Tải bản đầy đủ (.pdf) (111 trang)

quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh thcs trên địa bàn huyện ninh giang tỉnh hải dương trong giai đoạn hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (964.66 KB, 111 trang )

Nguyễn trọng Nhuế - Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THCS trên địa bàn
huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức là nội lực điều chỉnh
hành vi con người trong mối quan hệ giữa người với người, tự nhiên, xã hội
và với công việc. Đạo đức là những giá trị được hình thành lâu dài và bền
vững trong cuộc sống, được xã hội chấp nhận và làm thước đo để đánh giá
nhân cách con người. Đạo đức là yếu tố chi phối hoạt động và giao lưu của
con người trong suốt thời gian tồn tại và phát triển của mỗi người dù diễn ra
trong hoàn cảnh nào.
Giáo dục đạo đức cho học sinh là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của nhà
trường nói riêng, của gia đình và xã hội nói chung. Giáo dục đạo đức cho học
sinh, về thực chất là hệ thống những tác động qua lại, thâm nhập vào nhau,
qui định lẫn nhau, tạo điều kiện cho nhau giữa rất nhiều nhân tố, nhằm mục
đích hình thành ở học sinh những giá trị đạo đức của người công dân.
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã
khẳng định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, Nhà nước phát triển
giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài . Mục
tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt nam phát triển toàn diện có đạo đức,
tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội , hình thành và bồi dưỡng nhân cách phẩm chất
và năng lực của công dân đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
tổ quốc”.
Về mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về
đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực
cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt
Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị


cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc .
Nguyễn trọng Nhuế - Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THCS trên địa bàn
huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
Trong những năm gần đây đất nước chuyển mình trong công cuộc
đổi mới sâu sắc và toàn diện từ một nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp
sang một nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của nhà nước.Với công cuộc đổi mới chúng ta đã thu được nhiều
thành tựu to lớn , rất đáng tự hào về lĩnh vực kinh tế- xã hội- văn hoá – giáo
dục Tuy nhiên mặt trái của cơ chế mới cũng ảnh hưởng tiêu cực đến sự
nghiệp giáo dục trong đó sự suy thoái về đạo đức và những giá trị nhân văn
của một bộ phận học sinh, sinh viên là những vấn đề mà toàn xã hội đang
quan tâm.
Nhìn chung tình hình đạo đức học sinh trên địa bàn huyện Ninh Giang
tỉnh Hải Dương là tốt, không có những vi phạm lớn xảy ra . Đa số học sinh
chăm lo học tập, trật tự kỷ luật. Tuy nhiên, bên cạnh còn một bộ phận học
sinh chưa ngoan, chưa xác định được động cơ thái độ học tập đúng đắn, chưa
chấp hành luật pháp, đặc biệt luật giao thông đường bộ. Trong lúc các tệ nạn
ngoài xã hội ngày có những diễn biến không tốt, nạn thanh thiếu niên bạo
hành phạm pháp, văn hoá phẩm độc hại, sử dụng chất gây nghiện ….tác động
xấu và có ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường giáo dục.
Giáo dục đạo đức cho học sinh nói chung, học sinh THCS nói riêng là
trách nhiệm của toàn xã hội mà trong đó nhà trường giữ vai trò quan trọng.
Nhà trường là nơi đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước, nơi nuôi dưỡng đạo
đức, lí tưởng, nhân cách, nơi thắp sáng những ước mơ, tài năng và sự sáng tạo
của học sinh. Do đó nhiệm vụ của nhà trường phải làm thế nào để tìm ra
những biện pháp hữu hiệu quản lí giáo dục đạo đức cho học sinh THCS
nhằm góp phần tạo ra những học sinh trong tương lai có đầy đủ trí tuệ, năng

lực và đạo đức góp phần đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước.
Để đạt được những mục tiêu trên thì nhà trường phải có nhiều biện pháp
để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện . Trong đó đối với học sinh cần đặc
biệt quan tâm về ý thức học tập và quá trình hình thành, phát triển nhân cách .
Nguyễn trọng Nhuế - Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THCS trên địa bàn
huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
Hai mặt này có quan hệ hỗ trợ tác động lẫn nhau, đôi khi việc giáo dục
đạo đức có tác động mạnh mẽ đến chất lượng học tập văn hóa nhất là trong
điều kiện hiện nay khi từng ngày, từng giờ những tiêu cực của xã hội thâm
nhập vào học đường .
Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường THCS có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng trong quá trình phát triển nhân cách thế hệ trẻ song trên thực
tế thì công tác này ở các trường THCS còn nhiều bất cập và chưa có hiệu quả
đặc biệt trong công tác quản lý. Các trường chỉ chú trọng đến việc trang bị
những kiến thức về chuyên môn mà chưa quan tâm đến việc giáo dục đạo đức
cho học sinh đúng như yêu cầu, chưa phát huy được vai trò của nhà trường
trong sự phối kết hợp với các lực lượng ngoài xã hội.
Các trường THCS trên địa bàn huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương không
đứng ngoài thực trạng đó. Hơn ai hết là người làm công tác quản lý của một
trường THCS chúng tôi nhận thức rõ trách nhiệm đặt lên vai của mình , phải
có biện pháp chỉ đạo thiết thực, phù hợp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng
giáo dục nói chung , chất lượng giáo dục đạo đức nói riêng và coi việc giáo
dục tư tưởng đạo đức là nền tảng, là gốc rễ vững chắc cho các mặt giáo dục
khác. Xuất phát từ những lý do khách quan, chủ quan như đã phân tích ở trên
chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “ Quản lý họat động giáo dục đạo đức cho
học sinh THCS trên địa bàn huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương trong giai
đoạn hiện nay.”

2.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý hoạt động giáo dục
đạo đức cho học sinh THCS trên địa bàn huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương,
đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức nhằm nâng cao
chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh THCS trên địa bàn huyện Ninh
Giang tỉnh Hải Dương trong giai đoạn hiện nay.
3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
3.1 Khách thể nghiên cứu
Nguyễn trọng Nhuế - Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THCS trên địa bàn
huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường THCS.
3.2. Đối tƣợng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường
THCS trên địa bàn huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Việc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THCS trên địa
bàn huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương đã có được một số kết quả đáng ghi
nhận, song cũng bộc lộ những hạn chế nhất định. Nếu đề xuất được một số
biện pháp quản lý phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và thực tiễn giáo dục
của huyện thì sẽ góp phần nâng cao được chất lượng giáo dục đạo đức cho
học sinh ở các trường THCS trên địa bàn huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho
học sinh ở các trường THCS .
5.2 Khảo sát thực trạng hoạt động giáo dục đạo đức và thực trạng quản lý
hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường THCS trên địa bàn
huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương.
5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học

sinh ở các trường THCS trên địa bàn huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương.
6. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý của hiệu trưởng đối
với hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường THCS trên địa bàn
huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương.
Đề tài chỉ sử dụng những số liệu về các trường THCS của huyện Ninh
Giang tỉnh Hải Dương từ năm học 2008 – 2009 đến nay.
7. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Nguyễn trọng Nhuế - Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THCS trên địa bàn
huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
- Đọc tài liệu phân tích tổng hợp các tài liệu về lý luận của các quan
điểm khác nhau về hoạt động quản lý nói chung, quản lý giáo dục nói riêng,
đặc biệt là quản lý nhà trường THCS.
- Nghiên cứu tài liệu đề cập đến vấn đề giáo dục đạo đức, hoạt động giáo
dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường trung học cơ sở .
- Hệ thống các vấn đề lí luận cơ bản về giáo dục đạo đức và quản lý giáo
dục đạo đức cho học sinh.
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát : vạch ra kế hoạch quan sát có chủ động những
hoạt động giáo dục cơ bản trong nhà trường trung học cơ sở theo từng góc độ
để thu thập số liệu, và phát hiện những điều mới mẻ, những nét đặc thù trong
hoạt động giáo dục.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Điều tra với các loại đối tượng
cần thiết, liên quan đến đề tài, đặc biệt là đối với nhà quản lý, giáo viên, học
sinh … để đánh giá thực trạng những vấn đề cần nghiên cứu.
- Phương pháp chuyên gia: Phương pháp này được sử dụng để xin ý kiến
các chuyên gia, những nhà quản lý giáo dục và những giáo viên có kinh

nghiệm để khẳng định kết quả các nghiên cứu đặc biệt để thẩm định các biện
pháp được đề xuất.
- Phương pháp trò chuyện: Điều tra sâu với một số đối tượng cần thiết để
có thông tin tỉ mỉ, cụ thể nhằm chính xác hoá những kết luận có tính khái
quát.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Thông qua các tài liệu, văn bản đã
đúc kết và tổ chức trao đổi với những đơn vị đã được công nhận có thành tích
tốt trong hoạt động giáo dục để tổng kết học tập những điều phù hợp.
- Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng toán thống kê xử lý số liệu, lượng
hoá những kết luận được rút ra trong quá trình nghiên cứu đề tài.
8. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Nguyễn trọng Nhuế - Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THCS trên địa bàn
huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
Ngoài mở đầu, luận văn được chia thành 3 chương, kết luận và
khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục.


CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO
ĐỨC CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƢỜNG THCS

1.1. Vài nét lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đạo đức là hệ thống những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó
con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình vì lợi ích xã hội , hạnh phúc
của con người trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân
và tập thể hay toàn xã hội.
Đạo đức là phép tắc trong mối quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân
với tập thể , với toàn xã hội ,đạo đức còn là phẩm chất tốt đẹp của con người

do tu dưỡng, rèn luyện theo những chuẩn mực đạo đức mà có, qua các hành vi
ứng xử của con người. Con người có đạo đức phải là con người thực hành đạo
đức bằng những việc làm hằng ngày, bằng những việc làm thực tế để chứng
thực giá trị đạo đức của mình. Do đó đạo đức phải gắn liền với năng lực, một
phẩm hạnh tốt phải gắn liền với hành động năng lực cao để sống và làm việc
có hiệu quả, có ích cho xã hội.
Đảng và nhà nước ta đã coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu,
cho nên công tác giáo dục thế hệ trẻ luôn được đặt lên hàng đầu, đặc biệt tăng
cường giáo dục công dân, giáo dục lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác-Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục đạo đức và nhân văn, lịch sử dân tộc và bản sắc
văn hóa dân tộc, ý chí vươn lên vì tương lai của bản thân và tiền đồ của đất
nước. Từ đó cho thấy, giáo dục đạo đức là một trong những điểm chủ yếu, cốt
lõi xuyên suốt và giữ vị trí chủ đạo trong toàn bộ quá trình giáo dục nhân
Nguyễn trọng Nhuế - Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THCS trên địa bàn
huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
cách, đào tạo con người trong nhà trường ở nước ta, đặc biệt là trong nhà
trường phổ thông, đối với học sinh ở lứa tuổi thiếu niên.
Từ quan niệm của chủ nghĩa Mác Lênin về đạo đức là một quan niệm
khoa học tiến bộ khác với tất cả các quan niệm trước đó. Các Mác đã quan
niệm đạo đức nảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội, là kết quả của sự
phát triển lịch sử .
Đạo đức không phải là sự biểu hiện của một sức mạnh nào đó ở bên ngoài
xã hội, bên ngoài các quan hệ con người, cũng không phải là sự biểu hiện của
những năng lực “ siêu nhiên” nhất thành bất biến của con người. Với tư cách
là sự phản ánh tồn tại xã hội, đạo đức là sản phẩm của những điều kiện sinh
hoạt vật chất của xã hội, của cơ sở kinh tế- xã hội. Đạo đức là sản phẩm tổng
hợp của các yếu tố khách quan và chủ quan, là sản phẩm của hoạt động thực
tiễn và nhận thức của con người . Nhưng quan hệ người-người, cá nhân -xã

hội càng có ý thức tự giác, ý nghĩa và hiệu quả của chúng càng có tính chất xã
hội rộng lớn thì hoạt động của con người càng có đạo đức . Vai trò, động lực
tinh thần to lớn của đạo đức đối với sự phát triển, tiến bộ xã hội được nhiều
nhà khoa học ngày nay thừa nhận và các quốc gia quan tâm sâu sắc.
Ở nước ta, từ rất sớm Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức cách
mạng là gốc người cách mạng , theo Người muốn làm cách mạng thắng lợi
thì người cán bộ phải có đạo đức. Người ví đạo đức cách mạng như gốc của
cây, như nước của sông. “ Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không
có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo . Người
cách mạng phải có đạo đức ,không có đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không
lãnh đạo được nhân dân.”
Những tư tưởng đạo đức cũng như tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh
là một bộ phận quan trọng trong hệ thống di sản tư tưởng của Người. Cho
nên, có thể nói toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Hồ Chủ tịch gắn liền với quá
trình phát triển tư tưởng đạo đức và việc xây dựng nền đạo đức cách mạng mà
Nguyễn trọng Nhuế - Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THCS trên địa bàn
huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
Người là tấm gương tiêu biểu sinh động và trong sáng nhất của nền đạo
đức cách mạng đó .
Nghị quyết BCH TW2 khoá VIII đã chỉ rõ yêu cầu mục tiêu cơ bản của
giáo dục nhằm xây dựng những con người Việt Nam thiết tha gắn bó với lý
tưởng độc lập và chủ nghĩa xã hội , có đạo đức trong sáng, có ý trí kiên cường
trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc , biết giữ gìn và phát huy giá trị bản sắc văn
hoá dân tộc, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi ,có tác phong công
nghiệp có tính tổ chức kỷ luật ,có sức khoẻ là những người kế thừa chủ nghĩa
xã hội vừa hồng vừa chuyên.
Đạo đức biến đổi và phát triển cùng với sự biến đổi và phát triển của các
điều kiện kinh tế, xã hội. Cùng với sự phát triển của xã hội, khái niệm đạo đức

ngày càng được hoàn thiện đầy đủ hơn .
Về mặt lý luận cũng như thực tiễn nghiên cứu vấn đề đạo đức ,giáo dục
đạo đức trong nhà trường đã được nhiều học giả quan tâm. Trong những năm
gần đây ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu tập trung vào vấn đề
giáo dục đạo đức .
Trong công trình nghiên cứu của mình tác giả Đặng Vũ Hoạt đã nghiên
cứu vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong công tác giáo dục đạo đức học sinh,
trong đó có giáo dục đạo đức. Tác giả đã đưa ra các định hướng cho giáo viên
chủ nhiệm trong việc đổi mới nội dung ,cải tiến phương pháp giáo dục đạo
đức cho học sinh trong nhà trường phổ thông.
Nghiên cứu về công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên còn một
số tác giả khác như: Lê Trung Tấn, Nguyễn Dục Quang, Huỳnh Khái Vinh,
Nguyễn Hữu Công, Trần Thị Hải Yến…Các tác giả đã đề nghị cần phải cải
tiến, đổi mới hoạt động giáo dục đạo đức theo nguyên tắc phù hợp với sự phát
triển mới của xã hội, có hệ thống, tiếp cận phức hợp, xuất phát từ học sinh.
Rõ ràng về mặt lí luận cũng như thực tiễn nghiên cứu vấn đề đạo đức,
giáo dục đạo đức đã được nhiều tác giả quan tâm.
Nguyễn trọng Nhuế - Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THCS trên địa bàn
huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Việc giáo dục đạo đức cho học sinh đã có nhiều người bàn bạc và đã
có một số đề tài nghiên cứu như :
- Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở
trường THPT An Lão - Hải Phòng - 2003 ( Đăng ký cá biệt V.LA/4130 )
- Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở
trường THPT Thái Phiên- Thành phố Hải Phòng - 2003 ( Đăng ký cá biệt
V.LA/4270 )
- Một số biện pháp quản lý của Hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng
giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT Thành phố Hải Phòng - 2003 (

Đăng ký cá biệt V.LA/4259)
- Những biện pháp quản lý của Hiệu trưởng nhằm nâng cao kiến thức giáo
dục đạo đức cho học sinh trường THCS, cho cha mẹ học sinh tại Hà Nội –
Đào Ngọc Thịnh ( Đăng ký cá biệt V.LA/3984)
Riêng nghiên cứu về lĩnh vực quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học
sinh, sinh viên cũng đã có một số công trình nghiên cứu. Chủ yếu là các luận
văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lí giáo dục. Chẳng hạn như công trình nghiên
cứu của Nguyễn Thanh Hoà với đề tài: Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức
cho sinh viên trường Đại học Đà Nẵng; Tác giả Nguyễn Tiến Dũng với đề tài:
Các biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT An Lão-
Hải Phòng, Tác giả Võ Thanh Vũ với đề tài quản lý giáo dục đạo đức học
sinh theo hướng xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực ở các
trường THPT tỉnh Kiên Giang…
Hầu hết các đề tài nghiên cứu gần đây cho thấy các tác giả đã tập trung
vào nghiên cứu các biện pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh
các trường THPT, và ở các trường cao đẳng,đại học. Việc nghiên cứu các
biện pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức ở các trường THCS trên địa bàn
huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương còn hạn chế do đó tác giả lựa chọn lĩnh
vực này trên đối tượng các trường THCS trên địa bàn huyện Ninh Giang tỉnh
Hải Dương.
Nguyễn trọng Nhuế - Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THCS trên địa bàn
huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
1.2. Đạo đức và giáo dục đạo đức
1.2.1. Đạo đức.
“Đạo đức theo nghĩa hẹp là luân lý, những quy định, những chuẩn mực
ứng xử trong quan hệ của con người với con người. Nhưng trong điều kiện
hiện nay chính con người cũng đã mở rộng và đạo đức bao gồm những quy
định, những chuẩn mực ứng xử của con người với bản thân, với con người ,

với công việc, với thiên nhiên và môi trường sống.”
“Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chính
trị, pháp luật, lối sống. Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản
ánh mặt nhân cách của một cá nhân đã được xã hội hoá. Đạo đức được biểu
hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh, trong sáng, ở hành động góp phần giải
quyết hợp lý có hiệu quả những mâu thuẫn. Khi thừa nhận đạo đức là một
hình thái ý thức xã hội thì đạo đức của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi tầng
lớp, giai cấp trong xã hội cũng phản ánh ý thức chính trị của họ với các vấn
đề đang tồn tại”. [13 - tr. 154]
Theo Phạm Khắc Chương : “ Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản
ánh những tồn tại xã hội, phản ánh những quan hệ xã hội hiện thực trên cơ
sở kinh tế. Sự phát triển của đạo đức xã hội từ thấp đến cao như những nấc
thang giá trị của văn minh con người trên cơ sở phát triển của sức sản xuất
và thông qua sự đấu tranh, gạn lọc, kế thừa mà nội dung đạo đức ngày càng
phong phú và hoàn thiện hơn”. [11 - tr .25]
Tóm lại: Đạo đức là hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc,
chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người
trong quan hệ với nhau và với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá
nhân, bởi truyền thống và sức mạnh dư luận xã hội. Xét đến cùng đạo đức
thuộc về ý thức con người, nó được biểu hiện ở nhận thức, động cơ hành động
và sự tự đánh giá, nhờ đó mỗi cá nhân tự kiểm soát tự quyết định động cơ
hành động và cách ứng xử trong cuộc sống. Đạo đức biến đổi và phát triển
cùng với sự biến đổi và phát triển của các điều kiện kinh tế, xã hội. Cùng với
Nguyễn trọng Nhuế - Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THCS trên địa bàn
huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
sự phát triển của xã hội thì khái niệm đạo đức ngày càng được hoàn thiện
và đầy đủ hơn.



1.2.2 . Giáo dục đạo đức
“Giáo dục đạo đức cho học sinh là làm cho nhân cách của thế hệ trẻ
phát triển về đạo đức, giúp cho mọi người ứng xử đúng trong các mối quan
hệ của cá nhân đối với xã hội, đối với người khác, đối với bản thân , là làm
cho mọi người nắm được các mối quan hệ đạo đức XHCN, tức là các mối
quan hệ trong đó giải quyết được các mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi
ích xã hội, theo hướng lợi ích cá nhân hoà hợp và phục tùng lợi ích xã hội.”
[24; tr28-29]
Giáo dục đạo đức là quá trình tác động tới người học để hình thành cho
họ ý thức, tình cảm và niềm tin đạo đức, đích cuối cùng quan trọng nhất là
tạo lập được những thói quen hành vi đạo đức” [33, tr. 157]
Giáo dục đạo đức cho học sinh là cung cấp các hệ thống giá trị tình cảm,
thói quen, hành vi đạo đức phù hợp với các chuẩn mực xã hội. Bản chất con
người là tổng hoà các mối quan hệ trong đó có mặt tích cực và mặt tiêu cực.
Do đó giáo dục chính là hạn chế tối đa các tác động tiêu cực. Giáo dục đạo
đức là quá trình tác động có mục đích, có hệ thống của các nhà sư phạm đến
với học sinh để giúp họ hình thành ý thức, tình cảm, hành vi đạo đức , làm
cho học sinh biết yêu thương, đoàn kết với bạn bè, lễ phép, kính trọng thầy
cô, biết ơn cha mẹ sinh thành, biết sống có văn hoá với mọi thành viên của
cộng đồng xã hội. Mục tiêu của giáo dục đạo đức là giúp cho mỗi cá nhân
nhận thức đúng đắn các giá trị đạo đức, biết hành động theo lẽ phải, công
bằng và nhân đạo, biết sống vì mọi người, vì gia đình, vì sự tiến bộ xã hội và
phồn vinh của đất nước. Trong đó mục đích quan trọng nhất của giáo dục đạo
đức tạo lập những thói quen hành vi đạo đức
Nguyễn trọng Nhuế - Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THCS trên địa bàn
huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
Giáo dục đạo đức là quá trình hai mặt, đó là mặt tác động của nhà sư phạm

và mặt tiếp nhận tích cực của người được giáo dục, là sự chuyển hoá những
yêu cầu của xã hội thành những phẩm chất bên trong của cá nhân. Giáo dục
đạo đức được thực hiện trong gia đình, nhà trường và ngoài xã hội với nhiều
hình thức đa dạng và phong phú trong đó giáo dục trong nhà trường đóng vai
trò rất quan trọng.
Giáo dục đạo đức là quá trình chịu sự tác động của nhiều nhân tố khách
quan và chủ quan, giáo dục đạo đức gắn liền với tự giáo dục,và chỉ có hiệu
quả khi mỗi con người tự ý thức được giá trị, ý nghĩa của nó. Mọi tác động
giáo dục bị khúc xạ bới lăng kính chủ quan và nó được tiếp nhận theo nhu cầu
và ý thức của từng cá nhân. Mỗi cá nhân vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của
quá trình giáo dục đạo đức. Giáo dục đạo đức là một nội dung quan trọng nằm
trong định hướng giáo dục toàn diện cho học sinh ở các trường học. Giáo dục
đạo đức là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể có quan hệ biện chứng
với các quá trình bộ phận khác như giáo dục trí tuệ, giáo dục thẩm mỹ, giáo
dục thể chất, vệ sinh, giáo dục lao động- sản xuất và giáo dục hướng nghiệp-
dạy nghề nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách cho học sinh.
1.3. Giáo dục đạo đức cho học sinh THCS
1.3.1. Trường THCS trong hệ thống giáo dục Quốc dân
Giáo dục THCS được thực hiện trong bốn năm học, từ lớp 6 đến lớp 9;
học sinh vào học lớp 6 phải hoàn thành chương trình tiểu học, có tuổi là mười
một tuổi.
Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện
về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và có kỹ năng cơ bản, phát triển năng
lực cá nhân , tính năng động sáng tạo , hình thành nhân cách con người Việt
Nam XHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân , chuẩn bị cho học
sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và
bảo vệ tổ quốc.
Nguyễn trọng Nhuế - Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THCS trên địa bàn
huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
Giáo dục THCS nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những
kết quả của giáo dục tiểu học, có trình độ học vấn phổ thông cơ sở và những
hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học lên THPT,
trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.
Giáo dục THCS phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở tiểu
học, bảo đảm cho học sinh có những hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt,
Toán, lịch sử dân tộc, kiến thức khác như khoa học xã hội, khoa học tự nhiên,
pháp luật, tin học, ngoại ngữ, có những hiểu biết cần thiết về kỹ thuật và
hướng nghiệp. (Luật giáo dục năm 2005)
1.3.2. Học sinh THCS
Theo Nguyễn Thị Mỹ Lộc : “Các nhà tâm lý học trên thế giới đều chung
một quan niệm cho rằng tuổi thanh niên là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em
sang người lớn và bao gồm một khoảng đời từ 11, 12 tuổi đến 23, 24 hoặc 25
tuổi. Giai đoạn này có thể chia ra làm hai thời kỳ: thời kỳ chuyển tiếp trước
từ 11, 12 tuổi và kết thúc vào 16, 17 tuổi và thời kỳ chuyển tiếp sau từ 17, 18
tuổi và kết thúc vào lúc thành người lớn thật sự 24, 25 tuổi” .
Như vậy HS THCS nằm trong giai đoạn bắt đầu thời kì chuyển tiếp trước
(11,12) và kết thúc vào lúc bắt đầu thời kì chuyển tiếp sau 16,17 tuổi . [21 - tr
88]
Căn cứ vào nghiên cứu khoa học trên, ta có thể nêu khái quát đặc điểm
tâm lí lứa tuổi HS THCS như sau :
Lứa tuổi HS THCS gồm những em từ 11, 12 tuổi đến 14,15 tuổi đang theo
học từ lớp lớp 6 đến lớp 9 trường THCS - người ta gọi lứa tuổi này là lứa tuổi
thiếu niên. Thời kì này có một vị trí hết sức quan trọng và đặc biệt ,vì nó là
thời kì chuyển từ tuổi nhi đồng sang lứa tuổi thiếu niên. Sự chuyển tiếp này
tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt đặc thù về mọi mặt trong thời kì này.
Sự chuyển tiếp này đã làm hình thành những cấu tạo tâm lí mới về chất lượng
tất cả mọi mặt. Sự biến đổi về cơ thể, sự phát triển tự ý thức, sự thay đổi các
mối quan hệ với người lớn và các em cùng lứa tuổi , sự thay đổi hoạt động

học tập, hoạt động xã hội … đã làm xuất hiện những biểu hiện bắt đầu của sự
Nguyễn trọng Nhuế - Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THCS trên địa bàn
huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
trưởng thành. Yếu tố đầu tiên là tính tích cực xã hội mạnh mẽ của bản
thân các em nhằm lĩnh hội những chuẩn mực và những giá trị xã hội, nhằm
xây dựng quan hệ thoả đáng với người lớn và đối với bạn bè, nhằm thay đổi
bản thân theo những ý định và mục đích của riêng mình.
Vì vậy giáo viên là những thầy cô trực tiếp tham gia công tác giảng dạy,
cung cấp các kiến thức cho học sinh do đó họ sẽ hiểu được mọi tâm tư tình
cảm của các em để rồi họ có thể gần gũi với các em để tư vấn, giúp đỡ cho
các em. Đặc biệt là đội ngũ giáo viên chủ nhiệm là người theo dõi, giám sát
các hoạt động của lớp trong một năm học hoặc cả một khoá học. Do đó việc
giáo dục đạo đức học sinh thông qua đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp đóng
vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách học sinh
nằm trong mối quan hệ giữa các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà
trường.
1.3.3.Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh THCS
Giáo dục đạo đức là hình thành cho con người những quan điểm cơ bản
nhất, những nguyên tắc chuẩn mực đạo đức cơ bản của xã hội nhờ đó con
người có khả năng lựa chọn, đánh giá đúng đắn các hiện tượng đạo đức xã hội
cũng như tự đánh giá suy nghĩ về hành vi của bản thân mình. Vì thế công tác
giáo dục đạo đức góp phần vào việc hình thành, phát triển nhân cách phù hợp
với từng giai đoạn phát triển. “Giáo dục đạo đức là quá trình tác động tới
người học để hình thành cho họ ý thức tình cảm và niềm tin đạo đức, đích
quan trọng nhất là cuối cùng là tạo lập được những thói quen hành vi đạo
đức”.[32-tr.85]
Giáo dục ý thức về mục đích cuộc sống, mỗi cá nhân phấn đấu cho một
cuộc sống hạnh phúc không chỉ cho riêng mình, cho gia đình mình mà còn

cho cả xã hội . Hạnh phúc cá nhân nằm trong hạnh phúc gia đình và cộng
đồng xã hội. Giáo dục ý thức về các mối quan hệ trong gia đình, trong tập thể
và xã hội. Biểu hiện cụ thể nhất của đạo đức học sinh là văn hoá giao tiếp như
tính lễ phép, khiêm tốn….tất cả những điều đó dựa trên nền tảng của lý
Nguyễn trọng Nhuế - Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THCS trên địa bàn
huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
tưởng: chân, thiện, mỹ. Giáo dục ý thức học tập, lối sống, tinh thần đoàn
kết trong cuộc sống.
Những nội dung giáo dục đạo đức được thể hiện ở những chuẩn mực giá
trị đạo đức nhân văn. Hệ thống những giá trị đạo đức nhân văn là những
chuẩn mực đạo đức bao quát những mối quan hệ chủ yếu của chủ thể (con
người) với môi trường xung quanh từ vĩ mô đến vi mô, phản ánh sự phát triển
hợp lí của quá khứ, hiện tại, tương lai. Hình thành cho người học nhu cầu,
động cơ, tình cảm đạo đức phù hợp với nền tảng đạo đức mới. Xây dựng hành
vi và thói quen đạo đức phù hợp với các chuẩn mực của xã hội, tạo lập các đối
tượng giáo dục có ý chí đạo đức vững vàng.
Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh là các phẩm chất đạo đức quan
trọng của nhân cách xã hội chủ nghĩa như lòng yêu nước, tinh thần quốc tế vô
sản, lòng nhân ái, tinh thần tập thể…ngoài ra còn giáo dục cho các em tình
yêu quê hương, bạn bè, thầy cô giáo, thực hiện tốt 5 điều Bác Hồ dạy và các
điều lệ nhà trường phổ thông, nội quy trường, lớp.
Giáo dục cho HS các chuẩn mực đạo đức có thể phân làm 5 nhóm sau:
- Nhóm chuẩn mực thể hiện nhận thức tư tưởng chính trị : yêu quê hương
đất nước, vào đường lối của Đảng và Nhà nước.
- Nhóm chuẩn mực đạo đức, lối sống tự hoàn thiện bản thân : lòng tự
trọng, tự tin, tự lập, giản dị, tiết kiệm, trung thực, siêng năng, hướng thiện,
biết hối hận …
- Nhóm chuẩn mực đạo đức, lối sống thể hiện quan hệ với mọi người:

lòng nhân nghĩa, lòng biết ơn (tổ tiên, cha me, thầy cô, người có công với đất
nước ), kính trọng người sinh thành, nuôi dưỡng bản thân . Lòng yêu thương,
khoan dung, vị tha, chung thủy, giữ chữ tín .
- Nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện quan hệ công việc : trách nhiệm,
lương tâm, tôn trọng pháp luật, tôn trọng lẽ phải, dũng cảm, liêm khiết .
Nguyễn trọng Nhuế - Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THCS trên địa bàn
huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
- Nhóm chuẩn mực đạo đức liên quan đến môi trường sống : hạnh
phúc gia đình, giữ gìn, bảo vệ tài nguyên môi trường tự nhiên, bảo vệ hoà
bình, bảo vệ phát huy truyền thống di sản văn hoá dân tộc .
1.3.4. Nguyên tắc giáo dục đạo đức cho học sinh THCS
Nguyên tắc giáo dục là những tư tưởng chỉ đạo, định hướng, quy định
những nội dung, phương pháp và các hình thức tổ chức quá trình giáo dục.
Mặc dù các nguyên tắc cũng có những thay đổi trong các điều kiện xã hội
nhất định và cũng có những quan điểm không hoàn toàn trùng khớp với nhau.
Nhưng về cơ bản, các nhà khoa học đã tương đối thống nhất nêu ra một số
nguyên tắc giáo dục đạo đức sau đây.
- Tính mục đích và tính tư tưởng trong hoạt động giáo dục.
Bất cứ một hoạt động giáo dục nào ở trong và ngoài nhà trường đều bao
gồm nhiều mục đích. Do đó nhà giáo dục phải lựa chọn, ưu tiên vào những
mục đích nhất định chẳng hạn xây dựng tinh thần tập thể, ý thức tự quản.
-Giáo dục gắn với thực tiễn cuộc sống :
Tất cả các hoạt động giáo dục gắn với đời sống kinh tế, chính trị xã hội có
ý nghĩa thực tiễn nhằm rèn luyện những phẩm chất, năng lực của con người
theo yêu cầu phát triển của xã hội .
- Giáo dục trong lao động :
Giáo dục trong lao động là một nguyên tắc quan trọng làm phát triển con
người toàn diện, có khả năng lao động trí óc kết hợp với lao động chân tay.

- Giáo dục trong tập thể bằng tập thể:
Tạo nên môi trường và sức mạnh dư luận trong giáo dục làm cho cá nhân
có những chuyển biến tích cực.
- Thống nhất giữa ý thức và hành vi trong hoạt động giáo dục:
Hoạt động giáo dục phải thực hiện được 3 nhiệm vụ là: khai sáng ý thức
đạo đức, hình thành tình cảm, niềm tin, biểu hiện hành vi, thời gian hành vi
đúng chuẩn mực là kết quả của hoạt động giáo dục. Hoạt động giáo dục
không thể dừng lại ở mức độ lí luận nhận thức .
Nguyễn trọng Nhuế - Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THCS trên địa bàn
huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
- Tính đến đặc điểm lứa tuổi và đặc điểm cá nhân trong hoạt động
giáo dục:
Nguyên tắc này yêu cầu nhà sư phạm khi lựa chọn nội dung, hình thức,
phương pháp, phương tiện trong hoạt động giáo dục phải tính đến các đặc
điểm lứa tuổi, đặc điểm cá nhân về các mặt nhận thức, nhu cầu, hứng thú…
-Thống nhất yêu cầu giáo dục giữa gia đình, nhà trường, xã hội :
Nguyên tắc này đòi hỏi phải đảm bảo tính thống nhất về yêu cầu đối với
mục đích, định hướng giáo dục những phẩm chất hành vi, thói quen hành vi
đạo đức đúng chuẩn mực, tránh sự mâu thuẫn, đối lập về mục đích, định
hướng giữa các lực lượng giáo dục đối với HS.
- Tôn trọng nhân cách kết hợp với yêu cầu cao:
Luôn đề cao, tôn trọng nhân cách con người, tin tưởng vào khả năng tự
hoàn thiện của cá nhân để giao công việc giúp họ bộc lộ những phẩm chất
năng lực tốt đẹp của bản thân.
- Bảo đảm tính toàn vẹn của quá trình giáo dục nhân cách:
Nguyên tắc này yêu cầu phải đảm bảo sự thống nhất và sự kết hợp giữa
quá trình dạy học và giáo dục, giáo dục trong nhà trường, trong đó nhà trường
phải đóng vai trò trung tâm.

1.3.5. Con đường giáo dục đạo đức cho học sinh THCS
Khi giải quyết một vấn đề cụ thể gọi là biện pháp .Trong nghiên cứu khoa
học người ta còn hiểu khái niệm biện pháp như là con đường, là cách thức để
chuyển tải nội dung - có nghĩa là khi lựa chọn, sử dụng một phương thức, một
biện pháp nào đó phải căn cứ vào nội dung vấn đề. Từ bình diện giáo dục các
nhà khoa học quan niệm biện pháp là yếu tố hợp thành phương pháp, phụ
thuộc vào phương pháp vì trong tình huống sư phạm cụ thể phương pháp và
biện pháp có thể chuyển hoá cho nhau .
Phương pháp giáo dục đạo đức rất đa dạng phong phú . Nhà giáo dục cần
phải vận dụng linh hoạt cho phù hợp với mục đích đối tượng và tình huống cụ
thể . Chính vì thế mà người ta nói rằng phương pháp giáo dục là nghệ thuật
Nguyễn trọng Nhuế - Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THCS trên địa bàn
huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
giáo dục, đòi hỏi nhà giáo dục cần có năng lực sư phạm để biết cách phối
hợp vận dụng các phương pháp giáo dục cho phù hợp với đối tượng HS . Giáo
dục đạo đức là một bộ phận của một quá trình giáo dục tổng thể, nó được tiến
hành với những con đường và phương thức sau
-Nhóm phương pháp thuyết phục : Thuyết phục là nhóm các phương pháp
tác động vào mặt nhận thức và tình cảm của con người để hình thành cho họ ý
thức , thái độ tốt đẹp đối với cuộc sống. Nhóm này bao gồm các phương pháp
như : khuyên giải, tranh luận, nêu gương . Để thực hiện phương pháp thuyết
phục đạt kết quả, đòi hỏi nhà giáo dục phải có uy tín, có tình cảm, được người
học yêu mến và kính phục từ đó họ sẽ nghe và làm theo sự thuyết phục đó .
-Nhóm phương pháp tổ chức hoạt động : giáo dục đạo đức không có gì
hiệu quả hơn là đưa con người hoạt động thực tiễn, tập dượt, rèn luyện, tạo
nên những hành vi, thói quen. Điều này phù hợp với nguyên tắc hình thành và
phát triển tâm lí cá nhân, do đó là muốn hình thành và phát triển tâm lí của
con người nói chung và thế hệ trẻ nói riêng thì phải tổ chức các hoạt động và

đưa người học vào tham gia hoạt động. Muốn hình thành hành vi đạo đức cho
HS cần tổ chức các hoạt động tập thể phong phú, đa dạng, lôi cuốn HS tham
gia hoạt động và từ đó hướng dẫn, rèn luyện để trở thành nhu cầu và thói quen
trong hành vi hàng ngày .
Nhóm phương pháp kích thích hành vi : Đây là nhóm phương pháp tác
động vào mặt tình cảm của các đối tượng giáo dục nhằm tạo ra những phẩm
chất đạo đức, thúc đẩy tích cực hoạt động đồng thời giúp cho người có khuyết
điểm nhận ra và khắc phục những sai lầm. Nhóm này gồm các biện pháp :
khen thưởng, trách phạt, thi đua.
Để giáo dục đạo đức cho HS có hiệu quả, yếu tố tập thể giữ vai trò hết sức
quan trọng. Công tác giáo dục đạo đức cho HS chỉ đạt kết quả tốt khi có sự
tác động của các lực lượng giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội.
Nguyễn trọng Nhuế - Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THCS trên địa bàn
huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
Quá trình giáo dục đạo đức bao giờ cũng mang tính cụ thể , phụ
thuộc vào từng cá nhân, người được giáo dục phải thông qua những tình
huống giáo dục riêng biệt, cụ thể nhất định.
Quá trình giáo dục đạo đức bao giờ cũng mang tính biện chứng, đó là quá
trình biến động và phát triển không ngừng về nội dung và hình thức, tính chất
sao cho phù hợp với đối tượng giáo dục là những con người đang phát triển
trong điều kiện xã hội đang biến đổi .
Hơn bất cứ mọi công tác giáo dục nào khác, việc giáo dục đạo đức đòi hỏi
nhà trường phải nắm vững đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, nắm vững cá tính,
hoàn cảnh sống cụ thể của từng HS để định ra sự tác động thích hợp.
*Ngoài ra việc giáo dục đạo đức cho học sinh còn thông qua một số hoạt
động cụ thể như:
- Dạy các bộ môn văn hoá, đặc biệt là các môn có nhiều thuận lợi như
môn văn , sử , giáo dục công dân.

Những kiến thức trong các môn này có liên quan đến giá trị và cách cư xử,
hành vi đạo đức trong xã hội. Với nội dung và tính chất của các môn học, dạy
học luôn được xem là con đường hợp lí, thuận lợi nhất giúp cho người học với
tư cách là chủ thể nhận thức, có thể lãnh hội được một hệ thống tri thức và kỹ
năng hành động … giúp cho HS có được những phẩm chất và năng lực trí tuệ
của bản thân. Thông qua hoạt động học tập, chất lượng học tập ngày cành
được nâng lên, HS không những tiếp thu các hệ thống giá trị mà còn góp
phần sáng tạo ra những giá trị mới .Từ việc tiếp thu các tri thức các môn học,
HS có được những quan điểm đúng về tự nhiên, về xã hội, về bản thân, mà
hình thành cho mình một nhân sinh quan, một thế giới quan khoa học .Đây là
vấn đề cốt lõi của nhân cách, nhờ đó HS biết cách ứng xử, cách quan hệ với
mọi người, với xã hội . Từ đó các em có những hành vi đạo đức đúng đắn
theo yêu cầu xã hội .
- Thông qua con đường lao động , ngoại khoá :
Nguyễn trọng Nhuế - Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THCS trên địa bàn
huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20
Thông qua con đường này giáo dục cho HS có nhận thức đúng đắn
về mối quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa lao động trí óc và lao động
chân tay. Từ đó có thái độ lao động đúng đắn, yêu lao động, yêu người lao
động và bảo vệ thành quả lao động.
- Thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Ở trong nhà trường phổ thông, nhân cách học sinh được hình thành thông
qua nhiều hoạt động trong đó hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đóng một
vai trò rất quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách học
sinh.
Tâm lý học cho thấy lứa tuổi học sinh ở cấp THCS là từ 11 đến 15 tuổi,
đây là lứa tuổi chuyển tiếp giữa trẻ con và người lớn, ở giai đoạn này các em
rất ưa hoạt động, thích tự lập, muốn bắt chước người lớn và học làm người

lớn. Đây là giai đoạn mà sự phát triển về thể chất, về tâm lý ở các em đang
phát triển mạnh mẽ, những xung đột về tâm lý vẫn thường xuyên diễn ra,
những biểu hiện đó nhiều khi làm cho người lớn phải ngỡ ngàng. Nhưng đằng
sau những biểu hiện đó ta vẫn nhận thấy bản chất của các em vẫn còn là “ trẻ
con”. Chính vì vậy ngoài việc giáo dục cho học sinh thông qua các giờ học
chính khoá trên lớp thì hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp có một vị trí và ý
nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hoạt động tự giáo dục, tự rèn luyện của học
sinh. Nội dung của hoạt động giáo dục NGLL có liên quan đến nội dung của
các môn học, các lĩnh vực giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục lao
động, giáo dục thể chất, giáo dục pháp luật, giáo dục trật tự an toàn giao
thông, giáo dục dân số, giáo dục môi trường.
Mặt khác đặc thù của loại hình giáo dục ngoài giờ lên lớp là có nhiều
nội dung phong phú cập nhật với đời sống chính trị, xã hội, hình thức giáo
dục đa dạng, dễ hấp dẫn, phù hợp với lứa tuổi, phạm vi tiến hành rộng rãi
không bị gò ép trong một khuôn khổ nhất định, dễ dàng tạo ra những khả
năng liên kết, phối hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường.
Vì vậy nếu tiến hành tổ chức tốt các hoạt động này một cách khoa học, phù
Nguyễn trọng Nhuế - Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THCS trên địa bàn
huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
21
hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi thì hiệu quả giáo dục sẽ rất cao, góp
phần hoàn thành một cách tốt nhất mục tiêu đào tạo của cấp học.
Qua hoạt động NGLL nhằm củng cố và khắc sâu những kiến thức của
môn học, mở rộng và nâng cao hiểu biết cho HS về các lĩnh vực của đời sống
xã hội, làm phong phú thêm vốn tri thức, kinh nghiệm hoạt động tập thể của
HS .
Rèn luyện cho HS các kĩ năng cơ bản phù hợp với lứa tuổi HS THCS như
: kĩ năng giao tiếp ứng xử có văn hoá, kĩ năng tổ chức quản lí và tham gia các
hoạt động tập thể với tư cách là chủ thể của hoạt động, kĩ năng tự kiểm tra

đánh giá kết quả học tập, rèn luyện củng cố và phát triển các hành vi, thói
quen tốt trong học tập, lao động và công tác xã hội.
Bồi dưỡng thái độ tự giác tích cực tham gia các hoạt động tập thể và hoạt
động xã hội, hình thành tình cảm chân thành, niềm tin trong sáng với cuộc
sống, với quê hương đất nước, có hoạt động đúng đắn đối với các hiện tượng
tự nhiên, và xã hội .
- Thông qua hoạt động tu dưỡng, tự rèn luyện, tự hoàn thiện đạo đức nhân
cách
Có thể nói trong một số yếu tố giáo dục đạo đức cho học sinh thì yếu tố
này đóng vai trò quan trọng nhất bởi vì mỗi học sinh đều có những đặc điểm
tâm lý khác nhau. Quá trình tu dưỡng, tự rèn luyện đạo đức ý thức tổ chức kỷ
luật sẽ là tiền đề cho các quá trình khác. Mỗi một học sinh đều phải tự trao rồi
tu dưỡng về đạo đức sẽ có ảnh hưởng tốt đến quá trình hình thành và phát
triển nhân cách của mình.
1.4. Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trƣờng THCS
1.4.1. Quản lý và quản lý giáo dục
1.4.1.1. Quản lý
*Khái niệm quản lý
Nguyễn trọng Nhuế - Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THCS trên địa bàn
huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
22
Theo tác giả Trần Kiểm thì: "Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực
của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành
tựu của xã hội.
Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động,
phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân
lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách
tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất" [18,15].
Nhóm tác giả là chuyên gia về khoa học quản lý thuộc Trung tâm Nghiên

cứu khoa học tổ chức quản lý nhà nước cũng đã đưa ra khái niệm về quản lý:
“ Khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu
mà họ không thể đạt được với tư cách là là những cá nhân riêng lẻ, thì quản
lý xuất hiện như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân
hướng tới mục tiêu chung”
Nhóm tác giả đã đi đến định nghĩa tổng quát nhất về quản lý: “ Quản lý là
một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể
quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung” [30 - tr 176]
Nói một cách tổng quát nhất có thể xem quản lý là một quá trình tác động
có tổ chức, có hướng đích gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý lên đối tượng
quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức
để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường
Như vậy bản chất của quản lý là sự tác động có mục đích có kế hoạch của
lực lượng quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu cơ
bản của quản lý .
* Những chức năng cơ bản của quản lý :
- Chức năng kế hoạch hóa : là soạn thảo và thông qua được những quyết
định về chủ trương quản lý quan trọng. Trên cơ sở những yêu cầu cơ bản kết
hợp với thực tiễn của cơ sở để đưa ra những phương hướng kế hoạch cho sát
hợp và có tính khả thi cao.
- Chức năng tổ chức : thực hiện các quyết định, chủ trương bằng cách xây
dựng cấu trúc tổ chức của đối tượng quản lý, tạo dựng mạng lưới quan hệ tổ
chức tuyển lựa sắp xếp bồi dưỡng cán bộ, làm cho mục tiêu trở nên có ý
nghĩa, tăng tính hiệu quả về mặt tổ chức .
Nguyễn trọng Nhuế - Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THCS trên địa bàn
huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
23
- Chức năng chỉ đạo : chỉ dẫn, vận động, điều chỉnh và phối hợp các lực
lượng tích cực hăng hái, chủ động theo sự phân công và kế hoạch đã định .

- Chức năng kiểm tra đánh giá : là chức năng liên quan đến mọi cấp quản
lý để đánh giá kết quả hoạt động của hệ thống. Nó thực hiện việc xem xét
tình hình thực hiện công việc đối chiếu với yêu cầu để có cơ sở đánh giá đúng
đắn.


1.4.1.2. Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là sự vận dụng một cách cụ thể các nguyên lý của quản
lý nói chung vào lĩnh vực giáo dục. Tuy nhiên, cần làm rõ nội hàm khái niệm,
để từ cơ sở lí thuyết đó giúp xác định nội dung và các biện pháp quản lý giáo
dục đạo đức trong công tác quản lý nhà trường.
- Đối với cấp vĩ mô:
Theo Trần Kiểm, quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác(
có ý thức , có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể
quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống ( từ cấp cao nhất đến các cơ sở
giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu
phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành Giáo dục.
[20; tr 36-37)
Đối với cấp vi mô:
Theo Trần Kiểm, quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động
tự giác ( có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của
chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha
mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực
hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường. [20; tr 37-
38]
Từ đây ta có thể khái quát quản lý giáo dục là sự tác động có chủ đích,
có căn cứ khoa học, hợp quy luật và phù hợp các điều kiện khách quan…của
Nguyễn trọng Nhuế - Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THCS trên địa bàn
huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

24
chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm phát huy sức mạnh các nguồn
giáo dục, từ đó đảm bảo các hoạt động của tổ chức/ hệ thống giáo dục đạt
được các mục tiêu giáo dục đã đề ra với chất lượng, hiệu quả cao nhất.
Dựa vào phạm vi quản lý, người ta chia ra hai loại QLGD: quản lý hệ
thống giáo dục: QLGD ở tầm vĩ mô, phạm vi toàn quốc, trên địa bàn lãnh thổ
(tỉnh, thành phố…) và quản lý nhà trường: QLGD ở tầm vi mô, trong phạm vi
một cơ sở giáo dục-đào tạo.
Có thể khẳng định, giáo dục và quản lý giáo dục là tồn tại song hành.
Nếu nói giáo dục là hiện tượng xã hội tồn tại lâu dài cùng với xã hội loài
người thì cũng có thể nói như thế về quản lý giáo dục. Giáo dục xuất hiện
nhằm thực hiện cơ chế truyền kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người, của
thế hệ đi trước cho thế hệ sau và để thế hệ sau có trách nhiệm kế thừa, phát
triển nó một cách sáng tạo, làm cho xã hội, giáo dục và bản thân con người
phát triển không ngừng. Để đạt được mục đích đó, quản lý được coi là nhân
tố tổ chức, chỉ đạo việc thực thi cơ chế nêu trên.
Từ những khái niệm nêu trên về quản lý giáo dục ta thấy bản chất đặc
thù của hoạt động quản lý giáo dục chính là sự hoạt động có mục đích, có hệ
thống, có kế hoạch, có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý theo
những quy luật khách quan nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo
dục đạt tới kết quả mong muốn.
Quản lý giáo dục bao gồm bốn yếu tố, đó là : chủ thể quản lý,
đối tượng bị quản lý (gọi tắt là đối tượng quản lý), khách thể quản lý và
mục tiêu quản lý. Bốn yếu tố này tạo thành sơ đồ sau ( hình 1.1):




Hình 1.1. Sơ đồ biểu diễn sự liên hệ giữa các yếu tố của Quản lý giáo dục.
1.4.1.3. Quản lý nhà trường

Chủ
thể
quản

Đối
tượng
quản

Khách
thể
quản


Mục tiêu
quản lý
Nguyễn trọng Nhuế - Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THCS trên địa bàn
huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
25
Nhà trường là tổ chức giáo dục cơ sở, trực tiếp làm công tác giáo dục
và đào tạo. Luật giáo dục 2005, quy định : “ Nhà trường trong hệ thống giáo
dục quốc dân, thuộc mọi loại hình đều được thành lập theo quy hoạch, kế
hoạch của nhà nước, nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục”. Trong khoản 1 điều
58 quy định “ Nhà trường có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Tổ chức
giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chương
trình giáo dục [luật giáo dục năm 2005] . Như vậy, quản lý trường học là nội
dung quan trọng trong quản lý giáo dục. Hoạt động của nhà trường được
chuyên biệt hóa; do vậy quản lý nhà trường cũng được chuyên biệt hóa.
Theo Phạm Minh Hạc: “ Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối
giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, đưa nhà trường vận

hành theo nguyên lý giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục với
thế hệ trẻ và từng học sinh” [12,27]
Theo PGS.TS Thái Văn Thành thì Quản lý nhà trường là quản lý vi
mô, nó là một hệ thống con của quản lý vĩ mô; Quản lý giáo dục, quản lý nhà
trường có thể hiểu là một chuỗi tác động hợp lý (có mục đích, tự giác, hệ
thống, có kế hoạch) mang tính tổ chức- sư phạm của chủ thể quản lý đến tập
thể cán bộ giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong và
ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp, tham gia vào
mọi hoạt động của nhà trường nhằm làm cho quá trình này vận hành tối ưu để
đạt được những mục tiêu dự kiến. Quản lý nhà trường bao gồm hai loại: Tác
động của những chủ thể quản lý bên trên và bên ngoài nhà trường, tác động
của những chủ thể quản lý trên, trong nhà trường
- Quản lý nhà trường là những tác động quản lý của các cơ quan quản
lý giáo dục cấp trên nhằm hướng dẫn tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy,
học tập, giáo dục của nhà trường.
- Quản lý nhà trường cũng gồm những chỉ dẫn, quyết định của các thực
thể bên ngoài nhà trường nhưng có liên quan trực tiếp đến nhà trường như
cộng đồng được đại diện dưới hình thức hội đồng giáo dục nhằm định hướng

×