Tải bản đầy đủ (.doc) (34 trang)

Sáng kiến kinh nghiệm Một số phương pháp dạy học khái niệm Hình học 7

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (266.39 KB, 34 trang )

Một số phương pháp dạy học khái niệm hình học 7 tại Trường THCS Đông Ngũ

Trần Thị Thinh Trường THCS Đông Ngũ
1
Phßng gi¸o dôc vµ ®µo t¹o huyÖn tiªn yªn
Trêng thcs ®«ng ngò
KINH NGHIỆM
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
KHÁI NIỆM HÌNH HỌC 7
TẠI TRƯỜNG THCS ĐÔNG NGŨ

Người thực hiện: Trần Thị Thinh
Chức vụ: Phó Hiệu trưởng
Năm học: 2011 – 2012
Một số phương pháp dạy học khái niệm hình học 7 tại Trường THCS Đông Ngũ
I. PHẦN MỞ ĐẦU
I.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
I.1.1 Cơ sở lí luận
Việc dạy toán học cùng với dạy học các bộ môn khoa học khác và các hoạt
động trong nhà trường nhằm góp phần thực hiện mục tiêu: "Đào tạo những con
người có kiến thức văn hóa, khoa học; có kỹ năng nghề nghiệp, lao động tự chủ;
có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; sống lành mạnh, đáp ứng những nhu
cầu phát triển đất nước và chuẩn bị cho tương lai để cùng với khoa học và công
nghệ giữ vai trò chỉ đạo trong công cuộc: "Công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất
nước".
Toán học có vai trò quan trọng trong đời sống, trong khoa học và công
nghệ hiện đại; nhất là những năm chuẩn bị bước sang thế kỷ XXI - kỷ nguyên
của "công nghệ hiện đại và thông tin", việc nắm vững các kiến thức toán học nói
chung và bản chất các khái niệm nói riêng giúp cho học sinh có cơ sở nghiên
cứu các bộ môn khoa học khác, đồng thời có thể hoạt động có hiệu quả trong
mọi lĩnh vực; như lời của đồng chí Phạm Văn Đồng: "Dù các bạn ở ngành nào,


trong công tác nào thì các kiến thức và phương pháp toán học cũng cần cho các
bạn" (Tạp chí toán học và tuổi trẻ).
Toán học nói chung, chương trình hình học (nhất là hình học 7) nói riêng
của nước ta hiện nay có yêu cầu cao về mặt lý thuyết trìu tượng, về suy luận
diễn dịch: Học sinh được nghiên cứu có hệ thống và chặt chẽ những vấn đề hình
học cơ bản. Nhằm đáp ứng các yêu cầu mang tính kế cận: Tiếp theo chương
trình hình học cấp tiểu học đồng thời tính đến tình hình thực tế (một số học sinh
vào học nghề tại các trường chuyên nghiệp sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở).
Trong chương trình hình học lớp 7, hệ thống các: “ Khái niệm hình học 7"
đóng vai trò làm cơ sở nghiên cứu các kiến thức trong hình học 7. Hình học phổ
thông trung học cơ sở, hay nói rộng ra các bộ môn toán học và các khoa học
khác có tác dụng lớn để việc phát triển trí tuệ, các năng lực tư duy, các kỹ năng
Trần Thị Thinh Trường THCS Đông Ngũ
2
Một số phương pháp dạy học khái niệm hình học 7 tại Trường THCS Đông Ngũ
sống góp phần bồi dưỡng các phẩm chất trí tuệ, óc sáng tạo. Đồng thời góp phần
giáo dục thế giới quan khoa học cho học sinh.
Với tầm quan trọng như vậy, để hình thành vững chắc và có hệ thống các
"Khái niệm hình học 7" thì việc cải tiến phương pháp dạy học nói chung và
phương pháp "dạy học khái niệm hình học 7" nói riêng vừa là một yêu cầu cần
thiết vừa là nhiệm vụ thường xuyên đối với giáo viên dạy toán.
I.1.2. Cơ sở thực tiễn.
Với yêu cầu và cấu trúc của bộ môn hình học (trong đó có hình học 7), đối
chiếu với tình hình thực tế, qua xem xét quá trình dạy học hình học tôi xin nêu
ra một số nhận định sau đây:
- Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THCS đặc biệt là lứa tuổi học sinh lớp
7 đối với việc nhận thức là tương đối cao. Vì thế việc nắm kiến thức về hình học
còn hạn chế (chất lượng bộ môn thấp)
- Đặc điểm của cấu trúc chương trình hình học 7: Học sinh bắt đầu nghiên
cứu kiến thức hình học một cách đầy đủ: Khái niệm, tính chất vận dụng; vì thế

việc tiếp thu kiến thức về hình học (trong đó có các khái niệm) được coi như
"bắt đầu" đối với học sinh, do vậy các em thường mắc hạn chế: (Phần khái
niệm)
+ Chưa nắm được các dấu hiệu bản chất của khái niệm.
+ Chưa phát biểu khái niệm một cách chính xác, đầy đủ, ngắn gọn.
+ Chưa cụ thể hóa khái niệm: Vẽ hình, nhận biết, suy luận, chứng minh
- Về phía giáo viên: Trong nhiều năm qua với việc ứng dụng công nghệ
thông tin vào giảng dạy đã có một số giáo viên giảng dạy khái niệm đạt những
kết quả khả quan. Tuy nhiên vẫn tồn tại không ít giáo viên kết quả việc "Dạy
học khái niệm hình học 7 " còn có rất nhiều hạn chế dẫn tới học sinh không biết
vận dụng các khái niệm vào giải bài tập.
Với thực tế như vậy thì việc nâng cao hiệu quả của "dạy học khái niệm hình
học 7" là một yêu cầu và nhiệm vụ của người giáo viên, vì thế là người giáo viên
Toán và cũng là người chỉ đạo chuyên môn của trường THCS cần phải tìm tòi,
Trần Thị Thinh Trường THCS Đông Ngũ
3
Một số phương pháp dạy học khái niệm hình học 7 tại Trường THCS Đông Ngũ
nghiên cứu để đưa đến cách dạy phù hợp nhất, hiệu quả nhất nhằm nâng cao
hiệu quả dạy thực, học thực.
Chính vì vậy tôi mạnh dạn đưa ra, trao đổi kinh nghiệm: “Một số phương
pháp dạy học khái niệm hình học 7” cho đồng nghiệp và thực trong năm học
2011 – 2012.
I.2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Việc hình thành hệ thống khái niệm cho học sinh là điều quan trọng bậc
nhất trong quá trình dạy học toán học ở trường phổ thông nói chung, cũng như
trong dạy học hình học nói riêng.
Trên cơ sở nắm được hệ thống các khái niệm làm tiền đề để xây dựng cho
học sinh vận dụng các khái niệm đã học vào giải quyết các vấn đề thực tế đặt ra.
Qua việc hình thành khái niệm có tác dụng lớn đến việc phát triển năng lực
tư duy, giáo dục thế giới quan khoa học cho học sinh.

Nắm được những cơ sở ban đầu của bộ môn hình học làm cơ sở cho nghiên
cứu các kiến thức hình học ở những lớp trên, cấp trên và vận dụng vào thực tế.
Trên cơ sở những khái niệm được lĩnh hội góp phần rèn luyện các năng lực
tư duy như: Cụ thể hóa, trừu tượng hóa, so sánh, nhận xét, phán đoán…, góp
phần rèn luyện các phương pháp tư duy hình học vào các bộ môn khoa học
khác. Trên cơ sở đó giáo dục lòng yêu khoa học, bồi dưỡng óc sáng tạo và các
phẩm chất trí tuệ khác.
I.3. THỜI GIAN - ĐỊA ĐIỂM
I.3.1. Thời gian
Tôi đã tiến hành đề tài này từ tháng 9 năm 2011 đến tháng 5 năm 2012.
I.3.2. Địa điểm
Trường THCS Đông Ngũ – huyện Tiên Yên – Tỉnh Quảng Ninh.
I.3.3. Phạm vi đề tài
I.3.3.1. Giới hạn đối tượng nghiên cứu
Một số phương pháp dạy học khái niệm hình học 7.
I.3.3.2. Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Trần Thị Thinh Trường THCS Đông Ngũ
4
Một số phương pháp dạy học khái niệm hình học 7 tại Trường THCS Đông Ngũ
Trường THCS Đông Ngũ, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh.
I.3.3.3. Giới hạn về khách thể khảo sát
Học sinh lớp 7A, 7B trường THCS Đông Ngũ.
I.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để hoàn thành đề tài tôi đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp cụ thể là:
- Phương pháp lý luận;
- Phương pháp thống kê ( phương pháp ý kiến chuyên gia).
- Phương pháp thực nghiệm;
- Phương pháp điều tra, trắc nghiệm;
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm;
- Phương pháp thống kê toán học;

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
I.5. ĐÓNG GÓP MỚI VỀ MẶT LÝ LUẬN, VỀ MẶT THỰC TIỄN
- Đưa ra một số phương pháp giảng dạy “Khái niệm hình học 7” ;
- Phân tích và chỉ ra một số tình trạng khi dạy học khái niệm;
- Khảo sát chất lượng cho học sinh về áp dụng nội dung đề tài.
Trần Thị Thinh Trường THCS Đông Ngũ
5
Một số phương pháp dạy học khái niệm hình học 7 tại Trường THCS Đông Ngũ
II. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I . TỔNG QUAN
II.1.1. Cơ sở lý luận
Phương pháp: Lề lối và cách thức phải theo để tiến hành công việc với kết
quả tốt nhất.
Khái niệm: Trừu tượng về một vật, do hoạt động của trí tuệ tạo nên qua
các kinh nghiệm.
Một số phương pháp dạy khái niệm hình học: Lề lối và cách thức phải
theo để truyền lại tri thức hoặc kĩ năng một cách trừu tượng về một vật, do hoạt
động của trí tuệ tạo nên qua các kinh nghiệm nghiên cứu các hình dáng không
gian và các quy luật đo đạc các hình dáng đó.
II.1.2. Ý nghĩa của phương pháp dạy học khái niệm
- Học sinh nắm được bản chất của khái niệm: Nắm được những đặc điểm
thuộc tính khái niệm.
- Học sinh biết nhận dạng và thể hiện khái niệm.
- Học sinh biết phát biểu rõ ràng, chính xác ngắn gọn định nghĩa của khái
niệm.
- Nắm được mối liên hệ giữa khái niệm đó với các khái niệm khác trong hệ
thống khái niệm.
- Biết vận dụng khái niệm vào thực tiễn: Giải toán và các vấn đề thực tế.
Trần Thị Thinh Trường THCS Đông Ngũ
6

Một số phương pháp dạy học khái niệm hình học 7 tại Trường THCS Đông Ngũ
CHƯƠNG II. NỘI DUNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
II.2.1. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
Học hình là bài toán khó vì trí tưởng tượng chưa được phong phú đối với
học sinh lớp 7. Là giáo viên đã từng giảng dạy lớp 7 và nhiều năm chỉ đạo
chuyên môn. Đồng thời thông qua dự giờ của đồng nghiệp và kết quả của các
bài kiểm tra hình tôi nhận thấy:
- Giáo viên dạy ít chú ý đến việc hình thành khái niệm thường sợ hết giờ
nên thường đưa ra khái niệm một cách thụ động.
- Giáo viên lạm dụng vào SGK dẫn đến việc hình thành khái niệm cho học
sinh đạt hiệu quả chưa cao.
- Đa phần học sinh chỉ học và ghi nhớ khái niệm mà không hiểu biết khái
niệm đó vận dụng vào bài tập như thế nào?
II.2.2. Đánh giá thực trạng
* Nguyên nhân.
1. Giáo viên.
- Việc hình thành khái niệm cho học sinh qua từng tiết dạy còn hạn chế.
- Chưa kích thích được hứng thú học sinh học tập.
- Giáo viên đưa ra khái niệm còn thụ động, đôi khi thiếu chính xác.
- Phương pháp dẫn dắt học sinh tiếp cận khái niệm không rõ ràng, sợ mất
thời gian nên thường yêu cầu học sinh đọc SGK do đó không ít học sinh không
hiểu bản chất của khái niệm.
2. Học sinh.
- Rất sợ học hình do không biết vận dụng kiến thức vào bài tập.
- Tinh thần phấn đấu cũng như ý chí vươn lên trong học tập của một số học
sinh đôi khi còn hạn chế.
- Lười học bài và làm bài trên lớp, ở nhà; kiến thức cũ quên nhiều.
- Luôn có tư tưởng ngại khó “ỷ lại”, lười suy nghĩ.
Trần Thị Thinh Trường THCS Đông Ngũ
7

Một số phương pháp dạy học khái niệm hình học 7 tại Trường THCS Đông Ngũ
- Nhiều em thiếu dụng cụ học tập (thước kẻ, êke, com pa ).
I.2.3. Phần điều tra cơ bản.
II.2.3.1. Chất lượng môn Toán đầu vào :
Lớp
Số học
sinh
Xếp loại
Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém
7A 34 1= 2,9% 6 =17,7% 14 = 41,2% 5 = 14,7% 8 = 23,5%
7B 34 0 5= 14,7% 10 =29,4% 10 = 29,4% 9 = 26,5%
II.2.3.2. Chỉ tiêu cần đạt trong năm học 2011 - 2012:
Lớp
Số học
sinh
Xếp loại
Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém
7A 34 2 = 5,9% 8 =23,5% 18= 52,9% 6=17,7% 0
7B 34 2=5,9% 8=23,5% 16=47,1% 8=23,5% 0
Trần Thị Thinh Trường THCS Đông Ngũ
8
Một số phương pháp dạy học khái niệm hình học 7 tại Trường THCS Đông Ngũ
CHƯƠNG III:
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC KHÁI NIỆM
II.3.1. Nghiên cứu chương trình, phân chia, hình ảnh khái niệm hình học 7
II.3.1.1. Nghiên cứu về cấu trúc chương trình các khái niệm hình học 7
II.3.1.1.1. Cơ sở xây dựng chương trình
- Toàn bộ chương trình hình học lớp 7 được xây dựng trên quan điểm tập
hợp.
- Đối tượng cơ bản làm nền tảng là: Điểm , đường , mặt. Dựa vào các đối

tượng cơ bản để xây dựng các đối tượng khác: Đoạn, tia, hình (góc, tam giác…).
Các đối tượng của hình học được xây dựng trên quan hệ: Thuộc, nằm giữa…
II.3.1.1.2. Mạch kiến thức khái niệm hình học 7.
Trong chương trình hình học 7 được chia thành 3 chương , gồm 25 bài, các
khái niệm được phân bổ rộng rãi trong các bài xuyên suốt chương trình. Hệ
thống khái niệm cụ thể như sau:
CHƯƠNG I : Đường thẳng vuông góc - Đường thẳng song song
- Hai góc đối đỉnh;
- Hai đường thẳng vuông góc;
- Đường trung trực của đoạn thẳng;
- Góc so le trong (ngoài), góc đồng vị , góc trong (ngoài) cùng phía;
- Hai đường thẳng song song;
- Cặp góc có cạnh tương ứng vuông góc;
- Cặp góc có cạnh tương ứng song song;
- Khoảng cách giữa hai đường thẳng song song.
CHƯƠNG II: Tam giác
- Tam giác vuông;
- Góc ngoài của tam giác;
- Hai tam giác bằng nhau;
- Tam giác cân, tam giác đều;
Trần Thị Thinh Trường THCS Đông Ngũ
9
Một số phương pháp dạy học khái niệm hình học 7 tại Trường THCS Đông Ngũ
- Tam giác vuông cân;
CHƯƠNG III : Quan hệ giữa các yếu tố trong tam giác - Các đường
đồng quy trong tam giác
- Đường xiên, đường vuông góc, hình chiếu của đường xiên;
- Khoảng cách từ một điểm đến một đường thẳng;
- Trung tuyến của tam giác;
- Đường cao của tam giác;

- Phân giác của tam giác;
- Đường trung trực của tam giác;
- Trọng tâm của tam giác;
- Trực tâm của tam giác;
II.3.1.1.3. Đặc điểm cấu trúc chương trình
* Toàn bộ chương trình hình học 7 được phân chia thành những đơn vị kiến
thức nhỏ, theo từng chương, từng bài, tất cả gồm 70 tiết (Lý thuyết, luyện tập,
thực hành, ôn tập, kiểm tra và trả bài kiểm tra). Phân phối chương trình xen kẽ
tiết lý thuyết, tiết luyện tập; sau khi học kiến thức mới học sinh đều được luyện
tập, số tiết luyện tập được bố trí tương đương với tiết lý thuyết nhằm mục đích
rèn luyện khả năng vận dụng lý thuyết vào giải bài tập.
* Các khái niệm được hình thành từ đơn giản đến phức tạp theo một cấu
trúc logic cao và hình thành một cách liên tục, hệ thống, có mối quan hệ và do
quan điểm xây dựng chương trình trên quan điểm tập hợp nên một số khái niệm
liên hệ chặt chẽ với nhau.
* Khái niệm mang tính trìu tượng cao, có một số thuật ngữ khó hình dung.
II.3.1.2. Phân loại và phân chia khái niệm hình học 7
II.3.1.2.1. Khái niệm và cấu trúc khái niệm
* Khái niệm : Khái niệm là sự suy nghĩ phản ánh những thuộc tính chung,
thuộc tính bản chất (Trong đó có một số thuộc tính đặc trưng )
* Các thuộc tính của khái niệm.
Trần Thị Thinh Trường THCS Đông Ngũ
10
Một số phương pháp dạy học khái niệm hình học 7 tại Trường THCS Đông Ngũ
+ Thuộc tính bản chất : Là những thuộc tính gắn liền với đối tượng, quan
hệ.
Nếu mất những thuộc tính ấy thì đối tượng, quan hệ này trở thành đối
tượng, quan hệ khác. Vậy thuộc tính bản chất là điều kiện cần để phân biệt đối
tượng, quan hệ này với đối tượng, quan hệ khác.
+ Thuộc tính đặc trưng : Là những thuộc tính chỉ có đối tượng, quan hệ đó

mới có. Thuộc tính đặc trưng là điều kiện cần và đủ`của đối tượng, quan hệ;
thông thường nhiều thuộc tính bản chất hợp lại thành thuộc tính đặc trưng.
Ví dụ : Khái niệm tam giác cân.
Thuộc tính bản chất : Tam giác
Thuộc tính đặc trưng : Hai cạnh bằng nhau
* Cấu trúc của khái niệm.
a) Định nghĩa khái niệm bằng cách nêu rõ khái niệm loại và những thuộc
tính đặc trưng của chúng. Cấu trúc định nghĩa như sau :
Khái niệm được định nghĩa = Khái niệm loại + Thuộc tính đặc trưng của
chúng
Ví Dụ : Tam giác cân = Tam giác + Hai cạnh bằng nhau
b) Định nghĩa khái niệm bằng phương pháp kiến thiết.
Định nghĩa theo cách này là nêu ra cách cấu tạo đối tượng hoặc quan hệ của
chúng.
Ví dụ : Trung tuyến của tam giác là đoạn thẳng có một đầu là đỉnh và một
đầu là trung điểm của cạnh đối diện với đỉnh ấy.
Tương tự ở định nghĩa : Phân giác , đường cao , trung trực của tam giác.
c) Định nghĩa theo quy ước.
Ví dụ : Trực tâm là giao điểm của ba đường cao
II.3.1.2.2. Phân loại và phân chia khái niệm.
Phân loại ( phân chia khái niệm ) là vạch rõ khái niệm đó thành những
khái niệm hẹp hơn khái niệm đó.
Trần Thị Thinh Trường THCS Đông Ngũ
11
Một số phương pháp dạy học khái niệm hình học 7 tại Trường THCS Đông Ngũ
Việc nắm vững khái niệm không những chỉ nắm được khái niệm đó mà còn
bao quát được nhiều khía cạnh trong phạm vi của khái niệm đó. Hơn nữa kỹ
năng phân chia , phân loại khái niệm để có thể vận dụng đúng đắn vào việc giải
toán và xem xét các vấn đề.
Ví dụ : Khái niệm tam giác gồm có 3 loại : Tam giác có 3 góc nhọn, tam

giác vuông, tam giác có một góc tù ( ở đây phân chia dựa vào độ lớn của góc ).
Vì thế trong các bài toán xét tới vị trí của trực tâm của tam giác ta phải xét đầy
đủ cả 3 trường hợp.
Trong quá trình phân chia ( phân loại ) khái niệm cần chú ý đến các quy tắc
sau đây:
- Sự phân loại ( phân chia) phải triệt để, không được sai sót.
- Sự phân loại ( phân chia) không được trùng lặp nghĩa là các khái niệm
thành phần ( sau khi phân chia ) từng đôi một phải tách rời.
- Sự phân loại ( phân chia) không được cùng một lúc dựa vào các dấu hiệu
khác nhau.
* Chú ý : Trong quá trình dạy học khái niệm hình học cần chú ý đến việc
hệ thống hóa khái niệm để qua đó nêu lên được mối quan hệ và liên hệ giữa các
khái niệm; đặt khái niệm mới vào hệ thống các khái niệm, đồng thời qua đó thấy
được sự mở rộng khái niệm, thu hẹp khái niệm, mặt khác cần hệ thống hóa các
biểu hiện của một khái niệm.
II.3.1.3. Vai trò của hình ảnh “Dạy học khái niệm hình học 7 ”
Yêu cầu đầu tiên của việc dạy học bất kỳ khái niệm hình học nói chung và
“ Dạy học khái niệm hình học 7 ” nói riêng cũng phải làm sao cho hoc sinh có
được những hình ảnh cụ thể, thực tế về đối tượng phản ánh trong khái niệm đó.
Từ đó nhận biết được, biết được đối tượng nào đó thuộc ( hay không thuộc) khái
niệm đó hay không.
Ví dụ: Khi dạy học khái niệm “Hai tam giác bằng nhau” học sinh phân
biệt được rõ các dấu hiệu bản chất của khái niệm: “Các góc, các cạnh tương ứng
Trần Thị Thinh Trường THCS Đông Ngũ
12
Một số phương pháp dạy học khái niệm hình học 7 tại Trường THCS Đông Ngũ
bằng nhau”. từ đó học sinh nhận biết được rõ trong hình ảnh ở những vị trí khác
nhau, cụ thể :
Q P
A I


B C M N H R

µ
C
=
µ
N
; AB = IM
·
QPR
=
·
RHQ
; PR = HQ

µ
A
=
I
$
; BC = MN
·
PRQ
=
·
HQR
; PQ = HR

µ

B
=
µ
M
; AC = IN
·
PQR
=
·
HRQ
; RQ = QR
Theo nguyên tắc : “ Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng rồi từ đó
trở về thực tiễn ” vì thế hình thành khái niệm hình học ở cấp trung học cơ sở
(trong đó có các khái niệm hình học 7) thường đi qua ba giai đoạn của quá trình
nhận thức : Cụ thể -> trừu tượng -> cụ thể. Những hình ảnh thực tế, hình vẽ, ví
dụ cụ thể vừa tham gia giai đoạn đầu, vừa có tác dụng tốt góp phần nhận thức
sâu sắc. Nhưng cũng có một số hạn chế: Học sinh hiểu không chính xác, không
đầy đủ hoặc sai lầm vì thế khi đưa ra các hình ảnh cần giúp để học sinh hiểu rõ
những dấu hiệu bản chất của khái niệm trong hình ảnh.
Trong một số trường hợp, thông qua cái cụ thể học sinh lại chú ý , ghi nhớ
những dấu hiệu bề ngoài từ đó đi đến bản chất của khái niệm.
Ví dụ : Khi dạy học khái niệm “ Góc ngoài của tam giác ”, chú ý là không
phải góc ngoài cứ phải là có cạnh kéo dài của cạnh đáy vì thế giáo viên nên đưa
ra hình ảnh các vị trí góc ngoài của tam giác
( Kéo dài cạnh đáy ) ( Góc nhọn ) ( Góc tù )
Trần Thị Thinh Trường THCS Đông Ngũ
13
Một số phương pháp dạy học khái niệm hình học 7 tại Trường THCS Đông Ngũ
Mặt khác việc hình thành khái niệm đúng đắn cho học sinh còn chú ý đến
việc lựa chọn hình ảnh có số lượng thích hợp, thí dụ điển hình: "Trong đó những

dấu hiệu bản chất của khái niệm được giữ nguyên, còn những dấu hiệu không
bản chất biến thiên". Từ đó học sinh nắm được dấu hiệu bản chất của khái niệm:
"Kéo dài của một cạnh".
II.3.1.4. Phương pháp "Dạy học khái niệm hình học 7".
II.3.1.4.1. Con đường hình thành khái niệm.
Có hai con đường để dẫn dắt học sinh đi đến định nghĩa khái niệm:
II.3.1.4.1.1. Con đường quy nạp.
Việc hình thành khái niệm theo con đường quy nạp là xuất phát từ một số
trường hợp cụ thể bằng cách trừu tượng hóa, khái quát hóa tìm ra những dấu
hiệu đặc trưng của khái niệm thể hiện ở các trường hợp cụ thể, từ đó đi đến định
nghĩa khái niệm.
Định nghĩa khái niệm bằng quy nạp cần chọn số lượng hình ảnh, ví dụ cụ
thể phù hợp, điển hình, trong đó những dấu hiệu đặc trưng được thể hiện nguyên
vẹn, còn những dấu hiệu khác không đặc trưng thì có thể thay đổi.
II.3.1.4.1.2. Con đường suy diễn.
Hình thành định nghĩa khái niệm bằng con đường suy diễn là định nghĩa
khái niệm mới xuất phát từ những khái niệm đã được định nghĩa. Đây là vấn đề
có tác dụng phát huy tốt tính chủ động, sáng tạo của học sinh nên con đường này
thường được áp dụng ở các lớp chuyên, chọn.
II.3.1.4.1.3. Dạy học định nghĩa khái niệm.
Trước tiên giáo viên phải phân biệt trong chương trình khái niệm cơ bản
(không định nghĩa) và những khái niệm định nghĩa được.
Với những khái niệm cơ bản (không định nghĩa) ta chỉ mô tả, giải thích
khái niệm, thông qua những thí dụ cụ thể giúp học sinh nắm được hình ảnh, ý
Trần Thị Thinh Trường THCS Đông Ngũ
14
Một số phương pháp dạy học khái niệm hình học 7 tại Trường THCS Đông Ngũ
nghĩa, công dụng của khái niệm, các ký hiệu tương ứng chứ không yêu cầu học
sinh phát biểu lại "Định nghĩa" (nếu có).
Ví dụ:

- Khái niệm cơ bản: điểm, đường, mặt (lớp 6)
- Khái niệm "mô tả" : Hình chiếu, đường xiên
Đối với những khái niệm định nghĩa cần phân biệt những khái niệm được
định nghĩa thực sự "với những khái niệm mà" định nghĩa thực chất là những câu
mô tả giải thích khái niệm"
Ví dụ:
- Khái niệm định nghĩa thực sự: trung điểm của đoạn thẳng, hai góc đối
đỉnh
- Khái niệm mà định nghĩa mang tính mô tả: Cặp góc so le trong, cặp góc
đồng vị
II.3.1.5. "Một số phương pháp dạy học khái niệm hình học 7"
II.3.1.5.1. Phương pháp dùng lời: (Giảng giải và đàm thoại)
Phương pháp dùng lời là phương pháp phổ biến trong dạy học toán cũng
như dạy hình học (trong đó có dạy học hình học 7) có tác dụng tốt đến việc tiếp
thu kiến thức, quá trình nhận thức và hướng dẫn học sinh học tập.
Trong dạy học khái niệm hình học 7, phương pháp dùng lời thường xuyên
được sử dụng để giảng giải, thuyết trình, mô tả một khái niệm nào đó. Do đó
giáo viên cần luyện tập để đạt những yêu cầu đối với phương pháp này. Phương
pháp dùng lời có hai phương pháp chủ yếu, thuyết trình và đàm thoại.
II.3.1.5.2. Phương pháp thuyết trình.
Phương pháp thuyết trình được biểu hiện dưới hình thức giảng giải, mô tả
Vì thế giáo viên cần thực hiện các yêu cầu: nội dung và ngôn ngữ chính xác, rõ
ràng, mạch lạc, có sức truyền cảm và thuyết phục cao, Tuy nhiên đối với học
sinh khối 7 giáo viên không nên kéo dài.
Trần Thị Thinh Trường THCS Đông Ngũ
15
Một số phương pháp dạy học khái niệm hình học 7 tại Trường THCS Đông Ngũ
Ví dụ: Khi dạy học khái niệm đường xiên, hình thiếu thông qua hình vẽ
giáo viên phải mô tả hình vẽ để học sinh nhận biết được hình ảnh cụ thể của khái
niệm.

II.3.1.5.3. Phương pháp đàm thoại: (hỏi đáp)
Phương pháp đàm thoại là phương pháp dẫn dắt học sinh học tập khái niệm
bằng cách nêu câu hỏi để học sinh trả lời. Phương pháp này có tác dụng tốt đến
phát triển tư duy, rèn luyện tính tích cực cho học sinh; sử dụng đàm thoại và gợi
mở dẫn dắt học sinh tự mình tìm tòi ra kiến thức mới bằng cách nêu ra những
câu hỏi thích hợp.
Ví dụ: Khi dạy khái niệm: "Đường trung trực của đoạn thẳng": Cần đạt
được những yêu cầu theo cấu trúc sau:
Vấn đề Giáo viên Học sinh
- Đoạn thẳng AB
- Dựng đường vuông
góc
- Trung điểm: M
- Dựng đường vuông
góc AB tại M
- Định nghĩa khái
niệm
- Thế nào là đoạn thẳng? Vẽ
AB
- Hãy dựng các đường vuông
góc AB, có mấy đường ?
- Thế nào là trung điểm, xác
định trung điểm ?
- Hãy dựng đường thẳng qua
M và vuông góc AD, có mấy
đường ?
- Giáo viên đặt tên: Đường
trung trực
- Trả lời câu hỏi và
vẽ hình

- Học sinh thực hiện
- Học sinh trả lời và
xác định
- Học sinh thực hiện
- Học sinh định nghĩa
đường trung trực của
đoạn thẳng
Phương pháp đàm thoại yêu cầu giáo viên chuẩn bị chu đáo về nhiều mặt:
Câu hỏi đặt ra và tổ chức đàm thoại, cần hết sức tránh những sai sót trong đàm
thoại.
II.3.1.5.4. Phương pháp trực quan.
Trần Thị Thinh Trường THCS Đông Ngũ
16
Một số phương pháp dạy học khái niệm hình học 7 tại Trường THCS Đông Ngũ
Do đặc điểm của môn toán, nhất là bộ môn hình học (trong đó có hình học
7) phương pháp trực quan rất cần thiết trong quá trình dạy học, giúp cho học
sinh khắc phục khó khăn ban đầu, tiếp thu và vận dụng kiến thức cũng như việc
suy luận trừu tượng. Phương pháp trực quan thường được phối kết hợp với
phương pháp khác trong quá trình dạy học khái niệm.
Sử dụng "vật thực và mô hình" để minh hoạ cho bài học, bằng những mô
hình bằng bìa, que gỗ, kim loại bằng cách gấp giấy cũng minh họa được nhiều
cho bài học, cho khái niệm. Ngoài những mô hình không đổi cần làm những mô
hình có thế biến đổi, biến dạng để phản ánh những khái niệm động (không bản
chất) và giữ nguyên dấu hiệu bản chất trong khái niệm.
Sử dụng hình ảnh để học sinh "tập đọc hình học" là một rèn luyện kỹ năng
vận dụng khái niệm vào giải toán, lời nói két hợp với hình ảnh trực quan sinh
động cũng có tác dụng trực quan tốt.
Giáo viên phải thường xuyên suy nghĩ, sưu tầm, tìm tòi và hướng dẫn học
sinh làm nhiều phương tiện trực quan và khai thác chung. Cần lưu ý tính trực
quan chỉ là tương đối: Một hình vẽ đối với người nay có thể là trừu tượng, đối

với người kia lại là cụ thể giúp học sinh nhận thức một khái niệm trừu tượng
hơn, vì vậy cần phải từng bước thay đổi các hình thức và tính chất trực quan.
Một số thí dụ về phương tiện trực quan.
- " Hai tam giác bằng nhau" dùng hình vẽ, bìa cứng để minh hoạ hai tam
giác bằng nhau.
- "Góc ngoài của tam giác" minh họa bằng hình vẽ.
Trần Thị Thinh Trường THCS Đông Ngũ
17
Một số phương pháp dạy học khái niệm hình học 7 tại Trường THCS Đông Ngũ
- Các loại tam giác:
Dùng hình ảnh trực quan kết hợp với dùng lời mô tả, kết hợp với phương
pháp đàm thoại để hướng dẫn, kết hợp với phương pháp tìm tòi để tìm ra nội
dung, định nghĩa, khái niệm, kết hợp với phương pháp kiểm tra để rèn luyện và
hệ thống hóa khái niệm.
Phương pháp trực quan có hiệu quả cao, đa dạng. Vì vậy đòi hỏi giáo viên
khi sử dụng phương pháp này cần nghiên cứu áp dụng một cách phù hợp với
điều kiện phương tiện hiện có, phù hợp với đối tượng học sinh, vận dụng một
cách linh hoạt vào từng nội dung định nghĩa khái, nhằm kích thích tính tích cực
và sự phát triển tư duy của học sinh.
II.3.1.5.5. Phương pháp tìm tòi.
Phương pháp tìm tòi là phương pháp giáo viên tổ chức và hướng dẫn học
sinh tự mình đạt được tới mức độ hiểu biết của khái niệm.
Phương pháp này có tác dụng nhiều mặt: Rèn luyện tư duy lôgic, kích thích
tính tích cực, sáng tạo cho học sinh; làm cho nội dung bài học có tính thuyết
phục cao, biến kiến thức thành niềm tin, bồi dưỡng những phẩm chất trí tuệ rèn
luyện tính chủ động , sáng tạo, tự lập kiến thức có độ khắc sâu cao.
Khi sử dụng phương pháp này, tuỳ theo mức độ mà giáo viên tổ chức cho
học sinh thực hiện một cách hợp lý, phù hợp từng bước nâng cao mức độ tư duy,
để cho học sinh thực hiện từng bước từ thấp đến cao: Nêu vấn đề, giải quyết vấn
Trần Thị Thinh Trường THCS Đông Ngũ

18
A C
B
B C
A
A C
B
AB ≠ BC ≠AC AB = AC ≠BC AB = AC =BC
Một số phương pháp dạy học khái niệm hình học 7 tại Trường THCS Đông Ngũ
đề, phát biểu vấn đề. Để phương pháp này đạt hiệu quả cao, giáo viên cần tạo ra
tình huống có vấn đề để kích thích học sinh tìm tòi, phương pháp suy nghĩ, thói
quen phát hiện vấn đề và kết luận vấn đề.
Ví dụ: Khi dạy học "Tam giác cân", "Tam giác đều" cần hướng dẫn cho
học sinh dấu hiệu phân biệt (độ dài các cạnh) từ đó học sinh tự đo đạc và đặt tên
cho các tam giác: có ba cạnh khác nhau, có 2 cạnh bằng nhau, ba cạnh bằng
nhau.
Ví dụ: Khi dạy về trực tâm, trọng tâm cần hướng cho học sinh tìm tòi vị trí
của nó trong tam giác.
*Chú ý: Khi dạy học khái niệm cần tổ chức cho học sinh khái niệm rộng
hơn, hẹp hơn. Khi sử dụng phương pháp này giáo viên cần tìm tòi và đặt mình
vào vị trí của học sinh , từ đó phát hiện những tiến bộ và khó khăn của học sinh
để kịp thời hướng dẫn và uốn nắn những lệch lạc.
II.3.1.5.6. Phương pháp làm việc với sách.
Phương pháp này rèn luyện thói quen cho học sinh đọc sách, cho học sinh
đọc định nghĩa khái niệm ở sách giáo khoa, giáo viên giảng giải ý nghĩa các từ
quan trọng, các dấu hiệu bản chất, không bản chất; các ký hiệu, sau đó cho học
sinh trả lời những câu hỏi nêu sẵn trong sách hoặc do giáo viên đưa ra, hoặc có
thể học sinh tự đặt câu hỏi và trả lời. Từ đó học sinh trình bày lại nội dung và
những ý kiến, nhận xét về dấu hiệu bản chất, dấu hiệu không bản chất.
II.3.1.5.7. Phương pháp kiểm tra.

Việc đánh giá kết quả học toán là một khâu quan trọng, có ý nghĩa to lớn
trong quá trình dạy học, giúp cho giáo viên đánh giá hiệu quả của quá trình dạy
học, từ đó kịp thời điều chỉnh phương pháp dạy học khái niệm cho phù hợp để
đạt hiệu quả cao hơn. Việc kiểm tra còn nhằm củng cố, đào sâu, hệ thống hóa
kiến thức.
* Chú ý: Có thể áp dụng mọi hình thức kiểm tra; đồng thời gắn với mục
tiêu chương trình.
II.3.1.6. Một số chú ý khi tiến hành "dạy học khái niệm hình học 7".
Trần Thị Thinh Trường THCS Đông Ngũ
19
Một số phương pháp dạy học khái niệm hình học 7 tại Trường THCS Đông Ngũ
II.3.1.6.1. Những quy tắc định nghĩa khái niệm.
Khi định nghĩa khái niệm nói chung và định nghĩa khái niệm hình học
(trong đó có khái niệm hình học 7) nói riêng cần tuân theo các quy tắc sau đây:
a/ Trong định nghĩa chỉ được sử dụng những khái niệm đã biết, đã được
định nghĩa từ trước:
Đây là quy tắc quan trọng nhất khi định nghĩa khái niệm vì không có khái
niệm nào trong hình học 7 là "hoàn toàn" mới cả mà các khái niệm đều được
hình thành bằng các dấu hiệu chứa trong các khái niệm đã biết.
Ví dụ: Trong khái niệm "Đường trung trực của đoạn thẳng" được định
nghĩa từ những dấu hiệu "vuông góc" "đi qua trung điểm" được hình thành từ
các khái niệm và các phép toán so sánh. Nếu vi phạm quy tắc này dẫn đến sai
lầm
- Định nghĩa vòng quanh: A=> B => A
Ví dụ: Góc vuông là gì ? góc vuông là góc bằng 90
0
.
Độ là gì ? Độ là số đo của góc bằng 1/90 của góc vuông.
- Định nghĩa luẩn quẩn:
* Chú ý: Các quy tắc phải tuân theo quy tắc “a”, tuy nhiên nếu theo suy

luận:
A
(x)
<= B
(x)
<= C
(x)
<= D
(x)
<= (

<= dựa vào) thì rõ ràng không thể kéo dài
mãi được, mà phải có khái niệm xuất phát (ban đầu) gọi là khái niệm cơ bản
(không định nghĩa)
b/ Định nghĩa phải tương xứng:
Khái niệm được định nghĩa tương xứng với khái niệm định nghĩa, nếu vi
phạm quy tắc này dẫn đến sai lầm:
- Định nghĩa quá rộng.
- Định nghĩa quá hẹp.
c/ Định nghĩa phải ngắn gọn:
Trong định nghĩa thì không có dấu hiệu được suy ra từ những dấu hiệu
khác.
Trần Thị Thinh Trường THCS Đông Ngũ
20
Một số phương pháp dạy học khái niệm hình học 7 tại Trường THCS Đông Ngũ
Ví dụ: Khi định nghĩa "Tam giác đều";
Nên: "Tam giác đều là tam giác có ba cạnh bằng nhau"
Hoặc: "Tam giác đều là tam giác có ba góc bằng nhau"
Không nên: "Tam giác đều là tam giác có ba cạnh bằng nhau và ba góc
bằng nhau"

* Chú ý: Định nghĩa đúc kết những nhận thức của khái niệm vì thế trong
quá trình phát triển của xã hội, nhận thức của con người cho nên những khái
niệm ngày càng được chính xác hơn, hoàn thiện hơn; có những thay đổi, có
những khái niệm mới ra đời Chính vì vậy khi định nghĩa khái niệm cần gắn
với những kiến thức liên quan đến khái niệm.
Có những khái niệm yêu cầu hoặc giới hạn của chương trình hay vì lý do sư
phạm người ta không định nghĩa chính xác khái niệm mà chỉ đưa ra "định nghĩa
để làm việc" ; Trong chương trình hình học lớp 7 do trình độ của học sinh, yêu
cầu của chương trình và lý do sư phạm người ra không thể đưa ra định nghĩa
chính xác, hiện đại về khái niệm mà phải đưa ra định nghĩa thích hợp (phạm vi
định nghĩa).
Ví dụ: Khái niệm hình chiếu; đường xiên.
Mặt khác có những khái niệm được định nghĩa theo nhiều cách, nếu định
nghĩa theo cách này thì cách kia được coi là tính chất của khái niệm và
ngược lại.
II.3.1.6.2. Những chú ý khi sử dụng các phương pháp "Dạy học khái niệm hình
học 7" .
Cùng với sự phát triển của xã hội, trước yêu cầu của việc phát triển nhận
thức con người và quá trình dạy học thì phương pháp dạy học không phải là cố
định mà phải luôn luôn cải tiến phương pháp, vì thế có những phương pháp mới
xuất hiện: Phương pháp nêu vấn đề, dạy học chương trình hóa Đồng thời trong
dạy học khi áp dụng các phương pháp cần linh hoạt, phù hợp với nội dung của
bài, điều kiện trang thiết bị, đặc điểm tâm sinh lý cũng như đặc điểm của giáo
viên.
Trần Thị Thinh Trường THCS Đông Ngũ
21
Một số phương pháp dạy học khái niệm hình học 7 tại Trường THCS Đông Ngũ
Cần luôn luôn quán triệt mục đích của dạy học: "Dạy chữ, dạy người", vì
thế cần kết hợp dạy học kiến thức với giáo dục con người và phát triển trí tuệ
cho học sinh; uốn nắn, khắc phục những lệch lạc của học sinh trong nhận thức

cũng như phương pháp. Đồng thời luôn luôn coi học sinh là chủ thể của quá
trình dạy học mà đặt niềm tin đối với học sinh, gây hứng thú, kích thích óc sáng
tạo, lòng say mê học tập bộ môn. Nhất là khi sử dụng phương pháp đàm thoại,
làm việc với sách, tìm tòi lúc đâù có thể mất thời gian, tuy nhiên sẽ được đền bù
khi tư duy độc lập của học sinh phát triển, từ đó hiệu quả của quá trình dạy học
được nâng lên. Nhưng trong quá trình dạy học không nên quá lạm dụng phương
pháp đàm thoại, luôn luôn yêu cầu học sinh "sáng tạo" và "tìm tòi" trong khi có
những vấn đề cần phải luyện tập (vì luyện tập máy móc nhiều khi là cần thiết để
có kỹ năng thành thạo) và có những vấn đề học sinh phải công nhận, không thể
giải thích cũng như không cần giải thích (ký hiệu, qui ước )
Trong các phương pháp dạy học, phương pháp nào cũng có mặt mạnh, mặt
yếu; không có phương pháp nào tối ưu cả; nghệ thuật của người giáo viên là
phải biết lựa chọn, sử dụng mỗi phương pháp hợp lý, đúng chỗ. Một vấn đề có
thể đi đến bằng nhiều phương pháp, nên sử dụng phương pháp nào là tốt nhất,
phù hợp nhất còn tùy thuộc vào sự sáng tạo và nghệ thuật của mỗi người giáo
viên. Đồng thời trong quá trình dạy học người giáo viên phải biết sử dụng, phối
kết hợp các phương pháp một cách khéo léo, nhằm làm cho các phương pháp hỗ
trợ cho nhau để phát huy được tác dụng của các phương pháp và thu hẹp hạn chế
của mỗi
phương pháp.
II.3.1.7. Một số thí dụ về dạy và học khái niệm hình học 7.
II.3.1.7.1. Thí dụ 1: Khi dạy học khái niệm: "Hai tam giác bằng nhau"
a/ Nội dung định nghĩa khái niệm:
"Hai tam giác bằng nhau là hai tam giác có các cạnh tương ứng bằng nhau
và các góc tương ứng bằng nhau"
Trần Thị Thinh Trường THCS Đông Ngũ
22
Một số phương pháp dạy học khái niệm hình học 7 tại Trường THCS Đông Ngũ
Đây là cách định nghĩa bằng phương pháp kiến thiết: nêu cách kiến tạo (cấu
tạo ) đối tượng hoặc quan hệ được định nghĩa:

- Gồm: Quan hệ bằng nhau của (số đo độ dài) của đoạn thẳng.
Quan hệ bằng nhau (số đo góc) của góc.
- Thuật ngữ toán học được dùng trong định nghĩa khái niệm là: "tương
ứng"
b/ Các cách hình thành khái niệm:
* Cách 1: Phương pháp dùng lời và trực quan:
Các bước tiến hành Phương pháp
- Chuẩn bị các hình tam giác bằng bìa cứng
- Học sinh dùng phấn vẽ lên bảng theo cạnh
của miếng bìa hai hình tam giác ở hai vị trí
khác nhau.
- Đặt tên cho các đoạn thẳng ở hình vẽ trên
bảng.
- Đo độ lớn các góc, độ dài các cạnh của 2 tam
giác.
- Giáo viên giải thích thuật ngữ "tương ứng"
- Đặt tên cho định nghĩa khái niệm: "Hai tam
giác bằng nhau"
- Nêu định nghĩa khái niệm
- Khái quát hóa vấn đề.
- Một số ví dụ và phản ví dụ; hình ảnh cụ thể ở
các vị trí khác nhau nhưng bản chất không đổi.
-Phương pháp trực quan
-Phương pháp đàm thoại +
trực quan
-Thuyết trình + đàm thoại.
-Đàm thoại; gợi mở
-Trực quan + đàm thoại
* Cách 2: Phương pháp tìm tòi và trực quan:
Bước 1: Đặt vấn đề:

- Khái niệm số có quan hệ "bằng nhau"
- Khái niệm tam giác ở hình học có quan hệ "Bằng nhau" không ? nếu có
thì như thế nào là "hai tam giác bằng nhau" ?
Bước 2: Giải quyết vấn đề.
Trần Thị Thinh Trường THCS Đông Ngũ
23
Một số phương pháp dạy học khái niệm hình học 7 tại Trường THCS Đông Ngũ
- Các yếu tố đặc trưng của tam giác: Cạnh , góc.
- Thực hành phép đo đạc các yếu tố của tam giác trên các tam giác.
- Giáo viên cần và cho học sinh vẽ hình
- GV chỉ vị trí các góc và đọc tên của chúng
- Dùng ký hiệu chỉ rõ các góc có đỉnh là 2 điểm cắt
- Khắc sâu khái niệm: Cho học sinh chỉ lại và nhận biết
các góc ở hình vẽ khác (luyện tập)

- Từ định lý rút ra 2 đường thẳng không có điểm chung.
- Đặt tên "gọi là hai đường thẳng"
- Cho học sinh định nghĩa khái niệm.
- Cho học sinh luyện tập khái niệm: vẽ hình, gọi tên,
nhận biết.
- Tổng kết (tóm tắt các nội dung khái niệm)
-Trực quan
-Thuyết trình, mô tả
-Mô tả, trực quan.
-Trực quan + luyện tập.
-Đàm thoại, gợi mở.
-Đàm thoại
-Luyện tập
- Từ kết quả phép đo, rút ra nhận xét: Quan hệ "Bằng nhau".
Bước 3: Phát biểu vấn đề.

- Kết luận: Có xẩy ra trường hợp 2 tam giác bằng nhau trong thực tế.
- Phát biểu định nghĩa, khái niệm: "Hai tam giác bằng nhau"
- Minh họa bằng các hình vẽ ở các vị trí khác nhau.
Cách thứ 2 cần có sự hướng dẫn, tổ chức của giáo viên. Có thể tổ chức
thực hành theo nhóm, tổ; thời gian có thể tiến hành trước ở nhà theo mẫu, vì thế
giáo viên phải có kế hoạch và sự chuẩn vị kỹ càng để tổ chức cho học sinh tìm
tòi (có thể kết hợp với phương pháp đọc sách)
II.3.1.7.2. Thí dụ 2. Khi dạy tiết : "Dâú hiệu hai đường thẳng song song"
a/ Nội dung các khái niệm: "Cặp góc so le trong" , "cặp góc đồng vị", "cặp
góc trong cùng phía", "Hai đường thẳng song song". Thuật ngữ: "Đường thẳng
cắt hai đường thẳng".
Giáo viên có thể kết hợp với phương pháp đọc sách để học sinh khỏi ngạc
nhiên với kiến thức của bài học.
Trần Thị Thinh Trường THCS Đông Ngũ
24
Một số phương pháp dạy học khái niệm hình học 7 tại Trường THCS Đông Ngũ
III.3.1.7.3. Thí dụ 3. Khi dạy khái niệm: "Đường trung trực của đoạn thẳng"
a/ Nội dung khái niệm: "Đường thẳng đi qua trung điểm của đoạn thẳng và
vuông góc với đoạn thẳng ấy"
- Các khái niệm dùng để định nghĩa : "vuông góc", "trung điểm".
b/ Các bước hình thành khái niệm:
Nội dung các bước
- GV yêu cầu học sinh nhắc lại khái niệm "Điểm
nằm giữa"
- Đặt vấn đề: Có thể có hay không điểm N (sao cho
MA = MB)
- GV vẽ (treo) các hình, cho học sinh đo độ dài và do
qua từng trường hợp.
- Đặt tên cho khái niệm: Trung điểm của đoạn thẳng
AB.

- Học sinh định nghĩa khái niệm
- GV thâu tóm và kết luận
- Cho học sinh luyện tập: Nhận biết khái niệm qua
các hình ảnh ở các vị trí và các trường hợp khác
nhau (ví dụ )
Phương pháp
Kiểm tra + đàm thoại
- Trực quan + đàm
thoại
-Đàm thoại
* Chú ý: Khi dạy khái niệm trên trong bài còn có tính chất của khái niệm
và mở rộng khái niệm (trung tuyến của tam giác). Vì vậy cần sự lựa chọn và
phối hợp các phương pháp cho hợp lý đồng thời phải đảm bảo cân đối, hợp lý
trong cấu trúc của bài dạy, tránh xem nặng việc hình thành khái niệm mà xem
nhẹ về tính chất của khái niệm; vì thế khi dạy học khái niệm cần bám sát nội
dung, yêu cầu của bài dạy để cân đối thời gian cho hợp lý.
Trần Thị Thinh Trường THCS Đông Ngũ
25

×