Tải bản đầy đủ (.doc) (59 trang)

nghiên cứu cấu trúc kiến tạo và tiềm năng dầu khớ tầng oligoxen mỏ bạch hổ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (358.15 KB, 59 trang )

Nghiên c u c u trúc-ki n t o v ti m n ng d u khí t ng Oligoxen m ứ ấ ế ạ à ề ă ầ ầ ỏ
B ch Hạ ổ
Mở đầu
Khóa luận tốt nghiệp nằm trong chương trình đào tạo bắt buộc của Khoa Địa
Chất Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên-Đai Học Quốc Gia Hà Nội. Với chương
trình đào tạo của bộ môn địa chất dầu khí, đề tài khóa luận này chọn hướng nghiên
cứu trong lĩnh vực dầu khí.
Công nghiệp dầu khí nước ta là một nghành công nghiệp non trẻ, nhưng nó
là một ngành công nghiệp mũi nhọn, góp phần quan trọng vào kim ngạch xuất khẩu.
Tháng 11 năm 2001 vừa qua, Xí nghiệp Liên doanh Dầu khí Vietsovpetro đã khai
thác tấn dầu thô thứ 100 triệu trên thềm lục địa Việt Nam. Sự kiện này đánh dấu
một bước ngoặt lớn trong nền công nghiệp dầu khí nước nhà cũng như trong nền
kinh tế quốc dân.
Trong suốt hơn 20 năm hoạt động, ngành dầu khí đã đem lại cho nền kinh tế
Việt Nam một nguồn ngoại tệ lớn và là ngành công nghiệp trọng điểm được Đảng
và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm phát triển. Nhiệm vụ của ngành công nghiệp dầu
khí hết sức nặng nề là phải tăng cường hoạt động tìm kiếm thăm dò để gia tăng trữ
lượng dầu khí 50 triệu tấn dầu thô/năm trong giai đoạn 2001-2005. Chính vì vậy,
công tác thăm dò và nghiên cứu dầu khí không chỉ mang ý nghĩa khoa học mà còn
có ý nghĩa thực tiễn rất to lớn trong việc đẩy mạnh và phát triển công nghiệp dầu
khí đạt hiệu quả cao.
Tóm lại, cùng với sự phát triển của các ngành trong cả nước, ngành
công nghiệp dầu khí đã và đang đóng góp đáng kể trong nền kinh tế quốc dân
từ vai trò thực tế của sản phẩm từ dầu khí, sự thu hút lao động, đầu tư từ nước
ngoài, đến việc điều hoà kinh tế các vùng, điều hoà cán cân thương mại và
làm tăng GDP của đất nước, vì vậy chúng ta thấy rõ được tầm quan trọng của
ngành công nghiệp dầu khí.
Nội dung-mục đích ý nghĩa thực tiễn của khoá luận

Nghiên c u c u trúc-ki n t o v ti m n ng d u khí t ng Oligoxen m ứ ấ ế ạ à ề ă ầ ầ ỏ
B ch Hạ ổ


Cấu trúc khoá luận ngoài phần mở đầu và kết luận được chia làm hai
phần:
Phần I
Địa chất khu vực: Bể Cửu Long
ChươngI: Đặc điểm địa lý tự nhiên khu vực nghiên cứu
ChươngII: Lịch sử nghiên cứu địa chất khu vực
Chương III:Đặc điểm địa chất khu vực
Phần II
Chuyên đề
Cấu trúc-kiến tạo và tiềm năng dầu khí tầng Oligoxen mỏ
Bạch Hổ
Chương IV: Hệ các phương pháp nghiên cứu cơ bản
Chương V: Đặc điểm cấu trúc-kiến tạo và tiềm năng dầu khí tầng
Oligoxen mỏ Bạch Hổ trên cơ sở phân tích bản đồ đẳng dày sử dụng các
phần mềm chuyên dụng GIS và CPS-3.
Mục đích của khoá luận nhằm nghiên cứu cấu trúc kiến tạo trên cơ sở
đó đánh giá tiềm năng dầu khí và xây dựng các tiền đề định hướng cho việc
tìm kiếm thăm dò và khai thác sản phẩm có hiệu quả.
Việc khai thác nguồn dầu khí thiên nhiên nhờ có phương pháp nghiên
cứu hợp lý sẽ là mục đích và thành công của ban lãnh đạo cùng cán bộ công
nhân viên ngành dầu khí. Công việc khai thác luôn đòi hỏi tính hiệu quả, nên
việc nắm vững về cấu trúc kiến tạo của các vùng mỏ là cần thiết. Song việc

Nghiên c u c u trúc-ki n t o v ti m n ng d u khí t ng Oligoxen m ứ ấ ế ạ à ề ă ầ ầ ỏ
B ch Hạ ổ
nghiên cứu về cấu trúc kiến tạo mỏ cần được kết hợp với nghiên cứu tướng đá
cổ địa lý, tiến hoá môi trường trầm tích trên cơ sở đó đánh giá tiềm năng dầu
khí thì sẽ đưa ra đuợc phương pháp nghiên cứu hợp lý đảm bảo cho công việc
khai thác có hiệu quả cao. Khoá luận chưa giải quyết được vấn đề nêu trên do
thời gian thực tập và nguồn thu thập tài liệu còn hạn chế, nhưng cũng đã nêu

được một số khía cạnh.

Nghiên c u c u trúc-ki n t o v ti m n ng d u khí t ng Oligoxen m ứ ấ ế ạ à ề ă ầ ầ ỏ
B ch Hạ ổ
Phần I
địa chất khu vực: bể cửu long
chương I
đặc điểm địa lý tự nhiên KHU VựC nghiên cứu
I. Vị trí địa lý
Mỏ Bạch Hổ nằm trong đới nâng Trung Tâm thuộc bể Cửu Long ở phần
Đông Nam thềm lục địa phía Nam Việt Nam. Bể Cửu Long có dạng hình oval với
diện tích trên 200.000 km
2
giới hạn trong toạ độ địa lý: 9
0
-11
0
vĩ độ Bắc và 106
0
30-
109
0
kinh độ Đông. Phía Tây được bao quanh bởi đường bờ từ Cà Ná-Phan Thiết,
vũng Tàu đến Bạc Liêu, Cà Mau. Phía Nam và Đông Nam có một đới nâng ngầm
Côn Sơn chạy dọc theo các đảo nhô cao hiện đại như Hòn Khoai, Hòn Trứng, Côn
Sơn ngăn cách bể Cửu Long với Bể Nam Côn Sơn. Phíâ Bắc giáp bể Phú Khánh,
phía Tây Nam là bể Malay-Thổ chu.
II. Điều kiện địa lý tự nhiên
1. Địa hình địa mạo
Phần viết này sinh viên dựa vào tài liệu của Tổng Công Ty Dầu Khí và tham

khảo một số khóa luận tốt nghiệp của các năm trước.
Khu vực nghiên cứu thuộc thềm lục địa phía Nam Việt Nam, kéo dài từ bờ
biển Phan Thiết đến Hà Tiên, bao gồm một phần của biển Đông và một phần của
Vịnh Thái Lan. Ở Đông Bắc và phía Đông đảo Phú Quý thì thềm lục địa đặc trưng
bởi độ dốc lớn, chiều rộng hẹp, ở phía Tây thềm lục địa có nơi chiều rộng đạt hơn
100 km trên đường đẳng sâu nước 20 m. Đặc Biệt ở đới cắt Tuy Hoà, Đông Nam có
đới nâng Côn Sơn, phía Tây Nam chặn bởi đới nâng Korat Natuna. Trên nền thềm
lục địa bằng phẳng, thỉnh thoảng xuất hiện một số đảo nhỏ tạo ra sự phân cắt địa
hình mạnh. Thềm lục địa Nam Việt Nam hội tụ nhiều con sông, lớn nhất là sông
Cửu Long có lưu lượng nước 228.10
4
m
3
/phút, cho lượng phù sa 0.25 kg/m
3
. Mỏ

Nghiên c u c u trúc-ki n t o v ti m n ng d u khí t ng Oligoxen m ứ ấ ế ạ à ề ă ầ ầ ỏ
B ch Hạ ổ
Bạch Hổ là mỏ dầu lớn đầu tiên được phát hiện và đưa vào khai thác từ năm 1986
đến nay, nằm trong kiểu địa hình này.
Vùng trung tâm thềm lục địa Việt Nam có đáy biển đa dạng nhất, được ngăn
cách ở phía Tây Nam bởi đảo Côn Sơn và Đông Bắc bởi đảo Phú Quý, còn phía
Đông Nam là vùng chuyển tiếp và vùng thềm ngoài. Vùng cửa sông giáp biển, địa
hình đáy bồn trũng bao gồm các rãnh sông ngầm, bãi cát ngầm, doi cát và các đảo
rải rác. Vùng cửa sông giáp biển phía Tây Nam phát triển nhiều khối nhô của đáy
biển. Còn phía Tây Bắc cửa sông giáp biển bao gồm nhiều rãnh ngầm kéo dài và
các đập chắn ngầm, các rãnh lòng sông ngầm thường không được thể hiện do đã bị
tác động của thuỷ triều san bằng. Trong khi đó các dòng xoáy tiếp tục xoáy sâu tạo
nên những lõm không tách biệt kế tiếp nhau tạo thành những lõm hẹp kéo dài dạng

thung lũng. Ở phía Tây Nam bể Cửu Long, từ độ sâu 40 m đến 600 m đã phát hiện
thấy đảo san hô ngầm có chiều dài tới 13 km, rộng 8 km nhô cao cách đáy biển một
vài chục mét. Phần lớn ám tiêu san hô thể hiện trên địa hình đáy biển tập trung ở
phần Đông Nam của cấu tạo đới Trung Tâm Bạch Hổ và Rồng (hình 1.1)
2. Khí hậu
Khí hậu đặc trưng cho vùng xích đạo chia làm hai mùa rõ rệt: mùa khô (từ
tháng 11 đến tháng 3 năm sau) và mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 9). Nhiệt độ trung
bình trên bề mặt vào mùa mưa là 27
0
-28
0
C, mùa khô là 29
0
-30
0
C. Tại độ sâu 20 m
nước, vào mùa mưa nhiệt độ trung bình là 26
0
-27
0
C và mùa khô là 28
0
-29
0
C. Nhìn
chung khí hậu khô ráo, độ ẩm trung bình 60%.
Bể Cửu Long có hai chế độ gió mùa. Chế độ gió mùa Đông đặc trưng bởi
gió mùa Đông Bắc từ đầu tháng 11 năm trước đến cuối tháng 3 năm sau với ba
hướng gió chính: Đông Bắc, Đông và Đông Đông Bắc. Vào tháng 12 và tháng 1,
hướng gió Đông Bắc chiếm ưu thế, còn tháng 3 thì hướng gió Đông chiếm ưu thế.

Đầu mùa tốc độ gió trung bình và cực đại thường nhỏ, sau đó tăng dần lên và lớn
nhất vào tháng 1 và tháng 2. Gió mùa hè đặc trưng bởi gió mùa Tây Nam, kéo dài
từ cuối tháng 5 đến giữa tháng 9 với các hướng gió ưu thế là Tây Nam và Tây Tây

Nghiên c u c u trúc-ki n t o v ti m n ng d u khí t ng Oligoxen m ứ ấ ế ạ à ề ă ầ ầ ỏ
B ch Hạ ổ
Nam. Ngoài ra, còn hai thời kỳ chuyển tiếp từ đầu tháng 4 đến cuối tháng 5 (chuyển
từ chế độ gió mùa Đông Bắc sang chế độ gió mùa Tây Nam) và từ tháng 9 đến đầu
tháng 11 và 12 có nhiều khả năng xảy ra bão. Bão thường di chuyển về hướng Tây
hoặc Tây Nam. Tốc độ gió mạnh nhất trong vòng bão đạt tới 50 m/s. Trong 80 năm
qua chỉ xẩy ra bốn cơn bão (trong đó cơn bão số 5 năm 1997 gần đây nhất).
3. Chế độ hải văn
Chế độ sóng ở khu vực này mang tính chất sóng gió rõ rệt. Giữa mùa Đông,
hướng sóng Đông Bắc chiếm ưu thế gần tuyệt đối với độ cao sóng đạt giá trị cao
nhất trong cả năm. Tháng 1 năm 1984, độ cao của sóng đạt cực đại tới 8 m ở khu
vực vòm Trung Tâm mỏ Bạch Hổ. Mùa Đông hướng sóng ưu thế Đông Bắc, Bắc
Đông Bắc và Đông Đông Bắc. Mùa hè, hướng sóng chính là Tây Nam, hướng Tây
và Đông Nam cũng xuất hiện với tần xuất tương đối cao.
Dòng chảy đựoc hình thành dưới tác động của gió mùa ở vùng biển Đông.
Hướng và tốc độ dòng chảy xác định được bằng hướng gió và sức gió.
Nhìn chung khu vực bể Cửu Long có địa hình phức tạp, khí hậu mang tính
chất nhiệt đới gió mùa. Đây là một khu vực tìm kiếm, thăm dò dầu khí quan trọng,
có mật độ dày đặc nhất và hiệu suất cao nhất. Ngày nay, bể Cửu Long đã hình thành
nên một quần thể khai thác dầu khí lớn nhất Việt Nam bao gồm các mỏ như Bạch
Hổ, Rồng, Rạng Đông, Ruby, với sản lượng khai thác chiếm 96% sản lượng khai
thác dầu thô của Việt Nam.

Nghiên c u c u trúc-ki n t o v ti m n ng d u khí t ng Oligoxen m ứ ấ ế ạ à ề ă ầ ầ ỏ
B ch Hạ ổ


Nghiên c u c u trúc-ki n t o v ti m n ng d u khí t ng Oligoxen m ứ ấ ế ạ à ề ă ầ ầ ỏ
B ch Hạ ổ
Chương II: Lịch sử nghiên cứu địa chất khu vực
Từ những năm sáu mươi đến nay trong số các bể trầm tích ở thềm lục địa
Việt Nam, bể Cửu Long là nơi mà công tác tìm kiếm và thăm dò dầu khí được mở
đầu sớm nhất và cũng là nơi đánh dấu thành quả lớn nhất của ngành dầu khí Việt
Nam. Lịch sử nghiên cứ, thăm dò tìm kiếm dầu khí tại mỏ Bạch Hổ nói riêng bể
Cửu Long nói chung bị chi phối trực tiếp của công cuộc cách mạng giải phóng miền
Nam của dân tộc ta. Vì vậy, chúng ta có thể lấy mốc là năm 1975, một mốc son chói
lọi nhất của cách mạng Việt Nam, thời điểm thống nhất đất nước, từ đó có thể chia
lịch sử nghiên cứu dầu khí bể Cửu Long ra thành 2 giai đoạn, giai đoạn trước năm
1975 và giai đoạn sau năm 1975 (theo tài liệu của Tổng Công Ty Dầu Khí).
Lịch sử nghiên cứu của khu vực có thể chia ra làm 2 thời kỳ:
I. Giai đoạn trước năm 1975
Năm 1973 - 1974, bằng phương pháp khảo sát địa chấn phản xạ trên các lô
15, 09, 16 ở thềm lục địa Nam Việt Nam, các Công ty dầu khí của Mỹ là Pecten và
Mobil đã phát hiện đới nâng trung tâm trũng Cửu Long trong đó có cấu tạo Bạch
Hổ, Rồng.
Năm 1974, công ty Mobil đã phát hiện dòng dầu công nghiệp đầu tiên ở
thềm lục địa Việt Nam.
Như vậy, từ trước năm 1975, bể Cửu Long mới chỉ được nghiên cứu và thăm
dò trên mặt mà chưa đưa vào khai thác.
II. Giai đoạn từ 1975 đến nay
Sau khi Miền Nam được giải phóng, ngày 03/09/1975, chính phủ ra nghị
định thành lập Tổng Cục Dầu Khí Việt Nam. Đây là cơ quan chịu trách nhiệm thực
hiện việc quản lý nhà nước toàn bộ tài nguyên dầu khí cả nước, tổ chức tìm kiếm
thăm dò khai thác, chế biến và thực hiện hợp tác với nước ngoài.

Nghiên c u c u trúc-ki n t o v ti m n ng d u khí t ng Oligoxen m ứ ấ ế ạ à ề ă ầ ầ ỏ
B ch Hạ ổ

Năm 1976: công ty địa vật lý CCG (Pháp) đã tiến hành khảo sát nhằm liên
kết địa chát từ các lô 09, 16, 17 vào đất liền thuộc đồng bằng sông Cửu Long.
Năm 1978: công ty địa vật lý GECO (Nauy) đã khảo sát mạng lưới tuyến
8x8km, 4x4km và chi tiết hơn trên các lô 09 và 17 với mạng 2x2km, 1x1km.
Năm 1979: công ty DENIMEX đã phủ mạng lưới tuyến 3.5x3.5km và đã
khoan kiểm tra trên bốn cấu tạo Trà Tân (15_A_1X), Sông Ba (15_B_1X), Cửu
Long (11_6_1X) và Đồng Nai (15_G_1X). Trong giếng khoan 15_A_1X đã phát
hiện dầu khí ở độ sâu 2307-2313 m.
Ngày 19/06/1981, chính phủ Việt Nam ký hiệp định liên chính phủ với Liên
Bang Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Xô Viết thành lập Xí Nghiệp Liên Doanh Dầu
Khí Việt Xô (Vietsovpetro). Sự kiện này đánh dấu một bước phát triển mới của
ngành công nghiệp dầu khí còn non trẻ của Việt Nam. Vietsovpetro đã thực hiện
khảo sát địa chấn trên thềm lục địa Việt Nam, khoan thăm dò và phát hiện dầu ở các
cấu tạo: Bạch Hổ, Rồng, Đại Hùng, Tam Đảo, Ba Vì và Sói.
Năm 1986: Mỏ Bạch Hổ bắt đầu đi vào khai thác.
Năm 1988 : Vietsovpetro phát hiện dầu nằm trong đá móng nứt nẻ granit,
granodiorit ở mỏ Bạch Hổ. Cho tới nay, đá móng nứt nẻ trở thành đối tượng chính
trong các hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ở thềm lục địa phía
Nam. Trữ lượng và tiềm năng dự báo khoảng 700-800 triệu m
3
dầu, chủ yếu tập
trung trong đá móng.
Từ khi có luật đầu tư nước ngoài (1988), công tác tìm kiếm, thăm dò và khai
thác dầu khí được thúc đẩy mạnh mẽ, phạm vi và đối tượng tìm kiếm cũng được mở
rộng. Tổng Công Ty Dầu Khí đã ký 37 hợp đồng với tổng diện tích các lô ký hợp
đồng khoảng 250.000km
2
chiếm gần 50% diện tích thềm lục địa Việt Nam tính tới
độ sâu 200m nước, một số nơi tới 1000m tập trung chủ yếu ở bể Cửu Long và Nam
Côn Sơn. Cho đến nay, bể Cửu Long đã có thêm ba mỏ nữa được đưa vào khai thác:

mỏ Rồng (12/1994), Rạng Đông (1998), Ruby (10/1998). Sản lượng dầu khai thác

Nghiên c u c u trúc-ki n t o v ti m n ng d u khí t ng Oligoxen m ứ ấ ế ạ à ề ă ầ ầ ỏ
B ch Hạ ổ
của bể Cửu Long chiếm tới 96% sản lượng dầu thô trong cả nước. Khoảng 100
giếng khoan khai thác dầu từ móng của mỏ Bạch Hổ, Rồng, Rạng Đông, Ruby cho
lưu lượng giếng hàng trăm tấn/ngày đêm, có giếng đạt tới 1000 tấn/ngày đêm, đã và
đang khẳng định móng phong hoá là đối tượng chính cần được quan tâm hơn nữa
trong công tác tìm kiếm và thăm dò dầu khí trong tương lai của bể Cửu Long và các
vùng kế cận. Các bẫy phi cấu tạo trong trầm tích (play2) cũng là đối tượng tìm kiếm
quan trọng trong thời gian tới.
Năm 2001, Vietsovpetro đã kỷ niệm khai thác tấn dầu thô thứ 100 triệu. Đây
là một dấu ấn quan trọng trong bước tién của ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam.
Trong hơn 20 năm qua, ngành dầu khí đã đạt được những thành tựu to lớn đóng góp
vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Tuy nhiên trong thời gian tới nhiệm vụ
đặt ra cho ngành hết sức quan trọng là phải đẩy mạnh công tác thăm dò nhằm phát
hiện gia tăng trữ lượng làm cơ sở cho việc quy hoạch khai thác dầu khí.
Song song với công tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí hàng loạt các công trình
nghiên cứu bể Cửu Long của các tác giả trong và ngoài nước ra đời. Các công trình
này đã góp phần đắc lực phục vụ cho công tác tìm kiếm, thăm dò, khai thác, tính
toán trữ lượng dầu khí ở Việt Nam.
Năm 1997, đề tài nghiên cứu “Điều kiện lắng đọng trầm tích-cổ địa lý các
tầng chứa dầu khí trong trầm tích Oligoxen hạ mỏ Bạch Hổ thuộc bồn trũng Cửu
Long” của Nguyễn Đình Dỹ và nnk là công trình nghiên cứu hoàn chỉnh đầu tiên về
tướng đá cổ địa lý ở vùng mỏ Bạch Hổ.
Năm 2001 luận án tiến sĩ địa chất của Hoàng Phước Sơn “Đặc điểm thành
tạo, quy luật phân bố và phát triển các tầng trầm tích chứa dầu khí Oligoxen dưới
khu vực Đông Nam bồn trũng Cửu Long” đã đề cập đến đặc điểm cổ địa hình, cổ
địa mạo, điều kiện lắng đọng trầm tích ở khu vực Đông Nam bể Cửu Long góp
phần làm sáng tỏ tướng đá cổ địa lý giai đoạn Oligoxen hạ.

Năm 2001-2002, đề tài “Nghiên cứu tướng đá cổ địa lý và chuẩn hoá địa
tầng Kainozoi ở mỏ Rồng và Bạch Hổ” của Trần Nghi và nnk đã nghiên cứu một

Nghiên c u c u trúc-ki n t o v ti m n ng d u khí t ng Oligoxen m ứ ấ ế ạ à ề ă ầ ầ ỏ
B ch Hạ ổ
cách cụ thể về đặc điểm tướng đá cổ địa lý giai đoạn Oligoxen-Mioxen và liên kết
tỷ mỉ các tầng chứa giai đoạn này ở mỏ Rồng và mỏ Bạch Hổ.
Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu cấu trúc kiến tạo cũng như nghiên cứu tướng
đá cổ địa lý, tiến hoá môi trường trầm tích trong bể Cửu Long nói riêng và các bể
trầm tích Đệ Tam nói chung cần phải được đẩy mạnh hơn nữa để phục vụ cho công
tác tìm kiếm, đáng giá trữ lượng dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam. Đặc biệt là
trong giai đoạn hiện nay, khi mà nhiệm vụ đặt ra cho ngành dầu khí là phải đẩy
mạnh công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí nhằm phát hiện và gia tăng trữ lượng hàng
năm bình quân 50-70 triệu m
3
quy dầu như định hướng phát triển của ngành đến
năm 2020.
Cấu tạo Bạch Hổ và Rồng thuộc đới nâng Trung Tâm trũng Cửu Long là một
đới trong cấu trúc địa chất phức tạp của thềm lục địa Việt Nam, là một trong những
cấu trúc có đối tượng chứa dầu khí quan trọng đã được tiến hành tìm kiếm và thăm
dò từ những năm 1960. Hiện nay, đây là một khu vực đã hình thành một quần thể
khai thác dầu khí đầu tiên lớn nhất trên thềm lục địa Việt Nam, góp phần quyết định
vào thành tích khai thác 100 triệu tấn dầu thô của ngành dầu khí Việt Nam.

Nghiên c u c u trúc-ki n t o v ti m n ng d u khí t ng Oligoxen m ứ ấ ế ạ à ề ă ầ ầ ỏ
B ch Hạ ổ

Nghiên c u c u trúc-ki n t o v ti m n ng d u khí t ng Oligoxen m ứ ấ ế ạ à ề ă ầ ầ ỏ
B ch Hạ ổ
Chương III: đặc điểm địa chất khu vực

I. Địa tầng khu vực nghiên cứu
1. Đặc điểm về địa tầng
Địa tầng của khu vực nghiên cứu được thành lập dựa vào kết quả phân tích
mẫu vụn, mẫu lõi, tài liệu carota và tài liệu phân tích cổ sinh từ các giếng khoan
trong phạm vi khu vực, với mặt cắt địa chất có từ móng tới Pliocen - Đệ tứ (hình
3.1).
Với một cấu trúc địa chất nằm sâu dưới mực nước biển, các tầng trầm tích
hầu như nằm ngang, các thông tin về địa tầng đạt được chủ yếu bằng phương pháp
khoan và địa chấn thì về mặt nghiên cứu sinh địa tầng là rất hạn chế. Bởi vậy sự liên
kết địa tầng ở đây chủ yếu là dựa vào thành phần thạch học. Dựa vào tài liệu của
Tổng Công Ty Dầu Khí đặc điểm địa tầng bể Cửu Long được khái quát như sau.
1.1. Móng trước Kainozoi
Dựa vào kết quả phân tích tài liệu khoan, liên kết với tài liệu địa chất đối với
các phức hệ đá móng tìm thấy trên đất liền cho thấy đá móng khu vực nghiên cứu
có thành phần chủ yếu là các thể xâm nhập nhóm granitoid (granitoid, granodiorit
và riolit thạch anh). Granit có màu xám, xám phớt hồng, dạng khối, hạt trung. Một
số mẫu chịu ảnh hưởng của quá trình biến đổi thứ sinh và bị vò nát. Bề mặt phong
hoá của móng granit phân bố không đều, không liên tục trên các mặt địa hình cổ. Bề
dày lớp phong hoá trung bình 10 - 20m có nơi đạt hơn 40m (giếng khoan 411 mỏ
Bạch Hổ). Đá móng có tuổi Jura muộn - Kreta sớm (tuổi tuyệt đối khoảng 97 - 178
triệu năm).
Ở khu vực mỏ Rồng, dưới tác dụng của các hoạt động kiến tạo, hoạt động
nhiệt dịch và quá trình phong hoá, đá móng bị nứt nẻ khá mạnh và được lấp đầy
hoàn toàn hay một phần bởi ximăng canxit và một phần nhỏ là ximăng zeolit màu
trắng. Gắn liền với chúng là các hang hốc có hình dạng rất khác nhau kích thước
khoảng 2cm. Đó là bằng chứng chứng tỏ sự pelit hoá mạnh mẽ của khoáng vật

Nghiên c u c u trúc-ki n t o v ti m n ng d u khí t ng Oligoxen m ứ ấ ế ạ à ề ă ầ ầ ỏ
B ch Hạ ổ
fenspat và sự tái sắp xếp của các hạt thạch anh đã tạo ra lỗ rỗng và các hang hốc

lớn. Độ rỗng trong đá móng mỏ Rồng dao động trong phạm vi rất lớn từ 1 - 2 % đến
20 - 25%.
Ở khu vực mỏ Bạch Hổ, kết quả nghiên cứu trong không gian đá móng cho
ta thấy độ rỗng nứt nẻ không cao, phân bố không đều, trung bình 3 - 5%. Quy luật
phân bố độ rỗng hết sức phức tạp. Tuy nhiên, đá móng khu vực bể Cửu Long luôn
là đối tượng chứa dầu khí quan trọng.
1.2. Trầm tích Kainozoi
Phủ chồng lên bề mặt móng không đồng nhất trước Kainozoi là các
trầm tích Kainozoi, các trầm tích này có tuổi từ Oligocen đến Pliocen - Đệ
Tứ. Chúng có cấu trúc phức tạp cả về diện tích lẫn chiều sâu của lát cắt. Trầm
tích Kainozoi phủ bất chỉnh hợp lên móng trước Kainozoi với độ dày từ 2.5 -
8km, càng đi về trung tâm bồn trũng độ dày càng tăng.
Hệ Paleogen
Thống Oligocen
Trầm tích Oligocen được phát hiện trong hầu hết các giếng khoan và chia
làm hai phụ thống.
Phụ thống Oligocen dưới
Hệ tầng Trà Cú (E
3
1
tc)
Thành phần thạch học bao gồm chủ yếu là sét kết (agrilit) chiếm 60 - 90% và
trầm tích lục nguyên (cát kết, sét, bột kết).
Tập 1: Là một tập trầm tích lục nguyên gồm các lớp cát và sét xen kẽ nhau
và có độ dày tương đối ngang nhau, ngoại trừ khu vực trung tâm mỏ Bạch Hổ và
mỏ Rồng. Chiều dày trên hệ tầng Trà Cú thay đổi rất mạnh từ 100 - 400m. Sét kết
có màu xám tối đến đen hồng, cứng và giòn, thành phần khoáng vật gồm kaolinit,

Nghiên c u c u trúc-ki n t o v ti m n ng d u khí t ng Oligoxen m ứ ấ ế ạ à ề ă ầ ầ ỏ
B ch Hạ ổ

hydromica, clorit và zeolit. Cát kết chủ yếu hạt trung có màu xám tối, dạng khối với
thành phần khoáng vật bao gồm thạch anh, felspat, nhiều mảnh khoáng vật silicat,
đôi khi gặp các mảnh đá magma.
Tập 2: Là tập trầm tích hạt mịn bao gồm sét kết và bột kết. Tầng trầm tích
này có chiều dày cực đại đạt đến 120m, nhưng ở một số khu vực chúng vắng mặt do
bị bào mòn. Thành phần thạch học của tầng trầm tích này là sét kết và bột kết màu
lam xám, xám tối và nâu xẫm. Chúng có cấu trúc phân lớp. Không gặp vi cổ sinh
chỉ thị. Có các tầng sét giàu vật chất hữu cơ nguồn gốc đầm hồ, đồng bằng ven biển,
đây có thể là tầng đá mẹ quan trọng, hơn nữa hệ số cát trung bình khoảng 50%, độ
rỗng hiệu dụng thay đổi từ 7 - 16%, nên chúng là đối tượng chứa dầu khí đáng quan
tâm.
Phụ thống Oligocen trên
Hệ tầng Trà Tân (E
3
2
tt)
Trầm tích thuộc hệ tầng Trà Tân có thể bắt gặp trong hầu hết các giếng
khoan của bể Cửu Long với chiều dày thay đổi từ 100 - 900m, bề dày tăng dần từ
cánh đến trung tâm. Thành phần thạch học bao gồm cát kết và sét kết xen kẽ nhau
chủ yếu là argilit màu xám đen, nâu tím chứa nhiều vật chất hữu cơ dạng sapropen.
Chiều dày tập sét kết thường rất lớn và có chỗ đạt tới hàng trăm mét, có thể gặp một
số tầng đá phun trào xen kẽ các tập trầm tích. Có thể chia tập trầm tích hệ tầng Trà
Tân ra làm 3 tập:
Tập 1: Cát kết mỏng xen kẽ giữa các tầng sét kết dày. Có nơi tập trầm tích
này nằm trực tiếp trên đá móng do trầm tích Oligocen dưới bị bào mòn trước đó.
Tập 2: Sét kết là chủ yếu, có xen kẽ một vài tập cát kết mỏng không đáng kể,
gặp phổ biến các vụn đá magma.
Tập 3: Sét kết, cát kết xen kẽ với tỷ lệ cát cao hơn so với hai tập dưới.
Khoáng vật sét điển hình của hệ tầng gồm: Kaolinit, hyđromica. Khoáng vật cát


Nghiên c u c u trúc-ki n t o v ti m n ng d u khí t ng Oligoxen m ứ ấ ế ạ à ề ă ầ ầ ỏ
B ch Hạ ổ
điển hình là thạch anh, mictit. Các dạng bào tử phấn hoa chỉ thị tìm thấy trong hệ
tầng bao gồm: Amphistegina sp., Florschuetzia trilobata, Psilotricolpites sp.,
Cicatricosisporites sp., Quecus sp. Là tập trầm tích có thành phần hạt mịn là chủ
yếu, đặc biệt các lớp sét bột giàu vật chất hữu cơ với môi trường thành tạo đầm hồ
và biển, do đó trầm tích Oligocen là tầng sinh tốt nhất và đồng thời cũng là tầng
chắn trong khu vực. Các lớp cát phân bố dưới dạng thấu kính không liên tục có thể
đóng vai trò là tầng chứa dầu khí tốt
Hệ Neogen
Thống Miocen
Phụ thống Miocen dưới
Hệ tầng Bạch Hổ (N
1
1
bh)
Phủ bất chỉnh hợp lên hệ tầng Trà Tân và trầm tích hệ tầng Bạch Hổ có tuổi
Miocen sớm với chiều dày từ 200 - 1500m. Hoá thạch chỉ thị: Rotalia sp.,
Operculina sp., orbulina univesa, Pseudorotalia sp. Nhìn chung, hệ tầng này được
chia làm 3 tập và mô tả từ dưới lên trên như sau:
Tập 1: Trầm tích đầm hồ, cửa sông. Chiều dày thay đổi từ 60 - 300m. Thành
phần cát kết thạch anh, màu xám sẫm độ hạt thay đổi. ở phần dưới của tập thấy cát
kết và dăm kết. Có gặp các lớp sét chiều dày không quá 5m, chủ yếu là
monmoriolit, chiếm khoảng 20% chiều dày của tập.
Tập 2: Đặc trưng bởi trầm tích hạt mịn là chủ yếu, thỉnh thoảng gặp một số
lớp cát kết với chiều dày không đáng kể và rất ít cuội kết. Tổng chiều dày của tập
khoảng 300m.
Tập 3: Các tầng mỏng cát, cát kết và đặc biệt có tầng sét dẻo dính dễ trương
nở khi gặp nước - tầng sét Rotalia. Đây là tầng chắn quan trọng của bể Cửu Long,


Nghiên c u c u trúc-ki n t o v ti m n ng d u khí t ng Oligoxen m ứ ấ ế ạ à ề ă ầ ầ ỏ
B ch Hạ ổ
mang tính khu vực, hình thành trong điều kiện nước ấm, nông với sự hoạt động của
các yếu tố động học. Khoáng vật sét bao gồm: Monmoriolit, hyđromica, cacbonat.
Xi măng chủ yếu là sét và cacbonat. Vật chất hữu cơ trong các lớp sét chủ yếu có
nguồn gốc lục địa được tích luỹ và bảo tồn trong môi trường nước, hàm lượng
cacbon hữu cơ không cao, chỉ có khả năng sinh khí kém. Nhìn chung, cát kết hệ
tầng Bạch Hổ có thành phần thạch anh, acko hạt trung đến thô, đôi khi gặp cuội kết.
Tuy nhiên với độ rỗng 10 - 12%, độ thấm 5 - 300mD, độ bão hoà dầu 57%, có thể
nói đây là tầng chứa tốt.
Phụ thống Miocen giữa
Hệ tầng Côn Sơn (N
1
2
cs)
Phủ bất chỉnh hợp lên hệ tầng Bạch Hổ là trầm tích hệ tầng Côn Sơn có tuổi
Miocen giữa có mặt khắp nơi trên bồn Cửu Long, chiều dày thay đổi từ 566 - 845m.
ở phía nam, hệ tầng này được đặc trưng bởi các trầm tích lục nguyên hạt thô, bao
gồm cát thạch anh, sỏi, cát kết acko với hàm lượng plaziocla và octoclase khoảng
30%, gắn kết yếu bằng ximăng cacbonat, cacbonat - monmoriolit, monmoriolit. ở
phía Bắc xuất hiện các tập mỏng trầm tích hạt mịn, đôi nơi lớn hơn 35% tổng chiều
dày tập trầm tích. Thành phần khoáng vật sét bao gồm khoáng vật monmoriolit với
oxit sắt, có màu xám, xám nâu vàng. Môi trường thành tạo là biển ấm, nông có tác
động của dòng chảy (tam giác châu ven biển, biển nông). Hoá thạch vi cổ sinh khá
đa dạng, các đặc trưng định tuổi Miocen giữa gồm: Globorotalia fohsi, orbulina
univesa, Probalina trilobital. Bào tử phấn hoa không có quy luật, các dạng đặc trưng
gồm: Florschuezia levipoli, Verrutricolporites sp
Phụ thống Miocen trên
Hệ tầng Đồng Nai (N
1

3
đn)
Trầm tích Miocen trên ở khu vực nghiên cứu thường gặp ở độ sâu 600 -
700m đến 1200 - 1500m. Bề dày tăng dần ra phía cánh cấu tạo và phủ chỉnh hợp lên
hệ tầng Côn Sơn.

Nghiên c u c u trúc-ki n t o v ti m n ng d u khí t ng Oligoxen m ứ ấ ế ạ à ề ă ầ ầ ỏ
B ch Hạ ổ
Thành phần thạch học đặc trưng chủ yếu là cát thạch anh lẫn sạn sỏi xen bột
sét xám, vàng bẩn, gắn kết yếu, phân lớp không đều. Đôi khi gặp các tầng sét và sét
vôi mỏng. Thường xen kẽ các thấu kính than nâu. Vi cổ sinh và bào tử phấn hoa
phong phú đa dạng, các đặc trưng cho phép định tuổi Miocen muộn gồm:
Florschuetzia levipoli, Picea, Carga, Alinus, Globotalia Acostaensis, Globotalia
Menardi Môi trường trầm tích là tam giác châu, ven bờ, biển nông. Ximăng
thường là cacbonat - monmoriolit. Các trầm tích sét vôi có màu xám, nâu, trắng và
vàng. Môi trường thành tạo là cửa sông nên không có triển vọng chứa dầu khí.
Thống Pliocen
Hệ tầng Biển Đông (N
2
bđ)
Nằm chỉnh hợp lên trầm tích Miocen muộn là trầm tích hệ tầng Biển Đông
có tuổi Pliocen. Trầm tích này gặp trong các giếng khoan ở độ sâu từ 200 - 300m
đến 600 - 700m, chiều dày ít thay đổi. Thành phần thạch học gồm cát, cát kết màu
vàng, xám và xám sáng gắn kết yếu. ở đây thường gặp các tầng sét vôi mỏng với
nhiều mảnh vỏ vôi sinh vật biển cũng như các lớp sét cacbonat và monmoriolit
mỏng. Đặc biệt, trong trầm tích của hệ tầng Biển Đông còn gặp các hạt glauconit.
Hoá thạch vi cổ sinh khá phong phú và đa dạng, phần lớn là các loại bám đáy đặc
trưng cho tuổi Pliocen gồm có: Globigerinoides extremus. Spharoi - dinella
dehiscens, Globoquadrinaaltispira, Globorotalia Margarita, Psedorotalia
scherveteriana Bào tử phấn hoa cũng rất phong phú: Stenoshlaena sp., Pudocapus

sp., Flor. Meridionalis, Rhizophora sp., đặc trưng cho môi trường trầm tích biển. Vì
thiếu vắng tầng chắn nên trầm tích hệ tầng này hoàn toàn không có triển vọng dầu
khí.
2. Đặc điểm về magma trong Pliocen - Đệ tứ
Các thành tạo núi lửa trong Pliocen - Đệ tứ là sản phẩm của các quá trình
hoạt động magma kiến tạo Kainozoi muộn. Các thành tạo phân bố rộng rãi trong
khu vực Đông Nam á. Trên thềm lục địa Việt Nam có nhiều biểu hiện của các đá
núi lửa trẻ được biểu hiện trên các mặt cắt địa vật lý và cũng đã phát hiện được

Nghiên c u c u trúc-ki n t o v ti m n ng d u khí t ng Oligoxen m ứ ấ ế ạ à ề ă ầ ầ ỏ
B ch Hạ ổ
trong một số giếng khoan dầu khí ngoài khơi. Những dấu hiệu gián tiếp của những
núi lửa trẻ còn liên quan đến các biểu hiện khí cacbonic (CO
2
) đã phát hiện được
trong nhiều giếng khoan ngoài khơi trên thềm lục địa Trung Bộ. Cường độ hoạt
động mạnh và biểu hiện rõ ràng chỉ khoảng 3 triệu năm trở lại cho tới nay. Có thể
chia thành 4 giai đoạn hoạt động núi lửa trên thềm lục địa Việt Nam như sau:
Giai đoạn Miocen muộn
Giai đoạn Pliocen - Pleistocen sớm
Giai đoạn Pleistocen sớm - giữa
Giai đoạn Holocen - hiện đại
Các hoạt động magma trẻ rất ảnh hưởng đến các tích tụ dầu khí đã được hình
thành trước đó. Vì vậy, cần phải phân tích quy luật phân bố và ảnh hưởng của
chúng tới các bẫy dầu khí.
II. Cấu trúc - kiến tạo khu vực
1. Vị trí kiến tạo bể Cửu Long
Bể Cửu Long nằm ở phía Đông Nam của thềm lục địa phía Nam Việt Nam,
phía tây của bể giáp với đường bờ từ Cà Ná - Phan Thiết, Vũng Tàu có xâm nhập và
phun trào Mesozoi, phía đông nam được giới hạn bởi đới nâng ngầm Côn Sơn chạy

dọc theo các đảo nhô cao hiện tại như Hòn Trứng, Hòn Khoai, Côn Sơn. Với hình
thái cấu trúc có dạng oval lớn, sụt lún trong Kainozoi, trầm tích bên trong chủ yếu
là thành tạo lục nguyên từ thô đến mịn. Chiều dày nhất khoảng 7000m. Diện tích
của bể không lớn lắm (200.000km
2
), độ sâu đáy biển hiện tại không quá 50m nước
nên rất thuận lợi cho việc tìm kiếm và thăm dò dầu khí. Vị trí kiến tạo của bể được
thể hiện trên bản đồ (hình 3.2).

Nghiên c u c u trúc-ki n t o v ti m n ng d u khí t ng Oligoxen m ứ ấ ế ạ à ề ă ầ ầ ỏ
B ch Hạ ổ
2. Đặc điểm về cấu trúc
2.1. Cấu trúc đứng
Qua phân tích các mặt cắt địa chất, địa chấn- địa vật lý cùng các bình đồ cấu
trúc thì sự thành tạo các khối nâng Bạch Hổ, Rồng là do chuyển động nâng lên của
móng, đặc điểm cấu trúc của bể Cửu Long thể hiện rõ hai thành phần riêng biệt:
Cấu trúc móng trước Kainozoi
Cấu trúc lớp phủ Kainozoi phát triển bất chỉnh hợp trên mặt móng
trước Kainozoi
2.1.1. Cấu trúc móng trước Kainozoi
Theo thành phần vật chất của đá móng trước Kainozoi đã lấy được qua các
mẫu lõi giếng khoan gặp đá móng và quan sát được thấy có sự thay đổi đáng kể
theo diện tích của khu vực. Các mẫu đá bao gồm chủ yếu là các đá granit, granitoid,
granodiorit, có nơi thấy có cả riolit thạch anh. Tuổi đồng vị xác định là Jura - Kreta.
Hình dáng hiện nay của mặt móng đã được xác định qua tài liệu địa chấn, từ và
được chứng minh bằng tài liệu địa chất. Bản đồ cấu tạo móng âm học đã chứng
minh cho sự phức tạp đó. Móng trước Kainozoi bao gồm các thành tạo tuổi khác
nhau, nhưng chủ yếu là Mezozoi.
2.1.2. Lớp phủ
Trầm tích Kainozoi phủ chồng lên mặt móng có bề dày đáng kể tuỳ theo

từng khu vực và được chia ra làm ba tầng cấu trúc khác nhau:
Tầng cấu trúc dưới (bồn trầm tích Oligocen)
Tầng cấu trúc trên (bồn trầm tích Mioxen)
Tầng cấu trúc lớp phủ thềm lục địa Pliocen - Đệ tứ

Nghiên c u c u trúc-ki n t o v ti m n ng d u khí t ng Oligoxen m ứ ấ ế ạ à ề ă ầ ầ ỏ
B ch Hạ ổ
2.1.2.1. Tầng cấu trúc Oligocen
Bao gồm hai hệ tầng trầm tích:
Các đá hệ tầng Trà Cú thuộc hệ Oligocen dưới và các đá hệ tầng Trà Tân
thuộc phụ hệ Oligocen trên.
Trầm tích Oligocen dưới thay đổi đáng kể và chiều dày có giá trị lớn nhất ở
phía Bắc, Đông Bắc, Đông Nam của khu vực nghiên cứu. ở khối nâng Trung Tâm,
trầm tích này bị mất. Hầu hết các đứt gãy hoạt động mạnh trong thời kỳ Oligocen
sớm.
Trầm tích Oligocen trên phân bố rộng khắp trên toàn bộ khu vực và có chiều
dày thay đổi từ 200 - 300m ở phần trung tâm và ra đến cánh khoảng 1000m. Các
đứt gãy trong giai đoạn này có cường độ và biên độ giảm hẳn.
2.1.2.2. Tầng cấu trúc trên (bồn trầm tích Miocen)
Tầng cấu trúc này bao gồm các trầm tích lục nguyên. Đó là các trầm tích cát,
bột, sét xen kẽ có độ hạt từ thô đến mịn. Đặc trưng của giai đoạn này là quá trình
sụt lún và oằn võng kế tiếp sau thời kỳ tách giãn Oligocen, cường độ và biên độ các
đứt gãy giảm dần
2.1.2.3. Ttầng cấu trúc lớp phủ thềm lục địa Pliocen - Đệ Tứ
Các thành tạo trong tầng cấu trúc Pliocen - Đệ Tứ bao gồm cát, cát kết gắn
kết yếu, đá acko hạt thô màu xám vàng, xen kẽ các tập sét, sét vôi, điểm đặc trưng
là có thế nằm ngang, phân bố rộng rãi trên toàn thềm lục địa.
2.2. Cấu trúc ngang
Cấu trúc bể Cửu Long phụ thuộc cơ bản vào bình đồ cấu trúc bề mặt móng
trước Kainozoi. Các đới nâng ven rìa của bể từ Phan Rang-Phan Thiết-Vũng Tàu

đến Hòn Khoai, Hòn Trứng. Côn Sơn bao quanh và tách bể khỏi các trầm tích khác.

Nghiên c u c u trúc-ki n t o v ti m n ng d u khí t ng Oligoxen m ứ ấ ế ạ à ề ă ầ ầ ỏ
B ch Hạ ổ
Hình thái cấu trúc mặt móng gồm các đới trũng địa hào xen các khối địa luỹ và
được giới hạn xung quanh bởi các đơn nghiêng:
Đơn nghiêng Tây Bắc của bể thuộc phần lô 15. Các đứt gẫy theo hệ thống
Tây Bắc - Đông Nam và Á Vĩ Tuyến đã phân cắt đơn nghiêng thành cấu trúc bậc
thang có phân dị chi tiết.
Đơn nghiêng Đông Nam ít có sự phân dị hơn. Nó được ngăn cách với đới
trung tâm qua đứt gẫy Tây Bắc - Đông Nam, gần như dọc theo đới nâng Côn Sơn.
Đơn nghiêng phân dị phía Tây: đới này nằm ở phía tây bể ngăn cách với đới
nghiêng Tây Bắc theo các đứt gẫy Đông Tây. Hệ thống đứt gãy Đông Tây hoạt
động mạnh mẽ trong móng và yếu dần trong Oligoxen và Mioxen. Một số cấu tạo
địa phương như: Tam Đảo, Ba Vì, Đu Đủ được hình thành trong đơn nghiêng này
dọc theo các hệ thống đứt gãy.
Các trũng quan trọng là các cấu trúc lõm sâu nhất của mặt móng. Chúng
thường là các địa hào (graben) do quá trình tách giãn trong suất Oligoxen đến
Mioxen giữa, sau đó bị oằn võng vào cuối Mioxen. Một số cấu trúc lõm có thể kế
thừa các trũng Mesozoi muộn.
Đới trũng Tây Bạch Hổ: nằm ở rìa Tây của vòm nâng Bạch Hổ. Đây là đới
trũng sâu vớ bề dày trầm tích Kainozoi tới 7400m. Đới này phát triển theo hướng
của hệ thống đứt gãy chính Tây Bắc - Đông Nam.
Đới trũng Đông Bạch Hổ phát triển kéo dài theo hướng của hệ thống đứt
gãy chính Đông Bắc-Tây Nam, ngăn cách với các vòm nâng ở phía Tây. Tuy vậy
các đứt gãy ngang Á Vĩ Tuyến cũng đã làm phức tạp cấu trúc lõm này. Trầm tích
Kainozoi của đới này tới trên 6000m.
Đới trũng Bắc Bạch Hổ là cấu trúc lớn và sâu nhất của mặt móng, phát triển
theo hướng đứt gãy Đông Bắc - Tây Nam, kéo dài 80km và rộng 20km, chiều dày
mặt cắt trầm tích đạt tới 8km.


Nghiên c u c u trúc-ki n t o v ti m n ng d u khí t ng Oligoxen m ứ ấ ế ạ à ề ă ầ ầ ỏ
B ch Hạ ổ
Các đới nâng là các cấu trúc dương tương phản với các đới trũng trong bể
Cửu Long. Chúng thường là các kiến tạo kế thừa các khối nhô móng trước Kainozoi
của bể. Các đối tượng vòm nâng thường là đối tượng tìm kiếm thăm dò dâu khí, do
vậy các mặt cắt cấu trúc thường có giếng khoan kiểm tra.
Đới nâng Trung Tâm (Rồng-Bạch Hổ-Rạng Đông). Đới này hình thành do
hoạt động của hai đứt gãy theo phương Đông Bắc-Tây Nam, nối liền các cấu tạo
Bạch Hổ, Rồng, Rạng Đông, Chiều dày của đới là 80km, chiều rộng trung bình từ
16-18km. Đới nâng Trung Tâm được ngăn cách với đới trũng phía Đông- Đông
Nam và Tây-Tây Bắc bởi hàng loạt các đứt gãy có phương Đông Bắc-Tây Nam.
Các đứt gãy này hoạt động mạnh mẽ, xuyên cắt nhau phân cắt móng thành những
khối riêng biệt xen kẽ nhau. Biên độ của các đứt gãy này từ vài trăm mét đến
1000m. Trong đới nâng Trung Tâm hình thành và tồn tại các cáu tạo Rồng, Bạch
Hổ, Rạng Đông. Ngăn giữa các cấu tạo này là các trũng sâu địa phương.
Đới nâng Trà Tân (15-A)-Đồng Nai (15G0theo phương Đông Bắc –Tây Nam
và có xu thế nối với cấu tạo Ba Vì qua sườn dốc của đôn nghiêng Tây- Bắc.Đặc tính
cấu trúc chỉ dược thể hiện rõ ở phần bề mặt móng và các thành tạo trước Mioxen.
Đới nâng được khống chế bởi hệ thống đứt gãy Đông Bắc-Tây Nam, đồng thời bị
phức tạp, phân cắt bởi các đứt gãy phương Tây Bắc-Đông Nam và bị chặn ở phía
Tây Nam bởi đứt gãy Á Vĩ Tuyến.
Đới nâng Tam Đảo-Bà Đen dược phát triển kế thừa trên các khối nhô móng
tới sát trước Mioxen.Trong đới này, đứt gãy Đông-Tây phân cắt đới thành các cấu
tạo nhỏ hơn và phức tạp như cấu tạo Đu Đủ, Tam Đảo, Ba Vì.
Đới nâng Ru by-Agate kéo dài theo hướng Bắc Đông Bắc và phân bố ở
Đông Bắc bể Cửu Long.
Đặc tính cấu trúc thể hiện trong móng và các thành tạo trong Mioxen sớm.
Trong đới này có các cấu tạo triển vọng như: Ruby, Diamond, Emerald, Pearl,
Topaz, Agate.


Nghiên c u c u trúc-ki n t o v ti m n ng d u khí t ng Oligoxen m ứ ấ ế ạ à ề ă ầ ầ ỏ
B ch Hạ ổ
Bậc I Bậc II
Đới rìa Tây Bắc
Khối nâng Kinh Độ
Khối nâng Tây Nam -GK Ba Vì
Khối nâng Đông Bắc-GK Ba Vì
Đới Trung Tâm
Khối nâng Trà Tân
Khối sụt Nam Ruby
Khối nâng Bắc Bạch Hổ
Khối sụt Bà Đen
Khối sụt Đông Tam Đảo
Đới rìa Tây Nam
Đới nâng Trung Tâm
Rồng-Bạch Hổ-Rạng Đông
Trũng Đông Bạch Hổ
(Theo Phan Văn Quýnh, 1995)
2.3. Đặc điểm về đứt gãy (bảng 3.1)
Cấu trúc của khu vực nghiên cứu bị phân cắt bởi các hệ thống đứt gãy
chính là:
Hệ thống đứt gãy Đông Đông Bắc - Tây Tây Nam
Hệ thống đứt gãy Tây Tây Bắc - Đông Đông Nam
Hệ thống đứt gãy Á Kinh Tuyến
Hệ thống đứt gãy Á Vĩ Tuyến
Các hệ thống đứt gãy này chủ yếu là những đứt gãy thuận đồng trầm tích
được hình thành sớm hơn rất nhiều so với hệ thống đứt gãy chờm nghịch. Các đứt
gãy đồng trầm tích đều được vật liệu lấp đầy và trở thành màn chắn ngăn cản không
cho hydrocacbon dịch chuyển từ khối này sang khối khác.


Nghiên c u c u trúc-ki n t o v ti m n ng d u khí t ng Oligoxen m ứ ấ ế ạ à ề ă ầ ầ ỏ
B ch Hạ ổ
Hệ thống đứt gãy Đông Đông Bắc - Tây Tây Nam thể hiện rõ nét ở phía
Đông và Tây của mỏ Bạch Hổ, góc cắm của hệ thống này thường từ 65
0
- 80
0



biên độ dịch chuyển từ 500 - 2000m. Có một số đứt gãy chờm nghịch ở phía tây mỏ
Bạch Hổ. Quá trình hoạt động của các đứt gãy này gắn liền với các pha nén ép cục bộ
xảy ra vào cuối Oligocen đầu Miocen. Những đới phá huỷ sinh ra do hệ thống đứt gãy
chờm nghịch trở thành đường dẫn cho hydrocacbon đi từ nơi sinh vào trong đá móng.
Hệ thống đứt gãy Tây Tây Bắc - Đông Đông Nam phát triển chủ yếu ở phần
trung tâm khu vực nghiên cứu. Chính hệ thống đứt gãy này đã phân chia các khu
mỏ ra các khối khác nhau. Sự sinh thành ra chúng vào giai đoạn đầu của thời kỳ tạo
rift và tiếp tục hoạt động trong suốt quá trình đó rồi ngưng nghỉ vào Oligocen
muộn. Biên độ của chúng bé hơn nhiều so với biên độ của hệ thống đứt gãy Đông
Đông Bắc - Tây Tây Nam (khoảng 200 - 600m).
Hệ thống đứt gãy Á Kinh Tuyến (theo phương Bắc và Đông Bắc) thể hiện ở
phần đông bắc và trung tâm mỏ Rồng có biên độ tương đối lớn (hàng nghìn mét),
chiều dài phát triển hàng chục km.
Hệ thống đứt gãy Á Vĩ Tuyến (theo phương Đông - Tây) đóng vai trò tạo
nên cấu trúc khối, biên độ 200 - 500m, dài khoảng 5 - 15km. Nhìn chung, đặc điểm
đứt gãy phần Đông Bắc mỏ Bạch Hổ có quan hệ với phần cuối Tây Nam của mỏ
Rồng. Hoạt động đứt gãy trong bể Cửu Long đóng vai trò hết sức quan trọng trong
quá trình hình thành cấu trúc khối, các đơn vị cấu tạo cũng như không gian rỗng
chứa dầu trong đá móng của bể.

III. Lịch sử phát triển địa chất khu vực (hình 3.3)
Bể Cửu Long phát triển trên thềm lục địa Việt Nam nên lịch sử tiến hoá của
bể gắn liền với lịch sử tiến hoá địa chất của thềm. Tiến hoá địa chất của thềm có
thể được chia làm các giai đoạn chính sau:

×