Tải bản đầy đủ (.ppt) (26 trang)

Chuyên đề Phương pháp vận dụng Kiến thức liên môn trong dạy học các môn ở khối THCS

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.51 MB, 26 trang )


“ Vận dụng kiến thức liên môn trong
dạy học các bộ môn ở trường THCS”
Cụm vùng huyện trong năm học 2013 - 2014


- Dạy học liên môn là một trong những nguyên tắc quan trọng trong
dạy học. Đây được coi là một quan niệm dạy học hiện đại, nhằm
phát huy tính tích cực của học sinh, đồng thời nâng cao chất lượng
giáo dục trong các nhà trường.
-
Dạy học liên môn là hình thức tìm tòi những nội dung giao thoa
giữa các môn học với nhau, những khái niệm, tư tưởng chung giữa
các môn học, tức là con đường tích hợp những nội dung từ một số
môn học có liên hệ với nhau. Từ những năm 60 của thế kỉ XX,
người ta đã đưa vào giáo dục ý tưởng tích hợp trong việc xây dựng
chương trình dạy học. Tích hợp là một khái niệm của lí thuyết hệ
thống, nó chỉ trạng thái liên kết các phần tử riêng rẽ thành cái toàn
thể, cũng như quá trình dẫn đến trạng thái này.
-
Dạy học theo quan điểm liên môn có ba mức độ: ở mức độ thấp,
Mức độ cao và mức độ cao nhất.

- Dạy học vận dụng kiến thức liên môn giúp cho giờ học sẽ trở nên
sinh động hơn, vì không chỉ có giáo viên là người trình bày mà học
sinh cũng tham gia vào quá trình tiếp nhận kiến thức, từ đó phát
huy tính tích cực của học sinh.
- Dạy học liên môn cũng góp phần phát triển tư duy liên hệ, liên tưởng
ở học sinh. Tạo cho học sinh một thói quen trong tư duy, lập luận
tức là khi xem xét một vấn đề phải đặt chúng trong một hệ quy
chiếu, từ đó mời có thể nhận thức vấn đề một cách thấu đáo.



1- Cơ sở lý luận:
- “Những người theo quan điểm duy vật biện chứng khẳng định tính
thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ giữa các
sự vật, hiện tuợng. Các sự vật, hiện tuợng tạo thành thế giới, dù có
đa dạng, phong phú, có khác nhau bao nhiêu, song chúng đều chỉ
là những dạng khác nhau của vật chất. Nhờ có tính thống nhất đó,
chúng không thể tồn tại biệt lập, tách rời nhau, mà tồn tại trong sự
tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau theo những quan hệ xác
định. Chính trên cơ sở đó, triết học duy vật biện chứng khẳng định
rằng, liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác
động qua lại, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng
hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong thế
giới”
- Giữa các bộ môn khoa học xã hội có quan hệ với nhau như: Giữa
Lịch Sử- Văn Học, giữa Lịch Sử- Triết học, kiến thức của các môn
có thể bổ sung, hổ trợ cho nhau …

1- Cơ sở lý luận:
Vì vậy, vận dụng nguyên tắc liên môn trong dạy học các môn
học : VD như dạy học môn văn học hay Lịch Sử là việc thực hiện
tính kế thừa trong nhận thức các quá trình lịch sử dân tộc và thế
giới từ cổ đến kim, làm cho học sinh hiểu rõ sự phát triển của xã hội
một cách thống nhất, liên tục, tránh nhận thức rời rạc, tản mạn.
Đồng thời học sinh có thể thấy mối liên hệ hữu cơ giữa các lĩnh vực
của đời sống xã hội, giữa các môn học, từ đó phát triển tư duy cho
hoc sinh.

2- Cơ sở thực tiễn
- Nhìn chung trên thế giới, nhiều nước có xu hướng tích hợp các

môn học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội như Lịch sử, Địa lí, Giáo
dục công dân…để tạo thành môn học mới, với hình thức tích hợp
liên môn và tích hợp xuyên môn. Xu hướng thứ hai là việc thực
hiện quan điểm tích hợp nhưng không tạo môn học mới. Đại diện
cho xu hướng này là Cộng hòa Liên bang Đức; Hà Lan…
- Ở Việt Nam, thời Pháp thuộc quan điểm tích hợp đã được thể hiện
trong một số môn học của trường tiểu học.Từ những năm 1987,
việc nghiên cứu xây dựng môn Tự nhiên – xã hội theo quan điểm
tích hợp đã được thực hiện và đã được thiết kế đưa vào dạy học từ
lớp 1 đến lớp 5. Cho đến nay việc nghiên cứu quan điểm tích hợp
trong quá trình dạy học chưa được thực hiện một cách hệ thống,
đầy đủ, đặc biệt là ở bậc trung học. Tuy nhiên trong những năm
gần đây, do yêu cầu của xã hội, nhiều nội dung mới đã được tích
hợp vào môn học.

2- Cơ sở thực tiễn
Khi thực hiện môn học tích hợp có ưu điểm sau: Làm cho qúa trình
học tập có ý nghĩa; Xác đinh rõ mục tiêu, phân biệt cái cốt yếu và
cái ít quan trọng hơn; Dạy học sử dụng kiến thức trong tình huống;
Lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã học; Tránh những kiến thức,
kỹ năng trùng lặp; Các kiến thức gắn liền với kinh nghiệm sống của
học sinh; Có điều kiện phát triển kỹ năng chuyên môn. Tuy nhiên
khi thực hiện môn tích hợp cũng gặp phải những khó khăn như:
Còn mới đối với các nhà trường, với giáo viên, với phương diện
quản lý, tâm lý học sinh và phụ huynh cũng như các nhà khoa học
của mỗi bộ môn; Các chuyên gia, các nhà sư phạm đào tạo giáo
viên trong các trường sư phạm, các chuyên viên phụ trách môn
học, họ khó có thể chuyển đổi từ chuyên môn sang lĩnh vực mới
cần sự kết hợp với chuyên ngành khác mà họ đã gắn bó; Giáo viên
và các cán bộ thanh tra, chỉ đạo thường gắn theo môn học, không

dễ gì có thể yêu cầu họ thực hiện chương trình tích hợp các môn
học; Phụ huynh học sinh và những người lớn khó có thể ủng hộ
những chương trình khác với chương trình mà họ có đã được học.

3- Thực trạng của vấn đề dạy học liên môn hiện nay:
- Hiện nay giáo viên rất tích cực trong việc đổi mới phương pháp, vận dụng
quan điểm dạy học liên môn vào giảng dạy các bộ môn để nâng cao hơn
nữa hiệu quả giáo dục. Giáo viên đã nêu ra những thuận lợi cũng như khó
khăn khi vận dụng quan niệm dạy học này là số học sinh có hứng thú tìm
hiểu kiến thức các bộ môn nhất là các bộ tự nhiên ngày càng nhiều hơn,
sách giáo khoa được trình bày theo hướng “ mở”.Tuy nhiên, việc vân dụng
quan niệm dạy học này cũng gặp phải những khó khăn nhất định như điều
kiện dạy học còn nhiều hạn chế, thiếu thốn, do lượng kiến thức nhiều song
thời gian học cho các môn thì ít; đời sống của giáo viên còn thấp. Học sinh
ít hứng thú với các môn xã hội.
- Mặc dù, quan niệm dạy học liên môn đã được vận dụng vào giảng dạy lịch
sử, song hiệu quả đạt được là chưa cao. Do đó phần lớn học sinh hiện nay
có thái độ bình thường, chưa phát huy được tính tích cực trong học tập.
- Vì vậy với chuyên đề này, không tham vọng gì nhiều, chúng tôi chỉ muốn
đưa ra một số nội dung cơ bản, trong việc vận dụng kiến thức của các bộ
môn cụ thể để giải quyết vấn đề nảy sinh trong quá trình dạy học.

- Trong quá trình học tập ở nhà trường, các em sẽ được học các
môn học bao gồm các môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.
Khoa học tự nhiên gồm các môn: Toán, Lí, Hóa, Sinh, Địa…, và
khoa học xã hội gồm: Văn, Sử GDCD, Mỹ thuật… Giữa các bộ môn
trong nhóm có quan hệ với nhau.
- Ví như giữa Văn Học và Lịch Sử có liên hệ, kiến thức môn này sẽ
hỗ trợ cho môn kia, văn học sẽ cung cấp cho ta những tư liệu lịch
sử mà nhờ đó học sinh có thể nhận thức một cách rõ ràng, như khi

học tác phẩm Tắt Đèn của Ngô Tất Tố, học sinh sẽ hiểu về những
thuế, những sưu mà nhân dân phải gánh chịu, hiểu được những
chính sách áp bức, bóc lột của thực dân Pháp, đặc biệt hiểu và
thông cảm sâu sắc cho tình cảnh người nông dân Việt Nam, làm
việc cực nhọc “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” nhưng vẫn
không đủ sống, mà tôi nghĩ là bằng ngôn từ của mình giáo viên khó
có thể khắc họa hết những tủi nhục, những đắng cay mà người dân
phải gánh chịu trong thời kỳ pháp thuộc. Và cũng khó tìm thấy một
ngôn từ nào để diễn tả cho hết sức mạnh như vũ bão của quân ta
trong cuộc kháng chiến chống Minh xâm lược hơn những lời thơ
của Nguyễn Trãi:

Đánh một trận sạch không kình ngạc,
Đánh hai trận tan tác chim muông
Cơn gió to trút sạch lá khô
Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ
( Bình Ngô đại cáo- Nguyễn Trãi)
- Nguợc lại, Lịch sử cũng góp phần giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn về Văn
Học, như phải hiểu hoàn cảnh tác phẩm đó ra đời như thế nào mới hiểu hết
được dụng ý nghệ thuật cũng như nội dung sâu sa mà tác giả muốn gửi
đến người đọc là gì. Hay như giữa môn Địa Lí và lịch sử chẳng hạn, điều
kiện tự nhiên sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của lịch sử các nước, hiểu
được vị trí địa lí, ta sẽ giải thích được vì sao quân dân ta lại ba lần đánh
thắng quân xâm lược trên sông Bạch Đằng. Nói về sự hỗ trợ của Lịch sử
đối với các môn học khác, G. Elton đã nói “Nhà sử học cũng có thể dạy cho
các khoa học khác rất nhiều điều. Anh ta có thể giúp các khoa học này hiểu
thế giới quan của nhiều phương án xây dựng sơ đồ, vạch rõ những mối
quan hệ tương hỗ mà một chuyên môn hẹp khó nhận thấy, giúp các khoa
học xã hội hiểu rằng đối tượng mà chúng có quan hệ là những con người.
Trong khi tiếp nhận các khoa học khác tính chính xác và tầm rộng của sự

khái quát, đồng thời Lịch Sử có thể hoàn thành nghĩa vụ của mình bằng
cách xây dựng một thái độ nghiêm túc đối với các tài liệu và tránh những
khái quát không có cơ sở vững chắc”

-
Giữa khoa học tự nhiên và khoa học xã hội cũng có quan hệ gắn bó
với nhau, như môn Vật Lí bằng phương pháp phóng xạ cacbon đã
giúp xác định niên đại các di vật cổ xưa. Hóa Học, sinh học, toán
học còn giúp cho môn ngữ văn giải quyết các vấn đề nảy sinh trong
các văn bản nhật dụng. Ví dụ như: Khi giảng bài “ Ôn dịch thuốc lá”,
giáo viên có thể dùng kiến thức hóa học để làm rõ các chất có trong
thuốc lá; kiến thức môn sinh để thấy chất độc có trong thuốc lá có
hại cho sức khỏe con người như thế nào? Các phép tính còn giúp
cho các em thấy được hút thuốc lá không những có hại cho sức
khỏe mà còn tiêu tốn tiền bạc; Môn GDCD giúp các em hiểu được
tác hại từ hút thuốc lá dẫn đến hủy hoại về đạo đức, nhân cách…
- Hay dạy học liên môn giữa môn lịch sử với môn Mỹ thuật. Đây là một
phương pháp dạy học hiện đại trong dạy học Lịch Sử, giúp học sinh
phát triển toàn diện về mọi mặt áp dụng vào giảng các bài tìm hiểu
về văn hóa xã hội các thời kỳ lịch sử. Ví dụ như bài “Phong trào văn
hóa phục hưng” Giáo viên có thể đưa ra những tranh, ảnh thể hiện
hiện nội dung của phong trào văn hóa Phục Hưng, sau đó sẽ giải
thích về những nội dung được thể hiện trong tranh. Cuối cùng, đặt
một số câu hỏi giúp học sinh nhận thức vấn đề và rút ra kết luận
cần thiết.

- Hoặc chúng ta có thể liên hệ các khái niệm vật lí liên quan đến
môi trường như: tiết kiệm, hiệu suất, năng lượng, phân loại năng
lượng, phân loại nguồn gốc năng lượng, năng lượng tái sinh và
không tái sinh. Liên hệ kiến thức vật lí liên quan đến các yếu tố

tác động đến sự suy thoái và ô nhiễm môi trường: Liên hệ kiến thức
vật lí đến sự biến đổi khí hậu toàn cầu : hiệu ứng nhà kính, hiện
tượng băng tan… Liên hệ các kiến thức vật lí đến các hành động
bảo vệ môi trường như : các biện pháp chống ô nhiễm tiếng ồn
(trong phần sóng âm), các biện pháp tiết kiệm năng lượng, các biện
pháp chống thất thoát nhiệt lượng, năng lượng; các biện pháp tiết
kiệm vật dụng, tăng hiệu suất và tuổi thọ của các thiết bị.

Và đặc biệt là ta có thể giải thích câu tục ngữ bằng kiến thức hóa
học: Ví dụ: “ Nước chảy đá mòn” mang ý nghĩa hóa học gì?
Như chúng ta đã biết: Thành phần chủ yếu của đá là CaCO3
(Canxi cacbonat). Khi gặp nước mưa và khí CO2 (Cacbonic) trong
không khí, CaCO3 sẽ chuyển hoá thành Ca(HCO3)2 (muối Canxit
hidrocacbonat). Theo Phương trình Hóa học sau:
CaCO3 + CO2 + H2O → Ca(HCO3)2
Tức là: Khi nước chảy cuốn theo Ca(HCO3)2, theo nguyên lí dịch
chuyển cân bằng thì cân bằng sẽ chuyển dịch theo phía phải. Kết
quả là sau một thời gian nước đã làm cho đá bị bào mòn dần.
Áp dụng: Hiện tượng này thường thấy ở những phiến đá có dòng
nước chảy qua. Do hiện tượng xảy ra chậm nên phải thật sự chú ý
chúng ta mới nhận ra điều này. Hiểu được điều này giúp học sinh
biết được dụng ý khoa học của câu tục ngữ có từ xa xưa và làm
cho hóa học trở nên rất gần gũi hơn trong cuộc sống đời thường.
Giáo viên có thể liên hệ vấn đề này ở phần “Muối cacbonat ”(Tiết
39 hóa lớp 9).

Để nâng cao hiệu quả của môn học tích hợp, chúng tôi đã đưa
ra một số phương pháp để dạy học tích hợp như sau:
- Dạy học theo dự án.
- Phương pháp trực quan.

- Phương pháp thực địa.
- Phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề.
Trong các phương pháp trên, chúng ta thường sử dụng phương
pháp thứ tư đó là: Phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề.

Phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề là phương
pháp dạy học trong đó GV tạo ra những tình huống có vấn đề, điều
khiển HS phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực, chủ động,
sáng tạo để giải quyết vấn đề và thông qua đó chiếm lĩnh tri thức,
rèn luyện kĩ năng và đạt được nhũng mục đích học tập khác. Đặc
trưng cơ bản của phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn là
“tình huống gợi vấn đề” vì “Tư duy chỉ bắt đầu khi xuất hiện tình
huống có vấn đề”
Tình huống có vấn đề (tình huống gợi vấn đề) là một tình
huống gợi ra cho HS những khó khăn về lý thuyết hay thực tiễn mà
họ thấy cần có khả năng vượt qua, nhưng không phải ngay tức
khắc bằng một thực giải, mà phải trải qua quá trình tích cực suy
nghĩ, hoạt động để biến đổi đối tượng hoạt động hoặc điều khiển
kiến thức sãn có.
Đây chính là một trong những hình thức dạy học vận dụng
kiến thức liên môn để giải quyết những vấn đề đặt ra trong bài học.

Giáo án giờ học vận dụng kiến thức liên môn không phải là
một bản đề cương kiến thức để giáo viên lên lớp giảng giải, truyền
thụ áp đặt cho học sinh, mà là một bản thiết kế các hoạt động, thao
tác nhằm tổ chức cho HS thực hiện trong giờ lên lớp để lĩnh hội tri
thức, phát triển năng lực và nhân cách theo mục đích giáo dục và
giáo dưỡng của bộ môn.
Đó là bản thiết kế gồm hai phần hợp thành hữu cơ: Một là, hệ
thống các tình huống dạy học được đặt ra từ nội dung khách quan

của bài dạy, phù hợp với tính chất và trình độ tiếp nhận của học
sinh. Hai là, một hệ thống các hoạt động, thao tác tương ứng với
các tình huống trên do giáo viên sắp xếp, tổ chức hợp lí nhằm
hướng dẫn HS từng bước tiếp cận, chiếm lĩnh bài học một cách tích
cực và sáng tạo.
Thiết kế giáo án giờ học vận dụng kiến thức liên môn phải
bám chặt vào những kiến thức các bộ môn có liên quan.

Thiết kế giáo án giờ học vận dụng kiến thức liên môn phải
bảo đảm nội dung và cấu trúc đặc thù nhưng không gò ép vào một
khuôn mẫu cứng nhắc mà cần tạo ra những chân trời mở cho sự
tìm tòi sáng tạo trong các phương án tiếp nhận của học sinh , trên
cơ sở bảo đảm được chủ đích, yêu cầu chung của giờ học.
Nội dung dạy học của thiết kế giáo án giờ học vận dụng kiến
thức liên môn phải làm rõ những tri thức và kĩ năng cần hình thành,
tích luỹ cho HS qua phân tích, chiếm lĩnh bài văn; mặt khác, phải
chú trọng nội dung tích hợp giữa tri thức bộ môn mình dạy với các
bộ môn khác.
Giáo án giờ học vận dụng kiến thức liên môn theo quan điểm
tích hợp phải chú trọng thiết kế các tình huống tích hợp và tương
ứng là các hoạt động phức hợp để học sinh vận dụng phối hợp các
tri thức và kĩ năng của các phân môn vào xử lí các tình huống đặt
ra, qua đó chẳng những lĩnh hội được những tri thức và kĩ năng
riêng rẽ của từng phân môn mà còn chiếm lĩnh tri thức và phát triển
năng lực tích hợp.

Tổ chức giờ học trên lớp là tiến trình thực thi bản kế hoạch phối hợp
hữu cơ hoạt động của giáo viên và học sinh theo một cơ cấu sư phạm hợp
lí, khoa học, trong đó giáo viên giữ vai trò, chức năng tổ chức, hướng dẫn,
định hướng chứ không phải truyền thụ áp đặt một chiều. học sinh được đặt

vào vị trí trung tâm của quá trình tiếp nhận, đóng vai trò chủ thể cảm thụ,
nhận thức thẩm mĩ, trực tiếp tiến hành hoạt động tiếp cận, khám phá,
chiếm lĩnh kiến thức. Ví dụ trong văn học, ta phải chuyển tác phẩm của nhà
văn vào trong tư duy, cảm xúc của mình, biến tác phẩm thành thế giới tinh
thần, tình cảm của riêng mình để tự nhận thức, tự giáo dục và phát triển
theo mục đích định hướng giáo dục của giáo viên.
Tổ chức hoạt động đọc hiểu vận dụng kiến thức liên môn trên lớp,
giáo viên phải chú trọng mối quan hệ giữa học sinh và nội dung dạy học,
phải coi đây là mối quan hệ cơ bản, quan trọng nhất trong cơ chế giờ học.
Muốn vậy, giáo viên phải từ bỏ vai trò, chức năng truyền thống là truyền
đạt kiến thức có sẵn cho học sinh, còn học sinh không thể duy trì thói quen
nghe giảng, ghi chép, học thuộc, rồi “làm văn” theo lối tái hiện, sao chép,
làm thui chột dần năng lực tư duy trên văn bản, khả năng tự đọc, tự tìm tòi,
xử lí thông tin, tổ chức các kiến thức một cách sáng tạo.

Quan điểm dạy học vận dụng kiến thức liên môn hay dạy cách học,
dạy tự đọc, tự học không coi nhẹ việc cung cấp tri thức cho học sinh. Vấn
đề là phải xử lí đúng đắn mối quan hệ giữa bồi dưỡng kiến thức, rèn luyện
kĩ năng và hình thành, phát triển năng lực, tiềm lực cho học sinh. Đây thực
chất là biến quá trình truyền thụ tri thức thành quá trình học sinh tự ý thức
về phương pháp chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng. Muốn vậy, chẳng
những cần khắc phục khuynh hướng dạy tri thức hàn lâm thuần tuý và
khắc phục khuynh hướng rèn luyện kĩ năng theo lối kinh nghiệm chủ nghĩa,
coi nhẹ kiến thức, nhất là kiến thức phương pháp.
* Tóm lại, “Quan điểm dạy học vận dụng kiến thức liên môn cần
được hiểu toàn diện và phải được quán triệt trong toàn bộ môn học; quán
triệt trong mọi khâu của quá trình dạy học; quán triệt trong mọi yếu tố của
hoạt động học tập; tích hợp trong chương trình, tích hợp trong sách giáo
khoa, tích hợp trong phương pháp dạy học của giáo viên và tích hợp trong
hoạt động học tập của học sinh; tích hợp trong các sách đọc thêm, tham

khảo. Quan điểm “lấy học sinh làm trung tâm” đòi hỏi thực hiện việc tích
cực hoá hoạt động học tập của học sinh trong mọi mặt, trên lớp và ngoài
giờ; tìm mọi cách phát huy năng lực tự học của học sinh, phát huy tinh thần
dân chủ, bồi dưỡng lòng tin cho học sinh thì các em mới tự tin và học tốt
được.

Quan điểm dạy học vận dụng kiến thức liên môn hay dạy cách học,
dạy tự đọc, tự học không coi nhẹ việc cung cấp tri thức cho học sinh. Vấn
đề là phải xử lí đúng đắn mối quan hệ giữa bồi dưỡng kiến thức, rèn luyện
kĩ năng và hình thành, phát triển năng lực, tiềm lực cho học sinh. Đây thực
chất là biến quá trình truyền thụ tri thức thành quá trình học sinh tự ý thức
về phương pháp chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng. Muốn vậy, chẳng
những cần khắc phục khuynh hướng dạy tri thức hàn lâm thuần tuý và
khắc phục khuynh hướng rèn luyện kĩ năng theo lối kinh nghiệm chủ nghĩa,
coi nhẹ kiến thức, nhất là kiến thức phương pháp.
* Tóm lại, “Quan điểm dạy học vận dụng kiến thức liên môn cần
được hiểu toàn diện và phải được quán triệt trong toàn bộ môn học; quán
triệt trong mọi khâu của quá trình dạy học; quán triệt trong mọi yếu tố của
hoạt động học tập; tích hợp trong chương trình, tích hợp trong sách giáo
khoa, tích hợp trong phương pháp dạy học của giáo viên và tích hợp trong
hoạt động học tập của học sinh; tích hợp trong các sách đọc thêm, tham
khảo. Quan điểm “lấy học sinh làm trung tâm” đòi hỏi thực hiện việc tích
cực hoá hoạt động học tập của học sinh trong mọi mặt, trên lớp và ngoài
giờ; tìm mọi cách phát huy năng lực tự học của học sinh, phát huy tinh thần
dân chủ, bồi dưỡng lòng tin cho học sinh thì các em mới tự tin và học tốt
được.

Văn bản : ÔN DỊCH, THUỐC LÁ
-Nguyễn Khắc Viện-




×