Tải bản đầy đủ (.pdf) (123 trang)

Quản lý phát đội ngũ giáo viên cốt cán các trường THPT huyện Mê Linh, Thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2013 đến 2016

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.19 MB, 123 trang )

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ÐẠI HỌC SƢ PHẠM
–––––––––––––––



HỒ THỊ LỆ



QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
CỐT CÁN CÁC TRƢỜNG THPT HUYỆN MÊ LINH,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN 2013 - 2016





LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC








THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ÐẠI HỌC SƢ PHẠM
–––––––––––––––



HỒ THỊ LỆ



QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
CỐT CÁN CÁC TRƢỜNG THPT HUYỆN MÊ LINH,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN 2013 - 2016
Chuyên ngành: Quản lí giáo dục
Mã số: 60.14.01.14




LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC



Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS Vũ Đình Chuẩn



THÁI NGUYÊN - 2014


i
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi. Luận văn
có tham khảo tư liệu nghiên cứu của nhiều tác giả nhưng các số liệu, kết quả nghiên cứu
trong trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công
trình nào khác.

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2014
Tác giả


Hồ Thị Lệ


ii
LỜI CẢM ƠN
Tác giả trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
- Trưởng khoa Sau đại học và Khoa Tâm lý – Giáo dục, Trường Đại học sư
phạm – Đại học Thái Nguyên;
- Các nhà khoa học, các thầy giáo, cô giáo đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn
cho tác giả trong suốt quá trình học tập;
- Lãnh đạo, chuyên viên Vụ Giáo dục Trung học và các Cục, Vụ, Viện liên
quan thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo;
- Lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, Phòng Giáo dục và Đào tạo
huyện Mê Linh, Lãnh đạo và giáo viên các trường trung học phổ thông trên địa bàn
huyện Mê Linh, Thành phố Hà Nội;
- Người hướng dẫn khoa học và các thầy, cô giáo trong Hội đồng khoa học đã
hướng dẫn và chỉ bảo nhiều ý kiến quý báu để tác giả hoàn thành bản Luận văn này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng chắc chắn bản Luận văn còn nhiều thiếu

sót. Kính mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của các thầy giáo, cô giáo và các bạn
đồng nghiệp.
Trân trọng!
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2014
Tác giả


Hồ Thị Lệ

iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
MỞ ÐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục Ðích nghiên cứu 3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4. Khách thể và Ðối tượng nghiên cứu 4
5. Giả thuyết khoa học 4
6. Phương pháp nghiên cứu 4
7. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 6
8. Cấu trúc luận văn 7
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ
GIÁO VIÊN CỐT CÁN TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 8
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 8
1.1.1. Nghiên cứu phát triển ĐNGV cốt cán ở nước ngoài 8

1.1.2. Nghiên cứu phát triển ĐNGV cốt cán ở Việt Nam 10
1.2. Một số khái niệm cơ bản 14
1.2.1. Giáo viên Trung học phổ thông 14
1.2.2. Giáo viên cốt cán trường THPT và ĐNGV cốt cán trường THPT 15
1.2.3. Phát triển ĐNGV cốt cán trường THPT 18
1.2.4. Quản lý phát triển ĐNGV cốt cán các trường THPT 22
1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý phát triển ĐNGV cốt cán trường
THPT trong giai đoạn hiện nay 31
1.4. Tham khảo kinh nghiệm quốc tế về quản lý phát triển ĐNGV cốt cán trường
THPT 32

iv
1.5. Tiểu kết chương 1 32
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CỐT CÁN VÀ QUẢN
LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CỐT CÁN CÁC TRƢỜNG
THPT HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 34
2.1. Đặc điểm về địa lý, kinh tế, xã hội, giáo dục và đào tạo của huyện Mê Linh,
thành phố Hà Nội 34
2.1.1. Khái quát về điều kiện kinh tế - xã hội huyện Mê Linh, Hà Nội 34
2.1.2. Thực trạng giáo dục THPT Huyện Mê Linh, Hà Nội 35
2.2. Thực trạng ĐNGV các trường THPT huyện Mê Linh, Thành phố Hà Nội 39
2.2.1. Số lượng và cơ cấu giáo viên
39
2.2.2. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ
41
2.3. Thực trạng đội ngũ giáo viên cốt cán và quản lý phát triển ĐNGV cốt cán
các trường THPT huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội 42
2.3.1. Khái quát về tiến trình khảo sát thực trạng công tác phát triển ĐNGV cốt
cán các THPT huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội 42
2.3.2. Thực trạng quản lý phát triển ĐNGV cốt cán các trường THPT huyện Mê

Linh, thành phố Hà Nội 44
2.4. Tiểu kết chương 2 56
Chƣơng 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
CỐT CÁN Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN MÊ
LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 58
3.1. Nguyên tắc chọn lựa giải pháp 58
3.1.1. Giải pháp quản lý phát triển ĐNGV cốt cán phải góp phần nâng cao chất
lượng dạy học, thực hiện tốt mục tiêu giáo dục trong giai đoạn đổi mới 58
3.1.2. Giải pháp phát triển ĐNGV cốt cán phải góp phần xây dựng ĐNGV đảm
bảo về số lượng và nâng cao về chất lượng 58
3.1.3. Giải pháp phát triển ĐNGV cốt cán phải phát huy vai trò chủ động, tích
cực, tự giác, lôi cuốn họ tham gia công tác bồi dưỡng nâng cao chuyên môn,
nghiệp vụ 58

v
3.1.4. Giải pháp phát triển ĐNGV cốt cán phải tác động vào các khâu, các yếu tố
của quá trình quản lý 59
3.1.5. Giải pháp phát triển ĐNGV cốt cán phải thiết thực, phù hợp với điều kiện
thực tế của từng địa phương, nhà trường 59
3.2. Đề xuất biện pháp quản lý phát triển ĐNGV cốt cán trường THPT huyện Mê
Linh, thành phố Hà Nội 59
3.2.1. Xây dựng các tiêu chí về giáo viên cốt cán trường THPT huyện Mê Linh,
thành phố Hà Nội 59
3.2.2. Qui hoạch phát triển ĐNGV cốt cán trong các trường THPT huyện Mê
Linh, thành phố Hà Nội 74
3.2.3. Đổi mới nội dung, phương thức phát triển số lượng và chất lượng ÐNGV
cốt cán THPT 79
3.2.4. Xây dựng chính sách, tạo động lực và môi trường thuận lợi phát triển ĐNGV
cốt cán trường THPT huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội 85
3.3. Mối liên hệ giữa các biện pháp 93

3.4. Khảo nghiệm mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý phát
triển ĐNGV cốt cán trường THPT huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội 93
3.5. Tiểu kết chương 3 95
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 96
1. Kết luận 96
2. Khuyến nghị 97
2.1. Đối với các cấp quản lý giáo dục 97
2.2. Đối với các trường THPT 97
2.3. Đối với giáo viên cốt cán trường THPT 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98



iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Chữ đầy đủ
CBQL Cán bộ quản lý
CNH - HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CNTT Công nghệ thông tin
CSVC Cơ sở vật chất
ĐHSP Đại học sư phạm
ĐNGV Đội ngũ giáo viên
KH - CN Khoa học và Công nghệ
KT - XH Kinh tế - Xã hội
NCKH Nghiên cứu khoa học
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông

v

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Quy mô, mạng lưới trường lớp huyện Mê Linh năm 2012 - 2013 36
Bảng 2.2: Tổng hợp xếp loại 2 mặt giáo dục năm 2012 – 2013 36
Bảng 2.3: Số lượng học sinh các trường THPT huyện Mê Linh 37
Bảng 2.4: Thống kê số phòng học, phòng chức năng năm học 2010 - 2011 37
Bảng 2.5: Điểm chuẩn tuyển sinh vào 10 từ năm học 2010- 2011 đến nay 38
Bảng 2.6: Kết quả thi tốt nghiệp THPT từ năm học 2009- 2010 đến nay 38
Bảng 2.7: Tỷ lệ thi tuyển sinh ĐH - CĐ từ năm học 2010 - 2011 đến nay 39
Bảng 2.8: Số lượng cán bộ, đội ngũ giáo viên và nhân viên năm học 2012-2013 39
Bảng 2.9: Số lượng giáo viên qua các năm 40
Bảng 2.10: Cơ cấu đội ngũ giáo viên 40
Bảng 2.11: Trình độ đào tạo đội ngũ giáo viên 41
Bảng 2.12: Trình độ ngoại ngữ, tin học đội ngũ giáo viên 41
Bảng 2.13. Xếp loại phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống ĐNGV 42
Bảng 2.14: Xếp loại chuyên môn - nghiệp vụ đội ngũ giáo viên 42
Bảng 2.15: Đánh giá của giáo viên về hiệu quả của các hình thức đào tạo, bồi
dưỡng giáo viên 44
Bảng 2.16: Nhu cầu bồi dưỡng ĐNGV THPT 47
Bảng 2.17: Đánh giá của giáo viên cốt cán về các hình thức đào tạo, bồi dưỡng
đã tham dự 47
Bảng 2.18: Thực trạng phẩm chất và năng lực của ĐNGV cốt cán 49
Bảng 2.19: Tác dụng của các chính sách trong việc tạo động lực cho ĐNGV cốt
cán THPT 51
Bảng 2.20: Mức độ cần thiết của các giải pháp phát triển ĐNGV cốt cán THPT 55
Bảng 2.21: Nguyên nhân của thực trạng phát triển ĐNGV cốt cán THPT chưa tốt 56
Bảng 3.1: Đánh giá tính cấp thiết và tính khả thi của các nhóm giải pháp 94

vi
DANH MỤC CÁC HÌNH


Hình 1.1: Quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực với quản lý nguồn nhân lực 20
Hình 1.2: Sơ đồ chu trình quản lí 23
Hình 2.1: Biểu đồ hoạt động của tổ bộ môn trong bồi dưỡng giáo viên 45





1
MỞ ÐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục THPT có vị trí quan trọng
trong việc nâng cao dân trí, góp phần đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất
nước. Mục tiêu của giáo dục THPT nhằm hình thành cho học sinh học vấn phổ thông
và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật, công nghệ và hướng nghiệp để tiếp tục học
lên giáo dục nghề nghiệp, đại học hoặc đi vào cuộc sống; đào tạo nên những người
lao động có sức khoẻ, có kỹ năng và động lực học tập suốt đời. Thực hiện Nghị quyết
40 của Quốc hội khoá X, hiện nay giáo dục THPT đang được đổi mới toàn diện từ
mục tiêu, nội dung, chương trình đến kế hoạch và phương pháp dạy học để tạo nên sự
liên thông và đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ với các cấp học khác.
1.2. Trong mỗi nhà trường THPT, ĐNGV luôn là một trong những nhân tố
quan trọng nhất góp phần quyết định sự phát triển nhà trường, bởi lẽ chính họ là
người tổ chức thực hiện có hiệu quả các khâu của quá trình dạy học, giáo dục và phát
triển chuyên môn, phát triển nhà trường. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Cán bộ là
cái gốc của mọi công việc”;… “Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt
hay kém” [50]. Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 4 khoá VIII
đã xác định: “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục”. Chỉ 40-CT/TW
ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư TW Đảng đã nêu rõ: “… xây dựng đội ngũ nhà giáo
và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hóa, bảo đảm về chất lượng, đủ về số lượng,

đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối
sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo”[3].
Trong đội ngũ giáo viên THPT, ĐNGV cốt cán, đầu đàn về chuyên môn lại
càng có vai trò quan trọng hơn. Đây là những nhân tố tích cực, là tấm gương trong
việc rèn luyện đạo đức, tự học, sáng tạo; họ là những giáo viên có chuẩn năng lực
nghề nghiệp đạt mức độ cao, có năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm vững
vàng, là lực lượng đầu tàu, nòng cốt cho việc giảng dạy bộ môn, có khả năng tổ chức
các hoạt động chuyên môn, nghiên cứu khoa học ở các mức độ khác nhau, đóng vai
trò chủ chốt trong việc nâng cao hiệu quả dạy học và giáo dục của một nhà trường.
Trong một chừng mực nào đó, họ có hiểu biết rộng hơn, am hiểu sâu hơn về một lĩnh
vực chuyên môn, về chính trị - xã hội; biết dấn thân trong công tác, dám nghĩ, dám
làm, dám chịu trách nhiệm trong hành động; vận dụng tốt khoa học giáo dục hiện đại;
nắm bắt và xử lý nhanh thông tin; nhạy cảm với cái mới; có năng lực cao trong tổ

2
chức thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng dạy học; có tối thiểu những kỹ năng
lãnh đạo - quản lý nhóm; kỹ năng giao tiếp chinh phục, thu phục, thuyết phục, tập
hợp, cuốn hút và khả năng nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của các giáo viên khác…
ĐNGV cốt cán trong các trường THPT cả nước nói chung và trên địa bàn
huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội nói riêng hiện nay đang còn bất cập về số lượng,
cơ cấu, năng lực tổ chức hoạt động chuyên môn, chưa đáp ứng được yêu cầu và đòi
hỏi của nhà trường trong giai đoạn mới. Cụ thể:
- Số lượng giáo viên cốt cán chưa đầy đủ theo yêu cầu giáo dục và dạy học của
nhà trường. Thực tế hiện nay ở nhiều trường THPT vẫn có những giáo viên giữ vai
trò cốt cán vì họ có thâm niên công tác cao, có kinh nghiệm trong giảng dạy, nhưng
những giáo viên này lại hạn chế về khả năng tiếng Anh, tin học và khả năng tiếp cận,
cập nhật cái mới, khó có thể quy hoạch để đào tạo ở trình độ trên chuẩn. Do vậy,
trong thời gian tới, những giáo viên này sẽ khó có thể giữ vai trò đầu đàn, cốt cán
được. Tuy nhiên trong thời gian trước mắt, số giáo viên trẻ dù được đào tạo cơ bản về
chuyên môn, nghiệp vụ và có trình độ tiếng Anh, tin học khá lại chưa có được những

kinh nghiệm chuyên môn và sư phạm của các giáo viên đầu đàn nêu trên. Đó là một
mâu thuẫn cần giải quyết.
- Lực lượng ĐNGV cốt cán của các trường THPT còn quá mỏng mà hầu hết
lại bị chi phối bởi công việc giảng dạy đang ở mức quá tải. Do đó việc tổ chức sinh
hoạt chuyên môn ở tổ, dự giờ, thao giảng chưa được thường xuyên và chưa có hiệu
quả. Đặc biệt, công tác NCKH giáo dục, sáng kiến cải tiến phục vụ cho giảng dạy,
giáo dục trong nhiều trường học chưa được đẩy mạnh; giáo viên cốt cán chưa thể hiện
vài trò đầu tàu trong hoạt động này, nên hạn chế nhiều tới việc nâng cao tiềm lực
chuyên môn của ĐNGV nhà trường.
- Năng lực tổ chức quản lý, tập hợp đội ngũ của người giáo viên cốt cán còn
nhiều hạn chế, chỉ nặng về hành chính; chưa thực sự có sức mạnh tinh thần, tư tưởng
và tâm lý để cuốn hút, khơi dậy động cơ nội tại của đội ngũ giáo viên trong các hoạt
động chuyên môn.
Những mặt hạn chế nêu trên, có thể do những nguyên nhân chủ yếu:
+ Nhận thức về vai trò của ĐNGV cốt cán trong việc nâng cao chất lượng dạy
học và giáo dục của nhà trường chưa đúng mức.
+ Ở nhiều trường THPT chưa có qui hoạch phát triển đội ngũ giáo viên cốt
cán. ĐNGV “gọi là cốt cán” hiện nay hình thành một cách tự phát, chưa hề được cấp
quản lý nào đánh giá, công nhận.

3
+ Các cấp quản lý giáo dục, các nhà trường chưa đặt ra một cách cụ thể những
tiêu chí đối với ĐNGV cốt cán cho các môn học ở các trường THPT.
+ Việc đầu tư cho công tác đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV cốt cán chưa được thực
hiện. Hầu hết ĐNGV cốt cán chưa được quan tâm bồi dưỡng về trình độ quản lý giáo
dục. Việc sử dụng, đánh giá, … đối với ĐNGV cốt cán vẫn còn nhiều bất cập.
Với những yêu cầu và thực trạng nêu trên, việc phát triển ĐNGV cốt cán các
trường THPT không thể hình thành một cách tự phát; mà phải là một quá trình phát
triển gồm nhiều công việc; bằng nhiều giải pháp, từ việc tạo nguồn, quy hoạch
đến đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ… Vì vậy, việc hình thành và phát triển

mạng lưới đội ngũ giáo viên cốt cán các môn chuyên trong các trường THPT là một
vấn đề rất quan trọng cần được nghiên cứu một cách khoa học.
Là một cán bộ làm công tác quản lý trường THPT ở một huyện vùng ven
thành phố Hà Nội, với những kinh nghiệm thực tế và những kiến thức lý luận được
học về quản lý giáo dục, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lý phát triển đội ngũ giáo
viên cốt cán tại các trường trung học phổ thông huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội
trong giai đoạn 2013 - 2016” với mong muốn đề xuất những biện pháp quản lý phát
triển ĐNGV cốt cán, góp phần tích cực vào công tác phát triển ĐNGV các trường
THPT nhằm từng bước nâng cao chất lượng giáo dục trung học trên địa bàn huyện
Mê Linh, thành phố Hà Nội.
2. Mục Ðích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về quản lý phát triển ĐNGV cốt cán; khảo
sát thực trạng ĐNGV cốt cán và quản lý phát triển ĐNGV cốt cán các trường THPT
huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội; từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý phát triển
ĐNGV cốt cán các trường THPT huyện huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội đáp ứng
yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông trong giai đoạn hiện nay.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Nghiên cứu, hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý phát triển ĐNGV cốt cán các
trường THPT.
3.2. Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng ĐNGV cốt cán và quản lý phát triển
ĐNGV cốt cán các trường THPT huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.
3.3. Đề xuất những biện pháp quản lý phát triển ĐNGV cốt cán của các trường THPT
huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trung học trong
giai đoạn hiện nay.

4
4. Khách thể và Ðối tƣợng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý phát triển ĐNGV cốt cán các trường THPT huyện Mê Linh,
thành phố Hà Nội.

4.2. Ðối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý phát triển ĐNGV cốt cán các trường THPT huyện Mê
Linh, thành phố Hà Nội.
5. Giả thuyết khoa học
Hiện nay ĐNGV cốt cán các trường THPT huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội
đang thiếu về số lượng, hạn chế về chất lượng. Việc quản lý phát triển ĐNGV cốt cán
đang có nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục trung học. Nếu
sử dụng những biện pháp quản lý khoa học, phù hợp với thực tiễn từ việc nâng cao
nhận thức, tạo nguồn, quy hoạch, đến đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ, tạo môi
trường thuận lợi,… thì sẽ góp phần phát triển ĐNGV cốt cán, nâng cao chất lượng
dạy học, chất lượng giáo dục toàn diện ở các trường THPT huyện Mê Linh, thành phố
Hà Nội nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục trung học trong
giai đoạn hiện nay.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Cơ sở phương pháp luận
6.1.1. Tiếp cận hệ thống
Theo cách tiếp cận này, luận văn xem ĐNGV là nhân tố quan trọng của quá
trình dạy học, vì vậy việc xây dựng ĐNGV cốt cán trường THPT phải gắn liền với việc
xác định mục đích, nhiệm vụ dạy học, xây dựng chương trình, sách giáo khoa, đổi mới
phương pháp và hình thức tổ chức dạy học ở các trường THPT.
Việc quản lý phát triển ĐNGV cốt cán các trường THPT cũng là một hệ thống
bao gồm nhiều khâu, nhiều chức năng có liên hệ mật thiết với nhau và có mối quan
hệ với việc phát triển các hoạt động khác của giáo dục - đào tạo.
6.1.2. Tiếp cận phức hợp
Tiếp cận phức hợp là hệ phương pháp áp dụng vào việc nghiên cứu một đối
tượng khi ta dựa trên nhiều lý thuyết khác nhau. Để nghiên cứu xây dựng ĐNGV cốt
cán các trường THPT, luận văn dựa vào nhiều lý thuyết khác nhau như Tâm lý học,
Giáo dục học, Khoa học quản lý giáo dục, Lý thuyết phát triển nguồn nhân lực…làm
cơ sở cho việc xây dựng các biện pháp quản lý phát triển ĐNGV cốt cán các trường
THPT nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ này.


5
6.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
6.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa trong nghiên cứu các nguồn
tài liệu lý luận và thực tiễn có liên quan đến xây dựng ĐNGV cốt cán các trường
THPT, bao gồm:
- Các tác phẩm kinh điển của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, các văn kiện của Đảng,
Nhà nước, Tư tưởng Hồ Chí Minh có liên quan đến đề tài.
- Các tác phẩm về tâm lý học, giáo dục học, khoa học quản lý giáo dục,…
trong và ngoài nước.
- Các công trình nghiên cứu khoa học quản lý giáo dục của các nhà lý luận, các
nhà quản lý giáo dục, các nhà giáo…có liên quan đến đề tài như các luận văn, luận án,
các báo cáo khoa học, các chuyên khảo, các bài báo.
Các tài liệu trên được phân tích, nhận xét, tóm tắt và trích dẫn phục vụ trực
tiếp cho việc giải quyết các nhiệm vụ của đề tài.
6.2.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra, khảo sát
+ Tiến hành điều tra thống kê để nắm được số lượng, cơ cấu, trình độ đào tạo,
thâm niên công tác, phân bố ĐNGV cốt cán các trường THPT trên địa bàn huyện Mê
Linh, thành phố Hà Nội;
+ Tiến hành điều tra bằng anket để khảo sát nhu cầu về nội dung, phương
pháp, hình thức đào tạo, bồi dưỡng giáo viên; thực trạng công tác quản lý phát triển
ĐNGV cốt cán các trường THPT.
Đối tượng điều tra, khảo sát là giáo viên, cán bộ quản lý các cơ sở đào tạo giáo
viên; các cơ sở sử dụng giáo viên; các cơ quan quản lý cơ sở sử dụng giáo viên.
Kết quả điều tra, khảo sát được phân tích, so sánh, đối chiếu để tìm ra những
thông tin cần thiết theo hướng nghiên cứu của luận án.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
+ Nghiên cứu các sản phẩm của giáo viên như kế hoạch dạy học, giáo án,

đồ dùng dạy học, kế hoạch tự bồi dưỡng để đánh giá trình độ, việc tự bồi dưỡng
của giáo viên;
+ Nghiên cứu các kế hoạch, quyết định, báo cáo của một số Sở Giáo dục và
Đào tạo, Hiệu trưởng các trường có liên quan đến việc quản lý phát triển ĐNGV cốt
cán các trường THPT.

6
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Tiến hành nghiên cứu, tiếp thu các kinh nghiệm quản lý phát triển ĐNGV cốt
cán các trường THPT của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội và các đơn vị liên quan ở
những nơi làm tốt công tác quản lý phát triển ĐNGV cốt cán các trường THPT; các
cơ sở đào tạo giáo viên,…).
- Phương pháp chuyên gia
Hỏi ý kiến chuyên gia bằng các phiếu hỏi, bao gồm :
- Các nhà quản lý các đơn vị sử dụng ĐNGV cốt cán các trường THPT;
- Các nhà khoa học, các chuyên gia về giáo dục học, tâm lý học, quản lý giáo
dục và đào tạo
Việc lấy ý kiến chuyên gia tổ chức theo cách trao đổi hoặc xin ý kiến đóng góp
bằng văn bản.
Phương pháp này được sử dụng ngay từ khâu xây dựng đề cương, góp ý bộ công
cụ, góp ý vào nhận định đánh giá thực trạng hoặc vào các giải pháp đề xuất.
- Phương pháp trò chuyện
Tiến hành trao đổi với các giáo viên cốt cán, cán bộ quản lý ở các Sở và các
trường THPT để tìm hiểu nhu cầu, điều kiện của họ, đánh giá của họ về công tác quản
lý phát triển ĐNGV cốt cán các trường THPT hiện nay nhằm thu thập những thông
tin cần thiết bổ sung cho phương pháp điều tra khảo sát.
6.2.3. Các phương pháp xử lý thông tin
- Sử dụng thống kê toán học để xử lý các kết quả nghiên cứu về định lượng
(lập bảng phân phối tần số, tính điểm trung bình cộng) và định tính.
- Sử dụng phần mềm tin học.

- Sử dụng mô hình, sơ đồ, đồ thị…
7. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu quản lý phát triển ĐNGV cốt cán các trường THPT huyện Mê
Linh, thành phố Hà Nội từ năm học 2009 - 2010 đến nay.
Khảo sát các đối tượng là: CBQL, giáo viên, học sinh của các trường trên địa
bàn huyện Mê Linh, Thành Phố Hà Nội:
- Trường THPT Tiền Phong
- Trường THPT Mê Linh
- Trường THPT Yên Lãng
- Trường THPT Tự Lập
- Trường THPT Tiến Thịnh.

7
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Tài liệu tham khảo, phụ lục, nội
dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý phát triển ĐNGV cốt cán các
trường THPT.
Chƣơng 2: Thực trạng ĐNGV cốt cán và quản lý phát triển ĐNGV cốt cán các
trường THPT huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.
Chƣơng 3: Biện pháp quản lý phát triển ĐNGV cốt cán của các trường THPT
huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.

8
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
CỐT CÁN TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Nghiên cứu phát triển ĐNGV cốt cán ở nước ngoài
Sự phát triển của thực tiễn giáo dục đặt ra những yêu cầu ngày càng cao với

giáo viên - những chủ thể quan trọng của quá trình dạy học và giáo dục trong trường
học. Vì lý do đó, các nghiên cứu về giáo viên rất được quan tâm và phát triển. Ngay
từ khi bắt tay vào xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, V.I. Lê nin đã rất coi trọng
việc xây dựng ĐNGV. Người viết: "Chúng ta phải làm cho giáo viên ở nước ta có
một địa vị mà trước đây họ chưa từng có, hiện nay vẫn không có và không thể có
được trong xã hội tư sản". Lê nin yêu cầu phải: "Nâng cao một cách có hệ thống, kiên
nhẫn, liên tục trình độ tinh thần của giáo viên nhưng điều chủ yếu, chủ yếu và chủ
yếu là cải thiện đời sống vật chất cho họ." [60, tr.241].
Ở các nước phát triển, yêu cầu và tiêu chí của chất lượng giáo viên cũng được
đặt ra theo yêu cầu của sự phát triển giáo dục - đào tạo và nhu cầu tăng trưởng kinh tế.
Vì thế, chất lượng đội ngũ giáo viên đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm. Công
trình nghiên cứu chung của các nước thành viên OECD đã chỉ ra yêu cầu đối với một
giáo viên cần có các phẩm chất:
1/ Kiến thức phong phú về phạm vi chương trình và nội dung bộ môn mình dạy;
2/ Kỹ năng sư phạm, kể cả việc có được "kho kiến thức" về phương pháp
giảng dạy, về năng lực sử dụng những phương pháp đó;
3/ Có tư duy phản ánh trước mỗi vấn đề và có năng lực tự phê, nét rất đặc
trưng của nghề dạy học;
4/ Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác;
5/ Có năng lực quản lí, kể cả trách nhiệm quản lí trong và ngoài lớp học.
Trong báo cáo tại Hội thảo ASD Armidele năm 1995 [58] - do UNESCO tổ
chức đã nói đến những vai trò của người giáo viên trong thời đại mới, đó là: vai trò
người thiết kế, vai trò người tổ chức, vai trò người cổ vũ, vai trò người canh tân. Để
thực hiện những vai trò này thì phải nâng cao chất lượng người giáo viên như:
1/ Các chương trình đào tạo giáo viên cần triệt để sử dụng các thiết bị và
phương pháp giảng dạy mới nhất;

9
2/ Giáo viên phải được đào tạo để trở thành nhà giáo dục hơn là người thợ dạy
(chuyên gia truyền đạt kiến thức).

3/ Việc dạy học phải thích nghi với người học chứ không phải buộc người học
tuân theo những qui định đặt sẵn từ trước theo thông lệ cổ truyền.
Tháng 4 năm 2000, tại Dakar – Senégal, Diễn đàn giáo dục cho mọi người do
UNESCO tổ chức đã coi chất lượng giáo viên là một trong mười yếu tố cấu thành
chất lượng giáo dục, tức là giáo viên có động cơ tốt, được động viên tốt và có năng
lực chuyên môn cao. Năng lực chuyên môn cần phải có để đảm bảo chất lượng giáo
dục: hiểu biết sâu sắc về nội dung môn học, có tri thức sư phạm, có tri thức về sự phát
triển, có sự hiểu biết về sự khác biệt, hiểu biết về động cơ, có tri thức về việc học tập,
làm chủ được các chiến lược dạy học, hiểu biết về việc đánh giá học sinh, hiểu biết về
các nguồn của chương trình và công nghệ, am hiểu và sự đánh giá cao về sự cộng tác,
có khả năng phân tích và phản ánh trong thực tiễn dạy học.
Một trong những yếu tố then chốt quyết định thành công trong đổi mới giáo
dục của các quốc gia trên thế giới là chú trọng sự phát triển nghề nghiệp của ĐNGV.
Hầu hết các quốc gia đều nhận thức được rằng, giáo viên không chỉ là những đối
tượng cần thay đổi để phát triển sự nghiệp giáo dục, mà giáo viên còn là lực lượng
tạo nên sự thay đổi quan trọng nhất trong công cuộc đổi mới, chấn hưng giáo dục của
đất nước. Vì vậy, muốn đổi mới được căn bản, toàn diện sự nghiệp giáo dục, nhất
định phải chú trọng phát triển nghề nghiệp liên tục của giáo viên. Nói cách khác, phát
triển nghề nghiệp liên tục của giáo viên là một yêu cầu then chốt của tiến trình đổi
mới giáo dục. Các nghiên cứu về phát triển nghề nghiệp giáo viên phục vụ yêu cầu
này của đổi mới giáo dục.
Báo cáo của Ủy ban quốc gia về Giáo dục và Tương lai của Hoa Kỳ các năm
1996, 1997, cho thấy các xu hướng chính trong nghiên cứu vấn đề này là:
(1) Nghiên cứu các mô hình và kinh nghiệm thực tiễn về phát triển nghề
nghiệp giáo viên.
(2) Nghiên cứu hỗ trợ các hoạt động thực tiễn để phát triển nghề nghiệp giáo viên.
Trên cơ sở nhận thức tầm quan trọng của vấn đề phát triển nghề nghiệp giáo
viên, nhiều tổ chức trên thế giới đã đặt hàng các nghiên cứu về vấn đề này với mục
đích xác định các con đường hiệu quả để hỗ trợ các chương trình, các vấn đề phát triển
nghề nghiệp giáo viên một cách hiệu quả.


10
(3) Nghiên cứu cải tiến các kỹ năng và tăng cường hiểu biết nghề nghiệp cho
giáo viên. Theo đó, nghiên cứu để nâng cao chất lượng công tác này theo quan điểm
phát triển nghề nghiệp liên tục cho giáo viên rất được coi trọng.
(4) Nghiên cứu phát triển nghề nghiệp giáo viên như một yêu cầu của tiến
trình thay đổi.
Một trong những nghiên cứu về phát triển nghề nghiệp giáo viên là nghiên cứu
xây dựng và chuyển giáo các mô hình phát triển nghề nghiệp của giáo viên.
Nhiều mô hình được phát triển và thực hiện ở nhiều quốc gia để phát huy và
hỗ trợ giáo viên phát triển nghề nghiệp từ khi họ bắt đầu khởi nghiệp đến khi nghỉ
hưu. Điều đáng chú ý là các mô hình phát triển nghề nghiệp giáo viên được trình bày
một cách riêng rẽ vì sự rõ ràng và khu biệt, nhưng hầu hết các sáng kiến phát triển
nghề nghiệp đều là sự kết hợp các mô hình, và sự kết hợp này cũng hết sức đa dạng,
tuỳ theo hoàn cảnh.
1.1.2. Nghiên cứu phát triển ĐNGV cốt cán ở Việt Nam
Lịch sử nghiên cứu vấn đề phát triển ĐNGV gắn liền với lịch sử phát triển của
nền giáo dục Việt Nam. Hơn năm mươi năm xây dựng và phát triển, nền giáo dục nước
ta đã xây dựng được một hệ thống giáo dục liên thông và hoàn chỉnh từ giáo dục mầm
non đến giáo dục đại học đáp ứng một cách tích cực nhu cầu nâng cao dân trí, nhu cầu
nhân lực và nhân tài của xã hội. Hơn năm mươi năm phát triển giáo dục là hơn năm
mươi năm không ngừng phát triển ĐNGV trong hệ thống giáo dục Việt Nam.
Vấn đề phát triển ĐNGV đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước
ta hết sức quan tâm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: nếu không có thầy giáo
thì không có giáo dục Người còn chỉ rõ vai trò và ý nghĩa của nghề dạy học Có gì
vẻ vang hơn là đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa
xã hội và chủ nghĩa cộng sản “Các thầy cô giáo có nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang là
đào tạo cán bộ cho dân tộc” “các cô, các chú đã thấy trách nhiệm to lớn của mình,
đồng thời cũng thấy khả năng của mình cần được nâng cao thêm lên mãi mới làm
tròn nhiệm vụ” [50, tr.114].

Thực hiện tư tưởng của Hồ Chủ Tịch, suốt nửa thế kỷ qua, Đảng và Nhà nước
ta đã không ngừng chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và phát triển
ĐNGV, trong đó có việc nghiên cứu về ĐNGV. Theo đó, nhiều công trình nghiên
cứu về ĐNGV đã được triển khai dưới sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Ðào tạo. Tiêu
biểu trong các nghiên cứu đó là những công trình nghiên cứu về mô hình nhân cách

11
của ĐNGV các cấp học, bậc học và mô hình nhân cách của người quản lý nhà trường
trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Nghiên cứu về ĐNGV còn được thực hiện dưới góc độ quản lý giáo dục ở cấp
độ vĩ mô và vi mô. Nhiều Hội thảo khoa học về chủ đề ĐNGV dưới góc độ quản lý
giáo dục theo ngành, bậc học đã được thực hiện. Có thể kể đến một số nghiên cứu loại
này của các tác giả: Đặng Quốc Bảo [4]; Nguyễn Thanh Bình [5]; Nguyễn Quốc Chí,
Nguyễn Thị Mỹ Lộc [17]; [18]; [19]; [20]; Nguyễn Thành Hoàn [34]; Trần Bá Hoành
[36]; [37]; [38];…Việc xây dựng ĐNGV cũng đã được một số công trình nghiên cứu,
đề cập. Tại Hội thảo Khoa học “Chất lượng giáo dục và vấn đề đào tạo giáo viên” do
Khoa Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức, nhiều báo cáo tham luận của các
tác giả như Trần Bá Hoành, Mai Trọng Nhuận, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Cảnh
Toàn, Lê Khánh Bằng, Đặng Xuân Hải cũng đã đề cập đến việc đào tạo ĐNGV trước
nhiệm vụ mới của giáo dục - đào tạo [27].
Tác giả Nguyễn Đức Trí trong Báo cáo tổng kết đề tài B99-52-36 (Hà Nội,
2000) “Nghiên cứu xây dựng mô hình đào tạo giáo viên kỹ thuật ở trình độ đại học
cho các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề” đã đề cập đến khía cạnh đào
tạo ĐNGV giảng dạy bậc trung học chuyên nghiệp và dạy nghề [55].
Những nhà nghiên cứu giáo dục và quản lí giáo dục thực tiễn rất quan tâm vấn
đề nâng cao chất lượng ĐNGV. Trong bài viết “Chất lượng giáo viên” đăng trên tạp
chí Giáo dục tháng 11/2001, tác giả Trần Bá Hoành đã đề xuất cách tiếp cận chất
lượng giáo viên từ các góc độ: đặc điểm lao động của người giáo viên, sự thay đổi
chức năng của người giáo viên trước yêu cầu đổi mới giáo dục, mục tiêu sử dụng giáo
viên, chất lượng từng giáo viên và chất lượng ĐNGV. Các thành tố tạo nên chất

lượng giáo viên là phẩm chất và năng lực. Theo tác giả Trần Bá Hoành, phẩm chất
của giáo viên biểu hiện ở thế giới quan, lòng yêu trẻ và yêu nghề; năng lực người
giáo viên bao gồm: năng lực chẩn đoán nhu cầu và đặc điểm đối tượng dạy học, năng
lực thiết kế kế hoạch, năng lực tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học, năng lực quan sát,
đánh giá kết quả các hoạt động dạy học, năng lực giải quyết những vấn đề nảy sinh
trong thực tế dạy học. Ba nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo viên là: quá trình
đào tạo - sử dụng - bồi dưỡng giáo viên, hoàn cảnh, điều kiện lao động sư phạm của
giáo viên, ý chí thói quen và năng lực tự học của giáo viên. Tác giả cũng đề ra ba giải
pháp cho vấn đề giáo viên: phải đổi mới công tác đào tạo, công tác bồi dưỡng và đổi
mới việc sử dụng giáo viên [36, tr.10].

12
Trong bài “Nghề và Nghiệp của người giáo viên” đăng tải trong Kỷ yếu Hội
thảo nâng cao chất lượng đào tạo toàn quốc lần thứ 2, tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã
đề cập tính chất nghề nghiệp của người giáo viên. Tác giả đã nhấn mạnh đến vấn đề
“lý tưởng sư phạm”, cái tạo nên động cơ cho việc thực hành nghề dạy học của giáo
viên, thôi thúc người giáo viên sáng tạo, thúc đẩy người giáo viên không ngừng học hỏi,
nâng cao trình độ. Từ đó, tác giả đề nghị cần phải xây dựng tập thể sư phạm theo mô
hình “đồng thuận” mà ở đó giáo viên trong quan hệ với nhau có sự chia sẻ “bí quyết nhà
nghề”; đồng thời, những yêu cầu về năng lực chuyên môn của người giáo viên là nền
tảng của mô hình đào tạo giáo viên thế kỷ XXI: sáng tạo và hiệu quả [27, tr.6].
Trong bài viết “Chất lượng giáo viên và những chính sách cải thiện chất lượng
giáo viên” đăng trên Tạp chí phát triển giáo dục số 2 năm 2003, tác giả Nguyễn
Thanh Hoàn đã trình bày khái niệm chất lượng giáo viên bằng cách phân tích kết quả
nghiên cứu về chất lượng giáo viên của các nước thành viên OECD. Tác giả đưa ra
những đặc điểm và năng lực đặc trưng của một giáo viên có năng lực qua sự phân tích
22 năng lực cụ thể trên góc độ tiếp cận năng lực giảng dạy và giáo dục. Tác giả cũng đề
cập những chính sách cải thiện và duy trì chất lượng giáo viên ở cấp vĩ mô và vi mô; từ
đó, tác giả nhấn mạnh đến ba vấn đề nguồn quyết định chất lượng giáo viên là: bản
thân người giáo viên, nhà trường, môi trường chính sách bên ngoài. [34, tr.6-9].

Trong thời kì đổi mới, vấn đề nâng cao chất lượng ĐNGV được Đảng và Nhà
nước ta coi là một trong các giải pháp cho việc phát triển giáo dục - đào tạo; để giáo
dục trở thành "quốc sách hàng đầu" trong sự nghiệp đổi mới đất nước; vừa đáp ứng
yêu cầu của sự nghiệp phát triển đất nước vừa nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo
dục. Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 đã xác định một trong
những giải pháp quan trọng để phát triển giáo dục quốc gia là: “Phát triển đội ngũ nhà
giáo đủ về số lượng, hợp lí về cơ cấu và chuẩn về chất lượng” [22]. Tác giả Trần
Kiều bàn về chất lượng giáo dục đã coi chất lượng ĐNGV là yếu tố quan trọng hàng
đầu và đặt ra vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục thì không thể không chú ý trước
hết về chất lượng ĐNGV đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và tay nghề ngày càng
được nâng cao [41, tr.7]
Trong chương trình đào tạo sau đại học chuyên ngành quản lý giáo dục, vấn đề
đội ngũ giáo viên cũng được triển khai nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống.
Nhiều luận văn tốt nghiệp đã chọn đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực quản lý nhân sự
trong giáo dục, trong đó có vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên. Các tác giả nghiên
cứu về vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên theo bậc học và ngành học trong đó chủ

13
yếu đề cập đến đội ngũ giáo viên của các trường đại học, cao đẳng và khối trường
Trung học chuyên nghiệp. Có thể kể đến nghiên cứu của tác giả Vũ Đình Chuẩn với
nghiên cứu về biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên Trung học chuyên nghiệp của
Thành phố Đà Nẵng [24]; Phát triển đội ngũ giáo viên tin học theo quan điểm chuẩn
hóa và xã hội hóa [25]; nghiên cứu của tác giả Nguyễn Công Chánh về giải pháp
quản lý phát triển đội ngũ giáo viên trường Cao đẳng sư phạm Bạc Liêu [16]. Nghiên
cứu về đội ngũ giáo viên còn được thực hiện dưới góc độ là nội dung của công tác
quy hoạch phát triển giáo dục của vùng, miền và lãnh thổ.
Thuật ngữ “Phát triển nghề nghiệp giáo viên” ở Việt Nam mới được sử dụng
trong thời gian gần đây khi áp dụng quản lí giáo viên theo chuẩn. Chuẩn nghề nghiệp
giáo viên xác định ở mức độ tay nghề của giáo viên trong suốt quá trình lao động
nghề nghiệp của họ, do đó, người giáo viên phải được liên tục phát triển nghề nghiệp

nhằm nâng cao mức độ đáp ứng của bản thân với chuẩn nghề nghiệp. Vì lý do đó,
những công trình nghiên cứu về phát triển nghề nghiệp giáo viên ở Việt Nam không
nhiều và thiếu tính hệ thống, đặc biệt là nghiên cứu về mô hình phát triển nghề
nghiệp giáo viên, trong đó có mô hình mạng lưới giáo viên cốt cán.
Năm 2011, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức Hội thảo khoa học về
xây dựng ĐNGV THPT chuyên. Trong Hội thảo này, nhiều nghiên cứu có liên quan
đến phát triển nghề nghiệp giáo viên THPT chuyên đã xác định 3 lí do cần đặt ra và
giải quyết vấn đề về ĐNGV cốt cán:
- Về nguyên lí, sự phát triển không diễn ra theo hàng ngang;
- Sự khác biệt về hiệu quả giảng dạy của giáo viên quyết định sự khác biệt về
kết quả học sinh hơn là những yếu tố khác;
- Có nhiều mô hình phát triển nghề nghiệp của giáo viên (trong đó có giáo viên
trường chuyên), một trong những mô hình đó là tổ chức mạng lưới giáo viên. Các
giáo viên cốt cán được tổ chức hình thành một mạng lưới thực hiện nhiệm vụ hướng
dẫn nghề nghiệp cho đồng nghiệp (không chỉ trong nội bộ trường mà mở rộng trong
mạng lưới các trường học).
Các báo cáo tham luận hội thảo cũng bước đầu xác định những dấu hiệu để
nhận biết giáo viên cốt cán bao gồm: Là chuyên gia môn học; Là chuyên gia sư
phạm; Là chuyên gia về khoa học sáng tạo; Là chuyên gia hướng dẫn, tư vấn. Kết quả
nghiên cứu này là có thể được phát triển trong xây dựng các tiêu chuẩn đối với giáo
viên cốt cán nói chung, giáo viên cốt cán cấp THPT nói riêng.

14
Như vậy, phát triển nghề nghiệp giáo viên là vấn đề được các nước quan tâm
đầu tư cho nghiên cứu và triển khai ứng dụng các kết quả nghiên cứu ở lĩnh vực này.
Có nhiều mô hình phát triển nghề nghiệp khác nhau. Kinh nghiệm của một số
quốc gia về phát triển nghề nghiệp giáo viên là những gợi ý có giá trị để áp dụng
trong quản lí phát triển đội ngũ giáo viên ở Việt Nam.
Ở Việt Nam, do tiếp cận vấn đề mới mẻ nên những công trình nghiên cứu về
vấn đề này chưa nhiều, thiếu hệ thống. Với thực trạng phát triển ĐNGV nước ta hiện

nay, mô hình mạng lưới giáo viên cốt cán cần được quan tâm nghiên cứu để sử dụng
ĐNGV cốt cán trong hỗ trợ đồng nghiệp phát triển nghề nghiệp.
Kết quả nghiên cứu tổng quan cũng cho thấy những vấn đề sau đây chưa được
nghiên cứu một cách sâu sắc:
1. Phát triển nghề nghiệp giáo viên của từng loại hình giáo viên. Cụ thể là quá
trình phát triển nghề nghiệp của giáo viên các cấp học; giáo viên các môn học đặc thù.
2. Mạng lưới giáo viên và huấn luyện/ hướng dẫn được xác định như 2 mô
hình trong phát triển nghề nghiệp giáo viên. Trong khi đó để thực hiện huấn luyện/
hướng dẫn phải cần đến các giáo viên có kinh nghiệm nghề nghiệp. Như vậy, vấn đề sử
dụng ĐNGV có kinh nghiệm trong hướng dẫn, phát triển nghề nghiệp giáo viên chưa
được nghiên cứu một cách cụ thể.
Theo đó, những vấn đề mà đề tài luận văn cần giải quyết là :
(1) Xây dựng khái niệm ĐNGV cốt cán, xác định các chức năng, nhiệm vụ của
đội ngũ này, từ đó xác định cụ thể các tiêu chí để lựa chọn, bồi dưỡng giáo viên tạo
thành ĐNGV cốt cán trong phát triển nghề nghiệp giáo viên THPT.

hiện được vai trò người huấn luyện, hướng dẫn đồng nghiệp trong phát triển nghề
nghiệp giáo viên.
(3) Xác định các điều kiện đảm bảo (chủ yếu về cơ chế chính sách) để ĐNGV
cốt cán có thể thực hiện tốt vai trò của mình trong hỗ trợ đồng nghiệp phát triển nghề
nghiệp giáo viên.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Giáo viên Trung học phổ thông
Theo Luật Giáo dục Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Nhà giáo là
người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác”,
“Nhà giáo ở các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp
gọi là giáo viên”. Như vậy, giáo viên là tên gọi chỉ nhà giáo thực hiện hoạt động dạy

15
học và giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục chuyên

nghiệp và dạy nghề. Theo đó, giáo viên thực hiện lao động nghề nghiệp của mình tại
các trường THPT được gọi là giáo viên THPT.
Giáo viên THPT phải có những tiêu chuẩn: a) Phẩm chất đạo đức, tư tưởng
tốt; b) Đạt trình độ chuẩn về đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ; c) Đủ sức khoẻ theo yêu
cầu nghề nghiệp; d) Lý lịch bản thân rõ ràng.
Nhiệm vụ của giáo viên THPT là: a) Giáo dục giảng dạy theo đúng chương
trình, kế hoạch; soạn bài, chuẩn bị thí nghiệm; kiểm tra, đánh giá; vào sổ điểm, ghi
học bạ đầy đủ; quản lý học sinh trong các hoạt động giáo dục; tham gia các hoạt động
của tổ chuyên môn. b) Tham gia công tác phổ cập giáo dục. c) Rèn luyện đạo đức,
học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ để nâng cao chất lượng và hiệu
quả giảng dạy, giáo dục. d) Thực hiện nghĩa vụ công dân, pháp luật của nhà nước và
điều lệ của nhà trường. đ) Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo. e) Phối
hợp các đoàn thể, tổ chức xã hội, gia đình học sinh trong các hoạt động giáo dục.
Giáo viên THPT được đảm bảo các quyền: a) Được nhà trường tạo điều kiện
để thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục. b) Được đảm bảo mọi quyền lợi về
vật chất, tinh thần; được chăm sóc sức khoẻ theo các chính sách, chế độ đối với nhà
giáo. c) Được trực tiếp hoặc thông qua tổ chức của mình tham gia quản lý nhà trường.
d) Được hưởng nguyên lương và phụ cấp khi được cử đi học để nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ. đ). Được hợp đồng thỉnh giảng và nghiên cứu khoa học theo
quy định. e) Được hưởng các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật.
1.2.2. Giáo viên cốt cán trường THPT và ĐNGV cốt cán trường THPT
1.2.2.1. Giáo viên cốt cán
Cụm từ “Giáo viên cốt cán” hiện nay đang được sử dụng rộng rãi trong xã hội
thông qua ngôn ngữ nói và viết, kể cả trong các văn bản quản lý nhà nước về giáo dục
mà Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
Khi sử dụng từ “cốt” và “cán” gắn với con người là nhằm chỉ Người hoặc
nhóm người làm nòng cốt cho một tổ chức.
Như vậy, khi nói đến giáo viên cốt cán là nói đến người quan trọng đang làm
công tác dạy học và giáo dục ở các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân;
nắm được và sử dụng đúng họ sẽ làm cho ĐNGV và cơ sở giáo dục phát triển.

Trong khuôn khổ nghiên cứu đề tài luận

×