì rủi ro chia đều cho tất cả chứ không chừa
một ngân hàng nào.
1.1.3. Hậu quả của rủi ro tín dụng
Khi rủi ro tín dụng xảy ra, tuỳ theo mức độ mà nó gây ra những tác hại
nghiêm trọng không chỉ với hệ thống ngân hàng, với người vay mà còn cả với nền
kinh tế xã hội.

• Trước hết, đối với NHTM, lợi nhuận thu được của NHTM chủ yếu là từ hoạt
động tín dụng. NHTM chủ yếu dựa trên tiền của người khác. NHTM hoạt động
không có hiệu quả thì rủi ro tiềm ẩn là rất lớn. Do đó, khi xảy ra rủi ro không thu
được nợ, ngân hàng không những không thu về được lợi nhuận, mà còn không có
nguồn thanh toán cho KH, dẫn đến mất khả năng thanh toán.
Mặt khác, NHTM là một loại doanh nghiệp đặc biệt, ngân hàng phải kinh
doanh theo luật định, tự chịu trách nhiệm về tài chính và các rủi ro trong hoạt động
tín dụng. khi hoạt động tín dụng kém hiệu quả, vốn cho vay ra thu hồi không đủ
hoặc mất luôn cả vốn lẫn lãi thì có tác hại rất lớn. Vốn kinh doanh của ngân hàng có
thể bị đóng băng, khả năng thanh toán yếu dần, kinh doanh thua lỗ, nợ quá hạn gia
tăng, ngân hàng mất uy tín trên thương trường, gây rối loạn thị trường kinh doanh
tiền tệ. Người gửi tiền ồ ạt rút vốn làm ngân hàng mất khả năng chi trả dẫn đến phá
sản, và có thể kéo theo các ngân hàng khác phá sản, ảnh hưởng rất lớn đến hoạt
động của nền kinh tế quốc dân, thậm chí có thể dẫn đến khủng hoảng nền kinh tế,
làm ảnh hưởng đến đời sống của cán bộ ngân hàng nói riêng và nhân dân nói chung,
ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, xã hội.
• Đối với người đi vay, thông thường RRTD bắt nguồn từ hậu quả của rủi ro
10
trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Xảy ra hiện tượng nợ quá hạn người đi
vay có thể bị mất nguồn tài trợ của ngân hàng, gây ra hàng loạt những nguy cơ: cơ
hội kinh doanh tuột khỏi tay, tài sản bị tịch thu hoặc phát mại, người đi vay đứng
trước nguy cơ phá sản… Sự tồn tại của doanh nghiệp coi như bằng không nếu
không có biện pháp ứng phó kịp thời khác.
• Đối với nền kinh tế, RRTD chứng tỏ người vay vốn đã không thực hiện được
nghĩa vụ của bản thân, hiệu quả kinh đầu tư không đạt yêu cầu như đã đặt ra khi vay
vốn từ NHTM. Do đó, lợi ích kinh tế xã hội dự kiến nhận được qua các khoản thuế,
phí, lệ phí…. là không có, sản xuất và lưu thông hàng hoá bị đình trệ, do một “mắt
xích” bị đứt, chức năng làm công cụ điều tiết nền kinh tế sẽ bị suy yếu. Quyền lợi
của người gửi tiền sẽ không được đảm bảo.
Lịch sử hoạt động của các NHTM trên thế giới đã chứng kiến không ít các

ngân hàng lớn bị phá sản và hậu quả của nó thậm chí không giới hạn trong một
quốc gia mà còn lây lan sang nhiều nước trong khu vực thậm chí là cả châu lục và
toàn cầu. Minh chứng rõ ràng và xác thực nhất cho điều này chính là cuộc khủng
hoảng tài chính thế giới năm 2008 mà căn nguyên của nó chính là từ hoạt động cho
vay dưới chuẩn của các NHTM tại Mỹ.
Để giảm thiểu RRTD ở mức thấp nhất cho ngân hàng thì chỉ có cách ngân
hàng không cho vay nữa. Tuy nhiên, điều đó là không thể được vì hoạt động tín
dụng là hoạt động kinh doanh của ngân hàng mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho
ngân hàng. Vì vậy mà ngân hàng không thể không cho vay. Vấn đề đặt ra là làm thế
nào để kiểm soát được tín dụng, thực hiện tốt được điều này thì ngân hàng mới thực
sự hạn chế được rủi ro tín dụng. Dù có thận trọng đến đâu chăng nữa thì các ngân
hàng vẫn không thể hoàn toàn tránh khỏi rủi ro. Mặt khác, nếu ngân hàng quá thận
trọng trong việc ra quyết định cho vay, ngân hàng sẽ bị mất cơ hội thu lợi nhuận và
khó mà mở rộng được quy mô của ngân hàng. Khi RRTD xảy ra, các khoản nợ khó
thu hồi sẽ ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng. Khi có quá nhiều các khoản nợ khó
đòi hoặc không thu hồi được sẽ lại phát sinh các khoản chi phí quản lý, giám sát,
thu nợ… Các chi phí này còn cao hơn khoản thu nhập từ việc tăng lãi suất các
11
khoản nợ quá hạn bởi vì thực ra đây chỉ là những khoản thu nhập ảo, thực tế các
ngân hàng rất khó thu hồi đầy đủ những khoản này. Bên cạnh đó, ngân hàng vẫn
phải trả lãi cho các khoản tiền huy động được, trong khi một bộ phận tài sản của
ngân hàng không thu được lãi cũng như không chuyển được thành tiền để cho người
khác vay và thu lãi.
Tóm lại, rủi ro trong quá trình hoạt động của các NHTM tuỳ theo mức độ sẽ
ảnh hưởng nhiều hay ít tới bản thân ngân hàng cũng như tới nền kinh tế. Tuy nhiên
rủi ro trong hoạt động tín dụng lại ảnh hưởng lớn nhất đến ngân hàng. Chính vì vậy,
ngân hàng luôn phải quan tâm tới hạn chế rủi ro trong các khoản cho vay của mình.
1.2. QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.2.1. Khái niệm quản trị Rủi ro tín dụng

Hoạt động kinh doanh của ngân hàng luôn đứng trước những nguy cơ rủi ro
rất cao mà nghiệp vụ tín dụng là một trong những lĩnh vực gây đau đầu nhất cho các
nhà quản trị trong việc quản lý và hạn chế rủi ro. Theo một nghiên cứu của Mc
Kinsey & Company, các ngân hàng thương mại ở Châu Á thường có rủi ro tín dụng
chiếm 60% so với tổng vốn rủi ro. Chính vì vậy mà việc nghiên cứu tìm ra các giải
pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng tín dụng hay giảm thiểu rủi ro tín dụng luôn
là mục tiêu, đồng thời là nhân tố quan trọng nhất để cạnh tranh và phát triển của
NHTM.
Đối với RRTD, trước hết, khi thực hiện cho vay đối với khách hàng thì nên
coi đó là một hiện tượng có thể xảy ra ngoài ý muốn của ngân hàng. Với quan niệm
như vậy, mỗi khi tiến hành xem xét một khoản tín dụng, ngân hàng cần lường trước
nhũng rủi ro có thể xảy ra. Mặc dù RRTD là một hiện tượng tiềm ẩn và không phải
bao giờ cũng xảy ra khi ngân hàng cho khách hàng vay vốn, nhưng trong nhiều
trường hợp, do tính lặp lại của rủi ro nên người ta có thể nhận biết được quy luật
của nó. Từ đó ngân hàng có thể tìm ra những biện pháp quản lý hạn chế khả năng
xảy ra RRTD và giảm thiểu tổn thất do RRTD gây ra. Như vậy, “quản trị RRTD
có thể được hiểu là toàn bộ quá trình thẩm định đánh giá trước khi khoản vay
12
được duyệt cùng với toàn bộ quá trình giám sát, báo cáo tuân thủ những cam
kết tín dụng và xử lý rủi ro tín dụng.”
1.2.2. Quy trình quản trị rủi ro tín dụng
1.2.2.1. Nhận biết rủi ro tín dụng
Hoạt động sản xuất kinh doanh của người đi vay luôn chịu sự tác động và
biến động của thị trường, nguy cơ xảy ra rủi ro tín dụng từ phía họ càng lớn khi thị
trường vận động theo tính thiếu ổn định tương đối. Hơn nữa, rủi ro tín dụng cũng là
vấn đề lớn và gắn liền với mọi hoạt động của các ngân hàng. Các cán bộ tín dụng có
thể dùng nhiều phương pháp để nhận biết rủi ro tín dụng như dựa vào mục tiêu (bất
kì những gì cản trở việc thực hiện mục tiêu được coi là rủi ro), đưa ra tình huống giả
định (nếu một việc xảy ra thì sẽ như thế nào) hoặc dựa vào kinh nghiệm của bản
thân và tiền lệ trước đó. Việc nhận biết và đánh giá đầy đủ các rủi ro là hết sức cần

thiết vì các hình thức rủi ro tín dụng xảy ra rất đa dạng và không thể có mô hình
chung về rủi ro tín dụng. Tuy nhiên ở chừng mực nào đó chúng ta có thể nhận biết
được các rủi ro tuỳ theo từng dấu hiệu cụ thể.
Nhóm dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với NH:
• Giảm sút mạnh số dư tiền gửi: Số dư trên tài khoản tiền gửi của khách hàng
giảm sút rõ rêt, hoặc một cách bất thường, xuất hiện các séc phát hành quá số dư.
• Mức độ vay thường xuyên gia tăng
• Thanh toán chậm các khoản nợ gốc và lãi
Nợ quá hạn là biểu hiện đặc trưng nhất của rủi ro tín dụng. Nợ quá hạn là
những khoản tín dụng cấp ra mà vì nguyên nhân nào đó không được thanh toán đủ
và đúng hạn như trong hợp đồng tín dụng. Nợ quá hạn là kết quả của mối quan hệ
tín dụng không hoàn hảo khi người đi vay vi phạm nguyên tắc tín dụng, không hoàn
trả đúng hạn đầy đủ cả gốc và lãi gây đổ vỡ lòng tin của ngân hàng đối với khách
hàng. Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thể hiện càng nhiều các khoản nợ chưa được thanh
toán đúng hạn, như vậy mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng sẽ càng lớn. Hiện
nay, theo quy định của NHNN, tỷ lệ nợ quá hạn trên 5% được gọi là cao chứng tỏ
ngân hàng có mức rủi ro tín dụng cao.
Lãi quá hạn là số tiền lãi mà KH không trả được khi đến hạn thanh toán lãi.
13
Khoản lãi được thanh toán không gắn liền với việc trả gốc, và so với khoản gốc thì
nó có giá trị rất nhỏ, được trả vào một ngày xác định theo hợp đồng tín dụng, biểu
hiện doanh nghiệp đang có khó khăn về mặt tài chính.
Khách hàng có ý muốn khất nợ, gia hạn nợ, xin đảo nợ, thậm chí chấp nhận
nợ quá hạn, chấp nhận vay nợ với lãi suất cao.
Khách hàng chậm trễ trong việc sắp xếp gặp gỡ với nhân viên ngân hàng khi
họ đến kiểm tra tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị hay kiểm tra tình hình sử
dụng vốn của doanh nghiệp.
• Thường xuyên vay vượt quá nhu cầu dự kiến
• Sử dụng vốn sai mục đích, sử dụng các khoản tài trợ ngắn hạn để đầu tư
trung dài hạn: Người vay sử dụng vốn sai mục đích, hoạt động kinh doanh phi

pháp.Trước khi ra quyết định cấp tín dụng thì cán bộ tín dụng đã phải tìm hiểu và
thẩm định một cách kỹ lưỡng phương án sản xuất kinh doanh của khách hàng, đảm
bảo việc khách hàng sẽ vận hành kế hoạch kinh doanh theo đúng những gì được đưa
ra. Điều đó không chỉ giúp cho bản thân việc sản xuất kinh doanh của khách hàng
thành công và đem lại lợi nhuận như dự kiến, mà còn giúp cho ngân hàng thu hồi
được nợ gốc và lãi đúng hạn, giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng.
Nhóm dấu hiệu liên quan đến tình hình tài chính:
• Giảm các khoản phải trả và tăng các khoản phải thu
• Các hệ số thanh toán đi theo chiều hướng xấu
• Chấp nhận sử dụng những nguồn tài trợ đắt nhất – factoring
• Tăng doanh số bán nhưng lãi giảm
• Hoạt động lỗ: Tình hình tài chính của doanh nghiệp không lành mạnh,
thường xuyên thua lỗ, tình hình chiếm dụng vốn hoặc để vốn bị chiếm dụng lâu
ngày không giải quyết, nợ phải trả lớn hơn các khoản phải thu, không thực hiện
đúng chế độ tài chính kế toán.
• Khả năng tiền mặt giảm
• Thường xuyên không đạt mức kế hoạch sản xuất và bán hàng, chất lượng sản
phẩm dịch vụ giảm sút, mất uy tín trên thị trường, bạn hàng, người tài trợ, quan hệ
14
giao dịch với các đối tác của doanh nghiệp không được thuận lợi, các đối tác tự ý
huỷ bỏ hợp đồng kinh doanh với doanh nghiệp.
• Tăng giá trị quá cao thông qua việc đánh giá lại TSCĐ
• Đột ngột thay đổi phương thức hạch toán hàng tồn kho,từ nhập sau xuất
trước thành nhập trước xuất trước.
Nhóm dấu hiệu liên quan đến tình hình quản lý
• Hệ thống quản trị bất đồng về mục đích, điều hành độc đoán hoặc quá phân
tán
• Thay đổi thường xuyên cơ cấu quản trị
• Lãnh đạo ít kinh nghiệm
• Không quan tâm đến lợi ích của cổ đông

• Lập kế hoạch người kế cận không đầy đủ
• Tranh chấp trong quản lý
• Có nhiều chi phí quản lý bất hợp lý
• Thuyên chuyển nhân viên diễn ra thường xuyên
• Gia đình trị
Nhóm dấu hiệu về kỹ thuật và thương mại
• Phụ thuộc vào 1 nhà cung cấp lớn hoặc 1 KH lớn
• Khó khăn trong phát triển sản phẩm
• Sản phẩm lỗi thời lạc hậu
• Thêm nhiều đối thủ cạnh tranh nên không giữ được thị phần
• Ảnh hưởng bởi thay đổi chính sách của NN: thuế, điều kiện ưu đãi…
• Hội chứng sản phẩm đẹp, lệ thuộc vào sản phẩm bất thường để tạo lợi nhuận
1.2.2.2. Đánh giá, đo lường rủi ro tín dụng
Tìm hiểu, đo lường, phân tích, đây là những bước tiếp theo sau khi đã nhận
biết phát hiện được các nguy cơ rủi ro. Thực tế các bước này có liên kết khá chặt
chẽ, gần gũi với nhau và thường được gộp chung lại. Mục tiêu của các bước tiếp
theo này giúp cho toàn bộ bộ máy quản trị rủi ro hiểu chính xác và nhất quán nguy
15
cơ rủi ro đã xác định ở bước thứ nhất, phân tích rõ nguyên nhân của rủi ro đó và
điều quan trọng nhất là lượng hoá được mức độ rủi ro có thể xảy ra với Ngân hàng.
Đo lường rủi ro tín dụng đối với một Ngân hàng, đây là việc các nhà quản trị
sử dụng các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng của Ngân hàng, qua việc phân tích
chúng nhằm nắm được tình hình rủi ro tín dụng ở Ngân hàng mình và căn cứ vào đó
để đưa ra các biện pháp điều chỉnh phù hợp nhất sao cho những chỉ tiêu này luôn
nằm ở ngưỡng đảm bảo an toàn cho chính Ngân hàng.
* “Nợ” bao gồm: Các khoản cho vay, ứng trước, thấu chi và cho thuê tài
chính; các khoản chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác; các
khoản bao thanh toán; các hình thức tín dụng khác.
Tổ chức tín dụng thực hiện việc phân loại nợ như sau:
- Nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: các khoản nợ trong hạn mà tổ chức tín

dụng đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn; các
khoản nợ khác được trả đầy đủ gốc và lãi theo kỳ hạn đã được cơ cấu lại tối thiểu
trong vòng một năm đối với các khoản nợ trung và dài hạn và ba tháng đối với các
khoản nợ ngắn hạn và được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng trả đầy đủ gốc
và lãi đúng hạn theo thời hạn đã được cơ cấu lại.
- Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày; các
khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ theo thời hạn đã cơ cấu lại; các khoản nợ khác
theo quy định: do khách hàng có một trong nhiều khoản nợ với tổ chức tín dụng bị
chuyển sang nhóm nợ rủi ro cao hơn nên các khoản nợ khác cũng phải chuyển sang
nhóm nợ rủi ro cao hơn tương ứng; các khoản nợ mà tổ chức tín dụng có đủ cơ sở
để đánh giá là khả năng trả nợ của khách hàng bị suy giảm và chủ động phân loại
thành các nhóm nợ rủi ro cao hơn.
- Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: các khoản nợ quá hạn từ 90 -180
ngày, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu
lại; các khoản nợ khác theo các quy định.
- Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: các khoản nợ quá hạn từ 181- 360 ngày;
các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90-180 ngày theo thời hạn đã cơ
16
cấu lại; các khoản nợ khác theo quy định
- Nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: các khoản nợ quá hạn trên 360
ngày; các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý; các khoản nợ đã cơ cấu lại thời
hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại; các khoản nợ khác
theo quy định.
* “Nợ quá hạn” là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã
quá hạn.
* “Nợ xấu” là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4, 5theo quy định trên. Tỷ lệ
nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng.
* “Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ” là khoản nợ mà tổ chức tín dụng chấp nhận
điều chỉnh kỳ hạn nợ hoặc gia hạn nợ cho khách hàng do tổ chức tín dụng đánh giá
khách hàng suy giảm khả năng trả nợ gốc hoặc lãi đúng thời hạn ghi trong hợp đồng

tín dụng nhưng tổ chức tín dụng có đủ cơ sở để đánh giá khách hàng có khả năng trả
đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn trả nợ đã cơ cấu lại.
a. Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng
Tuy rủi ro tín dụng là khách quan song Ngân hàng phải quản lý rủi ro tín dụng
nhằm hạn chế thấp nhất các tổn thất có thể xảy ra. Từ những nguyên nhân nảy sinh
rủi ro tín dụng, Ngân hàng cụ thể hoá thành những chỉ tiêu hoặc dấu hiệu chính
phát sinh trong hoạt động tín dụng, phản ánh rủi ro tín dụng.
- Phân tích định tính
Có nhiều cách tiếp cận trong phân tích định tính thường được sử dụng như
SWOT, CAMPARI, 6C. Dưới đây giới thiệu về mô hình 6C. Đây là mô hình mang
tính truyền thống, dựa vào đánh giá chủ quan của người cho vay căn cứ vào việc trả
lời một số câu hỏi để đưa ra quyết định có thực hiện cấp tín dụng hay không.
- Năng lực (Capacity)
Cán bộ tín dụng phải chắc chắn rằng người vay có đủ năng lực hành vi và
năng lực pháp lý để ký kết hợp đồng tín dụng. Một hợp đồng tín dụng được kí kết
bởi người không được uỷ quyền hoặc không được uỷ quyền hợp pháp có thể sẽ
không thu hồi được nợ - rủi ro tiềm ẩn cho ngân hàng.
17
- Tư cách (Character)
Cán bộ tín dụng phải chắc tin rằng người vay có đủ mục đích rõ ràng và phù
hợp với chính sách tín dụng hiện hành của ngân hàng, phải xác định xem người vay
có trung thực và trách nhiệm trong việc sử dụng vốn vay và có thiện chí nghiêm túc
trả nợ khi đến hạn hay không, đồng thời cũng cần tính đến uy tín trong các mối
quan hệ kinh tế quá khứ đối với ngân hàng và các đối tác khác. Nếu đánh giá người
vay không đủ tư cách, cán bộ tín dụng nên từ chối cho vay, hoàn trả hồ sơ theo quy
định.
- Thu nhập (Cash)
Tiêu chí này tập trung vào trả lời câu hỏi: người vay có đủ khả năng tạo tiền
để trả nợ không? Nhìn chung, người vay có ba khả năng để tạo ra tiền, đó là: (1)
luồng tiền từ thu nhập hay từ doanh thu bán hàng, (2) tiền từ bán, thanh lý tài sản,

(3) tiền từ phát hành chứng khoán nợ hay chứng khoán vốn. Bất cứ nguồn thu nào
từ ba khả năng này đều có thể dùng để trả nợ vay cho ngân hàng. Tuy nhiên, ngân
hàng ưu tiên hơn cả là khả năng thứ nhất và coi đây là nguồn thu đầu tiên và quan
trọng nhất.
- Bảo đảm tiền vay (Collateral)
Khi ngân hàng chưa đủ tín nhiệm vào người vay thì khoản vay cấn có bảo
đảm tiền vay. Các hình thức bảo đảm tiền vay thông thường là: cầm cố, thế chấp,
bảo lãnh của chính người vay hoặc của bên thứ ba. Trong đánh giá tài sản đảm bảo
tiền vay, cán bộ tín dụng phải đặc biệt chú ý đến các yếu tố nhạy cảm như tuổi thọ,
tình trạng và mức độ chuyên dụng của tài sản đó. Nhìn chung, ngân hàng cần chắc
chắn về giá trị có thể thu hồi từ bảo đảm tiền vay nếu người vay không trả được nợ,
thứ hai là để ràng buộc người vay phải có trách nhiệm nhiều hơn trong việc hoàn trả
nợ vay để không phải gán những tài sản giá trị của mình. Một điều cần chú ý nữa là
NH phải xác định được vị thế ưu tiên khi xử lý tài sản đảm bảo tiền vay so với các
chủ nợ khác (nếu có).
- Các điều kiện (Conditions)
Cán bộ tín dụng và các nhà phân tích tín dụng cần phải đánh giá xu hướng
18
hiện hành về công việc kinh doanh và ngành nghề của khách hàng vay, cũng như
môi trường kinh tế nói chung thay đổi, có khả năng ảnh hưởng thế nào đến khoản
tín dụng.
- Kiểm soát (Control)
Tập trung vào những vấn đề như: Các thay đổi trong luật pháp và quy chế có
ảnh hưởng như thế nào đến người vay? Yêu cầu tín dụng của người vay có đáp ứng
được các tiêu chuẩn của ngân hàng và của nhà quản lý về chất lượng tín dụng?
Khi tất cả các tiêu chí trên được đánh giá là tốt thì khoản vay mới được xem
là khả thi.
- Phân tích định lượng
• Các chỉ tiêu: Rủi ro tín dụng theo phương pháp đo lường truyền thống cần
xem xét các chỉ tiêu như:

* Tốc độ tăng trưởng tín dụng
Tốc độ tăng trưởng tín dụng = Dư nợ cuối kỳ - Dư nợ đầu kỳ *100
Dư nợ đầu kỳ
* Tỷ lệ nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn = Nợ quá hạn / Tổng dư nợ tín dụng
Chỉ tiêu này biểu hiện chất lượng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng, nó đo độ
an toàn và đánh giá rủi ro tín dụng của Ngân hàng. Tỷ lệ nợ quá hạn cao biểu hiện
chất lượng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng chưa tốt, đồng nghĩa với mức độ rủi ro
tín dụng cao.
* Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu = Nợ xấu / Tổng dư nợ tín dụng
Việc khách hàng không trả nợ đúng hạn có liên quan đến thanh khoản và rủi ro
thanh khoản: chi phí gia tăng để tìm nguồn mới để chi trả tiền gửi và co vay đúng hợp
đồng. Nợ xấu như một lời cảnh báo cho Ngân hàng: Hi vọng thu lại được tiền là rất
mong manh, Ngân hàng cần có biện pháp hữu hiệu để giải quyết tình trạng này.
Trên đây là hai chỉ tiêu hết sức quan trọng đánh giá về mức độ rủi ro trong
hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại. Các chỉ tiêu này có liên quan chặt
chẽ với nhau và phản ánh các mức độ rủi ro tín dụng khác nhau.
19
Ngoài ra để đánh giá chính xác hơn nữa mức độ rủi ro trong hoạt động tín
dụng, người ta còn sử dụng thêm một số chỉ tiêu sau:
* Tỷ lệ nợ quá hạn (NQH) có khả năng thu hồi
Tỷ lệ (NQH) có khả năng thu hồi = (NQH) có khả năng thu hồi / Nợ quá hạn.
Chỉ tiêu này cho biết có bao nhiêu phần trăm trong tổng dư nợ quá hạn có khả
năng thu hồi và bao nhiêu phần trăm không có khả năng thu hồi.
* Tổn thất cho vay / cho vay: chỉ tiêu này đánh giá mức độ tổn thất trong hoạt động
tín dụng là bao nhiêu % so với tổng số cho vay, Ngân hàng nên so sánh với chỉ tiêu
trung bình ngành
* Dự trữ tổn thất / cho vay: chỉ tiêu này cho thấy tình hình dự trữ cho tổn thất tín
dụng của Ngân hàng chiếm bao nhiêu % trong tổng số cho vay, và chỉ tiêu cũng cho

biết được chất lượng hoạt động tín dụng, vì mức dự trữ tổn thất dựa vào các khoản
cho vay chất lượng thấp thì có nghĩa là rủi ro sẽ cao.
* Tỷ lệ nợ khoanh, xoá nợ
Nợ khoanh là những khoản cho vay không thu hồi được, thường là các khoản
cho vay chính sách và Nhà nước yêu cầu phải khoanh lại
Tỷ lệ nợ khoanh = Nợ khoanh, xoá nợ / Tổng dư nợ
* Tỷ lệ miễn giảm lãi = miễn giảm lãi / tổng dư nợ
* Tỷ trọng nợ khó đòi = Nợ khó đòi / Nợ quá hạn
Các tỷ lệ này càng lớn thì mức độ rủi ro sẽ càng cao, Ngân hàng có nguy cơ
mất một phần hoặc toàn bộ nợ sẽ không thu hồi được, thậm chí nếu nghiêm trọng có
thể đẩy Ngân hàng đến bờ vực phá sản.
• Các chỉ số đánh giá rủi ro tín dụng của ngân hàng
Đo lường rủi ro là điều mà tất cả những nhà quản lý ngân hàng đều rất quan
tâm, vì nếu đo lường được thì việc phòng ngừa sẽ trở nên dễ dàng hơn. Đo lường
rủi ro trong hoạt động ngân hàng được thể hiện trên 2 phương diện.
Một là, đo lưòng hay xác định số thiệt hại do rủi ro gây ra, phản ánh hậu quả
rủi ro được xác định khi rủi ro xảy ra. Đây có thể là số tuyệt đối, hoặc số tương đối
theo các tiêu thức khác nhau như giá trị thiệt hại, số lần bị rủi ro, tỷ lệ tài sản bị rủi
20

×