Tải bản đầy đủ (.doc) (29 trang)

nâng cao tính tích cực của học sinh qua hướng dẫn luyện tập môn đại số lớp 7

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (195.26 KB, 29 trang )

BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Tên đề tài: “Nâng cao tính tích cực của học sinh qua hướng dẫn luyện
tập môn Đại số lớp 7
“.
Họ và tên tác giả: Bùi Thị Lý
Đơn vị công tác: Trường THCS Bàu Năng.
1/. Lí do chọn đề tài:
Nhằm trang bị cho học sinh kiến thức về môn toán và rèn kỹ năng giải
toán cho học sinh qua tiết luyện tập là rất quan trọng, học sinh tích cực chủ
động học tập tư duy sáng tạo hoàn thiện kiến thức.
Thực hiện nhiệm vụ năm học 2010 - 2011 dạy học - kiểm tra đánh giá
theo Chuẩn kiến thức kỹ năng, giáo viên phát huy khả năng sáng tạo trong
đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập
của học sinh nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy.
2/. Đối tượng, phương pháp nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu cách hướng dẫn học sinh lớp 7
trường THCS Bàu Năng luyện tập môn Đại số theo hướng phát huy tính
tích cực của học sinh.
Phương pháp nghiên cứu:
+ Nghiên cứu, tham khảo tài liệu chuyên môn về những vấn đề có liên
quan.
+ Trao đổi học hỏi kinh nghiệm với các bạn đồng nghiệp qua dự giờ,
họp tổ bộ môn.
+ Tìm hiểu thực trạng học sinh, thu thập, thống kê và đối chiếu số liệu.
+ Tham khảo tài liệu ở các sách, báo, trên mạng Internet.
3/. Đề tài đưa ra giải pháp mới:
Tích cực hóa các hoạt động học tập của học sinh thông qua tiết luyện
tập theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh.
Học sinh được luyện tập một cách tích cực chủ động và sáng tạo thông
qua tiết luyện tập.
4/. Hiệu quả áp dụng:


Giáo viên: Thực hiện đổi mới phương pháp. Vận dụng được phương
pháp dạy học tích cực đạt hiệu quả. Đáp ứng được mục tiêu giáo dục toàn
diện học sinh.
Học sinh: Tiếp thu và vận dụng kiến thức một cách chủ động, sáng tạo.
Phát triển các hoạt động tư duy học sinh: phân tích, quan sát, dự đoán,
tổng hợp,…
5/. Phạm vi áp dụng:
- Áp dụng giải pháp đối với bộ môn Toán trường THCS Bàu Năng.
- Áp dụng giải pháp đối với bộ môn Toán các đơn vị bạn.
1
Dương Minh Châu, ngày 20 tháng
03 năm 2011
Người thực
hiện
Bùi Thị

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài:
Trong quá trình giảng dạy môn Toán, điều tâm đắc nhất của mỗi người
giáo viên là việc rèn luyện cho học sinh cách nắm bắt và vận dụng kiến
thức vào giải toán, vào thực hành, giúp học sinh phát triển trí thông minh,
niềm tin vững chắc vào khoa học, phát triển tư duy logic, rèn luyện cho học
sinh tính độc lập, tự tìm tòi sáng tạo giúp học sinh có lòng yêu thích bộ
môn. Vấn đề ở đây là làm thế nào để học sinh hứng thú khi học tiết toán
nói chung và say mê giải toán trong tiết luyện tập nói riêng do đó người
giáo viên phải biết phát huy khả năng sáng tạo trong đổi mới phương pháp
dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh để giờ học đạt chất
lượng cao.
Thực hiện nhiệm vụ năm học 2010-2011 dạy học - kiểm tra đánh giá
theo chuẩn kiến thức kỹ năng trong chương trình giáo dục phổ thông đổi

mới phương pháp dạy học đã được thống nhất theo tư tưởng tích cực hóa
hoạt động học tập của học sinh dưới sự tổ chức hướng dẫn của giáo viên:
học sinh tự giác chủ động tìm tòi, phát hiện, giải quyết vấn đề hoàn thành
nhiệm vụ nhận thức và có ý thức vận dụng linh hoạt, sáng tạo các kiến
thức kĩ năng đã thu nhận được.
Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy tình trạng học sinh giải toán Đại số
như sau: Đứng trước một bài toán thường không biết làm gì? không biết đi
từ đâu và đi theo hướng nào? Không biết liên hệ những điều nêu trong đề
bài với kiến thức đã học. Do đó nhằm phát huy tính tích cực chủ động sáng
tạo của học sinh trong học tập bộ môn, giáo viên cần hướng dẫn giải bài
tập ở tiết luyện tập một cách linh hoạt, sáng tạo, có định hướng khoa học
đạt hiệu quả, chính xác, logic thông qua việc vận dụng hợp lý các kỹ thuật
dạy học tích cực.
Vì muốn đổi mới cách học, phải đổi mới cách dạy, cách dạy của giáo
viên quyết định cách học của học sinh. Tuy nhiên thói quen học tập của học
sinh cũng ảnh hưởng đến cách dạy của giáo viên. Mặt khác có những
trường hợp học sinh muốn được học theo phương pháp dạy học tích cực
nhưng giáo viên chưa đáp ứng được. Do vậy, tôi nhận thấy cần phải tự bồi
dưỡng, phải luôn tìm tòi, đúc rút kinh nghiệm, cải tiến phương pháp giảng
2
dạy theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh để nâng cao chất
lượng học tập của học sinh, nhất là chất lượng giảng dạy môn toán.
Xuất phát từ thực tế khách quan là khả năng học tiết Luyện tập môn Đại
số lớp 7A1 của học sinh lớp tôi chưa đồng đều, còn lúng túng và thụ động
trong giải toán nên ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giảng dạy bộ
môn. Vì vậy, để giúp học sinh lớp 7A1 có những phương pháp học tập
cũng như hứng thú khi học tiết luyện tập và cũng nhằm nâng cao hơn chất
lượng dạy tôi chọn đề tài: “Nâng cao tính tích cực của học sinh qua hướng
dẫn luyện tập môn Đại số lớp 7
“.

2. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu cách hướng dẫn học sinh lớp 7 trường THCS Bàu Năng
Luyện tập môn Đại số theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh
nhằm thực hiện đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông và giúp
học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo rèn luyện thói
quen khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào
những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Giải pháp nâng cao hứng thú học tập môn toán cho học sinh lớp 7A1
thông qua tiết luyện tập môn Đại số theo hướng phát huy tính tích cực của
học sinh.
- Lớp nghiên cứu: Lớp 7A1
- Lớp đối chứng: Lớp 7A3
4. Phương pháp nghiên cứu:
Đọc và nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu: giúp
tôi có cơ sở lí luận để phân tích các bài tập, các dữ kiện có liên quan.
Dự giờ, học hỏi trao đổi các đồng nghiệp: tìm hiểu giáo viên khác cách
hướng dẫn học sinh khai thác bài toán có hiệu quả ra sao, qua đó rút kinh
nghiệm cho bản thân.
Điều tra, đàm thoại, tìm hiểu thực trạng học sinh.
Kiểm tra đối chiếu, so sánh, điều chỉnh bổ sung.
Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện, so sánh kết quả giữa lớp nghiên cứu
và lớp đối chứng.
5. Giả thuyết khoa học:
Các giờ học môn Toán nói chung sẽ khô khan, trừu tượng khó hiểu khi
mà giáo viên chưa phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, chưa
cuốn hút được học sinh vào các hoạt động tự khám phá tìm tòi phát hiện
hướng giải quyết vấn đề, còn áp đặt trong giải toán dẫn đến học sinh vận
dụng kiến thức còn thụ động phụ thuộc theo cách làm của giáo viên, dễ
gây tâm lý ngại học môn Toán vì thấy khó, không biết tìm hướng giải hay.

Nhưng nếu giáo viên hướng dẫn cho học sinh luyện tập môn đại số theo
hướng phát huy tính tích cực, làm cho học sinh được chủ động trong các
hoạt động toán học đa dạng phong phú thì tiết luyện tập sẽ trở nên sinh
3
động, tạo được niềm say mê hứng thú trong học tập cho học sinh, giúp các
em chủ động trong tìm lời giải bài toán và biết cách vận dụng kiến thức một
cách nhanh chóng, hiệu quả, sáng tạo.
Chính vì vậy tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nâng cao tính tích cực
của học sinh qua hướng dẫn luyện tập môn Đại số lớp 7 ”.
4
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận:
1.1.Các văn bản chỉ đạo của cấp trên:
Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số
16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5 / 5 / 2006 của Bộ trưởng Bộ GDĐT đã nêu:
“Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù
hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của
từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp
tác; rèn luyện kỉ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình
cảm, đem lại niền vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh".
Luật giáo dục sửa đổi năm 2010 đã nêu rõ: “Phương pháp giáo dục
phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người
học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành lòng
say mê học tập và ý chí vươn lên".
1.2.Các quan niệm khác về giáo dục:
Các quan niệm về phương pháp dạy học tính tích cực: Phương pháp
dạy học tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động chủ động trái với không
hoạt động, thụ động. Kĩ thuật dạy học tích cực là "hạt nhân" của phương
pháp dạy học tích cực hướng tới việc tích cực hóa hoạt động nhận thức
của học sinh, nghĩa là hướng vào phát huy tính tích cực, chủ động của

người học chứ không chỉ hướng vào việc phát huy tính tích cực của người
dạy.
Các phương pháp dạy học tích cực được thể hiện qua các đặc trưng
như: dạy học tăng cường phát huy tính tự tin, tích cực chủ động sáng tạo
thông qua tổ chức thực hiện các hoạt động học tập của học sinh, chú trọng
rèn luyện phương pháp và phát huy năng lực tự học của học sinh, phân
hóa kết hợp với học tập hợp tác kết hợp đánh giá của thầy, của bạn và tự
đánh giá, khả năng vận dụng vào thực tế đem lại niềm vui tạo hứng thú
trong học tập.
Đặc trưng của môn Toán: Môn Toán là một môn khoa học tự nhiên,
trong môn toán “Dạy học toán thực chất là dạy hoạt động toán học". Đối với
học sinh có thể xem giải toán là hình thức chủ yếu của hoạt động Toán
học. Trong dạy học toán, mỗi bài tập toán học được sử dụng với những
dụng ý khác nhau, có thể dùng tạo tiền đề xuất phát, để gợi động cơ, để
làm việc với nội dung mới,…đều hướng tới việc thực hiện các mục đích
dạy học cho nên một trong những mục tiêu đặt ra là học sinh phải biết vận
dụng kiến thức đã học vào giải bài tập các dạng toán trong chương trình
một cách linh hoạt. Để học sinh có được kỹ năng giải toán thật tốt giáo viên
5
cần phải có phương pháp thích hợp định hướng cho các em tư duy hợp lý
để tìm ra hướng giải quyết bài tập.
Tiến trình giải một bài Toán thường liên quan đến các bước sau:
+ Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài toán.
+ Bước 2: Xây dựng chương trình giải.
+ Bước 3: Thực hiện chương trình giải.
+ Bước 4: Kiểm tra và nghiên cứu lời giải.
Mục tiêu của dạy học môn toán: Mục tiêu của bộ môn toán là tính
toán bước đầu hình thành khả năng vận dụng kiến thức toán học vào đời
sống và các môn học khác để hiểu biết và vận dụng toán học yêu cầu các
em phải biết tính toán nhưng làm được điều này cũng không đơn giản, hiện

nay giáo viên còn dạy theo lối dạy truyền thống một chiều còn áp đặt các
kiến thức có sẵn trong giải toán chưa quan tâm đến đối tượng học sinh yếu
mà chỉ chú trọng đến học sinh khá và năng động chính vì lẻ đó nên hiệu
quả các tiết luyện tập chưa cao thậm chí học sinh bị cảm thấy phụ thuộc
theo cách làm của giáo viên dẫn đến việc học sinh ngại học toán Như
vậy, để quá trình dạy học môn toán đạt hiệu quả cao chúng ta cần có
những hướng đi mới những thủ pháp mới để kích thích khả năng nhận
thức và hứng thú cho học sinh.
2. Cơ sở thực tiễn:
2.1.Thực tiễn vấn đề nghiên cứu:
Qua khảo sát chất lượng đầu năm và thực tế giảng dạy cũng như dự
giờ các đồng nghiệp trong nhà trường tôi nhận thấy tiết luyện tập môn Đại
số 7 còn mang cảm giác hết sức nặng nề, chưa hấp dẫn được học sinh, đa
số học sinh cho rằng đây là môn học khó, trừu tượng khô khan và khó hiểu,
học sinh nỗ lực học tập không vì yêu thích môn Toán học mà vì để hoàn
thành nhiệm vụ học tập.
Thực trạng của việc dạy học các tiết luyện tập nói chung và tiết đại số
nói riêng còn các mặt hạn chế cụ thể như sau:
Đối với học sinh:
+ Học sinh chưa tích cực suy nghĩ chủ động tham gia vào giải toán,
chưa mạnh dạn trình bày và bảo vệ ý kiến quan điểm cá nhân chưa biết
đánh giá và tự đánh giá các sản phẩm hoạt động của bản thân và bạn bè.
+ Đa số học sinh dạng trung bình - yếu hay quên kiến thức cũ, kiến thức
cơ bản, chưa có kỹ năng trong độc lập suy nghĩ, phân tích tìm tòi cách giải
và trình bày bài giải bài tập một cách logic khoa học, dẫn đến các em cho
rằng bài tập khó, không giải được, ngại học môn toán.
Đối với giáo viên:
+ Giáo viên chưa thiết kế tổ chức hướng dẫn học sinh hoạt động trong
tiết luyện tập với các hình thức đa dạng phong phú có sức hấp dẫn và phù
hợp với đặc trưng của từng tiết, với đặc điểm và trình độ của học sinh cụ

thể trong từng lớp.
6
+ Giáo viên chưa quan tâm đến đối tượng học sinh yếu không mạnh
dạn mà chỉ chú trọng đến học sinh khá và năng động.
+ Chưa tạo cơ hội cho học sinh tham gia một cách tích cực, chủ động
và sáng tạo trong quá trình lĩnh hội kiến thức.
Ngoài ra do điều kiện dạy học ở từng địa phương nên giáo viên chưa sử
dụng triệt để các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học hợp lí.
2.2. Sự cần thiết của đề tài:
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên về tình hình học sinh không biết
giải toán đại số nên bản thân tôi nghiên cứu ra đề tài này để giúp học sinh
lớp 7 luyện tập môn Đại số theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh
nhằm nâng cao hơn chất lượng giảng dạy môn Toán ở trường THCS Bàu
Năng.
Cũng nhằm thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học
theo: “Phương pháp dạy học tích cực". Nhằm giúp học sinh phát huy tính
tích cực, tự giác chủ động sáng tạo rèn luyện thói quen và khả năng tự học
vận dụng kiến thức vào giải bài tập một cách linh hoạt.
3. Nội dung vấn đề:
3.1.Vấn đề đặt ra là làm thế nào để nâng cao tính tích cực của học sinh
qua hướng dẫn luyện tập môn Đại số lớp 7 ở trường THCS Bàu Năng:
Phát huy tính tích cực tự giác, chủ động, sáng tạo, tự học, kĩ năng vận
dụng vào thực tiễn, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, từng môn học:
tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui tạo được hứng thú học tập cho
học sinh. Có hứng thú trong học tập, có yêu thích bộ môn thì học sinh sẽ tự
giác tích cực và tự lực trong các hoạt động học tập. Tìm biện pháp gây
hứng thú cho các hoạt động học tập là nhiệm vụ của người thầy.
Các phương pháp sử dụng trong tiết luyện tập nhằm nâng cao tính tích
cực của học sinh gồm:
- Phương pháp dạy học vấn đáp đàm thoại

- Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề
- Phương pháp dạy và học hợp tác trong nhóm nhỏ (thảo luận nhóm, tổ
chức trò chơi, thi toán nhanh).
Hoạt động của giáo viên bao gồm:
- Thiết kế tổ chức hướng dẫn học sinh thực hiện các bài tập với hình
thức đa dạng phong phú có sức hấp dẫn và phù hợp với đặc điểm và trình
độ của từng học sinh.
- Động viên khuyến khích tạo cơ hội cho các em tham gia tích cực chủ
động vào giải bài tập, tạo niềm vui hứng khởi thái độ tự tin trong giải toán
giúp các em phát triển tối đa năng lực tiềm năng của bản thân.
- Thiết kế hướng dẫn học sinh thực hiện thực hiện các bài tập một cách
logic.
- Sử dụng phương pháp và tổ chức dạy học một cách hợp lí.
Hoạt động tương ứng của học sinh gồm:
7
- Tích cực suy nghĩ, tích cực tham gia giải bài tập để tự khám phá và rèn
luyện kĩ năng giải toán.
- Tích cực vận dụng kiến thức đã học để phân tích đánh giá giải quyết
các bài tập đặt ra.
- Tích cực thảo luận, mạnh dạn trình bày và bảo vệ ý kiến quan điểm
của mình.
- Biết tự đánh giá đúng sai về bài giải của mình và của bạn.
3.2. Giải quyết vấn đề đặt ra:
3.2.1 Phương pháp dạy học vấn đáp đàm thoại: (Đàm thoại khi luyện
tập)
Giáo viên đặt ra các câu hỏi để học sinh trả lời qua đó học sinh tái hiện
lại kiến thức áp dụng vào bài tập. Hoạt động này chủ yếu ôn các kiến thức
cơ bản bài học thông qua sửa bài tập về nhà và kiểm tra bài cũ: Cho học
sinh trình bày lời giải một vài bài tập đã giao cho học sinh về nhà làm ở tiết
trước, nhằm kiểm tra học sinh hiểu lí thuyết đến đâu? Kỹ năng vận dụng lý

thuyết trong giải toán như thế nào? Học sinh thường mắc các sai lầm gì?
Giáo viên cần xác định những kiến thức nào cần tái hiện cho việc luyện tập
các bài tập mới.
Yêu cầu: Giáo viên đưa những câu hỏi có tính chất nêu vấn đề để huy
động học sinh làm việc, không nên hỏi quá nhiều câu hỏi vụn vặt và xây
dựng một hệ thống câu hỏi phù hợp với yêu cầu bài tập áp dụng hấp dẫn
sát đối tượng, xác định được vai trò chức năng của từng câu hỏi, mục đích
câu hỏi, câu hỏi ngắn gọn và có hệ thống, đồng thời giáo viên phải sữa
những thiếu sót khi học sinh tiến hành giải bài tập áp dụng.
Biện pháp: Giáo viên nêu câu hỏi (các định nghĩa, các khái niệm cơ
bản, tính chất) phù hợp với bài tập áp dụng và từng đối tượng học sinh.
Học sinh trả lời nhằm củng cố và hoàn thiện kiến thức qua đó giáo viên biết
được tình trạng nắm bắt kiến thức của học sinh để sữa chữa và bổ sung
những kiến thức thiếu sót nhằm khắc sâu kiến thức cơ bản cho học sinh.
Phương pháp này đòi hỏi học sinh phải chuẩn bị tốt kiến thức đã học và
bài tập ở nhà từ đó học sinh tiếp thu tốt hơn nhằm hoàn thiện kiến thức
nâng cao chất lượng bộ môn.
Ví dụ 1: Tiết 55 Luyện tập (Đơn thức và Đơn thức đồng dạng)
Giáo viên xác định những kiến thức sẽ được vận dụng vào tiết này để kết
hợp giữa ôn cũ và chuẩn bị cho luyện tập bài mới, giáo viên kết hợp giữa
kiểm tra lý thuyết với bài tập áp dụng ngay lý thuyết đó, tiết này cần ôn ba
đơn vị kiến thức: đơn thức đồng dạng, cộng trừ đơn thức đồng dạng, tính
giá trị biểu thức.
Giáo viên có thể chọn kiểm tra 3 học sinh.
* Học sinh 1: Thế nào là hai đơn thức đồng dạng?
Áp dụng giải bài tập.
Các cặp đơn thức sau có đồng dạng hay không? Giải thích?
8
a) x
2

y và – x
2
y b) 2xy và 5xy
c) 5x và 5x
2
d) -3x
2
yz và 3xy
2
z
Phương pháp:
+ Tìm hiểu nội dung bài toán: Tìm cặp đơn thức đồng dạng.
+ Xây dựng chương trình giải: Xét những đơn thức có cùng phần biến.
+ Thực hiện chương trình giải:
Các cặp đơn thức đồng dạng là x
2
y và – x
2
y ; 2xy và 5xy.
+ Kiểm tra và nghiên cứu lời giải: Cho học sinh nêu lại yêu cầu bài toán và
gọi học sinh nhận xét bài làm của bạn.
GV: Nhận xét và chốt lại kiến thức cần tái hiện lại: đơn thức đồng dạng,
học sinh phân biệt được đơn thức đồng dạng vì có phần biến giống nhau,
đơn thức không đồng dạng vì có phần biến khác nhau.
* Học sinh 2: Muốn cộng, trừ các đơn thức đồng dạng ta làm như thế nào?
Áp dụng: ( Bài 17 SGK.35) Tính giá trị của biểu thức sau tại x = 1
và y = -1
5 5 5
1 3
2 4

x y x y x y
− +
Giáo viên yêu cầu cộng các đơn thức đồng dạng lại rồi tính giá trị
Phương pháp:
+ Tìm hiểu nội dung bài toán: Tính giá trị của biểu thức
+ Xây dựng chương trình giải:
Bước 1: Thu gọn đa thức
Bước 2: Thay giá trị của biến vào đa thức rồi thực hiện phép tính
+ Thực hiện chương trình giải:
5 5 5
1 3
2 4
x y x y x y− +

5 5
1 3 3
1
2 4 4
x y x y
 
= − + =
 ÷
 
Thay x = 1, y = -1 vào biểu thức trên ta được:
( )
5
3 3
.1 . 1
4 4
− = −

Vậy
3
4

là giá trị của biểu thức trên tại x = 1 ; y = -1
+ Kiểm tra và nghiên cứu lời giải: Cho học sinh nêu lại yêu cầu bài toán và
gọi học sinh nhận xét bài làm của bạn.
Gv: Nhận xét chốt lại quy tắc cộng trừ đơn thức đồng dạng.
* Học sinh 3: Muốn tính giá trị biểu thức ta làm như thế nào?
Áp dụng: (Bài 17 SGK.35) Tính giá trị của biểu thức sau tại x = 1
và y = -1
9
5 5 5
1 3
2 4
x y x y x y
− +
Giáo viên yêu cầu học sinh tính trực tiếp
+ Thực hiện chương trình giải:
Thay x = 1, y = -1 vào biểu thức (1)Ta có:
( ) ( ) ( )
5 5 5
1 3
.1 . 1 .1 . 1 1 . 1
2 4
− − − + −
1 3 2 3 4 3
1
2 4 4 4 4 4


= − + − = − + − =
Vậy
3
4

là giá trị của biểu thức trên tại x = 1 ; y = -1
Qua cách làm trên, giáo viên vừa kiểm tra được kiến thức của học sinh,
kĩ năng vận dụng kiến thức vào bài tập của học sinh vừa giới thiệu cho học
sinh là khi giải một bài toán ta có thể giải theo nhiều cách khác nhau, với
cách giải nào thuận tiện, ngắn gọn thì ta chọn cách giải đó. Cụ thể ở bài tập
trên giáo viên có thể cho học sinh cả lớp tự so sánh 2 cách giải rồi rút ra
nhận xét cách giải nào ngắn gọn, dễ hiểu, dễ làm hơn, để làm theo cách
đó. Cuối cùng giáo viên cần chốt lại là trước khi tính giá trị của một biểu
thức ta nên thu gọn biểu thức đó bằng cách cộng, trừ các đơn thức đồng
dạng (nếu cần), rồi mới tính giá trị biểu thức.
3.2.2.Phương pháp tiếp cận, phát hiện và giải quyết vấn đề: (Làm bài
tập khi luyện tập)
Trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, học sinh vừa nắm tri
thức mới, vừa nắm được phương pháp vận dụng tri thức đó, phát triển tư
duy tích cực sáng tạo, học sinh phát hiện và tự giải quyết vấn đề thông
qua quá trình gợi ý dẫn dắt, nêu câu hỏi giả định của giáo viên.
Yêu cầu: Về tổ chức có thể hướng dẫn học sinh hoạt động cá
nhân hay thảo luận, trao đổi trong nhóm theo chỉ đạo của giáo viên. Khi cho
học sinh tiếp cận và phát hiện vấn đề: giải bài tập mới, giáo viên chọn bài
tập theo dạng để học sinh có sự liên quan giữa kiến thức đã biết với vấn đề
cần giải quyết, học sinh dễ chủ động tích cực trong khám phá tìm ra cách
giải.
Biện pháp: Giáo viên kết hợp việc xây dựng hệ thống câu hỏi, tạo
tính huống có vấn đề, nhằm dần hình thành cho học sinh thói quen tập
trung tư duy giải bài tập một cách tích cực, tạo điều kiện cho học sinh tranh

luận tìm tòi phát hiện vấn đề thông qua các tình huống có vấn đề. Các tình
huống có thể do logic kiến thức của bài học tiết trước tạo nên, cần có
những khuyến khích với những phát hiện cách giải mới của học sinh. Giáo
viên giúp học sinh làm chủ được kiến thức mình áp dụng nhằm rút ra bài
học kinh nghiệm cho bản thân.
* Phương pháp này đòi hỏi học sinh: đọc thông tin, tái hiện kiến thức
chuẩn bị tiến hành vào hoạt động giải bài tập mới.
10
Ví dụ 1: (Bài 19/SGK.36) Tính giá trị biểu thức 16x
2
y
5
- 2x
3
y
2
tại x = 0,5; y =
-1
Từ bài tập ở phần kiểm tra bài cũ học sinh sẽ nhanh chóng tìm được cách
giải và có thể thực hiện được các bước giải, giáo viên biết kết hợp câu hỏi
gây kích thích học sinh: Qua bài tập bạn đã làm (phần KTBC) em nào có
thể nêu cách giải bài tập này? Và cho biết kiến thức mà em áp dụng vào?
Phương pháp:
+ Tìm hiểu nội dung bài toán: Tính giá trị của biểu thức.
+ Xây dựng chương trình giải: Giáo viên cho học sinh trình bày theo
phương pháp của mình, diễn đạt bằng lời, bằng ngôn ngữ toán học, theo
trình tự nhất định hợp lý. Điều này thể hiện tính tích cực của các em khi
nhanh chóng tìm ra cách giải.
+ Thực hiện chương trình giải:
Thay x = 0,5; y = -1 vào 16x

2
y
5
-2x
3
y
2
. Ta có:
( ) ( ) ( ) ( )
( ) ( )
2 5 3 2
16. 0,5 . 1 2. 0,5 . 1
16.0, 25. 1 2.0,125. 1
4 0, 25 4, 25
− − −
= − −
= − − = −
+ Kiểm tra và nghiên cứu lời giải: Cho học sinh nêu lại yêu cầu bài toán và
gọi học sinh nhận xét bài làm của bạn và nhận xét sự giống và khác nhau
của 2 bài, đưa ra bài học kinh nghiệm cho chính mình.
GV: Nhận xét và đi đến kết luận  Hình thành bài học kinh nghiệm về cách
tính giá trị biểu thức
3.2.3 Hoạt động hợp tác nhóm nhỏ: Phương pháp này nhằm giúp học
sinh chia sẻ những băn khoăn và kinh nghiệm của bản thân cùng nhau xây
dựng nhận thức mới. Bằng cách nói rõ những điều mình đang nghĩ, mỗi
người có thể nhận rỏ trình độ hiểu biết của mình về bài toán cùng nhau xây
dựng bài giải học hỏi lẫn nhau chứ không phải là tiếp nhận thụ động từ giáo
viên.
Trong hoạt động nhóm tư duy tích cực của học sinh phải được phát
huy và ý quan trọng của phương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác

giữa các thành viên trong tổ chức lao động tuy nhiên giáo viên cũng phải
cần tránh khuynh hướng hình thức và đề phòng lạm dụng.
Thảo luận nhóm nhỏ:
Yêu cầu: Học sinh trong nhóm thảo luận, trao đổi ý kiến, nhóm
trưởng hướng dẫn, phân tích, trình bày nếu thấy cần. Cử đại diện trình bày
kết quả của nhóm.
Biện pháp: Giáo viên đưa phần việc mà các nhóm cần giải quyết
lên bảng, tất cả học sinh đều theo dõi. Giáo viên giao nhiệm vụ cho từng
nhóm và nêu thời gian cụ thể cho hoạt động nhóm, giáo viên hướng dẫn
cách làm việc của nhóm.
Ví dụ 1: (Bài 35/SGK.40) Cho hai đa thức:
11
2 2
2 2
2
2 1
M x xy y
N y xy x
= − +
= + + +
a) Tính M +N
b) Tính M – N
c) Tính N – M
Phương pháp:
+ Tìm hiểu nội dung bài toán: Cộng trừ đa thức
+ Xây dựng chương trình giải:
Bước 1: Cho hai đa thức vào trong ngoặc, viết gần nhau và đặt dấu “+”
hoặc “-” giữa hai đa thức (tùy theo yêu cầu của bài).
Bước 2: Thực hiện quy tắc bỏ dấu ngoặc.
Bước 3: Áp dụng tính chất giao hoán kết hợp.

Bước 3: Cộng, trừ các đơn thức đồng dạng.
Giáo viên yêu cầu học sinh nêu trình tự các bước giải, rồi tiến hành cho
học sinh thảo luận nhóm chia lớp thành 3 nhóm.
+ Thực hiện chương trình giải:
GV: Chia bảng thành 3 phần sau đó gọi đại diện nhóm lên trình bày.
Nhóm 1: a) M + N =
2 2 2 2
2 2 1x xy y y xy x− + + + + +
=
2 2
2 2 1x y+ +
Nhóm 2: b) M – N = - 4xy – 1
Nhóm 3: c) N – M = 4xy + 1
+ Kiểm tra và nghiên cứu lời giải: Cho học sinh nêu lại yêu cầu bài toán
và gọi học sinh nhận xét bài làm của nhóm và nhận xét giữa hai đa thức (N
– M) và (M – N ) để học sinh nhận thấy rằng đa thức M – N và N – M có
từng cặp hạng tử đối nhau. Ta nói hai đa thức đó là hai đa thức đối nhau.
GV: Nhận xét qua đó  hình thành kiến thức về đa thức đối.
Ví dụ 2: (Bài 20/SGK.36) Viết 3 đơn thức đồng dạng với đơn thức -2x
2
y, rồi
tính tổng của cả 4 đơn thức đó.
Phương pháp:
+ Tìm hiểu nội dung bài toán: Cộng trừ đơn thức đồng dạng
+ Xây dựng chương trình giải:
Bước 1: Viết 3 đơn thức đồng dạng với đơn thức -2x
2
y
Bước 2: Tính tổng của cả 4 đơn thức.
Giáo viên tổ chức học sinh hoạt động theo nhóm mỗi nhóm.

Giáo viên gọi đại diện nhóm lên trình bày.
+ Thực hiện chương trình giải :
Chẳng hạn 3 đơn thức đồng dạng : - 5x
2
y ; 7x
2
y và 3x
2
y
Ta có tổng: -2x
2
y + 7x
2
y - 5x
2
y + 3x
2
y = 3x
2
y
12
+ Kiểm tra và nghiên cứu lời giải: Cho học sinh nêu lại yêu cầu bài toán
và nhận xét
GV: Nhận xét và khen nhóm thực hiện nhanh, đúng , trình bày đẹp.
Ví dụ 3: (Bài 37/SGK.41) Viết đa thức bậc 3 với 2 biến x, y và có ba hạng
tử
Giáo viên cho học sinh thi đua giữa các nhóm.
Nhóm nào viết được nhiều đa thức thỏa mãn yêu cầu đề bài trong 2 phút là
thắng cuộc
Chẳng hạn: x

3
+y
2
+1, x
2
y + xy -2, x
2
+2xy
2
+y ,…
- Thành công của phương pháp này phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham
gia của mọi thành viên, trong hoạt động nhóm tư duy tích cực của học sinh
được phát huy triệt để. Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm lời giải bằng
nhiều phương pháp, khuyến khích học sinh tìm ra những cách giải khác
nhau.
- Tổ chức nhiều hình thức hoạt động nhóm: nhóm nhỏ 2 học sinh, nhóm
cố định, nhóm ngẫu nhiên…Thường xuyên có sự kiểm tra đánh giá kết quả
hoạt động của nhóm và chấm điểm công khai (nếu có). Giáo viên lưu ý cần
khen nhiều hơn chê, thật tế nhị khi chỉ ra những khuyết điểm của học sinh.
Tạo điều kiện để học sinh được nói trước lớp tùy theo mức độ của bài tập.
 Kết hợp linh hoạt các kỹ thuật dạy học tích cực:
Tổ chức trò chơi trong giờ luyện tập:
Để tiết học sinh động hơn, gây hứng thú đối với học sinh, nhằm thu
hút nhiều đối tượng học sinh, cần thay đổi bầu không khí lớp bằng cách kết
hợp kỹ thuật dạy học tích cực là vận dụng tổ thức trò chơi toán học, qua đó
học sinh vừa được tham gia trò chơi, cũng vừa học kiến thức.
Về phần trò chơi học tập, đó là trò chơi mà luật chơi bao gồm các quy
tắc gắn với những kiến thức, kĩ năng có được trong hoạt động học tập, gắn
với nội dung bài học của học sinh, giúp học sinh khai thác vốn kinh nghiệm
của bản thân để chơi. Thông qua trò chơi, học sinh vận dụng các kiến thức,

kĩ năng đã học vào các tình huống của trò chơi, qua đó, học sinh được
luyện tập, củng cố, mở rộng những kiến thức, kĩ năng đã học. Như vậy, trò
chơi học tập giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách tự giác và tích cực
hơn trong những hoạt động đa dạng hứng thú của quá trình chơi, giúp học
sinh rèn luyện, củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo, thúc đẩy hoạt
động trí tuệ. Nhờ sử dụng trò chơi học tập, mà quá trình dạy và học trở
thành hoạt động vui chơi và hấp dẫn như câu nói “Chơi mà học, học mà
chơi”. “Hoạt động làm cho lớp ồn ào hơn, nhưng là sự ồn ào hiệu quả".
Yêu cầu: Trò chơi phải có mục đích rõ ràng nhằm củng cố, luyện
tập kiến thức, kĩ năng học toán. Trò chơi phải chuẩn bị tốt, nắm vững yêu
cầu, mục đích giáo dục của trò chơi để thiết kế hành động chơi phục vụ
mục đích, yêu cầu ấy. Trò chơi phải gây hứng thú học tập đối với học sinh.
Biện pháp:
- Giáo viên giới thiệu trò chơi, tên trò chơi.
13
- Giáo viên hướng dẫn cách chơi, nêu rõ luật chơi (cách xử phạt khi
phạm luật chơi).
- Học sinh tham gia trò chơi .
- Sau khi hoàn thành phần tham gia trò chơi học sinh nêu nhận xét kết
quả .
- Giáo viên nêu phần nhận xét đánh giá hoạt động chơi của học sinh và
tuyên dương đội thắng cuộc. Tuy nhiên giáo viên cũng nên tìm ra những
ưu điểm của đội thua cuộc để tuyên dương. Chẳng hạn như thái độ tham
gia chơi, thực hiện nghiêm túc luật chơi, trình bày.
- Giáo viên có thể nêu thêm những tri thức được học tập qua trò chơi,
những sai lầm cần tránh.
Ví dụ 1: (Bài 18/SGK trang 35)
Giáo viên viết sẵn bài tập 18 trang 35 sgk vào 2 tờ giấy A0, sau đó chia
lớp làm hai đội thi tính các tổng và hiệu rồi điền vào bảng để tìm ra tên của
tác giả cuốn “Đại Việt sử kí” dưới thời vua Trần Nhân Tông được đặt cho

một đường phố của thủ đô Hà Nội.
Thể lệ thi: Mỗi đội cử 8 người xếp hàng lần lượt ở hai bên. Mỗi đội làm
một bảng, mỗi học sinh tính một biểu thức rồi điền các chữ tương ứng vào
các ô trống ở dưới. Đội nào tính đúng và nhanh là thắng. (Giáo viên có thể
yêu cầu cả lớp tuyên dương đội thắng cuộc bằng một tràng pháo tay hoặc
một phần quà do giáo viên chuẩn bị). Giáo viên có thể nhắc nhở thêm học
sinh về kĩ năng tính toán cẩn thận, chính xác, không được nhầm dấu.
+ Thực hiện chương trình giải:
V : 2 x
2
+ 3 x
2
-
1
2
x
2
=
2
9
2
x
H : xy – 3 xy + 5 xy = 3 xy
N :
1
2

x
2
+ x

2
=
1
2
x
2
Ă : 7 y
2
z
3
+ ( - 7 y
2
z
3
) = 0
Ư : 5 xy -
1 17
3 3
xy xy xy+ =
Ê : 3 xy
2
– (- 3 xy
2
) = 6 xy
2
U : - 6 xy
2
- 6 xy
2
= -12 xy

2
L :
2 2 2
1 1 2
5 5 5
x x x
 
− + − = −
 ÷
 
Kết quả :
2
2
5
x−
6 xy
2

2
9
2
x
0
2
1
2
x
3
xy
17

3
xy
-12xy
2
L Ê V Ă N H Ư U

+ Kiểm tra và nghiên cứu lời giải: Cho học sinh nêu lại yêu cầu bài toán và
nhận xét giữa các đội.
Giáo viên nêu lại kết quả ô chữ là LÊ VĂN HƯU cho cả lớp nghe và
dành ít phút nói về những hiểu biết của mình về nhà sử học LÊ VĂN HƯU
nhằm mở rộng kiến thức và làm cho tiết học Toán thêm hấp dẫn. Ngoài ra
giáo viên có thể hướng dẫn học sinh tìm đọc thêm ở cuốn “Danh nhân đất
Việt” tập 1 hoặc giới thiệu cho học sinh tham khảo thêm về LÊ VĂN HƯU ở
trang web trên mạng.
14
Ví dụ 2: (Bài 6/SGK trang 28) Tìm hiểu về một nhà toán học Việt Nam. Luật
chơi tiến hành tương tự ví dụ 6 ở trên.
+ Thực hiện chương trình giải:
N : x
2
= 3
2
= 9 T : y
2
= 4
2
= 16
Ă :
1
2

(xy + 3) =
1
2
(3.4 + 5) = 8,5 L : x
2
– y
2
= 3
2
– 4
2
= -
7
M :
2 2 2 2
3 4 25x y+ = + =
= 5 Ê : 2z
2
+ 1 = 2.5
2
+ 1 =
51
H : x
2
+ y
2
= 3
2
+ 4
2

= 25 I : 2 (x + z) = 2(4 +
5) = 18
V : z
2
– 1 = 5
2
– 1 = 24
Kết quả:
-7 51 24 8,
5
9 16 25 18 51 5
L Ê V Ă N T H I Ê M
+ Kiểm tra và nghiên cứu lời giải: Cho học sinh nêu lại
yêu cầu bài toán và nhận xét giữa các đội
Sau khi làm xong, giáo viên: Giới thiệu thầy Lê Văn
Thiêm
( 1918-1991) quê ở làng Trung Lễ, huyện Đức Thọ, tỉnh
Hà Tĩnh, một miền quê rất hiếu học.
Ông là người Việt Nam đầu tiên nhận bằng Tiến sĩ quốc
gia về toán của nước Pháp (1948) và cũng là người Việt
Nam đầu tiên trở thành giáo sư toán học tại một trường
đại học ở Châu Âu. Ông là người thầy của nhiều nhà toán học Việt
Nam.“Giải thưởng toán học Lê Văn Thiêm” là giải thưởng toán học quốc gia
của nước ta giành cho giáo viên và học sinh phổ thông.
Ví dụ 3: Khi dạy tiết Luyện Tập của bài 6: Mặt phẳng tọa độ, để tạo không
khí học tập sôi nổi giáo viên có thể cho học sinh làm bài tập dưới dạng trò
chơi như sau:
Mỗi học sinh tự biểu diễn 20 điểm tùy ý do mình nghĩ ra trên mặt phẳng
tọa độ (mặt phẳng tọa độ này học sinh đã chuẩn bị trước trên giấy kẻ ô
vuông) với tọa độ điểm là số nguyên (hoành độ, tung độ đều là số nguyên)

nằm trong khoảng từ -5 đến 5 (thời gian 5 phút). Sau đó giáo viên đọc các
điểm bất kì chẳng hạn (1 ; -1); (1 ; -3); (3 ; -1); (3 ; -3); Giáo viên đọc chậm,
học sinh nghe đến điểm nào trùng với điểm của mình đã có trên mặt phẳng
tọa độ thì khoanh tròn vào điểm đó, học sinh nào có 3 điểm nằm trên một
đường thẳng đầu tiên thì học sinh đó sẽ thắng (chẳng hạn trong trường
hợp trên, học sinh nào có 3 điểm là (1 ; 3) ; (1 ; 4) ; (1 ; -2) sẽ thắng).
15
Với trò chơi này giáo viên có thể thay đổi luật ở các lớp khác nhau
như sau: học sinh nào có 3 điểm tạo thành tam giác đều; hay tam giác cân;
hay tam giác vuông; hay đường thẳng vuông góc; song song với một trục
nào đó; hay 4 điểm tạo thành hình vuông, hình chữ nhật…sẽ thắng.
Tuy nhiên giáo viên cần lưu ý là không thông báo những đều này cho
học sinh biết trước khi các em lấy 20 điểm bất kì trên mặt phẳng tọa độ, về
phía giáo viên phải có chủ định trước, nếu giáo viên có ý định sử dụng luật
nào thì khi đọc các điểm phải đọc những điểm sao cho nó tạo thành những
điều mình định trước, chẳng hạn nếu chọn luật là “Học sinh nào có 3 điểm
tạo thành tam giác cân sẽ thắng”, giáo viên có thể đọc các điểm (2 ; -1) ;
(3 ; -3) ; (1 ; -3)…
Đối với trò chơi này ngoài việc rèn luyện cho các em kĩ năng biểu diễn
điểm, cách nhận biết điểm trên mặt phẳng tọa độ, còn nhắc lại cho các em
các kiến thức cơ bản về hình học.
- Tổ chức thi toán nhanh
Ví dụ 1: (Bài 16/SBT trang 44) Gọi x, y, z theo thứ tự là số vòng quay của
kim giờ, kim phút, kim giây trong cùng một thời gian.
a) Điền số thích hợp vào các ô trống trong bảng sau:
x 1 2 3 4
y
b) Viết công thức biểu diễn y theo x
c) Điền số thích hợp vào các ô trống trong bảng sau:
y 1 6 1

2
1
8
z
d) Viết công thức biểu diễn z theo y.
Giáo viên hướng dẫn học sinh chơi trò chơi thi làm toán nhanh: Chia
mỗi tổ 4 người, chỉ có một viên phấn, 1 người làm một câu, người nào làm
xong chuyền phấn người tiếp theo, người sau có thể sửa bài của người
trước. Đội nào làm đúng và nhanh nhất là thắng.
+ Thực hiện chương trình giải:
a/
x 1 2 3 4
y 1
2
2
4
3
6
4
8
b/ Biểu diễn y theo x là y = 12x
c/
16
y 1 6 12 18
z 6
0
36
0
72
0

108
0
d/ Biểu diễn z theo y là z = 60 y
+ Kiểm tra và nghiên cứu lời giải: Cho học sinh nêu lại yêu cầu bài toán
và gọi đại diện nhóm nhận xét.
GV: Nhận xét bài làm của mỗi đội và có sự tuyên dương cho đội thắng.
 Để có hiệu quả tốt trong tiết luyện tập nhằm nâng cao chất lượng giảng
dạy thì bản thân giáo viên phải:
+ Có tác phong, thái độ và sự chuẩn bị – đầu tư tốt chủ động trong mọi
hoạt động trên lớp; tỏ thái độ quan tâm và thương yêu học sinh; lời nói rõ
ràng chắc chắn, dứt khoát, không lấp lững, liên tục tạo các tình huống có
vấn đề, có hệ thống.
+ Hoạt động học được tiến hành một cách nhẹ nhàng, sinh động, thoải
mái; tập thể học sinh có những hoạt động đồng bộ, thống nhất theo sự điều
khiển của giáo viên; tránh các tình huống căng thẳng không cần thiết; vui
tươi mà nghiêm túc.
+ Thu thập các thông tin tham khảo về nội dung và phương pháp dạy
học, tự tìm kiếm thông tin trên mạng có liên quan đến bài học.
+ Hệ thống câu hỏi phải rõ ràng, logic phù hợp phát triển tư duy học
sinh.
+ Trao đổi thông tin giữa giáo viên và giáo viên, giữa giáo viên và học
sinh.
+ Cần nuôi dưỡng tính sẵn sàng, tính tích cực, ý chí người học để đạt
mục đích học tập và phát triển cá nhân.
Song song với yêu cầu trên thì người giáo viên phải cần tránh một số sai
lầm sau:
+ Học sinh giải theo bài giải mẫu sẵn, tức là học thuộc lòng cách giải
một loại bài toán.
+ Áp đặt cách giải của thầy cô.
+ Chỉ chú ý đến một số đối tượng học sinh.

+ Chống gò, ép, ban phát, rập khuôn có sẳn của giáo viên.
Cũng cần chú ý đến một số yêu cầu đối với lời giải của học sinh:
+ Lời giải không có sai lầm.
+ Lập luận phải có căn cứ chính xác.
+ Lời giải phải đầy đủ (đơn giản nhất, cách trình bày rỏ ràng hợp lí)
17
4. Kết quả của đề tài:
Trong quá trình dạy và kiểm tra đánh giá tôi đã sử dụng thang đo thái độ
giữa lớp thực nghiệm (lớp 7A1) và lớp đối chứng (lớp 7A3) để kiểm chứng
tính tích cực học tập của học sinh qua việc hướng dẫn luyện tập môn Đại
số bằng phiếu điều tra như sau:
+ Lớp 7A1: 38 học sinh.
+ Lớp 7A3: 37 học sinh.
Đánh dấu x vào 1 trong 2 ý kiến ở:
T
T
NỘI DUNG
Lớp 7A1 Lớp 7A3
Đồng

Không
đồng ý
Đồng

Không
đồng ý
1 Tôi thích học môn Đại số 7 25 13 15 22
2 Tôi thường xuyên xung phong
lên giải bài tập Đại số 7
30 8 20 17


3
Môn Toán giúp tôi phát triển trí
tuệ và năng lực bản thân
27 11 14 23
4 Tôi gặp chút khó khăn trong giải
toán nhưng tội sẽ cố gắng
28 10 18 19
5 Tôi hoàn thành bài tập về trước
khi đến lớp
36 2 25 12
Qua phiếu điều tra trên tôi nhận thấy:
- Lớp 7A1: 30/38 học sinh tích cực giờ học môn toán.
- Lớp 7A3: 20/37 học sinh tích cực giờ học môn toán.
Về chất lượng cụ thể như sau:
Thống kê kết quả khảo sát lớp thực nghiệm 7A1 TSHS: 38
Thời điểm khảo
sát
Giỏi Khá TB Yếu Kém
T
S
% TS % TS % TS % TS %
Đầu năm 5 13,2 6 15,8 11
28,
9
13
34,
2
3 7,9
Giữa học kỳ I 5 13,2 8 21 12 21 11

28,
9
2 5,3
Học kỳ I 7 18,4 10 26,3 14
36,
9
7
18.
4
0
Sau khi áp dụng giải pháp thì trong các tiết luyện tập Đại số có biến
chuyển rỏ rệt cụ thể như sau:
Về học sinh:
Các tiết luyện tập các em hoạt động tích cực suy nghĩ, chủ động tham gia
vào các hoạt động học tập hơn và mạnh dạn dần khi nêu ý kiến của mình
thông qua các hoạt động nhóm, trò chơi, phát huy năng lực của các em
hơn, biết tự đánh giá các ý kiến hay kết quả của bản thân và bạn bè.
Học sinh nắm được các dạng bài tập , phân loại bài tập, rèn được kỷ
năng phân tích biết phải vận dụng kiến thức như thế nào để giải quyết vấn
18
đề (đó là phương tiện là công cụ) và xác định các bước giải bài tập một
cách hợp lí, logic. Qua đó các em có thể quy các bài tập phức tạp về dạng
quen thuộc để giải có kỷ năng suy luận logic, hình thành thói quen giải
quyết vấn đề theo một trình tự khoa học.
Về giáo viên:
Hướng dẫn học sinh giải bài tập theo từng bước được hoạch định giúp
học sinh dễ lĩnh hội kiến thức, kiến thức cũ được cũng cố và khắc sâu hơn
ngoài ra còn định hướng cho học sinh tư duy hợp lí, vận dụng kiến thức
được thuận lợi, kiến thức vừa được tái hiện vừa được vận dụng gây sự
hứng thú hơn đối với môn học.

Qua đó cũng phân hoá được các mức độ kiến thức cho các đối tượng
học sinh khác nhau, do đó thu hút được tất cả các đối tượng tham gia xây
dựng bài học.
Thực hiện được mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích
cực, sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học một cách
hợp lí, có phương pháp tốt trong truyền thụ kiến thức, giúp học sinh biết
vận dụng vào giải quyết những vấn đề thực tiễn cuộc sống.
19
III. KẾT LUẬN
1. Bài học kinh nghiệm:
Đối với các tiết luyện tập môn đại số các lớp nói chung và môn Đại số
lớp 7 nói riêng, các dạng bài tập có liên quan đến nội dung bài học rất đa
dạng và phong phú. Do đó để tiết luyện tập đạt hiệu quả cao đòi hỏi giáo
viên phải lựa chọn bài tập thật kĩ và phù hợp. Trong quá trình chuẩn bị,
giáo viên cần nắm được các điều sau:
- Nội dung bài học thường vận dụng trong các dạng bài tập nào? dạng
nào là cơ bản và bắt buộc phải dùng đến kiến thức đã học trong bài?
Qua đó giáo viên lựa chọn những bài tập phù hợp đáp ứng yêu cầu vận
dụng kiến thức sâu sắc, đảm bảo rèn được các kỹ năng cần có cho học
sinh.
- Tiến hành luyện tập, cho học sinh làm bài tập theo từng dạng, sau
mỗi dạng rút ra bài học kinh nghiệm đó, có thể là hướng giải chung cho
một dạng bài toán nào đó hay một kết quả đã được khẳng định.
- Vận dụng các bài tập phù hợp với nội dung bài học, các dạng toán nào
là cơ bản, đảm bảo rèn dược kĩ năng cho học sinh.
- Hệ thống câu hỏi nhỏ dễ dàng gợi mở dẫn dắt các em tìm ra hướng
giải, do đó giáo viên cần khéo léo sử dụng.
- Đổi mới trong quá trình dạy, như tổ chức cho các em chơi trò chơi học
tập, đố vui…để tạo hứng thú, kích thích học sinh suy nghĩ, tìm tòi, tạo điều
kiện cho các em vận dụng kiến thức một cách sáng tạo.

Giáo viên không ngừng phấn đấu học tập trao dồi chuyên môn ngiệp vụ
dưới mọi hình thức, góp phần đổi mới phương pháp dạy học. Giáo viên tổ
chức và học sinh thực hiện các hoạt động một cách chủ động phù hợp với
nội dung và phương pháp cụ thể ở mỗi bài, chương, không sử dụng tràn
lan gây nặng nề cho bài học dẫn đến thiếu hiệu quả.
Học sinh cần phải nổ lực thật nhiều trong vấn đề tự học ở nhà, các em
phải tự mình giải bài tập, tự mình nghiên cứu để rèn kĩ năng giải toán, như
vậy các em mới nắm vững và khắc sâu kiến thức.
2. Hướng phổ biến áp dụng đề tài:
Việc hướng dẫn học sinh luyện tập môn Đại số nhằm phát huy tính tích
cực tôi đã nghiên cứu và áp dụng ở lớp 7A1 đã thu được những kết quả rất
khả thi. Do đó phương pháp này sẽ được áp dụng cho tất cả các lớp khối 7
trong học kỳ II và các khối khác của trường và đồng thời có thể phổ biến
rộng cho các đơn vị trường bạn.
3. Kết luận:
Tính tích cực của học sinh được hình thành theo các hoạt động toán
học, từ nhận biết đến tư duy cao, giúp học sinh dễ lĩnh hội kiến thức một
cách chủ động hơn và kiến thức cũng được khắc sâu hơn. Ngoài ra trong
quá trình hướng dẫn khai thác kiến thức còn cung cấp cho học sinh
20
phương pháp vận dụng kiến thức đã học một cách sáng tạo, phong phú đa
dạng, tạo cho các em có thói quen tư duy toán học.
Trong giảng dạy bộ môn Toán, việc hướng dẫn học sinh khai thác kiến
thức một cách tích cực là một việc không thể thiếu và phát huy tối đa tính
tích cực học tập của học sinh. Nên việc hoạch định phương pháp hướng
dẫn khai thác kiến thức qua các hoạt động để học sinh tích cực hơn trong
giờ học toán theo từng bước và từng đối tượng học sinh một cách linh hoạt
giúp học sinh hứng thú hơn trong giờ toán, yêu thích bộ môn và tích cực
hơn.
PHỤ LỤC

GIÁO ÁN MINH HOẠ
Tiết PPCT: 25
Ngày dạy:

(MỘT SỐ BÀI TOÁN VỀ ĐẠI LƯỢNG TỈ LỆ THUẬN)
I. MỤC TIÊU:
a) Kiến thức: Học sinh làm thành thạo các bài toán cơ bản về đại lượng tỉ
lệ thuận và chia tỉ lệ.
b) Kĩ năng: Có kĩ năng sử dụng thành thạo các tính chất của dãy tỉ số
bằng nhau để giải toán, kĩ năng làm việc hợp tác, tư duy phê phán.
c) Thái độ: Thông qua giờ luyện tập, học sinh được biết thêm về nhiều bài
toán liên quan đến thực tế, cẩn thận chính xác trong tính toán, lập luận.
Rèn luyện tư duy logic.
II. CHUẨN BỊ:
a) Giáo viên: Bảng phụ ghi đề bài tập.
b) Học sinh: Như dặn dò tiết trước
III. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC:
Đàm thoại, diễn giảng, hoạt động nhóm, phát hiện và giải quyết vấn
đề.
IV. TIẾN TRÌNH:
Hoạt động của thầy, trò Nội dung
1) Ổn định: Kiểm tra sỉ số
2) Kiểm tra bài cũ:
HS1: Thực hiện Bài tập 8 trang 56 sgk
HS: Đọc to đề
I) Sửa bài tập cũ:
Bài tập 8 trang 56 sgk:
Gọi số cây trồng của các lớp 7A,
21
GV: Cho học sinh nhắc lại phần

hướng dẫn bài tập về nhà của tiết 24
Đề bài cho biết gì? Tìm gì
HS: …
+ Đề bài cho biết số học sinh của 3
lớp tỉ lệ với số cây trồng được
+ Tổng số cây trồng của cả 3 lớp là
24.
+ Cần tìm số cây trồng được của mỗi
lớp.
GV: Vậy để tìm số cây trồng được của
mỗi lớp ta làm như thế nào? Cần vận
dụng tính chất nào?
HS: …
GV: Gợi ý thêm, các em cần nghiên
cứu kĩ đề bài cho thêm dữ kiện là “Số
cây xanh tỉ lệ với số học sinh”
GV: Cần chú ý cho học sinh đặt điều
kiện bài toán.
HS: Giải bài toán.
GV: Nhận xét và cho điểm.
GV: Nhắc nhở học sinh việc chăm sóc
và bảo vệ cây trồng là góp phần bảo
vệ môi trường trong sạch.
HS2: Thực hiện BT 7 trang 56 SGK
HS : Đọc đề bài, tóm tắt đề bài:………
2 kg dâu cần 3 kg đường
2,5 kg dâu cần x kg đường
GV: Hướng dẫn: Khi làm mứt, khối
lượng dâu và khối lượng đường là hai
đại lượng quan hệ như thế nào? Hãy

lập tỉ lệ thức tìm x.Vậy bạn nào nói
đúng?
HS: Giải bài toán.
GV: Nhận xét và cho điểm
GV: Gọi học sinh nêu hướng giải bài
toán tỉ lệ
HS:………….
( + Xác định đối tượng và giá trị tương
7B, 7C lần lược là x, y, z ( x, y, z
> 0)
Theo đề bài ta có:

32 28 36
x y z
= =
và x + y + z =
24
Áp dụng tính chất dãy tỉ số bằng
nhau ta có:
24 1
32 28 36 32 28 36 96 4
x y z x y z+ +
= = = = =
+ +
Vậy
1
8
32 4
x
x= ⇒ =


1
7
28 4
y
y= ⇒ =

1
9
36 4
z
z= ⇒ =
Trả lời: Số cây trồng được của
các lớp 7A, 7B, 7C theo thứ tự
là: 8, 7, 9 cây.
Bài tập 7trang 56 sgk :
Gọi x là khối lượng đường cần
sử dụng
( ĐK: x > 0)
Vì khối lượng dâu và khối lượng
đường là 2 đại lượng tỉ lệ thuận.
Theo đề ta có:

2 3 2,5.3
3,75
2,5 2
x
x
= ⇒ = =
Bạn Hạnh nói đúng.

22
6
ứng của từng đối tượng tham gia vào
bài toán
+ Quan hệ giữa các đối tượng ->
thành lập dãy tỉ số bằng nhau và tổng
+ Áp dụng tính chất của dãy tỉ số bằng
nhau để giải )
3) Giảng bài mới:
GV Ở tiết trước các em đã được học
bài gì?
HS: ……….
(Một số bài toán về đại lượng tỉ lệ
thuận).
GV: Để giúp cho các em khắc sâu hơn
các kiến thức về đại lượng tỉ lệ thuận
đồng thời có kĩ năng sử dụng thành
thạo các tính chất của dãy tỉ số bằng
nhau để giải toán. Tiết học hôm nay
chúng ta sẽ cùng nhau vận dụng
những kiến thức đã học vào việc giải
bài tập.
Hoạt động 1: Xét xem hai đại lượng có
tỉ lệ thuận với nhau hay không
GV: Treo giấy A0 ghi đề :
Bài tập 8 trang 44 SBT:Hai đại lượng x
và y có tỉ lệ thuận với nhau không
nếu :
a)
x -2 -1 1 2 3

y -8 -4 4 8 12
b)
x 1 2 3 4 5
y 22 44 66 88 100
GV: Yêu cầu đặt ra là gì?
HS:…
GV: Xét xem hai đại lượng x và y tỉ lệ
thuận với nhau hay không ta sử dụng
kiến thức nào ?
HS: ……( x và y tỉ lệ thuận với nhau
II) Bài tập mới:
Bài 1: (Bài tập 8 trang 44 SBT)
a/ Hai đại lượng x và y tỉ lệ thuận
với nhau
vì:
5
1 2
1 2 5
4
y
y y
x x x
= = = =
b/ Hai đại lượng x và y không tỉ
lệ thuận với nhau
23
Khi
5
1 2
1 2 5


y
y y
k
x x x
= = = =
)
GV: gọi học sinh nhận xét và đặt câu
hỏi để chỉ ra x và y không tỉ lệ thuân
với nhau ta sử dụng kiến thức nào ?
HS: ………
( đưa ra 2 tỉ số khác nhau ví dụ:
5
1
1 5
y
y
x x

)
Hoạt động 2: Giải bài toán về hai đại
lượng tỉ lệ thuận
GV: Chia lớp thành 2 nhóm
Nhóm 1 : Thực hiện bài 9/56 ( sgk)
Nhóm 2 : Thực hiện bài 10 / 56 (sgk)
GV: Đặt câu hỏi phát vấn
BT 9 trang 56 SGK
GV: gọi học sinh đọc đề bài.
HS: đọc đề bài.
GV: Trong bài có bao nhiêu đại lượng

cùng tham gia ? Hai đại lượng liên hệ
với nhau như thế nào ? Mỗi đại lượng
có bao nhiêu giá trị ?
HS: ………
GV: Có thể phát biểu nội dung bài
toán dưới dạng toán tỉ lệ như thế
nào ?
HS: ……( Chia 150 thành 3 phần tỉ lệ
với 3, 4, 13 )
GV: Em hãy áp dụng tính chất dãy tỉ
số bằng nhau và các điều kiện đã biết
ở đề bài để giải bài toán này ?
BT 10 trang 56 SGK
GV: Gọi học sinh đọc đề bài.
HS: đọc đề bài.
vì :
5
1
1 5
y
y
x x

(
22 100
1 5

)
Bài 2: ( BT 9 trang 56 SGK)
Gọi khối lượng (kg) của niken,

kẽm, đồng lần lượt là x, y, z ;
( x, y, z > 0 )
Theo đề ta có :

3 4 13
x y z
= =
và x + y + z = 150
Áp dụng tính chất dãy tỉ số
bằng nhau

150
7,5
3 4 13 3 4 13 20
x y z x y z+ +
= = = = =
+ +
Vậy
7,5 22,5
3
x
x= ⇒ =

7,5 30
4
y
y= ⇒ =

7,5 97,5
13

z
z= ⇒ =
Trả lời: Khối lượng của Niken,
Kẽm, Đồng theo thứ tự là
22,5kg ; 30kg ; 97,5kg .
Bài 3: ( BT 10 trang 56 SGK)
Gọi độ dài 3 cạnh của tam giác
lần lượt là x, y, z ( x, y, z > 0)
Theo đề bài ta có:

2 3 4
x y z
= =
và x + y + z = 45
Áp dụng tính chất của dãy tỉ số
bằng nhau ta có :

45
5
2 3 4 2 3 4 9
x y z x y z+ +
= = = = =
+ +
24
GV: Trong bài có bao nhiêu đại lượng
cùng tham gia ? Hai đại lượng liên hệ
với nhau như thế nào ? Mỗi đại lượng
có bao nhiêu giá trị ?
HS: ………
GV: Cho học sinh thảo luận trong 2

phút
Sau đó gọi đại diện hai nhóm lên trình
bày
GV: Cho học sinh tự nhận xét bài
nhóm mình và bài nhóm bạn
GV: Nhận xét và sữa sai
Hoạt động 3:Thi làm toán nhanh
GV: Treo giấy A0 ghi đề bài tập
Gọi x, y, z theo thứ tự là số vòng quay
của kim giờ, kim phút, kim giây trong
cùng một thời gian.
a) Hãy điền số vào ô trống:
x 1 2 3 4
y
b) Biểu diễn y theo x
c) Điền số vào ô trống:
y 1 6 12 18
z
d) Biểu diễn z theo y.
HS: Nêu các bước giải
+ Xác định mối quan hệ giữa y và x,
giữa z và y
+ Hình thành công thức
+ Tính giá trị của đại lượng cần tìm
GV: hướng dẫn học sinh chơi trò chơi
thi làm toán nhanh: Chia mỗi tổ 4
Vậy

2.5 10
3.5 15

4.5 20
x
y
z
= =
= =
= =
Trả lời: độ dài 3 cạnh tam giác
lần lượt là: 10cm, 15cm, 20cm.
Bài 4:
a/ Hãy điền số vào ô trống:
x 1 2 3 4
y 12 24 36 48
b/ Biểu diễn y theo x là : y = 12x
c/ Điền số vào ô trống
y 1 6 12 18
z 60 360 720 1080
d/ Biểu diễn z theo y là z = 60
y
III) Bài học kinh nghiệm:
25

×