Tải bản đầy đủ (.doc) (34 trang)

skkn –một số biện pháp tạo xúc cảm lịch sử trong dạy học lịch sử việt nam giai đoạn 1954-1975

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.63 MB, 34 trang )

SKKN Mt s bin phỏp to xỳc cm lch s trong dy hc Lch s Vit Nam giai on 1954-
1975
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập Tự do Hạnh phúc

Đề tài sáng kiến kinh nghiệm
A. Sơ yếu lý lịch
Họ và tên: Khuất Thị Hồng
Sinh ngày: 08/04/1981
Năm vào ngành : 2003
Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên trờng THPT Ba Vì
Trình độ chuyên môn: Đại học S phạm Hà Nội
Hệ đào tạo: Chính quy
Bộ môn giảng dạy: Lịch sử
GV: Khut Th Hng - Trng THPT Ba Vỡ Ba Vỡ - H Ni
1
SKKN –Một số biện pháp tạo xúc cảm lịch sử trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954-
1975
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“ MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO XÚC CẢM LỊCH SỬ TRONG DẠY
HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954 - 1975”
A.PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lí luận
“Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
Thực hiện lời dạy đó của chủ tịch Hồ Chí Minh, bộ môn Lịch sử đã được Nhà
nước và Chính phủ ta quan tâm chú trọng đưa vào chương trình giảng dạy cho học
sinh từ cấp tiểu học và cũng để môn học này phát huy được vai trò là “cô giáo của
cuộc sống”.
Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử của các cuộc đấu tranh dựng nước và giữ


nước, đặc biệt giai đoạn 1954 – 1975, giai đoạn hào hùng nhất của lịch sử dân tộc
Việt Nam. Trong giai đoạn này, nhân dân Việt Nam đã tiến hành cuộc kháng chiến
chống Mĩ cứu nước, quân và dân ta đã lần lượt đánh bại nhiều chiến lược chiến tranh
của Mĩ : chiến lược Chiến tranh đơn phương, Chiến tranh đặc biệt, Chiến tranh cục
bộ, Việt Nam hóa chiến tranh và Đông Dương hóa chiến tranh. Những chiến thắng vẻ
vang của dân tộc ta trước kẻ thù được coi là lớn mạnh nhất trên thế giới lúc bấy giờ
và cho đến tận ngày nay đã nâng cao vị thế của dân tộc ta trên trường quốc tế. Hơn
khi nào hết, nhân dân Việt Nam luôn phải khắc sâu trong mình khí thế của một thời
đại anh hùng đó. Tuy nhiên, có một thực trạng đáng buồn hiện nay là chất lượng giáo
dục nói chung, bộ môn lịch sử nói riêng ngày càng bị giảm sút. Trong giai đoạn xã
hội phát triển nhanh theo hướng hiện đại hóa, cơ chế thị trường đã làm xuất hiện lối
sống thực dụng, một bộ phận không nhỏ học sinh ở trường phổ thông không còn coi
trọng kiến thức lịch sử, dẫn đến việc học sinh học chống đối, học trước quên sau, có
thái độ hời hợt khi học lịch sử. Bộ môn lịch sử bị mất dần vị trí, trở thành môn học
phụ trong khi trước đây lịch sử là môn học quan trọng để tuyển chọn nhân tài, muốn
đỗ đạt ra làm quan giúp nước phải “sôi kinh nấu sử”. Do đó, một bộ phận không nhỏ
giới trẻ ngày nay quên mất khí thế hào hùng của dân tộc, không còn thấy được công
lao to lớn của cha ông đã ngã xuống để có được nền hòa bình độc lập hôm nay.
Bộ môn lịch sử có vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục thái độ, tư tưởng,
tình cảm và hình thành thái độ đúng đắn với sự phát triển hợp quy luật xã hội và xác
GV: Khuất Thị Hồng - Trường THPT Ba Vì – Ba Vì - Hà Nội
2
SKKN –Một số biện pháp tạo xúc cảm lịch sử trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954-
1975
định nhiệm vụ cho thế hệ trẻ trong hiện tại và tương lai… Vì vậy, việc tạo xúc cảm
lịch sử cho HS là một trong những biện pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
bộ môn Lịch sử một cách có hiệu quả.
Với đặc trưng, lịch sử chính là bản thân cuộc sống rất phong phú, đa dạng và
sinh động bao trùm mọi mặt về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, đấu tranh giai cấp,
đấu tranh chính trị cho nên học lịch sử không đơn thuần là ghi nhớ ngày tháng, sự

kiện. Do đó, yêu cầu việc giảng dạy lịch sử của giáo viên phải rõ ràng, sinh động và
có cảm xúc để tạo ra sức hấp dẫn với chủ thể nhận thức, dựng lại bức tranh quá khứ
một cách chính xác nhất, học sinh có được cảm giác như chính mình được tham gia
vào sự kiện đó.
Căn cứ vào ảnh hưởng của xúc cảm người ta chia xúc cảm thành hai loại: tích
cực và tiêu cực. Những đối tượng thỏa mãn được nhu cầu của con người gây nên
những xúc cảm tích cực như: vui sướng, hạnh phúc, tự tin… loại xúc cảm này sẽ có
tác dụng nâng cao hoạt động của đời sống con người. Trái lại, những gì cản trở cho
việc thỏa mãn nhu cầu sẽ gây nên những xúc cảm tiêu cực như: buồn bã, chán nản, sợ
hãi…những xúc cảm này sẽ làm hạ thấp hoạt động sống của con người, làm yếu đi
nghị lực của họ.
Trong quá trình dạy học lịch sử giáo viên đóng vai trò chủ đạo bởi giáo viên là
người chủ động về nội dung kiến thức giảng dạy và lựa chọn phương pháp truyền
đạt, tổ chức hoạt động của học sinh trong giờ học, điều khiển giờ học một cách linh
hoạt, sinh động. Muốn quá trình dạy học đạt được kết quả cao giáo viên cần nắm
được đặc điểm tâm lí của học sinh diễn ra trong quá trình nhận thức để có những tác
động phù hợp về mặt sư phạm nhằm kích thích hoạt động tư duy độc lập của học
sinh. Việc tạo được những xúc cảm lịch sử sẽ tạo được động cơ tích cực thúc đẩy học
sinh hăng hái học tập.
Vì vậy, nhiệm vụ cơ bản của giáo viên là phải hình thành ở học sinh nhu cầu
với kiến thức và khi nhu cầu đó được thỏa mãn nghĩa là đã gây được xúc cảm tích
cực, kích thích hoạt động học tập độc lập, sáng tạo của học sinh.
2.Cơ sở thực tiễn
Qua quá trình giảng dạy của bản thân và dự giờ đồng nghiệp ở trường phổ thông
nơi tôi công tác, tôi nhận thấy các giáo viên đã ý thức được vai trò của việc sử dụng
các biện pháp tạo xúc cảm lịch sử trong dạy học lịch sử nói chung và dạy học lịch sử
dân tộc nói riêng để nhằm nâng cao chất lượng bộ môn. Nhưng xúc cảm là một lĩnh
GV: Khuất Thị Hồng - Trường THPT Ba Vì – Ba Vì - Hà Nội
3
SKKN –Một số biện pháp tạo xúc cảm lịch sử trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954-

1975
vực khó và tinh tế của con người nên việc sử dụng các biện pháp tạo xúc cảm còn gặp
nhiều khó khăn.
Việc tạo xúc cảm lịch sử cho học sinh, các giáo viên sử dụng biện pháp trình bày
miệng là chủ yếu nhưng việc trình bày miệng chưa đem lại hiệu quả cao vì lời nói của
giáo viên chưa sinh động, chưa gợi cảm., những câu chuyện, nội dung trình bày chưa
thực sự tạo xúc cảm cao.
Một số giáo viên có sử dụng đồ dùng trực quan để tạo hứng thú học tập cho học
sinh, tuy nhiên nhiều đồ dùng trực quan còn chưa phù hợp với nội dung bài học. Giáo
viên có khi chỉ đưa ra hình ảnh mà chưa cung cấp cho học sinh kiến thức lịch sử qua
hình ảnh đó và cũng chưa rút ra ý nghĩa mang tính giáo dục tư tưởng.
Về phía học sinh: Đa số học sinh rất ngại học lịch sử vì quá dài, khó nhớ các sự
kiện và nhàm chán, khô khan. Mặc khác, trong sự phát triển của xã hội, đa số học
sinh coi Lịch sử là bộ môn phụ, các em còn để giành thời gian cho các môn học
chính, môn dự thi vào Đại học, cao đẳng. Học sinh có học cũng chỉ mang tính chất
đối phó với các bài kiểm tra thường xuyên và kiểm tra định kì nên chất lượng không
cao.
Thực tế, tôi đã tiến hành khảo sát, điều tra 3 lớp 12 tôi giảng dạy ( 126 học sinh
trường THPT Ba Vì) thông qua bài khảo sát chất lượng đầu năm và thu được kết quả
như sau:
LỚP SĨ SỐ GIỎI KHÁ TRUNG BÌNH YẾU, KẾM
12A5 43 1 9 23 10
12A8 41 0 10 26 5
12A9 42 2 15 23 2
Từ cơ sở lí luận và thực tiễn trên, bản thân tôi là một giáo viên dạy lịch sử đã
luôn cố gắng tìm tòi, nghiên cứu và thử nghiệm để đổi mới phương pháp dạy học
nâng cao chất lượng giảng dạy. Tôi nhận thấy, việc sử dụng các biện pháp tạo xúc
cảm lịch sử có tác dụng không nhỏ đến quá trình tiếp thu tri thức, giáo dục tư tưởng,
tình cảm đạo đức cũng như phát triển tư duy cho học sinh. Song để sử dụng các biện
pháp tạo xúc cảm như thế nào để góp phần nâng cao hiệu quả bài học? Tôi xin trình

bày một số kinh nghiệm của mình ở phần nội dung.
II. MỤC ĐÍCH CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Qua việc nghiên cứu đề tài này, tôi mong muốn sẽ góp phần định hướng nhận
thức đúng đắn cho học sinh, giáo dục tình yêu đất nước, tinh thần tự hào dân tộc, lòng
biết ơn với các thế hệ cha ông đã ngã xuống cho hòa bình, độc lập hôm nay, từ đó ý
GV: Khuất Thị Hồng - Trường THPT Ba Vì – Ba Vì - Hà Nội
4
SKKN –Một số biện pháp tạo xúc cảm lịch sử trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954-
1975
thức được trách nhiệm của mình với quê hương đất nước. Việc sử dụng một số biện
pháp tạo xúc cảm học tập lịch sử của giáo viên cũng làm cho tiết học có hiệu quả, học
sinh yêu thích môn Lịch sử hơn, qua đó nâng cao chất lượng bộ môn Lịch sử nói
riêng và chất lượng giáo dục nói chung, từng bước đáp ứng được yêu cầu đổi mới
giáo dục của Đảng và nhà nước.
III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này, tôi đã thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận cơ bản về cảm xúc và việc dạy học tạo xúc cảm cho
HS trong dạy học lịch sử.
- Nghiên cứu các tài liệu về phương pháp dạy học lịch sử.
- Nghiên cứu các tài liệu về đổi mới phương pháp dạy học lịch sử.
- Nghiên cứu, khai thác nội dung sách giáo khoa phần lịch sử Việt Nam giai
đoạn 1954 – 1975.
- Khai thác, sử dụng tài liệu về lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954– 1975.
- Dự giờ đồng nghiệp, rút kinh nghiệm qua từng tiết dạy.
- Kiểm tra, đánh giá kết quả của học sinh để có sự điều chỉnh , bổ sung hợp lý.
IV. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
1. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về việc tạo xúc cảm học tập lịch sử Việt Nam giai
đoạn 1945 – 1975 nằm trong 3 bài: Baì 21 “ Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc,
đấu tranh chống đế quốc Mĩ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam (1954- 1965)”;Bài

22 “Nhân dân hai miền trực tiếp chiến đấu chống đế quốc Mĩ xâm lược. Nhân dân
miền Bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất (1965 – 1973)”; Bài 23 “Khôi phục và phát
triển kinh tế- xã hội ở miền Bắc,giải phóng hoàn toàn miền Nam (1973-1975)” thuộc
chương IV, phần 2 Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 2000 chương trình Lịch
sử lớp 12 (Chương trình chuẩn).
2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu mà tôi áp dụng cho đề tài là học sinh lớp 12A5, 12A8,
12A9 - Trường THPT Ba Vì – Huyện Ba Vì- Thành phố Hà Nội

GV: Khuất Thị Hồng - Trường THPT Ba Vì – Ba Vì - Hà Nội
5
SKKN –Một số biện pháp tạo xúc cảm lịch sử trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954-
1975
B. NỘI DUNG
I. MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO XÚC CẢM LỊCH SỬCHO HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954 – 1975
1. Những xúc cảm có thể tạo ra cho học sinh thông qua việc giảng dạy lịch sử
Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975
- Thông qua việc tìm hiểu về diễn biến, kết quả của cuộc chiến tranh có thể tạo
cho học sinh thái độ căm thù chiến tranh, mong muốn bảo vệ hòa bình, có thể đánh
giá được vai trò lãnh đạo của Đảng và củng cố niềm tự hào dân tộc.
- Thông qua các biểu tượng sinh động cụ thể, những câu chuyện hay hình ảnh
về tội ác chiến tranh do đế quốc Mĩ, quân đội tay sai và các nước thân Mĩ gây ra, hậu
quả của nó đối với nhân dân Việt Nam sẽ tác động mạnh đến tư tưởng tình cảm của
học sinh.
- Thông qua các câu chuyện, các tấm gương anh hùng giáo dục cho các em lòng
biết ơn, từ đó ý thức được trách nhiệm của mình đối với quê hương, đất nước
2. Một số biện pháp tạo xúc cảm học tập lịch sử cho học sinh qua dạy học lịch
sử Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975
2.1. Thông qua trình bày miệng của giáo viên.

Lời nói là phương tiện dạy học quan trọng nhất của giáo viên, lời giảng của
giáo viên là nguồn kiến thức sinh động nhất tác động mạnh mẽ đến tư duy và tình
cảm, khơi dậy những xúc cảm tích cực của học sinh. Ngôn ngữ sẽ giúp cho người
giáo viên hoàn thành tốt các nhiệm vụ dạy học lịch sử về cả ba mặt: kiến thức, kỹ
năng và tư tưởng thái độ của học sinh, khơi dậy trong các em các xúc cảm lịch sử.
Bởi vậy, “ngôn ngữ rõ ràng, giàu hình ảnh, hấp dẫn của giáo viên có ảnh hưởng rất
lớn tới trí tuệ và trái tim học sinh”.
Ví dụ 1: Bằng giọng nói truyền cảm để tường thuật hoặc miêu tả, tạo biểu
tượng về một số sự kiện, nhân vật lịch sử mà không sử dụng đồ dùng trực quan.
Ở bài 22: Ở mục IV.2. Miền Bắc vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, vừa
sản xuất và làm nghĩa vụ hậu phương, tôi tạo biểu tượng cho học sinh về cuộc tập
kích 12 ngày đêm bằng B52 của Mĩ: Chỉ trong 12 ngày đêm Mĩ đã sử dụng trên 700
lần chiếc máy bay B52 và gần 4000 lần chiếc máy bay chiến thuật ném bom xuống
Hà Nội, Hải Phòng và một số nơi trên miền Bắc nước ta hơn 100.000 tấn bom đạn.
Riêng Hà Nội 441 lần chiếc B52 cùng nhiều máy bay chiến thuật ném hơn 40.000 tấn
bom (tương đương với 2 quả bom nguyên tử mà Mĩ đã ném xuống Hi-rô-si-ma và Na-
GV: Khuất Thị Hồng - Trường THPT Ba Vì – Ba Vì - Hà Nội
6
SKKN –Một số biện pháp tạo xúc cảm lịch sử trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954-
1975
ga-sa-ki, Nhật Bản). Ních-xơn muốn biến Hà Nội thành Hi-rô-si-ma và Na-ga-sa-ki
không cần bom nguyên tử , “ biến miền Bắc trở về thời kì đồ đá”…
Qua đó, học sinh thấy được tội ác của Mĩ đã gây ra cho nhân dân miền Bắc,
đặc biệt là nhân dân Hà Nội, Hải Phòng , đồng thời thấy được sự khốc liệt của chiến
tranh.
Thế nhưng cuộc tập kích này đã bị nhân dân ta đánh bại chỉ với súng trường,
tên lửa SAM2… những thứ vũ khí so với vũ khí của Mĩ thật thô sơ nhưng với quyết
tâm “Không có gì quý hơn độc lập tự do” quân và dân ta đã làm tiêu tan hình ảnh về
“pháo đài bay” B52 “bất khả xâm phạm”. Có được chiến thắng đó là do tầm nhìn xa
trông rộng, sự chỉ đạo chiến lược tài tình của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí

Minh ngay từ đầu cuộc chiến tranh phá hoại của Mĩ. Ngay từ ngày 12/4/1966, đế
quốc Mĩ tung ra B52 ra miền Bắc ném bom tại Đèo Mụ (Quảng Bình). Trung ương
Đảng và Bác Hồ đã nhận định: dứt khoát Mĩ sẽ sử dụng B52 vào đánh Hà nội và chỉ
thị cho Bộ Tư lệnh và Quân chủng Phòng không – không phải tổ chức ngay cách
đánh máy bay B52, phải bắn rơi bằng được B52 của Mĩ trên miền Bắc. Từ đó, củng
cố niềm tin của học sinh vào Đảng, vào tinh thần chiến đấu của quân và dân ta.
Bài 23: Ở mục IV. 1. Nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ,
cứu nước(1954-1975). Để tạo xúc cảm cho học sinh, lôi cuốn học sinh vào bài giảng,
tôi dẫn dắt vào bài với những lời nói sinh động như sau: Nếu đem vũ khí chọi vũ khí,
đem tiềm lực kinh tế so sánh với tiềm lực kinh tế thì rõ ràng đây là một sự chênh lệch
không thể tưởng tượng nổi và phần thắng chắc chắn thuộc về Mĩ. Nhưng thực tế
phần thắng đã thuộc về ta. Vấn đề đặt ra tại sao chúng ta lại đánh thắng?
Bài 22: Khi giảng đến mục IV.2. Miền Bắc vừa chiến đấu chống chiến tranh
phá hoại, vừa sản xuất và làm nghĩa vụ hậu phương, tôi sử dụng câu chuyện về anh
hùng diệt máy bay B52 – Phạm Tuân :
“Đêm 27 – 12 – 1972, nhiều tốp B52 từ hướng tây bắc bay vào bắn phá Hà
Nội. Được lệnh cất cánh, Phạm Tuân lập tức điều khiển máy bay tiếp cận khu vực có
máy bay địch Lúc này máy bay F4 bay ở nhiều độ cao, bảo vệ B52 rất chặt chẽ. Anh
dũng cảm xông thẳng vào tốp B52, bắn 2 quả tên lửa, hạ tại chỗ một chiếc. Sau đó,
anh nhanh chóng vượt khỏi tốp máy bay yểm trợ của địch về hạ cánh an toàn. Hành
động của anh được nhân dân và đồng đội mến phục, quân thù khiếp sợ”
Bài 23: Ở mục IV. 1. Nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu
nước(1954-1975), tôi kể cho học sinh nghe chiến công của nữ anh hùng La Thị Tám:
GV: Khuất Thị Hồng - Trường THPT Ba Vì – Ba Vì - Hà Nội
7
SKKN –Một số biện pháp tạo xúc cảm lịch sử trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954-
1975
La Thị Tám quê ở Hà Tĩnh, 1967, khi vừa tròn 18 tuổi, La Thị Tám gia nhập đội
thanh niên xung phong và được biên chế vào đơn vị chủ lực 2- Giao thông vận tải
đóng tại xã Đồng Lộc. Chị được giao nhiệm vụ đứng trên một quả đồi cao, phía trái

của ngã ba Đồng Lộc vào những lúc máy bay Mĩ ném bom để đếm số lượng bom kẻ
thù trút xuống. Sau khi máy bay Mĩ vừa đi là chị chạy xuống cắm tiêu đánh dấu cho
công binh đến phát nổ. Suốt 200 ngày đêm ròng rã, chị đã cắm tiêu được số lượng
bom lớn : 1205 quả. 1969 chị được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ
trang khi mới tròn 20 tuổi và là nguyên mẫu nữ nhân vật trong bài hát “ Người con
gái Sông La ” của nhạc sĩ Doãn Nho.
Với một giọng điệu tường thuật mẩu chuyện, từ cung cấp sự kiện, tôi tạo ra cho
học sinh cảm xúc thích thú trước những hiểu biết mới sâu sắc, có ấn tượng mạnh mẽ.
Những xúc cảm này không thể có được nếu bài tường thuật khô khan, thông báo vắn
tắt sự kiện.
Ví dụ 2: Đọc những đoạn văn, thơ ngắn minh họa cho bài học.
Bài 23: Ở mục IV.1. Nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu
nước(1954-1975),tôi trích dẫn đoạn thơ:
“ … Xẻ dọc trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai…”
( Ra trận – Tố Hữu)
Hay câu thơ :
“ Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình
( Nhưng tuổi 20 làm sao không tiếc)
Nhưng ai cũng tiếc tuổi 20 thì còn chi tổ quốc”
( Thanh Thảo)
Qua những câu thơ, các em một trong những nguyên nhân thắng lợi của cuộc
kháng chiến chống Mĩ cứu nước là truyền thống yêu nước. Đó là sự hy sinh cao cả
của mỗi người, mỗi gia đình và cả dân tộc, vì tổ quốc họ hiến dâng cả tuổi trẻ, cả máu
cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Đây cũng là lí do giải thích vì sao một dân tộc nhỏ
yếu lại có thể chiến thắng một đế quốc hùng mạnh nhất thế giới. Từ đó các em ý thức
được: Các em hôm nay được sống trong thời bình, sinh ra lúc nước nhà đã thôi
không còn máu lửa của chiến tranh. Các em cần ra sức học tập thật giỏi để trở thành
những chủ nhân tương lai của đất nước.
2.2. Sử dụng đồ dùng trực quan.

GV: Khuất Thị Hồng - Trường THPT Ba Vì – Ba Vì - Hà Nội
8
SKKN –Một số biện pháp tạo xúc cảm lịch sử trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954-
1975
Đồ dùng trực quan có vai trò quan trọng trong dạy học nói chung và dạy học
lịch sử nói riêng ở trường THPT, đặc biệt sẽ phát huy được ưu thế trong dạy học lịch
sử, bởi đặc trưng của bộ môn “tính quá khứ”, “tính không lặp lại”. Đồ dùng trực
quan sẽ giúp học sinh có được biểu tượng chân thực về quá khứ lịch sử, giúp học sinh
nhớ kỹ, hiểu sâu được bài học lịch sử và làm cho giờ học sôi nổi và hấp dẫn. Đồng
thời, đồ dùng trực quan còn có ý nghĩa giáo dục tư tưởng, cảm xúc thẩm mĩ, góp phần
hình thành cho các em những phẩm chất đạo đức cần thiết.
Đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử hết sức phong phú và đa dạng bao
gồm đồ dùng trực quan hiện vật (các di vật của nền văn hóa còn lưu lại), đồ dùng trực
quan tạo hình (tranh ảnh, phim, video, đồ dùng phục chế…), đồ dùng trực quan quy
ước (bản đồ, sơ đồ, niên biểu…). Trong các đồ dùng trực quan này, nhóm trực quan
quy ước và trực quan tạo hình được sử dụng nhiều trong dạy học lịch sử ở trường phổ
thông. Song, tùy vào mục đích, yêu cầu của bài học, căn cứ vào nội dung từng mục
học và khả năng lĩnh hội tri thức của học sinh mà lựa chọn đồ dùng trực quan cho phù
hợp, đem lại hiệu quả cao nhất.
Ví dụ 1: Sử dụng tranh ảnh.
Ở bài 21: Ở mục V.2. Miền Nam chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh đặc
biệt” của Mĩ, khi nói về cuộc đấu tranh của tín đồ Phật giáo chống chính quyền Mĩ –
Diệm , tôi sử dụng hình ảnh Hòa Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu tạo cho học sinh
ấn tượng sâu sắc về sự kiện lịch sử này, giúp các em nhớ lâu và nắm chắc kiến thức:
Tháng 5-1963, chính phủ Ngô Đình Diệm ban hành lệnh cấm việc treo cờ Phật giáo
vào ngày lễ Phật Đản. Ngày 11-6-1963, khoảng 350 hòa thượng và ni cô tiến hành
diễu hành lên án chính sách kì thị Phật giáo và đòi bình đẳng tôn giáo, Thích Quảng
Đức ngồi trong chiếc ô tô Austin Westmister dẫn đầu đoàn diễu hành . Sự việc diễn
ra tại ngã tư đương phố Sài Gòn, Thích Quảng Đức ra đi cùng với 2 nhà sư khác.
Một người đặt 1 tấm đệm xuống đường còn người kia mở ca bin xe và lấy ra một

bình xăng dung tích 5 galon( gần 4l). Đoàn diễu hành tạo thành nhiều lớp vòng tròn
xung quanh, Thích Quảng Đức bình tĩnh ngồi thiền trên tấm đệm. Hai nhà sư bắt đầu
trút xăng lên đầu ông. Thích Quảng Đức lần tràng hạt và bắt đầu niệm “ Nam Mô A
Di Đà Phật” trước khi tự tay châm lửa bằng diêm. Lửa nhanh chóng thêu rụi áo cà
sa và da thịt của vị hòa thượng, khói đen bốc lên từ cơ thể đang cháy bùng của ông .
Chừng 10 phút sau thì lửa tàn, Thích Quảng Đức đổ gục xuống đường. Sau khi chết,
thi hài của Thích Quảng Đức đã được hỏa táng lại, nhưng trái tim của ông không
GV: Khuất Thị Hồng - Trường THPT Ba Vì – Ba Vì - Hà Nội
9
SKKN –Một số biện pháp tạo xúc cảm lịch sử trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954-
1975
cháy mà vẫn còn nguyên, về sau được đặt trên một chiếc cốc rượu lễ bằng thủy tinh
tại chùa Xá Lợi. Giới phật tử coi đây là một điều thiêng, một biểu tượng của lòng
trắc ẩn và suy tôn ông thành một vị Bồ tát.

Ở bài 22: Mục I.2. Chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ của Mĩ ”. Khi
giảng đến nội dung “ Những thắng lợi của ta trên mặt trận chính trị ”, tôi sử dụng bức
hình “Nhân dân Mĩ biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam, đòi quân Mĩ rút về
nước”( hình 70- SGK Lịch sử 12).

Trước khi cung cấp cho các em những thông tin về bức hình này, tôi yêu cầu các em
quan sát hình và rút ra nhận xét. Tôi gợi ý để các em tự tìm hiểu nội dung qua các câu
GV: Khuất Thị Hồng - Trường THPT Ba Vì – Ba Vì - Hà Nội
10
SKKN –Một số biện pháp tạo xúc cảm lịch sử trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954-
1975
hỏi: Người trong bức ảnh mà người dân Mĩ giơ cao là ai?, Dòng chữ trên bức ảnh đó
có nghĩa là gì ?. Các em có thể nhận ra, đó là tổng thống Mĩ Giônxơn và dòng chữ đó
có nghĩa là kẻ sát nhân. Bức hình ghi lại cuộc biểu tình của nhân đân Mĩ trước Lầu
năm góc, phản đối chiến tranh ở Việt Nam, đòi Mĩ phải rút quân về nước. Cuộc biểu

tình thu hút hàng vạn người tham gia, gồm các tầng lớp trong xã hội, cả đàn ông,
đàn bà, người già, thanh niên … Trong lịch sử Hoa Kì chưa bao giờ có một phong
trào phản đối chiến tranh rầm rộ như thời kì chiến tranh xâm lược Việt Nam. Điều
đó cho thấy, nhân dân Mĩ, đặc biệt những người lính Mĩ đang tham chiến ở Việt Nam
không chỉ thấy sự vô nghĩa, tính chất phi đạo lí của cuộc chiến tranh xâm lược này,
mà còn thức tỉnh, kính phục một dân tộc giàu lòng yêu nước, dũng cảm chiến đấu
bảo vệ nền độc lập, tự do của mình. Họ hiểu rằng dù Mĩ có đổ bao nhiêu quân lính,
tiền của, súng đạn, thực hiện bao nhiêu chiến lược cũng không thể thắng được nhân
đân Việt Nam.
Khi dạy bài 22: Ở mục II. 2. Miền Bắc vừa chiến đấu chống chiến tranh phá
hoại, vừa sản xuất và làm nghĩa vụ hậu phương, khi giảng về vai trò hậu phương của
miền Bắc chi viện cho miền Nam, tôi sử dụng các bức ảnh từng đoàn quân, đoàn xe
chi viện cho tiền tuyến miền Nam qua tuyến đường Trường Sơn lịch sử. Bức hình tạo
cho các em biểu tượng về một dân tộc anh hùng, đoàn kết trong chiến đấu. Vì tiền
tuyến miền Nam, nhân dân miền Bắc quyết tâm “một người làm việc bằng hai”, cũng
để thực hiện chân lí “ dân tộc Việt Nam là một, nước Việt Nam là một”.
GV: Khuất Thị Hồng - Trường THPT Ba Vì – Ba Vì - Hà Nội
11
SKKN –Một số biện pháp tạo xúc cảm lịch sử trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954-
1975
Nhưng để cho mạch máu giao thông từ Bắc vào Nam được thông suốt, biết bao
xương máu của các chiến sĩ và nhân dân đã đổ xuống, tôi sử dụng hình ảnh 10 cô gái
TNXP hy sinh ở ngã ba Đồng Lộc.
Tôi phát vấn học sinh “Em biết gì về sự kiện ở ngã ba Đồng Lộc”, trước khi
cung cấp thông tin về sự kiện này: 10 cô gái TNXP thuộc tiểu đội 4, đại đội 552, tổng
đội 55 giao thông vận tải đóng ở ngã ba Đồng Lộc. Trưa ngày 24/7/1968, một ngày
GV: Khuất Thị Hồng - Trường THPT Ba Vì – Ba Vì - Hà Nội
12
SKKN –Một số biện pháp tạo xúc cảm lịch sử trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954-
1975

như mọi ngày, 10 chị ra đường làm nhiệm vụ. Đến 16 giờ 30 phút, trận bom thứ 15
trong ngày dội xuống Đồng Lộc, 1 quả bom đã nổ gần căn hầm chữ A, nơi 10 chị
đang tránh bom, làm sập hầm và tất cả 10 chị đã hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ.
Người trẻ tuổi nhất khi ấy mới 17, 3 chị lớn tuổi nhất cùng ở tuổi 24.
Bài 22: Mục IV.2. Miền Bắc vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, vừa
sản xuất và làm nghĩa vụ hậu phương, tôi giới thiệu về sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ
qua hình ảnh “Pháo đài bay” - Máy bay B52: Khi mới ra đời B52 được quảng cáo
rùm beng: “B52 là siêu pháo đài bay thượng đẳng, là thần tượng của Không lực Hoa
Kỳ, là sản phẩm hội tụ những thành tựu kỳ diệu nhất của nền công nghiệp hàng đầu
thế giới, là thứ vũ khí linh hoạt nhất trong bộ ba vũ khí chiến lược của Mỹ (Tên lửa
tầm xa, tàu ngầm hạt nhân, máy bay ném bom chiến lược)… B52 trút bom như mưa.
Tiếng bom rơi xé không khí, gầm rít ghê rợn như giông bão. Một phi vụ B52 có thể
hủy diệt cả một khu vực rộng lớn. Một tốp chiếc B52 sẽ biến một diện tích hơn 2 km
2
thành bình địa… không một sinh vật nào có thể tồn tại nổi dưới sức công phá ghê
gớm của bom B52. Đối phương sẽ bị hủy diệt về quân sự, khiếp đảm về tinh thần, bởi
vì họ cảm thấy hoàn toàn bất lực trước sức mạnh tàn phá ghê gớm của B52 mà họ
không có cách gì chống đỡ nổi. Nhưng thực tế “B52 có hủy diệt được Việt Nam hay
không?”, các em đã có câu trả lời của mình “ không thể ”. Dân tộc Việt Nam với tinh
thần đoàn kết và sức sống kiên cường đã đánh bại B52 của Mĩ, tôi sử dụng hình ảnh
“Máy bay Mĩ rơi trên đường phố Hà Nội”để khắc họa thắng lợi của nhân dân ta.
“Pháo đài bay” B52
GV: Khuất Thị Hồng - Trường THPT Ba Vì – Ba Vì - Hà Nội
13
SKKN –Một số biện pháp tạo xúc cảm lịch sử trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954-
1975
Máy bay Mĩ rơi trên đường phố Hà Nội
Khi nói về tội ác của đế quốc Mĩ gây ra cho nhân dân Việt Nam, tôi sử dụng
bức ảnh “Kim Phúc trong trận bom napan của Mĩ ở Việt Nam” do Nick Ut chụp năm
1972, bức ảnh ghi lại dấu ấn cả một thời đại và tố cáo tội ác kinh hoàng của chiến

tranh, được tờ Telegraph đánh giá là một trong mười bức ảnh có tác động làm thay
đổi thế giới của chúng ta. Trong bức ảnh là hình ảnh 5 đứa trẻ Việt Nam vẻ mặt khiếp
đảm chạy trốn một cuộc bỏ bom napalm. Đáng thương nhất là cô bé giữa khuôn hình
– Kim Phúc – trần truồng, gào khóc với cánh tay gầy gò xương xẩu. Bức ảnh chạm
đến trái tim của những người yêu hòa bình trên khắp thế giới. Tấm ảnh này đã góp
phần thay đổi nhận thức của nhiều người về cuộc chiến tranh mà Mĩ tiến hành ở
Việt Nam, khiến phong trào phản chiến thêm mạnh mẽ.
GV: Khuất Thị Hồng - Trường THPT Ba Vì – Ba Vì - Hà Nội
14
SKKN –Một số biện pháp tạo xúc cảm lịch sử trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954-
1975
Qua những ví dụ sinh động cụ thể như trên, tôi sẽ hình thành được cho học sinh
thái độ căm thù chiến tranh, với đế quốc Mĩ xâm lược và thương xót trước những hi
sinh, mất mát lớn lao của đất nước, từ đó, các em sẽ ý thức được nhiệm vụ của mình
trong việc bảo vệ và xây dựng đất nước.
Bài 22: Ở mục III.3. Cuộc tiến công chiến lược năm 1972, tôi sử dụng bức hình
“ Quân ta tiến vào Quảng Trị 1972” và cung cấp cho các em những tư liệu về thành
cổ Quảng Trị trong 81 ngày đêm (28/61972 – 16/9/1972): Bản tin ngày 12/7/1972,
của Hãng Thông tấn UPI Hoa Kỳ cho biết: có tuần lễ, Hoa Kì đã huy động máy bay
chiến đấu của ba quân chủng ném xuống khu vực thị xã Quảng Trị hơn 7000 tấn bom
và bắn 10 vạn quả đại bác. Nhiều báo chí phương Tây bình luận và so sánh số bom
Mĩ ném xuống Thành cổ Quảng Trị trong 81 ngày đêm khoảng 328 nghìn tấn tương
đương với sức công phá của 7 quả bom nguyên tử mà Mĩ ném xuống Hi-rô-si-ma và
Na-ga-sa-ki( Nhật Bản) hồi Thế chiến thứ hai. Dưới sức công phá của một lượng
bom đạn khổng lồ như thế, cái thị xã nhỏ vẻn vẹn chỉ chưa đầy 3 km
2
đã nhanh chóng
bị san thành bình địa, tòa Thành cổ với chu vi gần 3000m, mục tiêu chủ yếu trong
cuộc hành quân tái chiếm của Mĩ – Ngụy cũng chỉ còn là những đống gạch đổ nát….
Và cuộc chiến 81 ngày đêm của quân và dân ta:

“… Ta và địch giành giật nhau từng mô đất, từng mảng tường, từng đoạn giao
thông hào… Đêm 16/9, hầu hết các điểm chốt của ta đều rơi vào tay địch. Những tổ
chiến đấu cuối cùng được lệnh rời Thành cổ, vượt sông Thạch Hãn rút sang bờ Bắc.
Hàng trăm thương binh, chiến sĩ kiệt sức vì những ngày dầm mình trong mưa lũ đã
không còn chống đỡ nổi trước dòng nước sôi trào, cuộn xoáy, máu hòa trong nước,
GV: Khuất Thị Hồng - Trường THPT Ba Vì – Ba Vì - Hà Nội
15
SKKN –Một số biện pháp tạo xúc cảm lịch sử trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954-
1975
máu nhuộm đỏ đất sa bồi, sông Thạch Hãn trở thành nơi yên nghỉ của những người
lính Thành cổ kiêu hùng… Hơn 10.000 chiến sĩ quân Giải phóng đã hi sinh trong 81
ngày đêm ấy, để hôm nay có người cựu chiến binh về thăm, thắp hương cho đồng đội
,nghẹn ngào :
… Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Có tuổi 20 thành sóng nước
Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm…”.
Từ những hình ảnh và qua lời giảng truyền cảm của giáo viên, các em thấy
được tinh thần chiến đấu kiên cường của quân dân ta, thấy được sức mạnh của nhân
dân. Qua đó, giáo dục các em lòng yêu nước, khâm phục trước sự hi sinh của các
chiến sĩ cách mạng, bồi dưỡng lòng tự hào dân tộc.
Ví dụ 2 : Sử dụng bản đồ, lược đồ các chiến dịch .
Bài 21: Mục III.2.Phong trào “ Đồng khởi ”(1959-1960), tôi sử dụng lược đồ
phong trào “Đồng khởi “ để giúp cho học sinh nắm được diễn biến của phong trào,
đặc biệt tôi chú ý nhấn mạnh cho các em thấy sự phát triển mạnh mẽ của phong trào,
từ 3 xã của huyện Mỏ Cày lan ra toàn huyện, rồi cả tỉnh Bến Tre, lan ra các tỉnh Nam
Bộ, Tây Nguyên và Trung Trung Bộ. Qua đó cho các em thấy được sức mạnh to lớn
của quần chúng nhân dân và cũng là minh chứng khẳng định nhân dân miền Nam
quyết tâm đoàn kết cùng nhân dân cả nước đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng miền
Nam, thống nhất đất nước.

GV: Khuất Thị Hồng - Trường THPT Ba Vì – Ba Vì - Hà Nội
16
SKKN –Một số biện pháp tạo xúc cảm lịch sử trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954-
1975
Bài 23: Mục III.2. Cuộc tổng tiến công và nồi dậy Xuân 1975, tôi sử dụng
lược đồ kết hợp tường thuật diễn biến của 3 chiến dịch. Học sinh được trực tiếp quan
sát từng diễn biến của chiến dịch một cách sinh động, cụ thể và làm khơi dậy ở các
em khí thế hào hùng, dũng mãnh và thần tốc của cuộc tổng tiến công và nổi dậy của
nhân dân ta trong những giây phút lịch sử trọng đại đó. Từ đó, toàn bộ các sự kiện,
diễn biến của chiến dịch sẽ được các em ghi nhớ bài ngay tại lớp và các em có thể
trình bày lại toàn bộ diễn biến chiến dịch theo bản đồ. Đồng thời, cùng với việc tìm
hiểu diễn biến các chiến dịch, các em nhận thức được sự lãnh đạo sáng suốt của
Đảng, nhận định đúng thời cơ, đề ra chủ trương, kế hoạch hợp lí, từ đó thấy được
nguyên nhân quyết định nhất đến sự thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu
nước là nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng.
GV: Khuất Thị Hồng - Trường THPT Ba Vì – Ba Vì - Hà Nội
17
SKKN –Một số biện pháp tạo xúc cảm lịch sử trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954-
1975
GV: Khuất Thị Hồng - Trường THPT Ba Vì – Ba Vì - Hà Nội
18
SKKN –Một số biện pháp tạo xúc cảm lịch sử trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954-
1975

Ví dụ 3: Sử dụng sơ đồ làm dẫn chứng minh họa .
Bài 23: Ở mục IV.1. Nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ,
cứu nước(1954-1975), tôi sử dụng sơ đồ “ Viện trợ của các nước XHCN cho Việt
Nam dân chủ cộng hòa”.
Với sơ đồ này, học sinh biết được sự giúp đỡ to lớn về của cải vật chất của các
nước XHCN cho Việt Nam đặc biệt trong những năm 1969-1972, góp phần quan

trọng vào thắng lợi của nhân dân Việt Nam “ đánh cho Mĩ cút, đánh cho ngụy nhào”.
Qua đó, các em thấy được đó không chỉ là thắng lợi của nhân dân Việt Nam mà còn
là thắng lợi của tinh thần đoàn kết của các nước XHCN (tính ưu việt của CNXH).
GV: Khuất Thị Hồng - Trường THPT Ba Vì – Ba Vì - Hà Nội
19
SKKN Mt s bin phỏp to xỳc cm lch s trong dy hc Lch s Vit Nam giai on 1954-
1975
Ngy nay, dự cho CNXH ó sp Liờn Xụ v ụng u nhng nhng nc tip
tc i lờn con ng CNXH nh Vit Nam, Trung Quc vn l s la chn ỳng n.
Vớ d 4: S dng phim nh trong dy hc ni khúa v cỏc hot ng
ngoi khúa ca b mụn.
Trong cỏc hot ng ngoi khúa vic s dng phim nh em li hiu qu rt
cao. Nh trong ngoi khúa k nim ngy gii phúng min Nam thng nht t
nc(30-4-1975), cú th s dng cỏc b phim t liu nh Tng tin cụng v ni dy
1972, i thng mựa xuõn 1975.
i vi cỏc gi hc ni khúa do hn ch v thi gian ca tit hc nờn giỏo viờn
ch nờn s dng cỏc on phim t liu ngn tp trung vo cỏc s kin tiờu biu kt
hp vi li dn dt, tng thut thỡ s t hiu qu hn. bi 22: Mc III.3. Cuc
tin cụng chin lc nm 1972, giỏo viờn cú th s dng on phim t liu ngn v
cuc chin u ca quõn ta ti Thnh c Qung Tr. Bi 23.Mc III.2.Cuc tng tin
cụng v ni dy Xuõn 1975, giỏo viờn la chn tng on phim nh v din bin ca
3 chin dch : chin dch Tõy Nguyờn, chin dch Hu - Nng v chin dch H
Chớ Minh. Vic s dng cỏc on phim t liu s thu hỳt c s chỳ ý ca hc sinh,
to ra nhng xỳc cm mnh m. Sau khi cho hc sinh theo dừi, giỏo viờn t ra cõu
hi: Cm nhn ca em khi theo dừi on phim?. Giỏo viờn cho hc sinh trỡnh by
ý kin v cm nhn ca bn thõn. Qua ú, cỏc em s cm thy n tng vi nhng
hỡnh nh, kin thc c khc sõu hn, lm c s tip thu kin thc mi, kớch
thớch t duy ca cỏc em hot ng, nhng hỡnh nh c quan sỏt s phỏt trin trớ
tng tng ca cỏc em.
II. THIT K MT GIO N C TH.

Tiết 38 Bài 22
NHâN DâN Hai miền trực tiếp chiến đấu chống
đế quốc m xâm lợc. NHâN DâN Miền bắc vừa chiến đấu
vừa sản xuất (1965 - 1973)(Tit 1)
I. Mục tiêu bài học:
1- Kiến thức: Qua bài này học sinh cần nắm vững các kiến thức cơ bản sau:
GV: Khut Th Hng - Trng THPT Ba Vỡ Ba Vỡ - H Ni
20
SKKN Mt s bin phỏp to xỳc cm lch s trong dy hc Lch s Vit Nam giai on 1954-
1975
- Âm mu, hành động của M trong chiến lợc "Chiến tranh cục bộ" và những
thắng lợi tiêu biểu của ta trong việc đánh bại chiến lợc Chiến tranh cục bộ của M.
- Y nghĩa của cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.
- Những thành tựu và thắng lợi của nhân dân miền Bắc trong việc vừa sản xuất
và làm nghĩa vụ hậu phơng, vừa chiến đấu chống hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế
quốc M.
2- T tởng:
Khâm phục, tự hào trớc tinh thần chiến đấu quả cảm, kiên cờng của dân tộc ta
trong cuộc chiến tranh chống đế quốc M xâm lợc. Trân trọng, học tập và kế thừa tinh
thần vừa sản xuất - vừa chiến đấu của quân - dân miền Bắc trong sự nghiệp vừa xây
dựng vừa bảo vệ tổ quốc hiện nay.
3- Kỹ năng:
- Khai thác lợc đồ, tranh ảnh.
- Các kỹ năng t duy.
II. Thiết bị và tài liệu dạy - học:
- Lợc đồ trận Vạn Tờng - Quảng Ngãi (1965).
- Một số tranh ảnh có liên quan.
- Tài liệu tham khảo.
III. Tiến trình tổ chức dạy - học:
1- Kiểm tra bài cũ:

Câu hỏi: Âm mu và thủ đoạn của M trong việc tiến hành chiến lợc
"Chiến tranh đặc biệt" (1961 - 1965) ở miền Nam? Quân dân miền Nam đã chiến đấu
chống chiến lợc "Chiến tranh đặc biệt" và giành đợc thắng lợi nh thế nào?.
2- Dẫn dắt vào bài mới:
Kế tục và phát huy những thành quả chiến đấu và sản xuất những năm 1954 -
1965, từ 1965 - 1973, nhân dân ta ở hai miền Nam - Bắc cùng chiến đấu đánh bại liên
tiếp chiến lợc "Chiến tranh cục bộ", "Việt Nam hoá chiến tranh" và chiến tranh bằng
không quân, hải quân phá hoại miền Bắc của đế quốc M. Miền Bắc vừa chiến đấu
GV: Khut Th Hng - Trng THPT Ba Vỡ Ba Vỡ - H Ni
21
SKKN Mt s bin phỏp to xỳc cm lch s trong dy hc Lch s Vit Nam giai on 1954-
1975
chống chiến tranh phá hoại, vừa sản xuất, thực hiện nghĩa vụ hậu phơng chi viện cho
tiền tuyến miền Nam và làm nghĩa vụ quốc tế đối với Lào và Campuchia.
Chúng ta cùng tìm hiểu bài học này để thấy đợc những thành tựu và chiến công
oanh liệt của nhân dân hai miền trong cuộc kháng chiến chống đế quốc M giai đoạn
1965 - 1968.
3- Tổ chức dạy - học:
Hoạt động của GV- HS Kiến thức cơ bản
* Hoạt động 1: Cả lớp và cá nhân:
- Trớc tiên, GV thông báo: Sau thất bại của
chiến lợc "Chiến tranh đặc biệt", M đẩy mạnh
chiến tranh xâm lợc miền Nam, chuyển sang
chiến lợc "Chiến tranh cục bộ" và mở rộng chiến
tranh phá hoại miền Bắc.
- GV phát vấn:: Âm mu và hành động của Mĩ
trong chiến lợc "Chiến tranh cục bộ là gì"?.
- GV nhận xét và chốt lại ngắn gọn về âm mu và
hành động của M.
I. Chiến đấu chống

chiến lợc "Chiến tranh
cục bộ" của đế quốc M ở
miền Nam (1965 - 1968).
1. Chiến lợc "Chiến tranh
cục bộ" của M ở miền Nam.
-Âm mu:
+ Sau thất bại của "Chiến
tranh đặc biệt", M chuyển sang
chiến lợc "Chiến tranh cục bộ"
ở miền Nam và m rộng chiến
tranh phá hoại miền Bắc.
+ Chiến tranh cục bộ là loại
hình chiến tranh xâm lợc thực
dân mới, đợc tiến hành bằng
lực lợng quân M, quân một số
nứớc đồng minh của M và
quân đội Sài Gòn.
- Mc tiờu: giành lại thế chủ
động trên chiến trờng, đẩy quân
ta trở về phòng ngự, buc ta
phi phõn tỏn ỏnh nh hoc
rỳt v biờn gii.
-Hành động:
GV: Khut Th Hng - Trng THPT Ba Vỡ Ba Vỡ - H Ni
22
SKKN Mt s bin phỏp to xỳc cm lch s trong dy hc Lch s Vit Nam giai on 1954-
1975
- GV hớng dẫn học sinh so sánh Chiến lợc chiến
tranh cục bộ với Chiến lợc chiến tranh đặc biệt
(nhấn mạnh điểm khác về quy mô, lực lợng). Sau

đó phát vấn : Em có nhận xét gì về chiến lợc
"Chiến tranh cục bộ" của Mĩ?.
GV nhận xét và kết luận: Đây là một chiến lợc
chiến tranh mạnh và nguy hiểm đối với quân ta,
thể hiện rõ quyết tâm tiêu diệt cách mạng Việt
Nam của đế quốc M. Để chống lại "Chiến tranh
cục bộ" đòi hỏi chúng ta phải huy động sức mạnh
lớn lao, ý chí lớn lao của cả tiền tuyến và hậu ph-
ơng.
* Hoạt động 1: Cả lớp và cá nhân:
- GV thông báo: Dới ánh sáng Nghị quyết
Trung ơng, với ý chí "Không có gì quý hơn độc
lập tự do" và "Quyết chiến quyết thắng giặc M
xâm lợc", lại đợc sự phối hợp và chi viện ngày
càng lớn của miền Bắc, nhân dân ở miền Nam đã
chiến đấu anh dũng và liên tiếp giành thắng lợi.
+ ồ ạt đa quân M và đồng
minh vào miền Nam. Quân số
lúc cao nhất (1969) lên gần 1,5
triệu, trong đó quân M hơn nửa
triệu.
+ Mở ngay cuộc hành quân
"Tìm diệt" vào căn cứ quân ta ở
Vạn Tờng (Quảng Ngãi).
+ Mở liền hai cuộc phản
công chiến lợc mùa khô 1965 -
1966 và 1966 - 1967 bằng hàng
loat cuộc hành quân "Tìm diệt"
và "Bình định" vào vùng đất
thánh Việt Cộng.

2. Chiến đấu chống chiến lợc
"Chiến tranh cục bộ" của
M.
* Chiến thắng Vạn Tờng
(Quảng Ngãi).
- 8/1965, quân giải phóng
của ta gồm 1 trung đoàn chủ
lực cùng với quân du kích và
nhân dân địa phơng đã đập tan
cuộc càn quét của 9.000 lính
M vào Vạn Tờng.
GV: Khut Th Hng - Trng THPT Ba Vỡ Ba Vỡ - H Ni
23
SKKN Mt s bin phỏp to xỳc cm lch s trong dy hc Lch s Vit Nam giai on 1954-
1975
-GV hớng dẫn HS khai thác "Lợc đồ trận Vạn
Tờng - Quảng Ngãi (8/1965)".
Sau khi HS đã quan sát và nắm vững các ký
hiệu trên bản đồ, GV vừa chỉ vào bản đồ, vừa
thuật lại trận chiến đấu:
Vạn Tờng là một làng nhỏ ven biển thuộc xã
Bình Hải, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi. Mờ sáng
18/8/1965, sau khi đã chiếm đợc Chu Lai (Quảng
Nam), lính thuỷ đánh bộ M mở cuộc hành quân
mang tên "ánh sáng sao" vào thôn Vạn Tờng
nhằm tiêu diệt một đơn vị chủ lực của ta, tìm kiếm
một thắng lợi quân sự để gây uy thế cho lính M,
lấn chiếm vùng giải phóng và mở rộng vùng an
toàn cho căn cứ Chu Lai. Lực lợng M sử dụng
vào cuộc hành quân khoảng 9.000 tên, 105 xe

tăng và xe bọc thép, 100 máy bay lên thẳng và 70
máy bay phản lực chiến đấu, 6 tàu chiến
GV phát vấn: Chiến thắng Vạn Tờng có ý nghĩa
nh thế nào?
- GV nhận xét và tổng kết: Chiến thắng Vạn T-
ờng là đòn phủ đầu oanh liệt giáng vào bọn xâm l-
ợc M, là một trận chống càn điển hình của quân
giải phóng.
- GV phát vấn: Tiếp sau chiến thắng Vạn Tờng,
quân - dân miền Nam đã đánh bại hai cuộcphản
công chiến lợc mùa khô 1965 - 1966 và 1966 -
- ý nghĩa: Chiến thắng Vạn
Tờng đợc coi là "ấp Bắc" đối
với quân M, khẳng định quân
dân ta có thể đánh bại M trong
"Chiến tranh cục bộ", mở đầu
cao trào "Tìm M mà đánh,
lùng nguỵ mà diệt" trên khắp
miền Nam.
* Chiến thắng mùa khô 1965 -
1966 và 1966 - 1967.
- Nhân dân miền Nam đập
tan cuộc phản công chiến lợc
mùa khô thứ nhất 1965 1966
của Mĩ với 450 cuộc hành
quân, trong đó có 5 cuộc hành
quân tìm diệt lớn, nhằm vào 2
GV: Khut Th Hng - Trng THPT Ba Vỡ Ba Vỡ - H Ni
24
SKKN Mt s bin phỏp to xỳc cm lch s trong dy hc Lch s Vit Nam giai on 1954-

1975
1967 của đế quốc Mĩ nh thế nào?
- GV chốt lại ngắn gọn về chiến thắng 2 mùa
khô trên cơ sở kiến thức cơ bản trong SGK.
GV phát vấn: Ngoài các thắng lợi về quân sự,
nhân dân miền Nam còn giành các thắng lợi trên
mặt trận chống bình định và chính trị, em hãy cho
biết những thắng lợi đó?
- Giáo viên hớng dẫn học sinh khai thác hình 70
(Nhân dân M biểu tình phản đối chiến tranh Việt
Nam, đòi quân M rút về nớc). Qua đó giúp các
em thấy đựơc: Cuộc chiến tranh và các tội ác mà
đế quốc M gây ra cho nhân dân Việt Nam đã
khiến nhân dân M rất căm phẫn. Hàng vạn ngời
dân M đã biểu tình trớc Lầu năm góc phản đối
chiến tranh Việt Nam và đòi quân M rút về nớc
(10/1967).Đặc biệt, họ đã giơng cao tấm áp phích
có hình Tổng thống Giôn xơn và bên dới ghi dòng
chữ the criminal(nghĩa là kẻ sát nhân)
hớng chính ở Đông Nam Bộ và
Liên Khu V
-Mùa khô thứ hai 1966 -
1967 quân dân miền Nam đập
tan 895 cuộc hành quân trong
đó có 3 cuộc hành quân "tìm
diệt" và "bình định", lớn nhất là
cuộc hành quân Gianxơn Xiti
đánh vào căn cứ Dơng Minh
Châu nhằm tiêu diệt cơ quan
đầu não và quân chủ lực của ta.

* Những thắng lợi khác
- Phong trào phá ấp chiến lợc
đợc đẩy mạnh ở khắp các vùng
nông thôn,
- Phong trào đấu tranh chính
trị ở các đô thị dâng cao.
- Vùng giải phóng đợc mở
rộng, uy tín của Mặt trận dân
tộc giải phóng miền Nam đợc
nâng cao trên trờng quốc tế.
GV: Khut Th Hng - Trng THPT Ba Vỡ Ba Vỡ - H Ni
25

×