Tải bản đầy đủ (.pdf) (153 trang)

Tình trạng tăng acid uric huyết thanh, yếu tố liên quan và hiệu quả can thiệp chế độ ăn ở người 30 tuổi trở lên tại cộng đồng nông thôn thái bình

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (4.67 MB, 153 trang )


i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƢƠNG




PHẠM THỊ DUNG





TÌNH TRẠNG TĂNG ACID URIC HUYẾT THANH,
YẾU TỐ LIÊN QUAN VÀ HIỆU QUẢ CAN THIỆP
CHẾ ĐỘ ĂN Ở NGƢỜI 30 TUỔI TRỞ LÊN TẠI
CỘNG ĐỒNG NÔNG THÔN THÁI BÌNH


Chuyên ngành: Dinh dƣỡng tiết chế
Mã số: 62 72 73 10

LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC


Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Lê Bạch Mai
2. PGS.TS. Phạm Ngọc Khái





HÀ NỘI – 2014

ii




LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi trực tiếp thực
hiện, các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là trung thực và chƣa
từng đƣợc công bố trong bất kỳ một công trình nào khác.
Nghiên cứu sinh


Phạm Thị Dung

iii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận án này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ
của Các thầy cô, của bạn bè, đồng nghiệp và các cộng tác viên.
Trước hết, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc, Khoa Đào tạo Sau
đại học và Quản lý khoa học, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương đã tạo điều kiện
hết sức thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và tiến hành đề tài nghiên cứu
và hoàn thành luận án.
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Đảng ủy, Ban Giám hiệu, phòng
Quản lý khoa học, bộ môn Dinh dưỡng và An toàn thực phẩm trường Đại học Y
Dược Thái Bình đã tạo điều kiện và hỗ trợ cho tôi trong quá trình học tập và

triển khai đề tài nghiên cứu.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới UBND huyện Vũ Thư, Trung tâm Y
tế dự phòng, Bệnh viện đa khoa huyện Vũ Thư, UBND xã, trạm y tế và các đối
tượng tình nguyện tham gia nghiên cứu tại các xã Việt Hùng, Minh Khai, Song
Lãng, Tân Phong, huyện Vũ Thư, đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
nghiên cứu.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời biết ơn chân thành nhất tới PGS.TS. Lê Bạch Mai.
PGS.TS. Phạm Ngọc Khái đã dành nhiều thời gian và công sức trực tiếp hướng
dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án này.
Tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã thường xuyên động
viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Cuối cùng, xin được gửi tấm lòng ân tình tới gia đình, chồng và các con là
nguồn động viên, khích lệ, truyền nhiệt huyết và tạo mọi điều kiện cho tôi trong
quá trình học tập và hoàn thành luận án.
Hà nội, ngày tháng 9 năm 2014
Tác giả luận án




Phạm Thị Dung

iv
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục các chữ viết tắt vi

Danh mục các bảng vii
Danh mục các biểu đồ ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƢƠNG I .TỔNG QUAN 3
1.1. Đại cƣơng về acid uric 3
1.2. Một số nghiên cứu về tăng acid uric huyết thanh
4
1.2.1. Các nghiên cứu trên thế giới
4
1.2.2. Nghiên cứu về tăng acid uric huyết thanh ở Việt Nam 6
1.3. Các yếu tố liên quan tới tăng acid uric huyết thanh 7
1.3.1. Liên quan đến đặc điểm nhân khẩu học 7
1.3.2. Yếu tố di truyền và đột biến gen 10
1.3.3. Chế độ ăn 13
1.3.4. Hoạt động thể lực 17
1.3.5. Tăng acid uric huyết thanh liên quan đến một số bệnh tăng hủy tế bào 17
1.3.6. Tăng acid uric huyết thanh do giảm đào thải qua thận. 18
1.3.7. Mối liên quan giữa tăng acid uric huyết thanh với một số bệnh mạn
tính không lây nhiễm 19
1.3.8. Tăng acid uric huyết thanh do dùng thuốc 29
1.4. Các biện pháp can thiệp giảm nồng độ acid uric huyết thanh 31
1.4.1. Sử dụng thuốc giúp giảm acid uric huyết thanh 31
1.4.2. Kiểm soát tình trạng dinh dưỡng 32
1.4.3. Kiểm soát chế độ ăn 33
CHƢƠNG 2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
2.1. Đối tƣợng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 40
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 40

v
2.1.2. Thời gian nghiên cứu 40

2.1.3. Địa điểm nghiên cứu 41
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 41
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu 41
2.2.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 44
2.2.3. Các chỉ số và biến số nghiên cứu 51
2.2.4. Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu 47
2.3. Quá trình tổ chức nghiên cứu 55
2.3. Quá trình tổ chức nghiên cứu 56
2.4. Biện pháp khống chế sai số 58
2.5. Các yếu tố rủi ro trong quá trình thực hiện và cách khắc phục 59
2.6. Xử lý và phân tích số liệu 60
2.7. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 61
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 63
3.1. Tình trạng tăng acid uric huyết thanh ở ngƣời 30 tuổi trở lên vùng nông
thôn Thái Bình 63
3.2. Một số yếu tố liên quan tới tình trạng tăng acid uric huyết thanh 75
3.3. Hiệu quả can thiệp khẩu phần đến nồng độ acid uric huyết thanh 85
CHƢƠNG 4. BÀN LUẬN 97
4.1. Tình trạng tăng acid uric huyết thanh ở ngƣời 30 tuổi trở lên tại cộng đồng
nông thôn Thái Bình. 97
4.2. Một số yếu tố liên quan tới tình trạng tăng acid uric huyết thanh 106
4.3. Đánh giá tác dụng của can thiệp khẩu phần đến nồng độ acid uric huyết
thanh 119
4.4. Những ƣu điểm và tính mới của nghiên cứu 127
4.5. Những hạn chế của nghiên cứu 127
KẾT LUẬN 128
KIẾN NGHỊ 130
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AU
Acid uric
BMI
Body Mass Index: Chỉ số khối cơ thể
ĐTĐ
Đái tháo đƣờng
HATĐ
Huyết áp tối đa
HATT
Huyết áp tối thiểu
HAU
High acid uric: Tăng acid uric
HCCH
Hội chứng chuyển hóa
HDL-C
High Density Lipoprotein Cholesterol:
Cholesterol tỷ trọng cao
LDL-C
Low Density Lipoprotein Chlesterol:
Cholesterol tỷ trọng thấp
LTTP
Lƣơng thực, thực phẩm
NMCT
Nhồi máu cơ tim
TCBP
Thừa cân, béo phì
THA
Tăng huyết áp

THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
TTDD
Tình trạng dinh dƣỡng
RLLM
Rối loạn lipid máu
WHO
World Health Organisation: Tổ chức Y tế thế giới
WHR
Waist Hip Ratio: Tỷ số vòng eo/vòng mông

vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng
Tên bảng
Trang
3.1. Đặc điểm về nhân khẩu học của đối tƣợng nghiên cứu 63
3.2. Giá trị trung bình một số chỉ số nhân trắc, huyết áp và xét nghiệm 64
3.3. Đặc điểm tình trạng dinh dƣỡng và mức độ hoạt động thể lực 65
3.4. Tỷ lệ hiện mắc và tiền sử mắc một số bệnh lý liên quan 66
3.5. Giá trị trung bình và tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh theo giới tính 68
3.6. Giá trị trung bình và tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh theo một số chỉ số nhân
trắc 70
3.7. Giá trị trung bình và tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh theo tình trạng huyết áp
của đối tƣợng nghiên cứu 71
3.8. Giá trị trung bình và tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh theo một số chỉ số lipid
máu 72
3.9. Giá trị trung bình và tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh theo chỉ số đƣờng huyết

73
3.10. Giá trị trung bình và tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh theo số yếu tố của hội
chứng chuyển hóa 74
3.11. Giá trị trung bình và tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh theo một số yếu tố tiền
sử 74
3.12. Hệ số tƣơng quan giữa nồng độ acid uric huyết thanh với một số chỉ số
nhân trắc, huyết áp và hóa sinh máu 75
3.13. Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến tiên lƣợng nồng độ acid uric huyết
thanh theo một số chỉ số tuổi, giới, nhân trắc, huyết áp 77
3.14. Liên quan giữa tỷ lệ tăng acid uric với nhóm tuổi và giới tính 78
3.15. Liên quan giữa tỷ lệ tăng acid uric với một số chỉ số nhân trắc 79
3.16. Liên quan giữa tỷ lệ tăng acid uric với tình trạng huyết áp 79
3.17. Liên quan giữa tỷ lệ tăng acid uric với một số chỉ số hóa sinh máu 80
3.18. Liên quan giữa tỷ lệ tăng acid uric với tiền sử một số bệnh lý 81
3.19. Liên quan giữa tỷ lệ tăng acid uric với hút thuốc, sử dụng rƣợu bia 82

viii
3.20. Liên quan giữa tỷ lệ tăng acid uric với tần xuất sử dụng một số nhóm thực
phẩm 83
3.21. Phân tích hồi quy logistic đa biến giữa tăng acid uric huyết thanh với một
số yếu tố liên quan theo giới tính 84
3.22. Đặc điểm đối tƣợng tham gia trong nghiên cứu can thiệp 85
3.23. Hiệu quả giảm acid uric huyết thanh sau 6 tháng can thiệp 85
3.24. Hiệu quả giảm acid uric huyết thanh theo nhóm tuổi 87
3.25. Hiệu quả giảm acid uric huyết thanh theo giới tính 88
3.26. Hiệu quả can thiệp lên tần xuất tiêu thụ thƣờng xuyên một số nhóm thực
phẩm 90
3.27. Hiệu quả can thiệp đối với mức tiêu thụ thực phẩm nhóm 30-60 tuổi 91
3.28. Hiệu quả can thiệp đối với mức tiêu thụ thực phẩm nhóm trên 60 tuổi 92
3.29. So sánh giá trị dinh dƣỡng khẩu phần giữa 2 nhóm trƣớc, sau can thiệp

nhóm 30-60 tuổi 93
3.30. So sánh giá trị dinh dƣỡng khẩu phần giữa 2 nhóm trƣớc, sau can thiệp
nhóm trên 60 tuổi 94



ix
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ
Tên biểu đồ
Trang
3.1. Phân bố nồng độ acid uric huyết thanh theo giới tính 67
3.2. Nồng độ acid uric huyết thanh trung bình theo nhóm tuổi và giới tính 68
3.3. Tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh theo nhóm tuổi 69
3.4. Tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh theo mức độ hoạt động thể lực 71
3.5. Tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh theo nhóm rối loạn lipid máu 73
3.6. Tƣơng quan giữa nồng độ acid uric huyết thanh và một số chỉ số 76
3.7. Nồng độ acid uric huyết thanh trƣớc, sau can thiệp của 2 nhóm 86
3.8. Mức giảm acid uric huyết thanh sau can thiệp theo nhóm tuổi 87
3.9. Mức giảm acid uric huyết thanh sau can thiệp theo giới tính 89
310. Tần xuất tiêu thụ thực phẩm thƣờng xuyên theo nhóm acid uric sau can
thiệp 89
3.11. Cơ cấu năng lƣợng khẩu phần trƣớc, sau can thiệp nhóm 30-60 tuổi 95
3.12. Cơ cấu năng lƣợng khẩu phần trƣớc sau can thiệp nhóm trên 60 tuổi 95
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong hai thập kỷ qua, mô hình bệnh tật của Việt Nam đã có sự thay đổi
sâu sắc. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, số ngƣời mắc các bệnh lý chuyển
hóa liên quan đến thói quen sinh hoạt và chế độ ăn uống nhƣ đái tháo đƣờng, rối
loạn chuyển hóa lipid, glucid ngày càng tăng và trở thành một vấn đề rất quan

trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Xu thế này đã đƣợc các
chuyên gia y tế cảnh báo “thế kỷ 21 là thế kỷ của các bệnh nội tiết, rối loạn
chuyển hóa” [46]. Gánh nặng của các bệnh mạn tính không lây nhiễm gặp chủ
yếu ở các nƣớc có thu nhập trung bình và thấp [143]. Nghiên cứu của các tác giả
trong và ngoài nƣớc đã xác định chính sự thay đổi thói quen trong ăn uống, sinh
hoạt và thay đổi môi trƣờng sống có tác động quan trọng đến sự thay đổi mô hình
bệnh tật và nguyên nhân tử vong nhƣ hiện nay [24],[103],[125],[142].
Tăng acid uric huyết thanh là một trong những rối loạn chuyển hóa, có
liên quan chặt chẽ đến hàng loạt các bệnh mạn tính không lây nhiễm nhƣ nhồi
máu cơ tim, đột quỵ, đái tháo đƣờng, gút…[54],[76],[93]. Chủ đề này đã thu hút
nhiều tác giả quan tâm nhƣng các nghiên cứu mới chỉ tập trung ở các thành phố
lớn và trong bệnh viện là chủ yếu [7],[15],[35]. Một số nghiên cứu tiến hành trên
các đối tƣợng đến khám sức khỏe định kỳ hoặc trên các đối tƣợng đƣợc quản lý
sức khỏe. Hiện chƣa có những công trình nghiên cứu đầy đủ về dịch tễ học tăng
acid uric huyết thanh và các can thiệp dự phòng tại cộng đồng. Trong khi đó,
nhiều bằng chứng khoa học đã cho thấy hiệu quả của các chƣơng trình can thiệp
cộng đồng trong giảm bớt nguy cơ mắc và tử vong do các bệnh lý liên quan đến
rối loạn chuyển hóa [59],[117],[140].
Thái Bình là một tỉnh vùng đồng bằng Bắc Bộ nơi cũng đang có sự
chuyển tiếp về cơ cấu bệnh tật. Một số bệnh mạn tính không lây nhiễm liên quan
đến các rối loạn chuyển hóa có xu hƣớng gia tăng [10],[12],[32]. Vì thế, phát
hiện sớm và kiểm soát tình trạng tăng acid uric huyết thanh khi chƣa có biểu hiện
lâm sàng là rất cần thiết để góp phần giảm nguy cơ mắc một số bệnh mạn tính

2
không lây nhiễm. Đồng thời, việc xác định đƣợc các yếu tố liên quan sẽ là cơ sở
khoa học để lựa chọn các biện pháp can thiệp cộng đồng phù hợp và đặc thù.
Với giả thiết tăng acid uric huyết thanh cùng với các rối loạn chuyển hóa ở
nông thôn đang trở thành một vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng và thực hiện
tƣ vấn chế độ ăn sẽ góp phần kiểm soát đƣợc nồng độ acid uric huyết thanh, đề

tài luận án đã đƣợc nghiên cứu với 3 mục tiêu:
1. Mô tả tình trạng tăng acid uric huyết thanh ở người 30 tuổi trở lên tại
cộng đồng nông thôn Thái Bình.
2. Xác định một số yếu tố liên quan tới tình trạng tăng acid uric huyết
thanh tại địa bàn nghiên cứu.
3. Đánh giá hiệu quả can thiệp chế độ ăn cho người tăng acid uric huyết
thanh tại cộng đồng.


3
CHƢƠNG I
TỔNG QUAN
1.1. Đại cƣơng về acid uric
Acid uric là sản phẩm chuyển hóa cuối cùng của nucleotid có nhân purin.
Sản phẩm này đƣợc hình thành từ 3 nguồn: nguồn thoái giáng các nucleotid từ
thức ăn, thoái giáng các nucleoprotein do quá trình hủy tế bào trong cơ thể hoặc
tạo ra từ sự tổng hợp nội sinh các nucleoprotein. Việc tổng hợp và chuyển hóa
purin xảy ra ở mọi tổ chức nhƣng sự tổng hợp acid uric chỉ diễn ra ở các tổ chức
có chứa enzym xanthin oxydase (thực hiện chủ yếu ở gan và ruột non). Bình
thƣờng lƣợng acid uric đƣợc tạo ra hàng ngày từ tổng hợp nội sinh khoảng
350mg và từ purin của thức ăn khoảng 300mg. Lƣợng acid uric đào thải ra khỏi
cơ thể hàng ngày cũng tƣơng đƣơng, khoảng 650 mg, chủ yếu qua thận (80%) và
một phần thải qua đƣờng tiêu hóa. Ở pH 7,4 trong huyết tƣơng, acid uric tồn tại
chủ yếu dƣới dạng monosodium urat. Nồng độ acid uric huyết thanh trung bình ở
nam giới là 50 ±29mg/l (hay 180-420 µmol/l) và ở nữ là 40 ± 20mg/l (hay 150-
360 µmol/l). Tăng acid uric huyết thanh đƣợc xác định khi nồng độ >420 µmol/l
ở nam và > 360 µmol/l ở nữ. Ngƣỡng xác định này dựa trên các yếu tố vật lý, hóa
học, tính đến sự hòa tan của sodium urat ở 37
o
C, với pH khoảng 7,4 trong huyết

tƣơng. Tăng acid uric có 2 loại nguyên phát, thứ phát và đƣợc phân biệt theo cơ
chế bệnh sinh và chẩn đoán. Vì thế tăng acid uric huyết thanh đƣợc phân loại
theo 3 nhóm tăng acid uric do tăng tổng hợp, do giảm đào thải hoặc phối hợp cả
tăng tổng hợp và giảm đào thải.
Khi nồng độ acid uric tăng cao quá mức bão hòa trong huyết tƣơng, cộng
với một số điều kiện vật lý, sự lắng đọng của sodium urat ở cơ quan đích trong
cơ thể sẽ xảy ra. Sự lắng đọng này gây tổn thƣơng nhiều cơ quan nhƣ mạch máu,
tim, mắt, màng não, cơ quan sinh dục mà điển hình là sự lắng đọng ở khớp gây
nên các cơn gút cấp do quá trình viêm khớp tái phát nhiều lần. Không chỉ có vậy,
tăng acid uric còn có mối liên quan chặt chẽ đến nhiều bệnh lý khác. Các tác giả

4
Frederick Mahomed, Alexandre Haig và Nathan Smith Davis là những ngƣời đầu
tiên đƣa ra giả thuyết tăng acid uric gây tăng huyết áp và bệnh thận [75],[76]. Sau
đó, đến giữa thập niên 50 và đầu thập niên 60 của thế kỷ XX xuất hiện hàng loạt
những công trình nghiên cứu đánh giá mối tƣơng quan giữa acid uric với các biến
cố tim mạch bao gồm tăng huyết áp, hội chứng chuyển hóa, bệnh mạch vành,
bệnh mạch máu não, tiền sản giật và cả bệnh thận [76].
1.2. Một số nghiên cứu về tăng acid uric huyết thanh
1.2.1. Các nghiên cứu trên thế giới
Các rối loạn chuyển hóa và bệnh lý liên quan đến tăng acid uric huyết
thanh cũng đã đƣợc biết đến từ lâu. Trong hơn nửa thế kỷ qua, nhiều nghiên cứu
về tăng acid uric huyết thanh, cùng với các tiến bộ mới trong khoa học kỹ thuật
đã cung cấp một số phát hiện mới về cơ chế bệnh sinh, đặc điểm dịch tễ học, quá
trình chuyển hóa urat tại thận, quá trình viêm, miễn dịch, yếu tố gen, chế độ ăn,
sử dụng thuốc, vai trò của acid uric trong các bệnh lý mạn tính không lây khác
[123],[133],[138],[144].Tỷ lệ ngƣời trƣởng thành bị tăng acid uric huyết thanh có
xu hƣớng gia tăng nhanh trong hai thập kỷ qua ở cả các nƣớc phát triển và các
nƣớc đang phát triển. Kết quả nghiên cứu ở Mỹ, Úc, Anh, Pháp, Nhật Bản cho
thấy tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh trong khoảng 13-25% tùy từng khu vực. Tỷ

lệ này ở các nƣớc đang phát triển cũng chiếm khoảng từ 10-15% dân số trƣởng
thành [51],[74],[81]. Tăng acid uric huyết thanh có liên quan mật thiết đến sự
phát triển của nền kinh tế mà biểu hiện trực tiếp là sự thay đổi lối sống và chế độ
ăn. Nồng độ acid uric huyết thanh trung bình đã tăng lên nhanh chóng trong thời
gian gần đây. Nghiên cứu thuần tập theo dõi dữ liệu Y khoa trong 50 năm cho
thấy nếu nhƣ giai đoạn 1954 -1958, nồng độ acid uric huyết thanh trung bình là
5mg/dl ở nam và 3,9mg/dl ở nữ thì đến giai đoạn 1972-1976, Giá trị trung bình
đã tăng lên 5,7mg/dl ở nam và 4,7mg/dl ở nữ [55]. Kết quả phân tích gộp một số
nghiên cứu về tỷ lệ tăng acid uric và bệnh gút đã cho thấy New Zealand là một
trong những nƣớc có tỷ lệ mắc cao nhất, đặc biệt là trong cộng đồng ngƣời thổ
dân Maori, tỷ lệ mắc bệnh gút ở ngƣời trên 65 tuổi của tộc ngƣời này chiếm tới

5
trên 25% [145]. Mỹ cũng là một nƣớc có tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh và bệnh
gút khá cao và bệnh có xu hƣớng tăng nhanh trong hai thập kỷ qua. Nghiên cứu
Zhu cho biết nồng độ acid uric huyết thanh trung bình ở nam giới là 6,14mg/dl và
ở nữ giới là 4,87mg/dl, tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh khoảng 20% dân số.
Tƣơng ứng với tỷ lệ tăng acid uric, tỷ lệ mắc bệnh gút ở Mỹ cũng chiếm tỷ lệ khá
cao 3,9% (trong đó nam giới chiếm 5,9%, nữ giới chiếm 2%) [153]. Robinson
thực hiện phân tích tổng hợp các nghiên cứu về tăng acid uric tại Úc cho thấy tỷ
lệ tăng acid uric huyết thanh và bệnh gút chiếm tỷ lệ cao so với một số nƣớc
trong khu vực có cùng điều kiện kinh tế. Xu hƣớng này hiện tại cũng đang có
chiều hƣớng ngày càng gia tăng. Tỷ lệ tăng acid uric đã tăng nhanh từ năm 1959
so với năm 1980 (17% ở nam giới độ tuổi 30-40) ở quần thể dân cƣ gốc Úc.
Tƣơng ứng, tỷ lệ mắc bệnh gút cũng tăng từ 0% năm 1965 đến 9,7% ở nam và
2% ở nữ năm 2002. Tỷ lệ mắc bệnh gút ở ngƣời cao tuổi của Úc đứng hàng thứ 2
sau New Zealand là nƣớc có báo cáo tỷ lệ mắc bệnh gút cao nhất thế giới [122].
Tác giả Sari nghiên cứu tại Thổ Nhĩ Kỳ cho biết, tỷ lệ tăng acid uric trong cộng
đồng dân cƣ khu vực thành thị là 12,1% và tỷ lệ mắc có liên quan đến các bệnh
lý tăng huyết áp, tim mạch, đái tháo đƣờng và hội chứng chuyển hóa [128].

Nghiên cứu của Chuang đánh giá xu hƣớng về tăng acid uric huyết thanh
ở ngƣời trƣởng thành Đài Loan trong 2 giai đoạn 1993-1996 và 2005-2008 lại
cho thấy một xu hƣớng hơi khác biệt về tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh. Nếu nhƣ
giai đoạn 1993-1996, nồng độ acid uric trung bình là 6,77mg/dl ở nam và
5,33mg/dl ở nữ thì giá trị này đã giảm xuống còn 6,59mg/dl ở nam và 4,97mg/dl
ở nữ sau 12 năm. Tƣơng ứng tỷ lệ tăng acid uric cũng giảm từ 25,3% xuống còn
22% ở nam và từ 16,7% xuống còn 9,7% ở nữ. Điều này đƣợc giải thích do sự
thay đổi chế độ ăn giảm tiêu thụ nội tạng, măng và sử dụng nƣớc ngọt [68]. Tuy
nhiên, tỷ lệ mắc bệnh gút lại tăng nên cần thiết phải có những nghiên cứu sâu
hơn trong mối quan hệ với các bệnh mạn tính không lây khác.
Nghiên cứu về tình trạng tăng acid uric huyết thanh ở các nƣớc đang phát
triển, tác giả Conen cho biết tỷ lệ tăng acid uric của ngƣời gốc Phi ở Seychelles

6
cũng chiếm tỷ lệ khá cao là 35,2% ở nam và 8,7% ở nữ 25-64 tuổi [69]. Đánh
giá tỷ lệ tăng acid uric ở các nƣớc đang phát triển khu vực Đông Nam Á cũng
cho kết quả tƣơng tự [114],[129], [135].
1.2.2. Nghiên cứu về tăng acid uric huyết thanh ở Việt Nam
Trong hơn một thập kỷ qua, nền kinh tế của Việt Nam nói chung đã có
những bƣớc phát triển nhanh chóng. Kèm theo đó, chế độ ăn và cơ cấu bệnh tật
cũng dần thay đổi theo. Các bệnh mạn tính không lây nhiễm bắt đầu gia tăng
trong những năm gần đây. Nhiều tác giả đã nghiên cứu về tỷ lệ mắc hội chứng
chuyển hóa, thừa cân béo phì, đái tháo đƣờng, rối loạn lipid máu tại cộng đồng
và trong bệnh viện. Nhƣng các nghiên cứu về rối loạn chuyển hoá acid uric cùng
các biến chứng của bệnh mới chỉ đƣợc thực hiện trong bệnh viện hoặc trên các
nhóm đối tƣợng quản lý sức khỏe là chủ yếu [7],[8],[15],[29].
Thực trạng tăng acid uric huyết thanh ở Việt Nam trong những năm gần
đây đã bắt đầu thu hút nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu cho thấy rằng đây cũng
là một vấn đề thời sự có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng. Điều tra của Lê Thanh Vân
năm 1999 ở các đối tƣợng cán bộ quân đội, tuổi trên 40 cho thấy tỷ lệ tăng acid

uric huyết thanh là 17,96%. Nhƣng đến năm 2001 tỷ lệ này đã chiếm 22,4% [40].
Tác giả Doãn Thị Tƣờng Vi nghiên cứu tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh ở cán bộ
viên chức Hà Nội và các tỉnh lân cận đến khám sức khỏe tại bệnh viện 19/8, kết
quả cho thấy nhóm nam giới 30 -60 tuổi có tỷ lệ tăng acid uric là 6,2%, nữ là
2,5%, tỷ lệ mắc chung là 4,9% [42]. Các yếu tố liên quan đến tình trạng tăng acid
uric huyết thanh trong nghiên cứu này đã đƣợc xác định là tần xuất tiêu thụ thực
phẩm giàu đạm và rƣợu bia nhiều, cân nặng và BMI cao. Những ngƣời tăng acid
uric huyết thanh có nguy cơ bị tăng huyết áp, cholesterol, triglycerid huyết thanh
cao hơn so với ngƣời bình thƣờng.
Phan Văn Hợp nghiên cứu trên đối tƣợng ngƣời cao tuổi tại 2 xã thuộc
huyện Vụ Bản Nam Định năm 2011 cho thấy, tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh là
9,5%, trong đó nam giới chiếm 16,3%, nữ giới chiếm 5,5%. Tỷ lệ tăng acid uric
huyết thanh là 10,1% ở nhóm 60-90 tuổi; 9,7% ở 70-79 tuổi và 8,1% ở trên 80

7
tuổi [21]. Tác giả Bùi Đức Thắng theo dõi trên 151 đối tƣợng là ngƣời cao tuổi
đƣợc quản lý sức khỏe tại Bệnh viện Hữu Nghị Hà Nội cho biết tỷ lệ tăng acid
uric là 33,8% và có xu thế tăng dần theo tuổi, tỷ lệ mắc giữa 2 giới không có sự
khác biệt đáng kể [33]. Nghiên cứu của Lê Văn Đoàn trên các đối tƣợng sỹ quan
quân đội tuổi trung niên tại quân khu 9 cho thấy tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh
trong nhóm này là 26,2%, tỷ lệ mắc cũng có xu hƣớng tăng theo tuổi. Các yếu tố
liên quan: tuổi, chế độ ăn giàu đạm, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, thừa cân,
béo phì [11].
1.3. Các yếu tố liên quan tới tăng acid uric huyết thanh
1.3.1. Liên quan đến đặc điểm nhân khẩu học
Tuổi
Trong điều kiện sinh lý bình thƣờng, nồng độ acid uric huyết thanh đã có
xu hƣớng tăng dần theo tuổi, tăng khoảng 10% từ lứa tuổi 20 đến 60 tuổi. Nhiều
nghiên cứu dịch tễ học trên thế giới cũng đã khẳng định nồng độ acid uric trong
máu tăng dần theo tuổi [60],[68],[100]. Và càng ngày nồng độ acid uric trung

bình cao và tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh càng có xu hƣớng trẻ hóa. Ngƣời ta
đã ghi nhận các trƣờng hợp tăng acid uric huyết thanh ở nhóm thiếu niên
[60],[124]. Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ acid uric huyết thanh và
huyết áp trên 6.000 thiếu niên Mỹ độ tuổi 12 đến 17, tác giả Loeffler cho thấy
nồng độ acid uric trung bình trong quần thể này là 5mg/dl ở nhóm bình thƣờng
và 5,6mg/dl ở nhóm tăng huyết áp và có tới 34% số đối tƣợng có nồng độ acid
uric từ 5,5mg/dl trở lên [101]. Đây cũng là một thực tế đáng báo động cho thấy
tăng acid uric huyết thanh xuất hiện cũng bắt đầu xuất hiện cả ở lứa tuổi vị thành
niên vì bình thƣờng nồng độ acid uric huyết thanh ở trẻ em là 2- 5,5 mg/dl.
Chiou nghiên cứu trên 6.000 đối tƣợng tuổi từ 26 đến 75 tuổi tại Đài Loan
trong khoảng thời gian từ 2003 đến 2005 đã cho thấy có sự khác biệt rõ ràng về
tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh giữa các nhóm tuổi khác nhau ở nữ giới nhƣng
không thấy sự khác biệt này ở nam giới [61]. Một nghiên cứu khác tại Đài Loan

8
trên nhóm đối tƣợng ngƣời cao tuổi từ 65 tuổi trở lên, các tác giả cho biết nồng
độ acid uric huyết thanh trung bình ở nam giới là 437,6 µmol/l và ở nữ giới là
376 µmol/l. Tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh khá phổ biến ở đối tƣợng này, tỷ lệ
mắc ở nam giới là 57,3%, ở nữ giới là 40,9% và có xu hƣớng ổn định giữa các
nhóm tuổi [94]. Tỷ lệ này cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ mắc chung trong cộng
đồng là khoảng 20% ở nam và 10% ở nữ [68]. Trong khi đó nhờ các tiến bộ xã
hội, sự sẵn có về thực phẩm và sự chăm sóc sức khỏe tốt, tuổi thọ trung bình con
ngƣời ngày càng tăng cả ở những nƣớc phát triển và đang phát triển, cơ cấu
ngƣời cao tuổi trong tháp dân số ngày càng lớn. Do vậy, tỷ lệ tăng acid uric sẽ có
xu hƣớng ngày càng tăng cao trong cộng đồng.
Giới tính
Bình thƣờng nồng độ acid uric huyết thanh ở nữ bao giờ cũng thấp hơn so
với nam giới cùng độ tuổi. Ngƣỡng đánh giá mức độ tăng acid uric trong máu ở
nữ là trên 360 µmol/l trong khi ngƣỡng này ở nam giới là trên 420 µmol/l. Một
điều tra trên cơ sở dữ liệu của Chƣơng trình điều tra dinh dƣỡng và sức khỏe

quốc gia của Mỹ lần thứ 3 cho biết nồng độ acid uric huyết thanh có xu hƣớng
tăng dần theo tuổi từ 5,21 mg / dL ở những ngƣời trong độ tuổi 20-29 đến 5,72
mg / dL ở những ngƣời độ tuổi từ 80 tuổi trở lên. Đặc biệt xu hƣớng này thể hiện
rõ rệt ở nhóm nữ giới trên 60 tuổi so với nhóm dƣới 60 [121]. Sau đó, nghiên cứu
của Zhu cũng tại Mỹ điều tra trên đối tƣợng ngƣời trƣởng thành lặp lại sau 2 thập
kỷ đã cho biết nồng độ acid uric huyết thanh trung bình trong quần thể là
6,14mg/dl ở nam giới và 4,87mg/dl ở nữ giới. Tuy vậy, không có sự khác biệt
nhiều về tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh giữa nam và nữ (tỷ lệ hiện mắc là 21,2
và 21,6%) [153].
Trƣớc kia, ngƣời ta cho rằng tăng acid uric huyết thanh và bệnh gút là
bệnh của nam giới với 97% số bệnh nhân gút là nam. Nhƣng hiện tại, một số
nghiên cứu mở rộng đã cho thấy nếu nhƣ nguy cơ tăng acid uric huyết thanh và
bệnh gút bắt đầu xuất hiện ở nam giới lứa tuổi 30 thì nguy cơ này xuất hiện ở nữ
lứa tuổi 50 (muộn hơn 20 năm), tƣơng ứng với thời kỳ mãn kinh của phụ nữ

9
[108]. Nếu nhƣ trƣớc tuổi 65 tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh của nam cao gấp 4
lần so với nữ thì sau tuổi 65 khoảng cách này thu hẹp lại dần. Một nghiên cứu tại
Đài Loan cho biết ở lứa tuổi trẻ và trung niên, tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh có
sự khác biệt rõ ràng giữa nam và nữ nhƣng đến tuổi trên 65 thì cả 2 giới có tỷ lệ
mắc tƣơng đƣơng nhau [61].
Nghiên cứu tại Việt Nam trên nhóm đối tƣợng quản lý sức khỏe tác giả
Bùi Đức Thắng cho biết nồng độ acid uric huyết thanh trung bình của nhóm
nghiên cứu là 382 µmol/l, trong đó Giá trị trung bình ở nam là 387,5 µmol/l cao
hơn so với nữ là 330,2 µmol/l. Tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh ở ngƣời cao tuổi
trong nghiên cứu này là 33,8%, nam gặp nhiều hơn so với nữ nhƣng giữa 2 giới
không có sự khác biệt đáng kể [33]. Tác giả Phan Văn Hợp nghiên cứu trên đối
tƣợng ngƣời cao tuổi tại cộng đồng dân cƣ 2 xã thuộc tỉnh Nam Định lại cho thấy
tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh ở nam giới cao tuổi gấp 3 lần so với nữ. Sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê với p <0,01 [21].

Chủng tộc
Một số nghiên cứu dịch tễ học chứng tỏ có sự khác biệt nồng độ acid uric
giữa các nhóm dân tộc khác nhau. Nồng độ này đặc biệt cao trong quần thể dân
cƣ là thổ dân Maori ở New Zealand, ngƣời Úc bản địa hoặc ngƣời Mỹ gốc Phi
[100],[108],[145]. Nghiên cứu trên nhóm đối tƣợng đa sắc tộc tại Mỹ thông qua
dữ liệu của Chƣơng trình điều tra dinh dƣỡng và sức khỏe quốc gia của Mỹ lần
thứ 3 cho biết Ngƣời Mỹ gốc Phi có tỷ lệ tăng acid uric huyết thanh cao nhất
(22,5%), tiếp theo là ngƣời da trắng (18,0%) và nhóm những chủng tộc khác
(16,3%) [121]. Rathmann nghiên cứu sự khác biệt nồng độ acid uric huyết thanh
giữa nhóm thanh niên da trắng với da đen ở lứa tuổi 17-35, kết quả cho thấy nồng
độ acid uric tăng cao nhất ở nhóm nam giới da đen sau đó đến nhóm nam giới da
trắng rồi đến nhóm nữ da đen, cuối cùng là nhóm nữ da trắng [120]. Nghiên cứu
tại Đài Loan cũng cho biết ngƣời bản xứ có nguy cơ tăng acid uric huyết thanh
cao hơn so với các nhóm chủng tộc khác một cách có ý nghĩa thống kê. Nguyên

10
nhân của sự khác biệt này đƣợc cho là có liên quan đến cấu trúc di truyền và biến thể
của các gen [138]. Nhƣ vậy, nồng độ acid uric huyết thanh có sự khác nhau đáng
kể giữa các chủng tộc hay sắc tộc. Ngƣời Mỹ gốc Phi có nồng độ acid uric trong
huyết thanh cao hơn so với ngƣời Mỹ da trắng. Điều này đƣợc giải thích có thể
liên quan đến tỷ lệ tăng huyết áp cao ở ngƣời Mỹ gốc Phi. Ngoài ra, nồng độ acid
uric huyết thanh dƣờng nhƣ cao hơn ở những ngƣời thổ dân, nhƣ quan sát thấy
trong nhóm ngƣời Maori ở Newzealand hay thổ dân Đài Loan cho thấy ảnh
hƣởng yếu tố di truyền đến nồng độ acid uric huyết thanh. Có thể yếu tố chủng
tộc gây tăng acid uric huyết thanh có liên quan đến một số gen quy định quá trình
chuyển hóa, thải trừ và tái hấp thu acid uric huyết thanh.
1.3.2. Yếu tố di truyền và đột biến gen
Với sự tiến bộ vƣợt bậc ở lĩnh vực công nghệ sinh học trong thời gian qua,
những hiểu biết về cơ chế vận chuyển urat đã đang làm sáng tỏ thêm các nguyên
nhân gây tăng acid uric huyết thanh có liên quan đến di truyền.Nhiều nghiên cứu

về dịch tễ học di truyền trong thời gian gần đây đã xác định rõ vai trò của một số
gen và biến thể liên quan đến tình trạng tăng acid uric huyết thanh. Một số giả
thuyết nghiên cứu trƣớc đây đã cho rằng nồng độ acid uric tăng ở con ngƣời có
liên quan đến sự đột biến gen khoảng 15 triệu năm trƣớc. Các tác giả đã giải
thích sự đột biến này bằng giả thuyết “gen tiết kiệm” khi cơ thể con ngƣời phản
ứng với tình trạng tình trạng thiếu lƣơng thực và sự ấm lên của trái đất lúc đó. Sự
đột biến này đã làm mất chức năng của enzym uricase nên nồng độ acid uric của
con ngƣời cao hơn các loài linh trƣởng [53].
Sự đột biến của các gen quy định quá trình chuyển hóa purin trong cơ thể
ngƣời sẽ làm rối loạn việc sản xuất các enzym tham gia vào quá trình chuyển hóa
làm tăng acid uric huyết thanh, điển hình là một số bệnh và hội chứng sau:
- Bệnh Lesch-Nyhan là một bệnh di truyền hiếm gặp gây tăng acid uric
huyết thanh và bệnh gút do sự khiếm khuyết gen trên nhiễm sắc thể X. Bất
thƣờng gen này gây ra rối loạn hoàn toàn hay một phần hoạt động của enzyme

11
hypoxanthin-guanin-phosphoriposyl-transferase (HGPT). Bình thƣờng enzyme
này có tác dụng trong việc tái sử dụng các phosphoribosyl-pyrophosphate
(PRPP) để tạo thành các nucleotid để không chuyển hypoxathin và guanin thành
acid uric. Sự dƣ thừa PRPP dẫn đến hoạt hoá amido-phosphoriposyl-transferase.
Sự hoạt động quá mức của enzyme này thƣờng kèm theo sự tăng đột ngột quá
trình tổng hợp purin nội sinh. Đối với các bệnh nhân nam dị hợp tử thƣờng xuất
hiện các triệu chứng tăng acit uric từ khi còn là trẻ em, với biểu hiện tăng acid
uric huyết thanh và niệu, chậm phát triển tinh thần thƣờng hay bị điếc do nguyên
nhân thần kinh thính giác. Bệnh chỉ gặp ở bé trai kèm theo các triệu chứng về
toàn thân, thần kinh và tâm thần nhƣ: chậm phát triển tâm thần-vận động, tăng
trƣơng lực, rối loạn vận động kiểu múa vờn, bệnh lý về thận, bệnh lý tại khớp.
Đây còn đƣợc gọi là bệnh gút bẩm sinh và bệnh nhân thƣờng tử vong sớm do các
biến chứng ở thận, tim mạch [124].
- Bệnh thiếu hụt enzyme glucose-6-phosphatase hay còn gọi là bệnh

Gipke (bệnh lý dự trữ glycogen type I). Bệnh nhân gây ra rối loạn trong quá trình
giải phóng glucose từ glucose-6-phosphatase vào gan. Xuất hiện xu hƣớng giảm
Kali máu, tạo ra một lƣợng purin thừa. Quá trình tổng hợp acid uric đƣợc tăng
lên từ nucleotid purin và do giảm bài tiết ở thận (do tăng acid lactic và toan
ceton) [123].
- Sự thiếu hụt enzyme frutose-l-phosphat-aldolase cũng đƣợc xem nhƣ là
một trong những nguyên nhân hay gặp của tăng acid uric huyết thanh. Từ sự rối
loạn dung nạp fructose do sự thiếu hụt di truyền fructose-l-phosphat-aldolase sẽ
dẫn đến tích tụ fructose-l-phosphat-purine từ thành phần của ATP đã đƣợc huy
động tăng cƣờng chuyển thành urát dẫn đến tăng acid uric huyết thanh. Trong thí
nghiệm truyền fructose nhanh ở bệnh nhân có rối loạn dung nạp fructose,
fructose phosphoryl hoá ở gan, quá trình này sử dụng nhiều ATP. Trong vòng vài
ba phút sau khi truyền đã thấy nồng độ inosine, hypoxanthin, xanthin và acid uric
trong máu và trong nƣớc tiểu tăng lên.

12
- Tăng thoái giáng ATP và các nucleotide khác dẫn đến tăng acid uric
huyết thanh (thuộc nhóm các bệnh lý rối loạn dự trữ glycogen type III, V, VII),
co giật, tình trạng thiếu oxy. Các bệnh nhân này khi tăng cƣờng vận động nhẹ có
thể tăng acid uric có nguồn gốc từ cơ và tăng acid uric niệu do rối loạn khả năng
sử dụng glucose để tái tạo ATP từ ADP ở cơ.
-Trong nhiều trƣờng hợp do tiêu thụ ATP hoặc giảm nhiều ATP khi không
có đủ phospho, oxy và glucose hoặc acid béo thì tốc độ tổng hợp ATP không đạt
mức cần thiết nên ATP giảm nặng gây tăng acid uric huyết thanh nhất là khi có
tăng nhu cầu sử dụng ATP. Thoái giáng nhiều ATP sẽ dẫn đến tích luỹ ADP và
AMP, những chất này nhanh chóng chuyển thành acid uric qua các chất trung
gian nhƣ adenosine, inosine, hypoxathin và xathin.
Trong thời gian gần đây, các tác giả đã nhấn mạnh vai trò của Apoprotein
B (ApoB). ApoB đƣợc hấp thu ở bề mặt của các tinh thể urat và cản trở việc hoạt
hoá các tinh thể của bạch cầu trong hệ thống các mediator của quá trình viêm.

Mặt khác, vai trò của các Interleukin cũng đã đƣợc ghi nhận trong việc khởi phát
cơn gút cấp. Ngƣời ta nhận thấy nồng độ Interleukin trong huyết thanh của bệnh
nhân gút cao hơn một cách có ý nghĩa so với ngƣời bình thƣờng.
Gen cũng là một trong những yếu tố then chốt trong việc vận chuyển acid
uric qua các vùng khác nhau của thận. Hiện nay ngƣời ta đã xác định có 9 gen
tham gia vào quá trình bài tiết acid uric ở thận là: SLC2A9, ABCG2, SLC17A1,
SLC22A11, SLC22A12, SLC16A9, GCKR, LRRC16A và PDZK1. Sự đột biến
gen sẽ làm rối loạn quá trình hấp thu và thải trừ acid uric qua thận. Do đó, một số
ngƣời có nguy cơ cao hơn hoặc thấp hơn bị tăng acid uric huyết thanh và bệnh
gút tùy theo gen mà họ thừa hƣởng. Tác giả Yamagishi cho biết gen ABCG2 có
vai trò mã hóa quá trình vận chuyển urat và nồng độ acid uric tăng cao ở cộng
đồng ngƣời Nhật có liên quan đến các biến thể của gen này [148].
Nhiều tác giả đã cung cấp bằng chứng cho thấy một số gen có liên quan
chặt chẽ đến quá trình vận chuyển acid uric trong cơ thể và tình trạng tăng acid

13
uric huyết thanh. SLC22A12 là gen quan trọng trong việc kiểm soát việc tái hấp
thu acid uric ở ống lƣợn gần, gen SLC2A9 liên quan đến sự bài tiết acid uric
[124]. Các tác giả cũng xác định sự có mặt của 3 gen ABCG2, SLC17A3 và
SLC17A1 có liên quan đến việc khởi phát cơn gút cấp. Còn phân tích cấu trúc hệ
gen của các bệnh nhân gút, ngƣời ta cũng nhận thấy hai loại gen HPRT1 và
PRPS1 có liên quan đến quá trình rối loạn chuyển hóa nhân purin trong cơ thể
[53],[86],[106]. Nghiên cứu trên các đối tƣợng là ngƣời bản xứ Đài Loan, tác giả
Tu cho biết tỷ lệ tăng acid uric và gút ở nhóm đối tƣợng này khá cao và nguyên
nhân này có liên quan đến cấu trúc di truyền và biến thể của các gen [138].
1.3.3. Chế độ ăn
Các bậc đại danh y từ ngàn xƣa tới nay, cả ở phƣơng Đông và phƣơng Tây
đều coi chế độ ăn có liên quan chặt chẽ tới sức khỏe và bệnh tật, là phƣơng pháp
dự phòng và điều trị bệnh. Tổng kết các nghiên cứu liên quan giữa chế độ dinh
dƣỡng và các bệnh mạn tính trong những năm cuối thế kỷ 20 đã đƣợc thể hiện

sâu sắc trong báo cáo kỹ thuật của tổ chức Y tế thế giới: “Chế độ ăn, dinh dƣỡng
và dự phòng các bệnh mạn tính”[46]. Mối liên hệ giữa chế độ ăn với tăng acid
uric huyết thanh và bệnh gút đã đƣợc công nhận từ nhiều thế kỷ nhƣng bằng
chứng về mối liên quan này mới đƣợc phân tích và khẳng định chắc chắc qua các
thiết kế dịch tễ học trong thời gian gần đây [58],[64],[65],[66],[107]. Chế độ ăn
đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển tăng hay giảm acid uric huyết thanh
bởi vì trên 50% purin của ARN và 20% của ADN có nguồn gốc từ thức ăn. Một
số loại thức ăn có nguồn gốc động vật có chứa nhiều purin nhƣ gan lợn, gan gà,
bầu dục lợn, cá mòi, cá chép…Do đó, nồng độ acid uric có thể bị ảnh hƣởng bởi
các thành phần trong khẩu phần nhƣ thịt, cá và các sản phẩm từ sữa. Thịt và cá
có thể làm tăng nồng độ acid uric trong máu vì hàm lƣợng purine động vật cao
của các loại thực phẩm. Các sản phẩm từ sữa có thể làm giảm nồng độ acid uric
bằng cách gia tăng sự bài tiết acid uric và các sản phẩm chuyển hóa trung gian.
Do đó, việc tiêu thụ hay không tiêu thụ một hoặc nhiều các nhóm thực phẩm có
ảnh hƣởng trực tiếp đến nồng độ acid uric huyết thanh.

14
Tác giả Nguyễn Thị Lâm so sánh giá trị dinh dƣỡng khẩu phần giữa ngƣời
bình thƣờng, tăng acid uric huyết thanh và bệnh nhân gút cho thấy mức tiêu thụ
cá, hải sản ở nhóm đối tƣợng tăng acid uric huyết thanh cao hơn nhóm bình
thƣờng một cách có ý nghĩa thống kê. Tổng lƣợng protein nguồn gốc động vật ở
nhóm tăng acid uric là 42,8g/ngày cao hơn một cách có ý nghĩa so với nhóm bình
thƣờng và nhóm bệnh nhân gút. Nghiên cứu cũng không tìm thấy sự khác nhau
về mức độ tiêu thụ gạo, thịt, trứng, đậu đỗ, rau xanh, quả chín giữa các nhóm đối
tƣợng [28].
Có rất nhiều nghiên cứu đã tìm thấy những bằng chứng mạnh mẽ cho biết
mức độ tiêu thụ rƣợu, bia có liên quan chặt chẽ đến tình trạng tăng acid uric
huyết thanh, từ đó dẫn đến nguy cơ mắc bệnh gút. Khi sử dụng rƣợu, bia quá
mức sẽ làm tăng dị hóa các nucleotid có nhân purin, tăng dị hóa ATP thành AMP
gây tăng sản xuất acid uric. Ngoài ra, rƣợu, bia còn gây hạn chế bài tiết acid uric

qua nƣớc tiểu nên gây tăng acid uric huyết thanh. Tác giả Choi HK cho biết nguy
cơ mắc bệnh tỷ lệ thuận với mức độ sử dụng rƣợu, bia. So với nhóm không uống
rƣợu, nguy cơ mắc bệnh gút ở nam giới tăng 1,32 lần khi uống ở mức 10-<15g
ethanol/ngày, nguy cơ này tăng lên đến 2,53 lần ở nhóm sử dụng mức ≥ 50g
ethanol/ngày. Tuy nhiên, việc sử dụng rƣợu vang không làm tăng nguy cơ mắc
bệnh. Tiêu thụ nƣớc ngọt nhiều cũng là một trong những yếu tố nguy cơ của
bệnh [65]. Nghiên cứu của Williams cũng cho biết có sự liên quan chặt chẽ giữa
tiêu thụ đồ uống có cồn với nồng độ acid uric huyết thanh. Nguy cơ mắc tăng
acid uric huyết thanh và bệnh gút bắt đầu tăng dần ở nhóm uống từ 10g
ethanol/ngày, nguy cơ mắc bệnh tăng lên 93% ở nhóm sử dụng trên 15g
ethanol/ngày so với nhóm không sử dụng [144].
Vitamin C có vai trò quan trọng trong quá trình chống oxy hóa và loại trừ
các gốc tự do trong cơ thể. Nghiên cứu của Gao cho biết có mối liên quan nghịch
đảo giữa khẩu phần vitamin C hàng ngày với nồng độ acid uric huyết thanh ở
nhóm đối tƣợng tăng acid uric huyết thanh đơn thuần không kèm theo tăng huyết

15
áp và béo phì [80]. Một số nghiên cứu thử nghiệm đã cho thấy bổ sung vitamin C
đƣờng uống cũng giúp giảm acid uric huyết thanh [88].
Tiêu thụ trà và cà phê cũng là một trong những yếu tố liên quan đến nồng
độ acid uric huyết thanh. Đánh giá về mức độ tiêu thụ cà phê với nguy cơ mắc
bệnh gút ở phụ nữ, tác giả Choi HK nghiên cứu trên 89.433 đối tƣợng đã nhận
thấy có mối quan hệ nghịch đảo giữa lƣợng cà phê tiêu thụ và bệnh gút [62]. Tiêu
thụ cà phê có thể làm giảm nồng độ acid uric huyết thanh và nguy cơ bệnh gút
thông qua các cơ chế khác nhau. Cà phê là một methyl-xanthine và có thể là một
chất ức chế cạnh tranh của enzym xanthine oxidase nên có tác dụng giảm acid
uric huyết thanh. Giả thiết này đã đƣợc chứng minh trên thực nghiệm ở chuột.
Mặt khác, tiêu thụ cà phê cũng đã đƣợc chứng minh có thể làm giảm nồng độ
insulin và tăng nhạy cảm với insulin. Một số nghiên cứu đã phát hiện ra nồng độ
acid uric huyết thanh giảm cùng với việc tăng lƣợng cà phê tiêu thụ

[62],[68],[72],[121],[134].
Nếu nhƣ tăng lƣợng cà phê sử dụng giúp giảm nồng độ acid uric huyết
thanh thì một số nghiên cứu khác lại cho thấy khẩu phần cao fructose làm tăng
acid uric [64],[118],[121], [140]. Fructose có chỉ số đƣờng huyết rất thấp bằng 22
nên khả năng làm tăng glucose trong máu chậm so với đƣờng sucrose (đƣờng
mía) có chỉ số đƣờng huyết là 67. Về mặt tạo năng lƣợng, 1 gram fructose cho ra
3 calories trong khi 1 gram sucrose tạo ra 4 calories. Thực tế, ngƣời ta đã có bằng
chứng một lƣợng nhỏ đƣờng furctose có thể giúp cơ thể tiêu thụ đƣờng glucose
tốt hơn. Lƣợng fructose thiên nhiên trong trái cây chiếm một tỉ lệ không đáng kể.
Trong rau quả, fructose luôn luôn phối hợp với một số dƣỡng chất khác để giúp
cho việc hấp thụ đƣợc dễ dàng điển hình nhƣ các chất xơ trong trái cây làm chậm
lại sự hấp thụ của đƣờng. Tuy nhiên, nhiều bằng chứng mới đã cho thấy nếu sử
dụng quá nhiều đƣờng fructose có thể gây quá tải cho cơ thể để hấp thu nó và gây
ra nhiều phản ứng nguy hại do đƣờng fructose phải đƣợc chuyển hóa tại gan. Khi
khẩu phần có quá nhiều đƣờng fructose trong cơ thể thì gan sẽ không làm việc
kịp để chuyển hóa fructose thành năng lƣợng mà sẽ chuyển thành triglycerid

16
trong máu. Trong khi đó, nồng độ triglycerid trong máu sẽ tăng cao là yếu tố
nguy cơ cho bệnh tim mạch. Mặt khác, đƣờng frucose gây ức chế hệ thống thần
kinh tạo cảm giác no, do đó cơ thể luôn có cảm giác thèm ăn. Điều này giải thích
tại sao khi sử dụng đƣờng fructose nhiều có thể dẫn đến việc tăng cân.
Bằng các nghiên cứu thực nghiệm, các tác giả đã cho biết vai trò của
fructose gây tăng acid uric là do fructose kích thích sản xuất acid uric bằng cách
tăng thoái giáng ATP dẫn đến tích luỹ ADP và AMP, những chất này nhanh
chóng chuyển thành acid uric qua các chất trung gian nhƣ adenosine, inosine,
hypoxathin và xanthin. Một thử nghiệm tiến hành trên nam giới cho biết trong
vòng vài phút sau khi truyền fructose, acid uric huyết thanh lập tức gia tăng
nhanh chóng [78]. Nhiều nghiên cứu cộng đồng trên quy mô lớn cũng đã xác
định đƣợc mối liên quan giữa mức độ tiêu thụ fructose và nồng độ acid uric huyết

thanh. Sự gia tăng sử dụng đáng kể nƣớc ngọt và tiêu thụ fructose trùng hợp với
xu hƣớng ngày càng tăng của acid uric huyết thanh và tăng gấp đôi gánh nặng
bệnh tật của bệnh gút trong vài thập kỷ qua ở Mỹ [64],[121].
Phân tích mối quan hệ giữa việc tiêu thụ fructose và nồng độ acid uric
huyết thanh đã đƣợc xem xét qua cuộc điều tra Dinh dƣỡng Quốc gia lần thứ 3
trên hơn 14 ngàn đối tƣợng từ 20 tuổi trở lên tại Mỹ [67]. Nghiên cứu đã loại trừ
những đối tƣợng đã có chẩn đoán mắc bệnh gút hoặc đang dùng thuốc điều trị hạ
acid uric huyết thanh. Kết quả cho thấy nồng độ acid uric huyết thanh trung bình
là 5,32mg/dl. Tỷ lệ tăng acid uric là 19% ở nam và 17% ở nữ. Nồng độ acid uric
huyết thanh liên quan đến mức độ tiêu thụ nƣớc ngọt. Nhóm tiêu thụ nƣớc ngọt ở
các mức <0,5; 0,5-0,9; 1-3,9; và ≥4 khẩu phần/ngày có nồng độ acid uric cao hơn
so với những ngƣời không uống tƣơng ứng là 0,08; 0,15; 0,33; và 0,42 mg / dl. Ở
nam giới, mối liên quan này có tác động mạnh mẽ hơn so với nữ giới. Nhóm tiêu
thụ fructose ≥75 mg/ngày có nồng độ acid uric trung bình cao hơn so với nhóm
sử dụng dƣới 10mg/ngày là 0,88mg/dl [67]. Choi HK cũng đã thiết kế một
nghiên cứu thuần tập tƣơng lai trong thời gian 22 năm (từ 1984-2006) trên
78.906 đối tƣợng nhằm xem xét mối liên quan giữa tiêu thụ fructose và tăng acid

×