Tải bản đầy đủ (.doc) (24 trang)

Thực hiện pháp luật về thu hồi đất đối với các dự án phát triển kinh tế xã hội ở việt nam hiện nay (tóm tắt)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (247.86 KB, 24 trang )

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI nêu rõ “Hoàn chỉnh hệ thống
pháp luật, chính sách về đất đai nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, lợi
ích của người sử dụng đất, lợi ích của nhà đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để sử
dụng có hiệu quả nguồn đất đai cho sự phát triển; khắc phục tình trạng lãng phí
và tham nhũng đất đai”.
Khoản 3 Điều 54 Hiến pháp 2013 quy định: “Nhà nước thu hồi đất do tổ
chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục
đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công
cộng. Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy
định của pháp luật." Ở nước ta trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
đô thị hóa. Để triển khai được các dự án đầu tư phục vụ mục tiêu phát triển kinh
tế - xã hội, Nhà nước phải thu hồi đất và thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư cho các hộ dân có đất bị thu hồi. Tuy nhiên, công tác thu hồi đất vẫn
đang là vấn đề hết sức phức tạp và nhạy cảm, còn nhiều tồn tại, vướng mắc bởi
nó liên quan đến quyền và lợi ích của nhiều chủ thể. Tình hình khiếu nại, tố cáo
liên quan đến đền bù, thu hồi đất chiếm tới 80% trong các loại khiếu kiện. Khi
thu hồi đất để phục vụ các dự án phát triển kinh tế - xã hội còn gặp không ít khó
khăn trong vấn đề định giá đất, bồi thường thiệt hại chưa phù hợp từ đó gây ra
sự căng thẳng, bức xúc trong nhân dân. Điển hình có một số vụ việc nổi cộm
gần đây gây xôn xao dư luận là việc thu hồi đất dự án Ecopark ở huyện Văn
Giang, tỉnh Hưng Yên, hay vụ một người nông dân nổ súng bắn một số cán bộ
của Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình…. Qua đó
cho thấy, có nhiều trường hợp người dân không chấp nhận việc bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư theo quyết định thu hồi đất do cơ quan nhà nước có thẩm quyền
ban hành, dẫn đến khiếu kiện kéo dài, nhiều dự án phải thực hiện bằng biện
pháp cưỡng chế thu hồi đất.
Các quy định pháp luật về thu hồi đất nhiều và thường xuyên thay đổi,
nhưng còn thiếu đồng bộ, chưa hoàn chỉnh, chưa thống nhất và chưa tạo được
đầy đủ căn cứ pháp lý để triển khai trong thực tiễn, đặc biệt là cơ chế thực hiện


pháp luật về thu hồi đất không được đảm bảo thống nhất, thiếu dân chủ, thiếu
công khai, công bằng và minh bạch.
Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả chọn đề tài “Thực hiện pháp luật về thu
hồi đất đối với các dự án phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay” làm
luận văn thạc sĩ luật học của mình.
1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề thực hiện pháp luật về thu hồi đất có ý nghĩa rất lớn đối với Việt
Nam, nhất là đối với nước ta đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Việc thu hồi đất trực tiếp đụng chạm đến lợi ích người bị thu hồi đất, lợi
ích của nhà nước, lợi ích của chủ đầu tư và nên thời gian qua đã nhận được sự
quan tâm nghiên cứu của giới khoa học pháp lý.
Nhiều các công trình nghiên cứu về vấn đề thu hồi đất dưới khía cạnh khác
nhau như: Đinh Thị Huê, “Thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư khi Nhà nước thu hồi đất ở tỉnh Hà Nam hiện nay”, Luận văn thạc sĩ năm
(2011); Đỗ Quang Dương, “Thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất giải phóng mặt bằng ở quận Thanh Xuân,
thành phố Hà Nội” Luận văn thạc sĩ năm (2013); Nguyễn Thị Phương Thảo,
“Pháp luật về bồi thường về đất khi thực hiện các dự án kinh tế và thực tiễn áp
dụng tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An”, Luận văn thạc sĩ (2012); Nguyễn Văn
Diện, “Pháp luật về bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất”, Luận văn thạc
sĩ năm 2006; Hoàng Thị Nga, “Pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt
bằng ở Việt Nam hiện nay” Luận văn thạc sĩ năm 2011; Nguyễn Minh Tuấn, “Thu
hồi đất vì mục đích kinh tế ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sĩ năm 2013; Ts.
Nguyễn Thị Nga, “Pháp luật về trình tự, thủ tục thu hồi đất, bồi thường và giải
phóng mặt bằng và những vướng mắc nay sinh trong quá trình áp dụng”, Tạp chí
Luật học, số 11/2010; Ts. Trần Quang Huy, …Nhìn chung, các công trình này đã
đi sâu nghiên cứu nhiều khía cạnh của vấn đề thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất hoặc tập trung nghiên cứu về thực trạng
pháp luật về thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ở một số địa phương nhất

định. Tuy nhiên, chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về thực hiện pháp luật về thu
hồi đất đối với các dự án phát triển kinh tế - xã hội. Kế thừa những thành quả
nghiên cứu của các công trình kể trên, Luận văn đi sâu tìm hiểu một cách hệ thống,
toàn diện và tập trung về thực hiện pháp luật về thu hồi đất đối với các dự án phát
triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật về thu hồi đất đối với
các dự án phát triển kinh tế - xã hội.
- Đánh giá thực trạng pháp luật để đưa ra giải pháp bảo đảm thực hiện pháp
luật về thu hồi đất nhằm giải quyết tốt hơn nữa mối quan hệ hài hòa giữa
lợi ích Nhà nước, lợi ích người bị thu hồi đất và lợi ích nhà đầu tư.
2
Nhiệm vụ của luận văn:
- Làm rõ các hình thức thực hiện pháp luật về thu hồi đất đối với các dự án
phát triển kinh tế - xã hội.
- Phân tích bất cập thực hiện pháp luật về thu hồi đất ở Việt Nam hiện nay;
- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm khắc phục bất cập.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Hệ thống quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về thực
hiện pháp luật về thu hồi đất.
- Các văn bản quy phạm pháp luật thực định về thực hiện thu hồi đất đối với
các dự án phát triển kinh tế - xã hội.
- Thực tiễn, thực hiện pháp luật về thu hồi đất đối với các dự án phát triển
kinh tế - xã hội.
* Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn giới hạn ở việc tìm hiểu các quy phạm pháp luật về thực hiện pháp
luật về thu hồi đất, thời gian đánh giá từ khi có Luật Đất đai 2003 đến nay, trên
phạm vi cả nước.

5. Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Phương pháp phân tích, so sánh, đánh giá các sự kiện thực tế…
6. Những đóng góp về khoa học và ý nghĩa của luận văn
- Góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho các cơ quan đưa ra những quyết
sách đảm bảo cho pháp luật về thu hồi đất được thực hiện đầy đủ, nghiêm chỉnh,
thống nhất trên địa bàn cả nước trong thời gian tới.
- Luận văn còn là một tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, và các nhà
quản lý, sinh viên, học viên…và tất cả những ai quan tâm đến việc thực hiện
pháp luật về thu hồi đất đối với các dự án phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta.
7. Cơ cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
3 chương sau đây:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật thu hồi đất đối
với các dự án phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay
Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về thu hồi đất đối với các dự
án phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Phương hướng và giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về
thu hồi đất đối với các dự án phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay
3
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
THU HỒI ĐẤT ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN PHÁT TRIỂN KINH TẾ -
XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1. Quan niệm thu hồi đất đối với các dự án phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam
1.1.1. Khái niệm thu hồi đất
Từ điển Tiếng Việt phổ thông định nghĩa:“Thu hồi là việc thu về lại, lấy lại
cái trước đó đã đưa ra, đã cấp phát hoặc bị mất vào tay kẻ khác”. Từ đó, ta có
thể hiểu thu hồi đất là việc Nhà nước lấy lại đất đã giao, đã cho thuê vì lý do nào

đó. Thu hồi đất thể hiện quyền lực Nhà nước, người đại diện chủ sở hữu toàn
dân về đất đai.
Khoản 5 Điều 4 Luật Đất đai năm 2003 đưa ra khái niệm thu hồi đất: “Thu
hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất
hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn
quản lý theo quy định của Luật này”.
Khoản 11 Điều 3 Luật Đất đai sửa đổi năm 2013 đưa ra khái niệm:“Nhà
nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của
người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử
dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai”.
Các khái niệm nêu trên, thu hồi đất xét về mặt hình thức là văn bản hành
chính; nhưng xét về mặt nội dung, là việc sử dụng quyền lực nhà nước để thu lại
quyền sử dụng đất để phục vụ cho các mục tiêu của Nhà nước.
- Việc thu hồi đất do cơ quan quản lý hành chính nhà nước tiến hành theo
một thủ tục, trình tự nhất định. Thẩm quyền thu hồi đất được xác định theo thẩm
quyền giao đất, cơ quan có thẩm quyền giao đất nào thì có quyền thu hồi đối với
loại đất đó.
- Thu hồi đất được thực hiện thông qua quyết định thu hồi đất của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền. Xác định rõ chủ thể bị thu hồi, lý do thu hồi, diện tích
thu hồi, mục đích thu hồi làm căn cứ cho việc chấm dứt quan hệ pháp luật đất
đai giữa Nhà nước và người sử dụng đất.
- Phương pháp mệnh lệnh được dùng trong mọi trường hợp thu hồi đất. Đây
là quan hệ một bên là Nhà nước với một bên là người sử dụng đất, hai chủ thể
này không có sự bình đẳng với nhau về mặt pháp lý.
- Thu hồi đất là một biện pháp pháp lý quan trọng nhằm thể hiện quyền sở
4
hữu toàn dân đối với đất đai mà nhà nước là người đại diện chủ sở hữu. Để thực
hiện nội dung này, quyền lực nhà nước được thể hiện nhằm đảm bảo lợi ích của
Nhà nước, xã hội và lập lại kỷ cương của Nhà nước trong trường hợp vi phạm
luật đất đai.

1.1.2. Mục đích thu hồi đất
Theo quy định của pháp luật đất đai, thu hồi đất có mục đích sau:
Thứ nhất, tạo quỹ đất để phục vụ cho các dự án kinh tế - xã hội và các dự án khác.
Thứ hai, thu hồi đất để lập lại kỷ cương quản lý nhà nước trong các trường
hợp vi phạm pháp luật đất đai.
Thứ ba, Nhà nước thu hồi đất trong các trường hợp khác như tổ chức kinh tế
được nhà nước giao đất không thu tiền mà giải thể, phá sản, người sử dụng đất
tự nguyện trả lại đất khi không có nhu cầu sử dụng …nhằm đưa đất đai vào sử
dụng có hiệu quả.
1.1.3. Sự cần thiết phải thu hồi đất
Thu hồi đất chỉ trong các trường hợp cần thiết để triển khai các dự án lớn để
phát triển kinh tế - xã hội. Thông qua hoạt động thu hồi đất, quyền lực của Nhà
nước được thể hiện nhằm mục đích đảm bảo lợi ích của Nhà nước, của xã hội,
thiết lập kỷ cương trong quan lý nhà nước về đất đai.
Thu hồi đất để xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển công nghiệp, dịch vụ và
xây dựng đô thị làm thay đổi bộ mặt đô thị theo hướng văn minh hiện đại.
1.1.4. Các trường hợp bị thu hồi đất
Thứ nhất, thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế- xã hội.
Thứ hai, thu hồi đất vì lý do đương nhiên. Trường hợp doanh nghiệp bị giải
thể, phá sản. Người sử dụng tự nguyện trả lại đất. Cá nhân sử dụng đất chết mà
không có người thừa kế. Đất đai được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn mà
không được gia hạn khi hết thời hạn.
Thứ ba, thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai. Trong quá trình sử dụng
đất, người sử dụng do vô ý hoặc cố ý có hành vi vi phạm pháp luật đất đai.
1.2. Quan niệm về các dự án phát triển kinh tế - xã hội
1.2.1. Các quan niệm khác nhau về dự án
Các nhà khoa học trong lĩnh vực kinh tế cũng như các nhà quản lý đã đưa ra
nhiều quan niệm khác nhau về dự án. Mỗi một quan niệm nhấn mạnh về một số
khía cạnh của một dự án cùng các đặc điểm quan trọng của nó trong từng hoàn
cảnh cụ thể.

Nếu xét về hình thức, dự án là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi
tiết và có hệ thống một dự kiến đầu tư trong tương lai.
5
Nếu xét ở góc độ nội dung, dự án được hiểu là một ý đồ để tiến hành một
công việc cụ thể nào đó nhằm đạt mục tiêu xác định trong khuôn khổ nguồn lực
nhất định và khoảng thời gian nhất định.
Nếu xét về góc độ kế hoạch, dự án được hiểu là một kế hoạch chi tiết về đầu
tư phát triển, là đơn vị kế hoạch độc lập nhỏ nhất trong hệ thống kế hoạch hóa,
làm cơ sở cho việc ra quyết định về đầu tư phát triển.
Luật Đấu thầu năm 2005 tại khoản 7 Điều 4 đưa ra khái niệm về dự án như
sau: “Dự án là tập hợp các đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc
nhằm đạt được mục tiêu hay yêu cầu nào đó trong một thời gian nhất định dựa
trên nguồn vốn xác định”
Như vậy, một dự án có thể được xem xét như là một chuỗi các công việc và
nhiệm vụ: Có mục tiêu cụ thể được hoàn thành trong những điều kiện nhất định;
được xác định rõ thời gian bắt đầu và kết thúc; có hạn chế nhất định về tài chính;
sử dụng các nguồn lực nhất định về phương tiện, thiết bị, con người.
1.2.2. Đặc điểm của dự án phát triển kinh tế - xã hội
Một dự án phát triển kinh tế - xã hội thường có 4 bộ phận:
Một là: Mục tiêu của dự án gồm có hai cấp mục tiêu: Mục tiêu phát triển và
mục tiêu trực tiếp. Mục tiêu phát triển là mục tiêu dự án góp phần thực hiện,
được xác định trong kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước, của vùng. Mục tiêu trực tiếp là mục tiêu cụ thể mà dự án phải đạt được
trong khuôn khổ nguồn lực nhất định và trong khoảng thời gian nhất định.
Hai là: Kết quả dự án là những đầu ra cụ thể của dự án được tạo ra từ các
hoạt động của dự án, kết quả là điều kiện cần thiết để đạt được mục tiêu trực tiếp
của dự án.
Ba là: Các hoạt động của dự án là những công việc do dự án tiến hành nhằm
chuyển hóa các nguồn lực thành các kết quả của dự án. Mỗi hoạt động dự án đều
đem lại kết quả tương ứng.

Bốn là: Nguồn lực cho dự án là các đầu vào về vật chất, tài chính, sức lao động
cần thiết để tiến hành các hoạt động của dự án. Nguồn lực là tiền đề để tạo nên dự
án.
1.2.3. Tầm quan trọng của các dự án phát triển kinh tế - xã hội trong phát
triển đất nước
Dự án phát triển kinh tế - xã hội là công cụ để triển khai thực hiện các nhiệm
vụ của chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển một cách hiệu
quả nhất. Là phương tiện để gắn kết giữa kế hoạch và thị trường, nâng cao tính
khả thi của kế hoạch, đồng thời đảm bảo khả năng điều tiết thị trường theo định
6
hướng xác định của kế hoạch.
Dự án là công cụ để triển khai thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu của kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội.
1.3. Quan niệm về thực hiện pháp luật về thu hồi đất
1.3.1. Các quan niệm về thực hiện pháp luật về thu hồi đất
Dưới góc độ pháp lý thì thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp. Hành vi đó
không trái, không vượt quá phạm vi các quy định của pháp luật, phù hợp với
quy định của pháp luật và có lợi cho xã hội, cho Nhà nước và cho các cá nhân.
Trong khoa học pháp lý, có nhiều quan niệm khác nhau về thực hiện pháp luật.
Mặc dù vậy, quan niệm phổ biến hiện nay thừa nhận: “Thực hiện pháp luật là
hành vi thực tế hợp pháp, có mục đích của các chủ thể pháp luật nhằm hiện
thực hóa các quy định pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống”.
Có 4 hình thức thực hiện pháp luật:
- Tuân thủ pháp luật: là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể
pháp luật kiềm chế, không tiến hành những hoạt động mà pháp luật ngăn cấm.
Các quy phạm pháp luật cấm được thực hiện ở hình thức này.
- Thi hành pháp luật: là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể
pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực. Các quy
phạm pháp luật bắt buộc được thực hiện ở hình thức này.
- Sử dụng pháp luật: là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ

thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình (thực hiện những hành vi pháp
luật cho phép). Khác với hình thức thi hành pháp luật, ở hình thức này, các chủ
thể có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật cho phép theo ý
chí của mình, không bị bắt buộc phải thực hiện.
- Áp dụng pháp luật: là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó Nhà
nước thông qua các cơ quan hoặc cá nhân có thẩm quyền tổ chức cho các
chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn
cứ vào các quy định pháp luật ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi,
chấm dứt các quan hệ pháp luật cụ thể. Hình thức này luôn có sự tham gia
của Nhà nước.
Thực hiện pháp luật về thu hồi đất đối với các dự án phát triển kinh tế - xã
hội là thực hiện pháp luật thông qua hình thức áp dụng pháp luật, theo đó cơ
quan nhà nước có thẩm quyền ban hành một quyết định hành chính cá biệt để áp
dụng đối với việc thu hồi một diện tich đất cụ thể phục vụ cho việc triển khai
một dự án kinh tế - xã hội cụ thể. Ví dụ, Ủy ban nhân dân huyện ra quyết định
thu hồi 20ha đất nông nghiệp của 50 hộ gia đình để phục vụ cho dự án xây dựng
7
khu đô thị mới.
Thực hiện pháp luật về thu hồi đất đối với cá dự án phát triển kinh tế -
xã hội là quá trình hoạt động có mục đích, thể hiện ý chí của Nhà nước, do
cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia thu hồi đất bằng hành vi của mình làm
cho những quy định pháp luật về thu hồi đất đi vào cuộc sống, trở thành
hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật, bảo đảm nguyên tắc
dân chủ, công khai, minh bạch và công bằng.
1.3.2. Chủ thể, khách thể, hình thức, cơ chế điều chỉnh và vai trò của thực
hiện pháp luật về thu hồi đất
1.3.2.1. Chủ thể thực hiện pháp luật về thu hồi đất
- Cơ quan nhà nước: có thẩm quyền tham gia vào quá trình thực hiện pháp
luật về thu hồi đất gồm UBND cấp tỉnh và UBND cấp huyện và UBND cấp xã.
UBND cấp tỉnh thu hồi đất của các tổ chức. UBND cấp huyện thu hồi đất

của hộ gia đình và cá nhân. UBND cấp xã thu hồi đất công ích của xã bị lấn
chiếm.
- Người có đất bị thu hồi: Là một chủ thể tham gia quan hệ pháp luật về thu
hồi đất. Khi tham gia phải thực hiện một số quyền và nghĩa vụ.
1.3.2.2. Khách thể của thực hiện pháp luật thu hồi đất
Đối với Nhà nước, khách thể mà nhà nước hướng tới khi thu hồi đất là phát
triển kinh tế - xã hội, bảo đảm cuộc sống tốt hơn cho người có đất bị thu hồi,
đồng thời bảo đảm trật tự xây dựng theo một quy hoạch nhất định làm cho vùng
đô thị cũng như vùng nông thôn của Việt nam văn minh hơn, thuận lợi hơn, an
toàn hơn. Đối với người sử dụng đất, khách thể mà họ hướng tới là từng thửa đất
của họ bị thu hồi có được đền bù hoặc được tái định cư một cách công bằng và
hợp lý.
Đối với mỗi chủ đầu tư, một khi họ đã nhận đất để đầu tư thì họ luôn hướng
tới mục tiêu “ lợi nhuận tối đa, chi phí tối thiểu’. Như Mác đã từng viết rằng, đối
với nhà tư bản,nếu lợi nhuận lên tới 130% thì có “treo cổ” họ vẫn làm.
Xét tới khách thể, ta đã thấy mục đích của các chủ thể là khác nhau, nhiều
khi mâu thuẫn nhau, vì vậy Nhà nước cần điều tiết các mâu thuẫn này.
1.3.2.3. Hình thức thực hiện pháp luật về thu hồi đất
Bao gồm 4 hình thức: tuân thủ pháp luật; thi hành pháp luật; sử dụng pháp
luật; áp dụng pháp luật.
- Tuân thủ pháp luật về thu hồi đất.
Trong thu hồi đất tuân thủ pháp luật thu hồi đất được thể hiện qua việc cơ
quan nhà nước có thẩm quyền ban hành một quyết định hành chính về việc thu
8
hồi một thửa đất cụ thể. Quyết định này phải được ban hành phù hợp với Luật
Đất đai và văn bản hướng dẫn thi hành. Đối với người có quyền sử dụng đất khi
nhận được quyết định phải nghiêm chỉnh chấp hành theo đúng quyết định đó.
Nếu người có quyền sử dụng đất chống lại quyết định thì cơ quan nhà nước có
thẩm quyền có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định thu
hồi đất theo đúng pháp luật.

- Thi hành pháp luật về thu hồi đất
Đây là một hình thức thực hiện pháp luật mà trong đó các chủ thể pháp luật
thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực. Ví dụ: Cơ quan
nhà nước thu hồi đất phải thông báo trực tiếp tới người có đất bị thu hồi và niêm
yết công khai tại trụ sở UBND xã nơi có đất bị thu hồi về phương án thu hồi đất,
người bị thu hồi đất phải có trách nhiệm kê khai tài sản của mình
- Sử dụng pháp luật về thu hồi đất
Đây là một hình thức thực hiện pháp luật mà trong đó các chủ thể pháp luật
thực hiện quyền chủ thể của mình (thực hiện những hành vi pháp luật cho phép).
Hình thức này khác với hình thức tuân thủ pháp luật và thi hành pháp luật ở chỗ:
chủ thể có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật cho phép
theo ý chí của mình, không bị ép buộc phải thực hiện. Ví dụ: Người bị thu hồi
đất có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền được khiếu nại, tố cáo của
mình về quá trình thu hồi đất theo quy định của Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo.
- Áp dụng pháp luật về thu hồi đất
Hình thức áp dụng pháp luật luôn thể hiện ý chí của Nhà nước thông qua
quyết định thu hồi đất. Đây là quyết định hành chính cá biệt cần phải tuân thủ
triệt để những quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thể
thức văn bản Ví dụ: Cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định thu hồi
đất không đúng quy định của pháp luật, thì người bị thu hồi đất có quyền khởi
kiện quyết định đó ra toà án để yêu cầu toà án giải quyết để bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của mình
1.3.2.4. Cơ chế thực hiện pháp luật về thu hồi đất
Trong lĩnh vực thu hồi đất hiện nay có 2 cơ chế thực hiện gồm :
- Cơ chế Nhà nước thu hồi đất áp dụng đối với các trường hợp sau:
Thứ nhất, Nhà nước thực hiện thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh,
lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng (quy định tại điều 39 Luật Đất đai 2003, điều
40 khoản 1, khi Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích
phát triển kinh tế trong trường hợp đầu tư xây dựng khu công nghiệp, khu công
nghệ cao, khu kinh tế và các dự án đầu tư lớn theo quy định của Chính phủ.

9
Thứ hai, theo cơ chế tự thỏa thuận giữa nhà đầu tư và người sử dụng đất
áp dụng đối với các trường hợp sau đây:
Dự án sản xuất, kinh doanh phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét
duyệt thì nhà đầu tư được nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận
góp vốn bằng quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân
quy định tại khoản 2 Điều 40 Luật Đất đai năm 2003.
Điều 40 khoản 2 quy định: “Đối với dự án sản xuất, kinh doanh phù hợp với
quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt thì nhà đầu tư được nhận chuyển
nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của các tổ
chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân mà không phải thực hiện thủ tục thu hồi đất.”
1.3.2.5. Vai trò của thực hiện pháp luật về thu hồi đất
Vai trò việc thực hiện pháp luật về thu hồi đất được thể hiện ở những khía
cạnh sau:
Thứ nhất, đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước.
Pháp luật đất đai quy định, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng để phục vụ
cho mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng.
Thứ hai, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật đất đai nói chung và pháp
luật về thu hồi đất nói riêng.
Thông qua quá trình tổ chức thực hiện pháp luật đất đai nói chung và pháp
luật về thu hồi đất nói riêng chúng ta mới có cơ sở để tổng kết, đánh giá thực
tiễn mức độ hoàn thiện, đồng bộ và hiệu quả của hệ thống pháp luật. Bởi vì thực
tiễn là tiêu chuẩn, là thước đo của lý luận.
Thứ ba, khắc phục những hạn chế, yếu kém trong hoạt động của cơ quan nhà
nước về công tác thu hồi đất
Thông qua việc thực hiện pháp luật về thu hồi đất, đặc biệt là hình thức áp
dụng pháp luật về thu hồi đất của cơ quan nhà nước, bằng việc thanh tra, kiểm tra
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sự giám sát của các cơ quan dân cử, các
phương tiện truyền thông và quan trọng hơn là sự giám sát của nhân dân, chúng ta
sẽ kịp thời phát hiện ra những sai phạm, yếu kém của các cơ quan cũng như cán

bộ có thẩm quyền trong quá trình tổ chức thực hiện việc thu hồi đất. Trên cơ sở
đó cấp có thẩm quyền kịp thời uốn nắn và có những giải pháp đồng bộ để khắc
phục những tồn tại, yếu kém đã phát hiện.
Thứ tư, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc hiến định trong tổ chức và hoạt
động của bộ máy nhà nước. Do đó, mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuyệt
đối tuân thủ các quy định pháp luật của Nhà nước. Thực hiện đúng pháp luật
10
trên thực tế sẽ làm cho pháp chế được bảo đảm.
1.4. Một số điều kiện đảm bảo thực hiện pháp luật khi Nhà nước thu hồi đất
1.4.1. Điều kiện đảm bảo về chính trị, tư tưởng
Thông qua sự lãnh đạo của Đảng bằng đường lối chủ trương chính sách đúng
đắn, phản ánh đúng các yêu cầu thực tiễn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước và công tác thu hồi đất. Đặc biệt là các chủ trương của Đảng và Nhà
nước đối với những người bị thu hồi đất. Đó là cơ sở chính trị quan trọng cho các
cơ quan Nhà nước thể chế hoá thành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên
quan đến thu hồi đất, tạo cơ sở pháp lý cho việc đưa những chủ trương, chính
sách của Đảng vào cuộc sống.
1.4.2. Điều kiện đảm bảo về pháp lý
Hiện nay, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thu hồi đất bao gồm:
Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001); Hiến pháp 2013 có hiệu lực pháp
luật 1/1/2014; Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản pháp quy hướng dẫn một
số quy định về thu hồi đất của Luật Đất đai năm 2003 như Nghị định số
181/2004/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003; Nghị định số
197/2004/NĐ-CP về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
Nghị định số 84/2007/NĐ-CP quy định về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, thu hồi đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất; Nghị định số 69/2009/NĐ-CP, quy định bổ sung về quy hoạch
sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, cũng như một
số thông tư liên tịch và các văn bản của chính quyền địa phương quy định về

vấn đề thu hồi đất Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng để tổ chức thực hiện
việc thu hồi đất. Để thực hiện pháp luật về vấn đề này có hiệu quả thì hệ thống
văn bản quy phạm pháp luật trên đây cần đảm bảo một số yêu cầu cơ bản sau:
- Tính hợp hiến của văn bản pháp luật đất đai.
- Tính toàn diện, đồng bộ của các văn bản quy phạm pháp luật.
- Tính thống nhất của các văn bản quy phạm pháp luật.
- Sự phù hợp của pháp luật với đường lối, chính sách của Đảng.
- Sự tương thích của pháp luật với các công cụ điều chỉnh xã hội khác.
1.4.3. Điều kiện đảm bảo về kinh tế và việc làm cho người bị thu hồi đất
Thực hiện pháp luật về thu hồi đất phải có nguồn kinh phí, vật chất khá lớn.
Những chi phí này bao gồm chi phí cho công tác tuyên truyền giáo dục pháp
luật; chi phí cho cơ quan nhà nước tổ chức triển khai thực hiện và xử lý vi phạm
pháp luật, đặc biệt là các chi phí cho bồi thường, hỗ trợ và xây dựng các khu vực
tái định cư cho người bị thu hồi đất.
11
1.4.4. Điều kiện đảm bảo về cơ chế chính sách và trình độ, năng lực, phẩm
chất của cán bộ, công chức
Để thực hiện tốt pháp luật trong lĩnh vực này đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công
chức phải trung thực, tận tâm trong công việc. Đồng thời phải có trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ, có phẩm chất chính trị đạo đức tốt…và cần có chế độ
tiền lương phù hợp.
Kết luận chương 1
1. Thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của
người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng
đất vi phạm pháp luật về đất đai. Thu hồi đất trong điều kiện hiện nay là cần
thiết để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Khi thu hồi đất cần phải đảm bảo minh bạch,
công khai được thể hiện qua các công đoạn của quá trình xây dựng chính sách,
pháp luật về thu hồi đất.
2. Việc thực hiện pháp luật về thu hồi đất đối với các dự án phát triển kinh tế

- xã hội phải có cơ chế điều chỉnh hợp lý có hiệu quả mà đặc biệt là chủ thể,
khách thể, hình thức và vai trò thực hiện pháp luật về thu hồi đất.
3. Để thực hiện pháp luật về thu hồi đất có hiệu quả đáp ứng được mục đích
phát triển kinh tế - xã hội phải đảm bảo các điều kiện về chính trị tư tưởng, pháp
lý kinh tế và việc làm, chính sách và trình độ năng lực phẩm chất của cán bộ
công chức.
12
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ THU HỒI ĐẤT ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN PHÁT TRIỂN KINH TẾ -
XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1. Thực trạng các quy định pháp luật về thu hồi đất đối với các dự án
phát triển kinh tế - xã hội
2.1.1. Hệ thống văn bản pháp luật về thực hiện thu hồi đất đối với các dự án
phát triển kinh tế - xã hội
Từ khi có Luật Đất đai năm 1993 đến nay, qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung có
cả một hệ thống đồ sộ các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến thu hồi,
bồi thường về đất.
Song hành với những quy định của Hiến pháp năm 2013 và sự phát triển của
Luật Đất đai năm 2013, các quy định về thu hồi đất sẽ được quy định chi tiết tại
Nghị định về thu hồi đất, bồi thường và tái định cư. Các văn bản kể trên đã tạo
cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thu hồi đất.
2.1.2. Quy định về thẩm quyền thu hồi đất
Trên cơ sở qui định thẩm quyền giao đất, cho thuê đất tại Điều 37, Điều 44
Luật Đất đai năm 2003 qui định thẩm quyền thu hồi đất nói chung như sau:
- Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định thu hồi
đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cá
nhân tổ chức nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam.
- Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định thu

hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư; Người Việt Nam định cư
ở nước ngoài thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở
tại Việt Nam.
Luật Đất đai sửa đổi năm 2013 quy định tại Điều 66 về thẩm quyền thu hồi đất:
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất với tổ chức, cơ sở tôn giáo,
người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại
giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trừ trường hợp thu hồi đất ở của
người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Thu hồi
đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn.
- Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá
nhân, cộng đồng dân cư; Thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước
ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.
13
Luật Đất đai năm 2013 quy định về thẩm quyền thu hồi đất theo hướng Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất đối với trường hợp khu đất
thu hồi có cả tổ chức và hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất; bổ sung quy
định Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền thu hồi đất nông nghiệp
thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn để chuyển sang sử dụng vào mục
đích phi nông nghiệp.
2.1.3. Quy định về trình tự, thủ tục thu hồi đất
2.1.3.1. Trường hợp Nhà nước thực hiện thu hồi đất.
Bước 1: Giới thiệu địa điểm và thông báo thu hồi đất
Bước 2: Lập, thẩm định và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư.
Bước 3: Quyết định thu hồi đất, phê duyệt và thực hiện phương án bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư, giao đất và cho thuê đất.
Bước 4: Cưỡng chế thu hồi đất
Nếu người sử dụng đất không tự nguyện giao lại đất cho Nhà nước thì sẽ
phải áp dụng biện pháp cưỡng chế thu hồi.
2.1.3.2. Trường hợp nhà đầu tư tự thỏa thuận với người dụng đất
Đối với dự án sản xuất, kinh doanh phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã

được xét duyệt thì nhà đầu tư được nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng
đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế, hộ gia đình,
cá nhân mà không phải thực hiện thủ tục thu hồi đất (khoản 2 Điều 40 Luật Đất
đai 2003).
2.1.4. Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
2.1.4.1. Đối tượng bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Luật Đất đai năm 2003 và Nghị định 197/2004/NĐ-CP quy định về đối tượng
được bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm tổ chức, cộng đồng
dân cư, hộ gia đình, cá nhân trong nước; người Việt Nam định cư ở nước ngoài;
tổ chức, cá nhân nước ngoài đang sử dụng đất đất bị Nhà nước thu hồi đất.
Người bị thu hồi đất nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng
mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá
trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi
2.1.4.2. Giá đất để tính bồi thường
Giá đất để tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là căn cứ quan trọng để
thực hiện việc bồi thường cho người bị thu hồi; là nội dung chủ yếu giải quyết
mối quan hệ giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người bị thu hồi đất về lợi ích kinh tế.
Luật Đất đai 2003 tại Điều 56 quy định các nguyên tắc định giá đất trong
14
trường hợp giá đất được hình thành do Nhà nước quy định như sau:
- Các thửa đất liền kề nhau, có điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, kết cấu hạ
tầng như nhau, có cùng mục đích sử dụng hiện tại, cùng mục đích sử dụng theo
quy hoạch thì có mức giá như nhau.
- Sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong
điều kiện bình thường; khi có chênh lệch lớn so với giá chuyển nhượng quyền
sử dụng đất thực tế trên thị trường thì phải điều chỉnh cho phù hợp.
- Đất thuộc khu giáp ranh giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, có
điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng như nhau, có cùng mục đích sử dụng hiện tại,
và mục đích sử dụng theo quy hoạch thì mức giá như nhau.
2.1.4.3. Một số chính sách hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Hỗ trợ mất việc làm
Hỗ trợ di chuyển
Hỗ trợ đối với gia đình chính sách
2.1.4.4. Chi trả bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
- Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê
đất có trách nhiệm chi trả trước tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và kinh phí tổ
chức thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo qui định của Nghị định
số 197/2004/NĐ-CP và được trừ vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp.
- Tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu
tư vào Việt Nam thì không phải trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; trường
hợp đã chi trả thì được trừ số tiền đã trả vào tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất
phải nộp.
Vấn đề chi trả bồi thường, hỗ trợ, tái định cư này được qui định tại Điều 3
Nghị định số 197/2004/NĐ-CP và mục 3 phần I Thông tư số 116/2004/TT-BTC.
2.1.4.5. Cơ quan có trách nhiệm thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Căn cứ vào tình hình thực tế ở địa phương, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh giao
việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho: Hội đồng bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư cấp huyện; và Tổ chức phát triển quỹ đất.
Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cấp huyện do lãnh đạo Uỷ ban nhân
dân làm Chủ tịch, các thành viên gồm: Đại diện cơ quan Tài chính - Phó Chủ
tịch hội đồng; chủ đầu tư - Uỷ viên thường trực; đại diện cơ quan Tài nguyên và
môi trường - Uỷ viên; đại diện Uỷ ban nhân dân cấp xã có đất bị thu hồi - Uỷ
viên; đại diện của những hộ gia đình bị thu hồi đất từ một đến hai người; có thể
một số thành viên khác
15
2.1.5. Đánh giá thực trạng pháp luật về thu hồi đất
Hệ thống các văn quy phạm pháp luật về đất đai hiện nay bao gồm Luật Đất
đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai ngày càng được
hoàn chỉnh. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, pháp luật thu hồi đất
còn nhiều bất cập, cụ thể:

Một là, quy trình thu hồi đất còn thiếu dân chủ, minh bạch, công bằng.
Hai là, quy định trong hệ thống pháp luật, văn bản pháp luật còn thiếu nhất
quán, mâu thuẫn còn bất cập.
2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về thu hồi đất đối với các dự án phát
triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay
2.2.1. Những thành tựu đạt được
Luật Đất đai năm 2003 cùng các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi
hành về lĩnh vực thu hồi đất ngày càng được hoàn thiện, giải quyết được nhiều
vấn đề cụ thể vướng mắc trong triển khai thực hiện Luật Đất đai. Các văn bản
pháp luật về chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã góp phần to lớn vào
công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Theo Báo cáo của Bộ TN&MT về tổng kết tình hình thi hành Luật Đất đai
năm 2003 và định hướng sửa đổi Luật Đất đai (ngày 6/9/2012), thống kê chưa
đầy đủ của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, sau gần 7 năm triển khai
thực hiện Luật Đất đai năm 2003, tổng diện tích đất đã thu hồi là 728 nghìn ha
(trong đó có 536 nghìn ha đất nông nghiệp) của 826.012 hộ gia đình, cá nhân để
sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng
và phát triển kinh tế. Nhìn chung, diện tích được thu hồi đã đáp ứng được mục
tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo được an ninh quốc phòng của đất nước.
Trên thực tế, chúng ta đã xây dựng được hàng trăm khu công nghiệp, thu hút
được rất nhiều các dự án đầu tư trong nước và nước ngoài với số vốn vài chục tỷ
USD. Chính vì vậy, cơ cấu nền kinh tế nước ta chuyển dần theo hướng tiến bộ,
tỷ trọng khu công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên. Cơ sở hạ tầng kinh tế -
xã hội được xây dựng mới ngày càng nhiều, hiện đại và đồng bộ. Trình độ công
nghệ của các ngành sản xuất được cải thiện rõ rệt. Các dự án xây dựng được mở
mang ngày càng nhiều, càng hiện đại. Giải quyết được việc làm ổn định thu
nhập cho hàng triệu lao động.
2.2.2. Những tồn tại, bất cập
Thực hiện thu hồi đất đối với các dự án phát triển kinh tế - xã hội trong giai
đoạn hiện nay đang là một trong những vấn đề còn nhiều bất cập và vướng mắc

16
ở hầu hết các địa phương. Có rất nhiều các dự án đầu tư chậm tiến độ triển khai,
thiếu minh bạch trong công tác bồi thường, gây bức xúc cho cả người sử dụng
đất, nhà đầu tư. Thực tế cho thấy, các tranh chấp, khiếu kiện về đất đai chiếm
khoản 70% tổng lượng khiếu kiện của dân.
2.2.2.1. Quy định giá đất của nhà nước để tính bồi thường còn thấp so với giá
chuyển nhượng trên thị trường
- Tình trạng hai giá đất: giá nhà nước và giá thị trường là kẽ hở lớn tạo điều
kiện cho nạn quan liêu, đầu cơ, tham nhũng, tạo động lực thuận lợi cho việc
chuyển đổi đối với các khu đất sản xuất nông nghiệp sang mục đích sử dụng
khác.
- Ngân hàng thế giới nghiên cứu về cơ chế xác định giá đất phục vụ bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư ở Việt Nam đưa ra kết quả khảo sát ý kiến của
người bị thu hồi đất về mức độ hài lòng đối với giá đất để tính bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất được ghi nhận trong bảng sau đây:
Rất
hài
lòng
Hài
lòng
Chấp
nhận
được
Khôn
g hài
lòng
Rất
không
hài
lòng

Tổng
số ý
kiến
trả lời
Trả
lời
không
biết
Tổng
số
Số lượng ý kiến 3 14 86 310 175 588 12 600
% tổng ý kiến trả lời 0,5 2,4 14,6 52,7 29,8 100,0
% tổng ý kiến được hỏi 0,5 2,3 14,3 51,7 29,2 98,0 2.0 100,0
Nguồn: Nghiên cứu về có chế xác định giá đất phục vụ bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư ở Việt Nam. Ngân hàng thế giới, Hà Nội 2011
Theo bảng thống kê cho thấy, có 600 người bị thu hồi đất được hỏi (có 12
người không trả lời) trong đó trên 50% trả lời là không hài lòng và gần 30% trả
lời là rất không hài lòng, tức là có tới trên 80% người được hỏi đã trả lời không
hài lòng hoặc rất không hài lòng về giá đất áp dụng vào tính bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư.
2.2.2.2. Cơ chế tự thỏa thuận trong việc thu hồi đất còn nhiều bất cập
Vướng mắc khi thực hiện cơ chế này chủ yếu là có đất, có nhà thuộc
diện giải tỏa luôn đòi mức bồi thường cao hơn rất nhiều so với qui định của
pháp luật.
Thu hồi đất được thực hiện theo hai cơ chế làm phát sinh tình trạng có nhiều
dự án thực hiện theo những cơ chế khác nhau trong cùng một khu vực, dẫn đến
chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khác nhau. Nhà đầu tư thương
lượng, bồi thường đối với các dự án nhà ở, trung tâm thương mại để kinh doanh
17
có giá cao hơn giá đất Nhà nước bồi thường đối với những dự án làm đường,

công viên, trường học.
2.2.2.3. Công tác giải phóng mặt bằng còn chậm trễ
Hậu quả của việc giải phóng mặt bằng chậm đã làm cho nhiều dự án phải kéo
dài từ năm này qua năm khác.
Công tác giải phóng mặt bằng, thi hành Luật Đất đai hiện nay đang có những
vấn đề bức xúc, có lúc, có nơi trở lên gay gắt.
2.2.2.4. Vấn đề tái định cư còn chậm chưa được quan tâm đúng mức
Tái định cư là biện pháp nhằm khôi phục, ổn định đời sống cho các cá nhân,
hộ gia đình bị ảnh hưởng khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở. Để
đảm bảo một cách tốt nhất quyền lợi của người được tái định cư, Luật Đất đai
năm 2003 qui định tại khoản 3 Điều 42“Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuôc Trung ương lập và thực hiện các dự án tái định cư trước khi thu hồi đất
để bồi thường bằng nhà ở, đất ở cho người bị thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ
ở. Khu tái định cư phải có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ”.
Quy định này thường không thực hiện đầy đủ ở các địa phương, người bị thu hồi
đất ở thường không được lựa chọn nơi ở tái định cư mà thường phải thực hiện
theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nơi tái định cư hầu hết có
chất lượng nhà ở không đảm bảo yêu cầu, thường là những nơi hẻo lánh có giá
trị thấp, các khía cạnh tín ngưỡng, văn hóa tâm linh chưa được đề cập trong quy
hoạch khu tái định cư. Vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư chưa được các cấp
chính quyền quan tâm đúng mức, nhất là phương án hỗ trợ, chuyển đổi nghề
nghiệp, giải quyết việc làm cho người bị thu hồi đất. Trên thực tế, có tới 67% số
lao động nông nghiệp khi bị thu hồi đất vẫn giữ nguyên nghề cũ sau khi bị thu hồi
đất, 25% đến 30% số lao động không có việc làm hoặc có việc làm không ổn
định, chỉ có 13% chuyển sang nghề mới. Một trong những nguyên nhân quan
trọng là các doanh nghiệp lấy nhưng không quan tâm đến công tác đào tạo nghề
cho người dân bị thu hồi đất dẫn đến nguồn lao động tại chỗ thu hút được rất thấp.
Số lao động được tuyển dụng chỉ đạt khoảng 3-7% là người địa phương và được
bố trí vào làm các công việc đơn giản có thu nhập thấp.
Chính sách của Nhà nước mở các lớp đào tạo ngắn hạn để giải quyết việc

làm, nhưng trên thực tế có ngành nghề đào tạo đơn giản, có ngành nghề đào tạo
phải cơ bản, dài hạn trong khi mức hỗ trợ cho đào tạo nghề còn quá thấp, khiến
đào tạo nghề đạt hiệu quả thấp.
18
2.2.2.5. Ý thức chấp hành pháp luật của người dân còn chưa tốt
Tình trạng làm nhà trái phép, lấn chiếm đất công, chuyển nhượng, sang tên
nhà đất dưới hình thức trao tay diễn ra khá phổ biến, tạo ra sự lộn xộn trong
quản lý và sử dụng đất đai, khó khăn thu hồi đất.
Ở một số dự án, những người chây ỳ không chấp hành pháp luật lại được đền
bù cao hơn người có ý thức chấp hành tốt, vì vậy dẫn đến khiếu kiện kéo dài.
2.2.2.6. Một số vấn đề khác phát sinh trong quá trình thực hiện pháp luật
- Công tác tuyên truyền, phổ biến, giải thích và giáo dục pháp luật về thu
hồi đất còn nặng về tính phong trào, bề nổi. Hiện nay một số cán bộ, công dân
nắm pháp luật còn không vững, thậm chí còn hiểu sai các quy định của pháp
luật. Do đó tình trạng khiếu nại, khiếu kiện về đất đai ngày càng có xu hướng
tăng lên.
- Trình độ, năng lực của cán bộ làm công tác thu hồi đất còn hạn chế.
Trong quá trình thực hiện pháp luật, hoạt động nhận thức pháp luật, việc xác
định động cơ, mục đích, lựa chọn phương án xử xự bao giờ cũng xảy ra trước
khi thực hiện hành vi pháp luật. Do đó, nhận thức pháp luật có vai trò quan
trọng trong sự tuân thủ pháp luật, sử dụng pháp luật và chấp hành pháp luật.
Ý thức pháp luật và trình độ pháp luật của cán bộ có thẩm quyền áp dụng
pháp luật như thế nào để có hiệu quả áp dụng pháp luật trong lĩnh vực thu hồi
đất. Trên thực tế, đội ngũ làm công tác thu hồi đất phần lớn chưa được đào
tạo đúng chuyên môn.
Kết luận chương 2
Thứ nhất: Các quy định pháp luật về thu hồi đất đối với các dự án phát triển
kinh tế - xã hội đang trong quá trình hoàn thiện. Hiến pháp năm 2013 và Luật
Đất đai năm 2013 sửa đổi đã có những quy định cơ bản về vấn đề này, đặc biệt
là các quy định cụ thể về giá đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước

thu hồi đất. Tuy vậy, còn một số vấn đề cần tiếp tục làm rõ quy trình về thu hồi
đất còn thiếu dân chủ, minh bạch, công bằng. Các văn bản pháp luật còn thiếu
nhất quán, mâu thuẫn còn bất cập.
Thứ hai: Thực tiễn thực hiện pháp luật về thu hồi đất đối với các dự án phát
triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay, Luật Đất đai năm 2003 đã góp phần
đóng góp giải quyết một số vấn đề lớn về thu hồi đất. Tuy vậy, vẫn còn một số
vấn đề bất cập, tồn tại cần phải xử lý chẳng hạn như quy định về giá đất để tính
19
bồi thường, vấn đề định giá đất, cơ chế thỏa thuận trong việc thu hồi đất, công
tác tuyên truyền, giải thích và giáo dục pháp luật về thu hồi đất, năng lực, trình
độ cán bộ làm công tác thu hồi đất …
20
CHƯƠNG 3
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN PHÁT
TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Thu hồi đất là một vấn đề rất phức tạp và nhạy cảm, nó liên quan trực tiếp
đến quyền và lợi ích của người sử dụng đất. Qua thực tiễn thực hiện pháp luật về
thu hồi đất cho thấy về cơ bản các chính sách bồi thường, hỡ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất ở một mức độ nhất định là đã giải quyết được khó khăn
vướng mắc của các chủ đầu tư và người dân bị thu hồi đất, tạo cơ sở cho công
tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho diện bị thu hồi đất diễn ra thuận lợi, đặc
biệt là công tác giải phóng mặt bằng. Chế định pháp luật về thu hồi đất sửa đổi,
bổ sung nhiều lần từ Luật Đất đai năm 1993 cho đến nay. Tuy nhiên trong quá
trình thực hiện các quy định pháp luật về thu hồi đất vẫn bộc lộ một số tồn tại,
bất cập. Bởi vậy, xuất phát từ cơ sở lý luận cũng như thực tiễn tình hình kinh tế -
xã hội ở nước ta hiện nay, yêu cầu đặt ra phải tiếp tục hoàn thiện trong thời gian
tới đặc biệt là việc cơ chế thực hiện việc thu hồi đất. Cơ chế thu hồi đất gồm 3
bộ phận: Chính sách, pháp luật về đất đai; tổ chức bộ máy thực hiện luật đất đai;
nguồn lực tài chính để thực hiện thu hồi đất.

3.1. Phương hướng bảo đảm thực hiện pháp luật về thu hồi đất đối với các
dự án phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay
Thứ nhất: Cần sớm đưa Luật Đất đai sửa đổi năm 2013 có hiệu lực pháp
luật ngày 1/7/2014 vào cuộc sống, thông qua các Nghị định và các văn bản có
liên quan hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2013.
Thứ hai: Cần ban hành Luật Quy hoạch để khớp nối quy hoạch phát triển
kinh tế - xã hội với các loại quy hoạch sử dụng đất (quy hoạch tổng thể, quy
hoạch chi tiết) làm căn cứ cho kế hoạch thu hồi đất.
Thứ ba: Phải có chính sách, cơ chế cụ thể về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
của những người bị thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội.
Thứ tư: Cần sớm tiếp cận các chuẩn mực quốc tế về thu hồi đất và bồi
thường về đất theo hướng dân sự hóa các vấn đề liên quan về thu hồi đất.
21
3.2. Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về thu hồi đất đối với các dự án
phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay
3.2.1. Cần gấp rút hoàn thành các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật đất
đai năm 2013.
Luật Đất đai sửa đổi năm 2013 được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2013,
có hiệu lực từ ngày 1/7/2014. Để thi hành chúng, chính phủ cần gấp rút hoàn
thiện và ban hành các nghị định hướng dẫn thi hành, đặc biệt là nghị định về thu
hồi đất.
3.2.2. Rà soát các loại quy hoạch
Phải rà soát lại toàn bộ quy hoạch từ tổng thể tới chi tiết để loại trừ các quy
hoạch treo, và thu hồi đất của dân sau đó không triển khai xây dựng.
Công bố toàn bộ các loại quy hoạch để nhân dân tham gia đóng góp ý kiến và
biết để thực hiện.
3.2.3. Công khai, minh bạch trình tự, thủ tục thu hồi đất
Quy trình thu hồi đất không chỉ là việc công khai, minh bạch trình tự, thủ tục
mà phải cho phép người dân được tham gia bàn bạc ngay từ đầu đối với các dự
án thu hồi đất. Nếu thiếu công khai, minh bạch, chắc chắn các dự án về thu hồi

đất khó tìm được sự đồng thuận của người dân.
3.2.4. Tiếp tục hoàn chỉnh cơ chế định giá đất cho phù hợp với giá thị trường
đảm bảo lợi ích của người bị thu hồi đất
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế định giá đất phù hợp với giá thị trường, xác định
rõ các tiêu chí cụ thể, tạo thuận lợi cho việc định giá đất.
Để khách quan trong định giá đất, cần thành lập hội đồng định giá đất độc
lập, các thành viên trong hội đồng là các chuyên gia định giá đất. Nếu người có
đất bị thu hồi đất không đồng ý với giá đất của Hội đồng định giá, họ có quyền
khởi kiện vụ việc ra Tòa án để giải quyết.
3.2.5. Đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật cho người dân khi thu hồi đất
Để Luật Đất đai năm 3013 thực sự đi vào cuộc sống thì chúng ta phải tăng
cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đất đai cho người dân.
3.2.6. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác thu hồi đất
Cần mở các lớp tập huấn, đào tạo bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về đạo
đức công vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác thực thi pháp luật về pháp luật đất
đai, đặc biệt đối với các dự án thu hồi đất pháp triển kinh tế - xã hội.
22
3.2.7. Nhanh chóng ổn định cuộc sống cho người dân bị thu hồi đất
Việc ổn định cuộc sống cho người dân không chỉ đối với những người bị thu
hồi đất phải di chuyển chỗ ở mà còn cả đối với những người dân sở tại. Khi Nhà
nước thu hồi đất cần phải xem xét, quan tâm đến các vấn đề về sinh hoạt, nhà ở,
an ninh, lương thực, nơi làm việc, phát triển sản xuất, giao thông … tránh những
rủi ro do di dân, tái định cư gây nên.
3.2.8. Giải pháp về tổ chức bộ máy
- Kiện toàn bộ máy quản lý Nhà nước từ Trung ương tới địa phương đảm
bảo đủ thẩm quyền và nguồn lực để quản lý về thu hồi đất theo hướng một
cửa, một đầu mối và tương xứng với vai trò vị trí ngày càng quan trọng về
vấn đề thu hồi đất.
3.2.9. Phải có chính sách cụ thể về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho
những người bị thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế -

xã hội
Cần lập quỹ quốc gia về bồi thường đối với thu hồi đất; Xác định công thức
quy chuẩn để tính mức bồi thường khi người dân bị thu hồi đất đối với các dự án
phát triển kinh tế - xã hội.
- Đối với vấn đề tái định cư phải có quy hoạch tái định cư gắn kết phát triển
giao lưu với các khu vực dân cư đã sẵn có cân đối vùng dân cư và phát triển
vùng miền.
Kết luận chương 3
Cần sớm đưa Luật Đất đai năm 2013 vào cuộc sống, nhanh chóng xây dựng
quy hoạch tổng thể về các dự án phát triển kinh tế - xã hội của nước ta, công
khai, minh bạch trình tự, thủ tục thu hồi đất, tiếp tục hoàn chỉnh cơ chế định giá
đất cho phù hợp với giá thị trường, đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật cho người
dân khi thu hồi đất, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác thu hồi đất, ổn định
cuộc sống cho người dân bị thu hồi đất, tổ chức bộ máy, có chính sách cụ thể về
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho những người bị thu hồi đất để thực hiện các
dự án phát triển kinh tế - xã hội.
23
KẾT LUẬN
Thu hồi đất là một chế định cần thiết đối với các dự án phát triển kinh tế - xã
hội của pháp luật đất đai. Chế định này luôn được rà soát, sửa đổi, bổ sung và
hoàn thiện nhằm đáp ứng các đòi hỏi của thực tiễn.
Việc thực hiện pháp luật về thu hồi đất luôn gặp nhiều khó khăn, phức tạp.
Nó không chỉ đụng chạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất;
quyền và lợi ích của Nhà nước; quyền và lợi ích của chủ đầu tư mà còn phải giải
quyết hàng loạt vấn đề xã hội phát sinh trực tiếp từ việc Nhà nước thu hồi đất
gây ra. Từ đó, phải có cơ chế điều chỉnh hợp lý, có hiệu quả mà đặc biệt là chủ
thể, khách thể, hình thức và vai trò của thực hiện pháp luật về thu hồi đất đáp
ứng được mục đích phát triển kinh tế - xã hội phải đảm bảo các điều kiện về
chính trị tư tưởng, pháp lý kinh tế và việc làm, chính sách và trình độ năng lực
phẩm chất của cán bộ công chức.

24

×