Tải bản đầy đủ (.doc) (57 trang)

Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (350.94 KB, 57 trang )

Lời nói đầu
Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh
của mình cần phải có một lợng vốn tiền tệ nhất định. Đây có thể coi là một tiền đề
cần thiết cho việc hình thành và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của một
doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp hiện nay hoạt động kinh doanh trong điều kiện của nền
kinh tế mở, với xu thế quốc tế hoá ngày càng cao, sự kinh doanh trên thị trờng
ngày càng mạnh mẽ. Do vậy nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh, cho đầu t
phát triển ngày càng lớn. Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải huy động cao độ
không những nguồn vốn bên trong mà phải tìm cách huy động nguồn vốn bên
ngoài, đồng thời phải bảo đảm sử dụng vốn một cách có hiệu quả nhằm đáp ứng
với nhu cầu đầu t và phát triển, trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc tài chính, tín
dụng.
Cùng với sự đổi mới của nền kinh tế đất nớc, với chủ trơng phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần, có sự quản lý vĩ mô của Nhà nớc theo định hớng XHCN.
Các doanh nghiệp lúc này đợc quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh,
tự chủ bảo đảm vốn, đồng thời có trách nhiệm bảo toàn vốn của mình. Nhờ đó,
nhiều doanh nghiệp đã thích nghi kịp thời với tình hình mới, hiệu quả sản xuất
kinh doanh tăng lên rõ rệt. Nhng, bên cạnh đó có không ít các doanh nghiệp lúng
túng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, làm ăn thua lỗ, kéo dài, doanh thu
không đủ bù chi phí bỏ ra, không bảo toàn đợc vốn dẫn tới phá sản. Thực tế này là
do nhiều nguyên nhân, một trong các nguyên nhân quan trọng là công tác tổ chức
và sử dụng vốn của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, hiệu quả sử dụng vốn còn
quá thấp.
Xuất phát từ vấn đề thực tiễn bức thiết đặt ra cho các doanh nghiệp hiện nay
là phải xác định và đáp ứng đợc nhu cầu vốn thờng xuyên, cần thiết, tối thiểu, phải
xác định đợc doanh nghiệp mình hiện nay đang thừa hay thiếu vốn, hiệu quả sử
dụng vốn ra sao? Các giải pháp nào cần thực hiện để nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn của doanh nghiệp mình. Đây là vấn đề nóng bỏng có tính thời sự không những
đợc các nhà quản lý doanh nghiệp quan tâm mà còn thu hút đợc sự chú ý của các
nhà đầu t trong lĩnh vực tài chính vào doanh nghiệp.


Qua thời gian thực tập tại công ty Vật liệu xây dựng Cầu Đuống đợc sự giúp
đỡ tận tình của thầy giáo hớng dẫn và ban lãnh đạo công ty, cùng với những kiến
1
thức, lý luận đã đợc trang bị trong Nhà trờng em đã từng bớc vận dụng vào tìm
hiểu tình hình thực tế của công ty Vật liệu xây dựng Cầu Đuống, đồng thời từ
những thực tế đó bổ xung và rút ra kinh nghiệm quý báu cho bản thân. Qua đó
càng thấy rõ đợc tầm quan trọng và bức thiết của vấn đề quản lý và nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp nói chung và của công ty Vật liệu xây dựng
Cầu Đuống nói riêng. Em đã mạnh dạn đi sâu tìm hiểu nghiên cứu vấn đề:
"Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
tại công ty Vật liệu xây dựng Cầu Đuống - Sở Xây dựng Hà Nội"
Chuyên đề đợc kết cấu thành 3 chơng:
Ch ơng I: Vốn và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp trong cơ
chế thị trờng.
Ch ơng II: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Vật liệu xây
dựng Cầu Đuống.
Ch ơng III: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Vật
liệu xây dựng Cầu Đuống.
Với kiến thức còn nhiều hạn chế của mình, em sẽ không tránh khỏi nhiều
thiếu sót. Em rất mong đợc sự chỉ bảo nhiều thêm từ phía các thầy cô.
2
Ch ơng I
Vốn và hiệu quả sử dụng vốn
của doanh nghiệp trong cơ chế thị trờng
I. Vốn và vai trò của vốn đối với các doanh nghiệp
1. Khái niệm về vốn:
* Theo quan điểm của Marx, vốn (t bản) là giá trị đem lại giá trị thặng d, là
một đầu vào của quá trình sản xuất.
* Theo các nhà kinh tế học hiện đại: Vốn là biểu hiện bằng tiền, là giá trị của
tài sản mà doanh nghiệp đang nắm giữ. Vốn và tài sản là hai mặt giá trị và hiện vật

của một bộ phận nguồn lực sản xuất mà doanh nghiệp huy động vào quá trình sản
xuất kinh doanh của mình.
* Trong nền kinh tế thị trờng hiện nay, vốn đợc quan niệm là toàn bộ những
giá trị ứng ra ban đầu và các quá trình sản xuất tiếp theo của doanh nghiệp.
Nh vậy, vốn là yếu tố số một của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, nó đòi
hỏi các doanh nghiệp phải quản lý và sử dụng có hiệu quả để bảo toàn và phát
triển vốn, đảm bảo cho doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh. Vì vậy các doanh
nghiệp cần thiết phải nhận thức đầy đủ hơn về vốn cũng nh những đặc trng của
vốn.
2. Các đặc trng cơ bản của vốn.
- Vốn phải đại diện cho một lợng tài sản nhất định: Có nghĩa là vốn đợc biểu
hiện bằng giá trị của tài sản hữu hình và tài sản vô hình của doanh nghiệp.
- Vốn phải vận động sinh lời, đạt đợc mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.
- Vốn phải đợc tích tụ và tập trung đến một lợng nhất định mới có thể phát
huy tác dụng để đầu t vào sản xuất kinh doanh.
- Vốn có giá trị về mặt thời gian.
- Vốn phải đợc gắn liền với chủ sở hữu nhất định, không thể có đồng vốn vô
chủ.
3
- Vốn đợc quan niệm nh một hàng hoá và là một hàng hoá đặc biệt có thể
mua bán quyền sử dụng vốn trên thị trờng.
3. Phân loại vốn
Trong quá trình sản xuất kinh doanh để quản lý và sử dụng vốn một cách có
hiệu quả các doanh nghiệp đều tiến hành phân loại vốn.
Tuỳ vào mục đích và loại hình của từng doanh nghiệp mà mỗi doanh nghiệp
phân loại vốn theo các tiêu thức khác nhau.
3.1. Phân loại vốn theo nguồn hình thành.
3.1.1. Vốn chủ sở hữu
a. Vốn pháp định:
Vốn pháp định là số vốn tối thiểu phải có để thành lập doanh nghiệp do pháp

luật quy định đối với từng ngành nghề. Đối với doanh nghiệp Nhà nớc, nguồn vốn
này do ngân sách Nhà nớc cấp hoặc có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nớc.
b. Vốn tự bổ xung:
Vốn tự bổ xung là vốn chủ yếu do doanh nghiệp đợc lấy một phần từ lợi
nhuận để lại doanh nghiệp, nó đợc thực hiện dới hình thức lấy một phần từ quỹ
đầu t phát triển, quỹ dự phòng tài chính. Ngoài ra, đối với doanh nghiệp Nhà nớc
còn đợc để lại toàn bộ khấu hao cơ bản tài sản cố định để đầu t, thay thế, đổi mới
tài sản cố định. Đây là nguồn tự tài trợ cho nhu cầu vốn của doanh nghiệp.
3.1.2. Vốn huy động của doanh nghiệp.
Đối với một doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trờng, vốn chủ sở
hữu có vai trò rất quan trọng nhng chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn.
Để đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh doanh nghiệp phải tăng cờng
huy động các nguồn vốn khác dới hình thức vay nợ, liên doanh liên kết, phát hành
trái phiếu và các hình thức khác.
a. Vốn vay:
Doanh nghiệp có thể vay ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các cá nhân, đơn
vị kinh tế để tạo lập hoặc tăng thêm nguồn vốn.
* Vốn vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng rất quan trọng đối với các
doanh nghiệp. Nguồn vốn này đáp ứng đúng thời điểm các khoản tín dụng ngắn
hạn và dài hạn tùy theo nhu cầu của doanh nghiệp trên cơ sở các hợp đồng tín
dụng giữa ngân hàng và doanh nghiệp.
4
* Vốn vay trên thị trờng chứng khoán:
Doanh nghiệp có thể phát hành trái phiếu, đây là một công cụ tài chính quan
trọng dễ sử dụng vào mục đích vay dài hạn đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất kinh
doanh. Việc phát hành trái phiếu cho phép doanh nghiệp có thể thu hút rộng rãi số
tiền nhàn rỗi trong xã hội để mở rộng hoạt động kinh doanh của mình.
b. Vốn liên doanh liên kết:
Doanh nghiệp có thể liên doanh, liên kết, hợp tác với doanh nghiệp khác để
huy động thực hiện mở rộng hoạt động sản xuất - kinh doanh.

c. Vốn tín dụng thơng mại:
Tín dụng thơng mại là các khoản mục chịu từ ngời cung cấp hoặc ứng trớc
của khách hàng mà doanh nghiệp tạm thời chiếm dụng. Đây là phơng thức tài trợ
tiện lợi, linh hoạt trong kinh doanh và nó còn tạo khả năng mở rộng các quan hệ
hợp tác kinh doanh một cách lâu bền. Tuy nhiên các khoản tín dụng thơng mại th-
ờng có thời hạn ngắn nhng nếu doanh nghiệp biết quản lý một cách có khoa học
có thể đáp ứng phần nào nhu cầu vốn lu động cho doanh nghiệp.
d. Vốn tín dụng thuê mua:
Đây là phơng thức tài trợ thông qua hợp đồng thuê giữa ngời thuê và ngời cho
thuê. Ngời thuê đợc sử dụng tài sản và phải trả tiền cho ngời cho thuê theo thời
hạn mà hai bên thoả thuận, ngời cho thuê là ngời sở hữu tài sản và nhận đợc tiền
cho thuê tài sản.
Tín dụng thuê mua có hai phơng thức giao dịch chủ yếu là thuê vận hành và
thuê tài chính.
* Thuê vận hành:
Phơng thức thuê vận hành hay còn gọi là thuê hoạt động là một hình thức
thuê ngắn hạn tài sản.
* Thuê tài chính:
Thuê tài chính là một phơng thức tài trợ tín dụng trung hạn và dài hạn theo
hợp đồng. Theo phơng thức này, ngời cho thuê thờng mua tài sản, thiết bị mà ngời
thuê cần và đã thơng lợng từ trớc các điều kiện mua tài sản từ ngời cho thuê.
Trên đây là cách phân loại vốn theo nguồn hình thành, nó là cơ sở để doanh
nghiệp lựa chọn nguồn tài trợ phù hợp theo loại hình sở hữu, ngành nghề kinh
doanh, quy mô, trình độ quản lý, trình độ khoa học kỹ thuật cũng nh chiến lợc
phát triển và chiến lợc đầu t của doanh nghiệp. Bên cạnh đó đối với việc quản lý
5
vốn ở doanh nghiệp trọng tâm cần đề cập là hoạt động luân chuyển của vốn, sự
ảnh hởng qua lại của các hình thái khác nhau của tài sản và hiệu quả quay vòng
vốn. Do đó doanh nghiệp cần phân loại vốn theo phơng thức chu chuyển.
3.2. Phân loại vốn theo phơng thức chu chuyển.

3.2.1. Vốn cố định của doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp việc mua sắm hay lắp đặt các tài sản cố định đều phải
thanh toán chi trả bằng tiền. Số vốn đầu t ứng trớc để mua sắm, xây dựng hay lắp
đặt tài sản cố định hữu hình hay vô hình gọi là vốn cố định của doanh nghiệp. Nói
cách khác, vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu t ứng trớc về
tài sản cố định của doanh nghiệp. Số vốn này nếu đợc sử dụng có hiệu quả sẽ
không mất đi, doanh nghiệp sẽ thu hồi lại đợc sau khi tiêu thụ sản phẩm hàng hoá
hay dịch vụ của mình. Quy mô của vốn cố định nhiều hay ít sẽ qui định đến quy
mô của tài sản cố định, ngợc lại những đặc điểm vận động của tài sản cố định
trong quá trình sử dụng lại có ảnh hởng quyết định, chi phối đặc điểm tuần hoàn
và chu chuyển vốn cố định.
Đặc thù về sự vận động của vốn cố định trong quá trình sản xuất kinh doanh:
- Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm. Có đặc điểm
này là do tài sản cố định tham gia trực tiếp hay gián tiếp và phát huy tác dụng
trong nhiều chu kỳ sản xuất. Vì vậy vốn cố định là hình thái biểu hiện bằng tiền
của tài sản cố định cùng tham gia vào các chu kỳ tơng ứng.
- Vốn cố định đợc luân chuyển giá trị dần dần từng phần trong các chu kỳ
sản xuất. Khi tham gia vào quá trình sản xuất tài sản cố định không bị thay đổi
hình thái hiện vật ban đầu nhng tính năng và công suất của nó bị giảm dần tức là
nó bị hao mòn và cùng với sự giảm dần về giá trị sử dụng thì giá trị của nó cũng bị
giảm đi theo đó, vốn cố định đợc tách thành hai bộ phận:
+ Bộ phận thứ nhất tơng ứng với phần hao mòn của tài sản cố định đợc luân
chuyển và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm dới hình thức chi phí khấu hao và
đợc tích luỹ thành quỹ khấu hao, sau khi sản phẩm hàng hoá đợc tiêu thụ, quỹ
khấu hao này sẽ đợc sử dụng để tái sản xuất tài sản cố định nhằm duy trì năng lực
sản xuất của doanh nghiệp.
+ Bộ phận thứ hai đó chính là phần còn lại của vốn cố định đợc gọi là giá trị
còn lại của tài sản cố định.
Sau mỗi một chu kỳ sản xuất phần vốn đợc luân chuyển vào giá trị sản phẩm
dần tăng lên, song phần vốn đầu t ban đầu vào tài sản cố định lại dần giảm xuống

6
tơng ứng với mức giảm dần giá trị sử dụng của tài sản cố định. Kết thúc quá trình
vận động đó cũng là lúc tài sản cố định hết thời gian sử dụng giá trị của nó đợc
dịch chuyển hết vào giá trị sản phẩm đã sản xuất, và khi đó vốn cố định mới hoàn
thành một vòng luân chuyển.
Trong các doanh nghiệp, vốn cố định là bộ phận quan trọng và chiếm tỷ
trọng tơng đối lớn trong vốn đầu t nói riêng, vốn sản xuất kinh doanh nói chung.
Do ở một vị trí then chốt và đặc điểm luân chuyển của nó lại tuân theo quy luật
riêng, nên việc quản lý vốn cố định đòi hỏi phải luôn gắn liền với việc quản lý
hình thái hiện vật của nó là các tài sản cố định vì điều này sẽ có ảnh hởng trực tiếp
đến hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Bên cạnh các t liệu lao động mà bộ phận quan trọng nhất là tài sản cố định để
tiến hành sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp còn cần có các đối tợng lao động.
Khác với t liệu lao động, các đối tợng lao động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản
xuất và không giữ nguyên hình thái hiện vật ban đầu, giá trị của nó đợc dịch
chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm.
Vậy nếu xét về hình thái hiện vật thì các đối tợng lao động trên gọi là các tài
sản lu động, còn về hình thái giá trị thì đợc gọi là vốn lu động của doanh nghiệp.
3.2.2. Vốn lu động của doanh nghiệp
Vốn lu động của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh
ứng trớc về tài sản lu động sản xuất và nó nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành một cách thờng xuyên liên tục.
Là biểu hiện bằng tiền của tài sản lu động, nên đặc điểm vận động của vốn lu
động luôn chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của tài sản lu động. Trong các
doanh nghiệp tài sản lu động bao gồm các loại nguyên nhiên vật liệu, phụ tùng
thay thế, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang,... đang trong quá trình dự trữ sản
xuất hoặc chế biến còn tài sản lu động ở khâu lu thông bao gồm các sản phẩm,
thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, các tài khoản vốn trong thanh
toán, các khoản chi phí chờ kết chuyển, chi phí trả trớc,... Trong quá trình sản xuất
kinh doanh các tài sản lu động luôn vận động thay thế hoặc đổi chỗ cho nhau đảm

bảo cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh đợc tiến hành thuận lợi.
Khác với tài sản cố định trong quá trình sản xuất kinh doanh tài sản lu động
của doanh nghiệp luôn luôn thay đổi hình thái biểu hiện để tạo ra sản phẩm hàng
hoá và do đó phù hợp với đặc điểm của tài sản lu động, vốn lu động của doanh
nghiệp cũng không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh: dự
7
trữ sản xuất, sản xuất và lu thông. Quá trình này đợc diễn ra liên tục và thờng
xuyên lặp lại theo chu kỳ và đợc gọi là quá trình tuần hoàn của vốn lu động.
Trong quá trình vận động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần, qua
mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh, vốn lu động lại thay đổi hình thái biểu hiện
từ hình thái tiền tệ ban đầu chuyển sang vốn hình thái vật t hàng hoá dự trữ. Qua
giai đoạn sản xuất, vật t đợc đa vào chế tạo thành các bán thành phẩm và thành
phẩm sau khi sản phẩm đợc liên tục, vốn lu động lại trở về hình thái tiền tệ nh
điểm xuất phát ban đầu của nó. Sau mỗi chu kỳ tái sản xuất, vốn lu động mới hoàn
thành một vòng chu chuyển. Có thể thấy, trong cùng một lúc vốn lu động của
doanh nghiệp đợc phân bố trên khắp các giai đoạn luân chuyển và chuyển hoá
hình thái của vốn trong quá trình luân chuyển đợc thuận lợi doanh nghiệp phải có
đủ vốn lu động đầu t vào các hình thái khác nhau.
4. Vai trò của vốn đối với các doanh nghiệp
Tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh dù với bất kỳ quy mô nào cũng cần
phải có một lợng vốn nhất định, nó là điều kiện tiền đề cho sự ra đời và phát triển
của các doanh nghiệp.
* Về mặt pháp lý: Mỗi doanh nghiệp khi muốn thành lập thì điều kiện đầu
tiên doanh nghiệp phải có một lợng vốn nhất định, lợng vốn đó tối thiểu phải bằng
lợng vốn pháp định, khi đó địa vị pháp lý của doanh nghiệp mới đợc xác lập. Tr-
ờng hợp trong quá trình hoạt động kinh doanh, vốn của doanh nghiệp không đạt
điều kiện mà pháp luật qui định doanh nghiệp sẽ bị tuyên bố chấm dứt hoạt động
nh phá sản, giải thể, sát nhập,... Nh vậy vốn có thể đợc xem là một trong những cơ
sở quan trọng nhất để đảm bảo sự tồn tại t cách pháp nhân của một doanh nghiệp
trớc pháp luật.

* Về kinh tế: Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn là một trong những
yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của từng doanh nghiệp. Vốn không
những đảm bảo khả năng mua sắm máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ để
phục vụ cho quá trình sản xuất mà còn đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh
doanh diễn ra thờng xuyên, liên tục.
Vốn là yếu tố quan trọng quyết định đến năng lực sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp và xác lập vị thế của doanh nghiệp trên thơng trờng. Điều này càng
thể hiện rõ trong nền kinh tế thị trờng hiện nay với sự cạnh tranh ngày càng gay
gắt, các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, đầu t hiện đại
hoá công nghệ,... tất cả những yếu tố này muốn thành đạt đợc thì đòi hỏi doanh
nghiệp phải có một lợng vốn đủ lớn.
8
Vốn cũng là yếu tố quyết định đến việc mở rộng phạm vi hoạt động của
doanh nghiệp. Để có thể tiến hành tái sản xuất mở rộng thì sau một chu kỳ kinh
doanh vốn của doanh nghiệp phải sinh lời tức là hoạt động kinh doanh phải có lãi
đảm bảo vốn của doanh nghiệp đợc bảo toàn và phát triển. Đó là cơ sở để doanh
nghiệp tiếp tục đầu t mở rộng phạm vi sản xuất, thâm nhập vào thị trờng tiềm năng
từ đó mở rộng thị trờng tiêu thụ, nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thơng tr-
ờng.
Nhận thức đợc vai trò quan trọng của vốn nh vậy thì doanh nghiệp mới có thể
sử dụng vốn tiết kiệm, có hiệu quả hơn và luôn tìm cách nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn.
II. Hiệu quả sử dụng vốn
1. Quan điểm về hiệu quả sử dụng vốn.
Để đánh giá trình độ quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của
mỗi doanh nghiệp, ngời ta sử dụng thớc đo là hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp đó. Hiệu quả sản xuất kinh doanh đợc đánh giá trên hai giác độ:
Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Trong phạm vi quản lý doanh nghiệp, ngời ta
chủ yếu quan tâm đến hiệu quả kinh tế. Đây là một phạm trù kinh tế phản ánh
trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt đợc kết quả cao nhất với

chi phí hợp lý nhất. Do vậy các nguồn lực kinh tế đặc biệt là nguồn vốn của doanh
nghiệp có tác động rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì
thế việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là yêu cầu mang tính thờng xuyên và bắt
buộc đối với doanh nghiệp. Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp ta thấy đợc
hiệu quả của hoạt động kinh doanh nói chung và quản lý sử dụng vốn nói riêng.
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh
trình độ khai thác, sử dụng và quản lý nguồn vốn làm cho đồng vốn sinh lời tối đa
nhằm mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở
hữu.
Hiệu quả sử dụng vốn đợc lợng hoá thông qua hệ thống các chỉ tiêu về khả
năng hoạt động, khả năng sinh lời, tốc độ luân chuyển vốn,... Nó phản ánh quan hệ
giữa đầu ra và đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh thông qua thớc đo tiền tệ
hay cụ thể là mối tơng quan giữa kết quả thu đợc với chi phí bỏ ra để thực hiện
nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Kết quả thu đợc càng cao so với chi phí vốn bỏ ra
thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao.
9
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn có hai phơng pháp để phân tích tài chính
cũng nh phân tích hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp đó là phơng pháp so
sánh và phơng pháp phân tích tỷ lệ.
* Ph ơng pháp so sánh:
Để áp dụng phơng pháp so sánh cần phải đảm bảo các điều kiện so sánh đợc
của các chỉ tiêu tài chính (thống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất
và đơn vị hạch toán,...) và theo mục đích phân tích để chọn gốc so sánh. Gốc so
sánh đợc chọn là gốc về thời gian hoặc không gian, kỳ phân tích đợc chọn là kỳ
báo cáo hoặc kỳ kế hoạch, giá trị so sánh có thể đợc chọn là số tuyệt đối, số tơng
đói, hoặc số bình quân.
* Ph ơng pháp tỷ lệ:
Phơng pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lợng tài chính
trong các quan hệ tài chính. Sự biến đổi các tỷ lệ cố nhiên là sự biến đổi của các
đại lợng tài chính. Về nguyên tắc phơng pháp tỷ lệ yêu cầu phải xác định đợc các

ngỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp,
trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu.
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp các tỷ lệ tài chính đợc phân thành các
nhóm tỷ lệ đặc trng, phản ánh những nội dung cơ bản theo mục tiêu hoạt động của
doanh nghiệp. Đó là các nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm tỷ lệ cơ cấu vốn
và nguồn vốn, nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động kinh doanh, nhóm tỷ lệ về khả
năng sinh lời,... Mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm nhiều tỷ lệ phản ánh riêng lẻ, từng bộ
phận của hoạt động tài chính, trong mỗi trờng hợp khác nhau, tuỳ theo giác độ
phân tích, ngời phân tích lựa chọn những nhóm chỉ tiêu khác nhau phù hợp với
mục đích phân tích.
2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
trong cơ chế thị trờng.
Các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh thờng đặt ra nhiều
mục tiêu và tuỳ thuộc vào giai đoạn hay điều kiện cụ thể mà có những mục tiêu đ-
ợc u tiên thực hiện nhng tất cả đều nhằm mục đích cuối cùng là tối đa hoá giá trị
tài sản của chủ sở hữu, đạt đợc mục tiêu đó doanh nghiệp mới có thể tồn tại và
phát triển đợc.
Một doanh nghiệp muốn thực hiện tốt mục tiêu của mình thì phải hoạt động
kinh doanh có hiệu quả, một trong các yếu tố có tính chất quyết định đến hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp là việc huy động và sử dụng vốn có hiệu quả.
10
Trong nền kinh tế thị trờng thì cạnh tranh là quy luật của thị trờng, nó cho
phép tận dụng triệt để mọi nguồn lực của doanh nghiệp và của toàn xã hội vì nó
khiến cho doanh nghiệp phải luôn tự đổi mới, hạ giá thành, tăng năng suất lao
động, cải tiến mẫu mã chất lợng sản phẩm để có thể đứng vững trên thơng trờng và
làm tăng giá trị tài sản của chủ sở hữu. Bởi vậy, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn có
vị trí quan trọng hàng đầu của doanh nghiệp.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ đảm bảo an toàn tài chính cho doanh
nghiệp. Hoạt động trong cơ chế thị trờng đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải luôn đề
cao tính an toàn, đặc biệt là an toàn tài chính. Đây là vấn đề có ảnh hởng trực tiếp

đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Việc sử dụng vốn có hiệu quả sẽ
giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng huy động các nguồn vốn tài trợ dễ dàng
hơn, khả năng thanh toán của doanh nghiệp đợc đảm bảo, doanh nghiệp có đủ
tiềm lực để khắc phục những khó khăn và một số rủi ro trong kinh doanh.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao sức cạnh
tranh. Để đáp ứng các yêu cầu cải tiến công nghệ, nâng cao chất lợng sản phẩm,
đa dạng hoá mẫu mã sản phẩm,... doanh nghiệp phải có vốn, trong khi đó vốn của
doanh nghiệp chỉ có hạn vì vậy nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là rất cần thiết.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp doanh nghiệp đạt đợc mục tiêu tăng
giá trị tài sản của chủ sở hữu và các mục tiêu khác của doanh nghiệp nh nâng cao
uy tín sản phẩm trên thị trờng, nâng cao mức sống của ngời lao động,... Vì khi
hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận thì doanh nghiệp có thể mở rộng quy mô
sản xuất tạo thêm công ăn việc làm cho ngời lao động và mức sống của ngời lao
động cũng ngày càng đợc cải thiện. Điều đó giúp cho năng suất lao động của
doanh nghiệp ngày càng nâng cao, tạo sự phát triển cho doanh nghiệp và các
ngành liên quan. Đồng thời nó cũng làm tăng các khoản đóng góp cho ngân sách
Nhà nớc.
Nh vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp không những
đem lại hiệu quả thiết thực cho doanh nghiệp và ngời lao động mà nó còn ảnh h-
ởng đến sự phát triển của cả nền kinh tế và toàn xã hội. Do đó, các doanh nghiệp
phải luôn tìm ra các biện pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp.
Qua việc phân tích trên đây, có thể thấy rõ sự cần thiết mang tính tất yếu
khách quan phải bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các doanh
nghiệp. Để thực hiện đợc vấn đề này một trong các phơng pháp hết sức quan trọng
là các doanh nghiệp phải thiết lập và nghiên cứu các đặc trng tài chính của doanh
nghiệp thông qua các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn.
11
3. Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả sử dụng vốn.
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp một cách chung nhất

ngời ta thờng dùng một số chỉ tiêu tổng quát nh: Hiệu suất sử dụng tổng tài sản,
doanh lợi vốn, doanh lợi vốn chủ sở hữu.
+ Hiệu suất sử dụng tổng tài sản =
Chỉ tiêu này còn đợc gọi là vòng quay của toàn bộ vốn, nó cho biết một đồng
tài sản đem lại bao nhiêu đồng doanh thu vì vậy nó càng lớn càng tốt.
+ Doanh lợi vốn =
Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất đợc dùng để đánh giá khả năng sinh lợi của một
đồng vốn đầu t. Chỉ tiêu này còn đợc gọi là tỷ lệ hoàn vốn đầu t, nó cho biết một
đồng vốn đầu t đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận.
+ Doanh lợi vốn chủ sở hữu =

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu, trình độ sử dụng
vốn của ngời quản lý doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt.
Ba chỉ tiêu trên cho ta một cái nhìn tổng quát về hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp nhng nh ta đã biết nguồn vốn của doanh nghiệp đợc dùng để đầu t
cho các loại tài sản khác nhau nh tài sản cố định, tài sản lu động. Do đó các nhà
phân tích không chỉ quan tâm tới việc đo lờng hiệu quả sử dụng của tổng nguồn
vốn mà còn chú trọng tới hiệu quả sử dụng của từng bộ phận cấu thành nguồn vốn
của doanh nghiệp đó là vốn cố định và vốn lu động.
3.1. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định
Nh trong phần trớc ta đã trình bày, tài sản cố định là hình thái biểu hiện vật
chất của vốn cố định. Vì vậy, để đánh giá đợc hiệu quả sử dụng vốn cố định thì
cần phải đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định qua các chỉ tiêu:
- Hiệu suất sử dụng tài sản cố định =
Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản cố định tạo ra bao nhiêu đồng doanh
thu thuần trong một năm. Chỉ tiêu này càng cao càng tốt.
- Suất hao phí tài sản cố định =
Chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra một đồng doanh thu thuần thì phải bỏ ra bao
nhiêu đồng nguyên giá tài sản cố định. Chỉ tiêu này càng nhỏ càng tốt.
- Sức sinh lời của tài sản cố định =

12
Chỉ tiêu này cho biết trung bình một đồng tài sản cố định tạo ra bao nhiêu
đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ việc sử dụng tài sản cố định là có
hiệu quả.
Bên cạnh đó ngời ta còn sử dụng hai chỉ tiêu hệ số đổi mới tài sản cố định và
hệ số loại bỏ tài sản cố định để xem xét tình hình đổi mới nâng cao năng lực sản
xuất của tài sản cố định.
- Hệ số đổi mới tài sản cố định =
- Hệ số loại bỏ tài sản cố định =
Hai chỉ tiêu này không những chỉ phản ánh sự tăng giảm thuần tuý về tài sản
cố định mà còn phản ánh trình độ tiến bộ khoa học kỹ thuật, tình hình đổi mới
trang thiết bị của doanh nghiệp.
Để đánh giá trực tiếp hiệu quả sử dụng vốn cố định, doanh nghiệp sử dụng
hai chỉ tiêu.
+ Hiệu suất sử dụng vốn cố định =
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn cố định có thể tạo ra bao nhiêu đồng
doanh thu thuần.
+ Hiệu quả sử dụng vốn cố định =
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn cố định bình quân trong kỳ sẽ tạo ra
bao nhiêu đồng lợi nhuận. Nó phản ánh khả năng sinh lời của vốn cố định, chỉ tiêu
này càng lớn càng tốt.
3.2. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả vốn lu động
Khi phân tích đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lu động ngời ta thờng dùng các
chỉ tiêu:
+ Hệ số đảm nhiệm vốn lu động =
Chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra một đồng doanh thu thuần thì cần bao nhiêu
đồng vốn lu động. Hệ số này càng nhỏ chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lu động
càng cao, số vốn tiết kiệm đợc càng nhiều và ngợc lại.
+ Sức sinh lời của vốn lu động =
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng vốn lu động tham gia vào hoạt động sản

xuất kinh doanh trong kỳ thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận, chỉ tiêu này càng
lớn càng tốt.
13
Đồng thời, để đánh giá về hiệu quả sử dụng vốn lu động ngời ta cũng đặc biệt
quan tâm đến tốc độ luân chuyển vốn lu động vì trong quá trình sản xuất kinh
doanh vốn lu động vận động không ngừng qua các hình thái khác nhau. Do đó,
nếu đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn lu động sẽ góp phần giải quyết nhu cầu về
vốn cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Để xác định tốc
độ luân chuyển của vốn lu động ngời ta dùng chỉ tiêu sau:
+ Số vòng quay của vốn lu động =
Chỉ tiêu này còn đợc gọi là hệ số luân chuyển vốn lu động, nó cho biết vốn lu
động đợc quay mấy vòng trong kỳ. Nếu số vòng quay tăng thì chứng tỏ hiệu quả
sử dụng vốn lu động tăng và ngợc lại.
+ Thời gian của một vòng luân chuyển =
Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết cho vốn lu động quay đợc một vòng,
thời gian của một vòng luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển của vốn lu
động càng lớn và làm ngắn chu kỳ kinh doanh, vốn quay vòng hiệu quả hơn.
Mặt khác vốn lu động thể hiện dới nhiều dạng tài sản lu động khác nhau nh
tiền mặt, nguyên vật liệu, các khoản phải thu,... nên khi đánh giá hiệu quả sử dụng
vốn lu động ngời ta còn đánh giá các mặt cụ thể trong công tác quản lý sử dụng
vốn lu động. Sau đây là một số chỉ tiêu cơ bản nhất phản ánh chất lợng của công
tác quản lý ngân quỹ và các khoản phải thu.
+ Tỷ suất thanh toán ngắn hạn =
Tỷ suất này cho thấy khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn (phải thanh
toán trong vòng một năm, hay một chu kỳ kinh doanh) của doanh nghiệp là cao
hay thấp. Nếu chỉ tiêu này xấp xỉ bằng 1 thì doanh nghiệp có đủ khả năng thanh
toán các khoản nợ ngắn hạn và tình hình tài chính của doanh nghiệp là bình thờng
hoặc khả quan.
+ Tỷ suất thanh toán tức thời =
Thực tế cho thấy, tỷ suất này lớn hơn 0,5 thì tình hình thanh toán tơng đối

khả quan còn nếu nhỏ hơn 0,5 thì doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong thanh
toán công nợ. Tuy nhiên nếu tỷ lệ này quá cao lại phản ánh một tình trạng không
tốt vì vốn bằng tiền quá nhiều, vòng quay tiền chậm làm giảm hiệu quả sử dụng
vốn.
+ Số vòng quay của các khoản phải thu =
Chỉ tiêu này cho thấy để thu hồi đợc các khoản phải thu cần một thời gian là
bao nhiêu. Nếu số ngày này mà lớn hơn thời gian bán chịu quy định cho khách
14
hàng thì việc thu hồi các khoản phải thu là chậm và ngợc lại số ngày qui định bán
chịu cho khách lớn hơn thời gian này thì có dấu hiệu chứng tỏ việc thu hồi nợ đạt
trớc kế hoạch về thời gian.
Trên đây là các chỉ tiêu cơ bản đợc sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
tại các doanh nghiệp. Tuy nhiên trong quá trình quản lý hoạt động sản xuất kinh
doanh nói chung cũng nh quản lý và sử dụng vốn nói riêng doanh nghiệp luôn
chịu tác động của rất nhiều các nhân tố. Do vậy khi phân tích, đánh giá để đa ra
các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thì doanh nghiệp phải xem xét đến
các nhân tố ảnh hởng trực tiếp cũng nh ảnh hởng gián tiếp tới hiệu quả sử dụng
vốn của doanh nghiệp.
4. Các nhân tố ảnh hởng tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
4.1. Chu kỳ sản xuất.
Đây là một đặc điểm quan trọng gắn trực tiếp tới hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp. Nếu chu kỳ ngắn, doanh nghiệp sẽ thu hồi vốn nhanh nhằm tái tạo,
mở rộng sản xuất kinh doanh. Ngợc lại, nếu chu kỳ sản xuất dài doanh nghiệp sẽ
chịu một gánh nặng ứ đọng vốn và lãi phải trả cho các khoản vay.
4.2. Kỹ thuật sản xuất.
Nếu kỹ thuật sản xuất đơn giản, doanh nghiệp dễ có điều kiện sử dụng máy
móc thiết bị nhng lại phải luôn đối phó với các đối thủ cạnh tranh và yêu cầu của
khách hàng ngày càng cao về sản phẩm. Do vậy doanh nghiệp dễ dàng tăng doanh
thu, lợi nhuận trên vốn cố định nhng khó giữ đợc chỉ tiêu này lâu dài. Nếu kỹ thuật
sản xuất phức tạp, trình độ trang bị máy móc thiết bị cao doanh nghiệp có lợi thế

trong cạnh tranh song đòi hỏi công nhân có tay nghề, chất lợng nguyên liệu cao sẽ
làm giảm lợi nhuận trên vốn cố định.
4.3. Đặc điểm của sản phẩm.
Sản phẩm của doanh nghiệp là nơi chức đựng chi phí và việc tiêu thụ sản
phẩm mang lại doanh thu cho doanh nghiệp qua đó quyết định lợi nhuận cho
doanh nghiệp.
Nếu sản phẩm của doanh nghiệp là sản phẩm công nghiệp nhẹ nh rợu, bia,
thuốc lá,... thì sẽ có vòng đời ngắn, tiêu thụ nhanh và do đó giúp doanh nghiệp thu
hồi vốn nhanh. Hơn nữa những máy móc dùng để sản xuất ra những sản phẩm này
có giá trị không quá lớn do vậy doanh nghiệp dễ có điều kiện đổi mới. Ngợc lại,
nếu sản phẩm có vòng đời dài có giá trị lớn, đợc sản xuất trên dây chuyền công
nghệ có giá trị lớn nh ô tô, xe máy,... việc thu hồi sẽ lâu hơn.
15
4.4. Tác động của thị trờng
Thị trờng tiêu thụ sản phẩm có tác động rất lớn tới hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp. Nếu thị trờng sản phẩm ổn định thì sẽ là tác nhân tích cực thúc đẩy
cho doanh nghiệp tái sản xuất mở rộng và mở rộng thị trờng. Nếu sản phẩm mang
tính thời vụ thì ảnh hởng tới doanh thu, quản lý sử dụng máy móc thiết bị và tác
động tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
4.5. Trình độ đội ngũ cán bộ và lao động sản xuất
* Trình độ tổ chức quản lý của lãnh đạo:
Vai trò của ngời lãnh đạo trong quá trình sản xuất kinh doanh là rất quan
trọng. Sự điều hành và quản lý sử dụng vốn hiệu quả thể hiện ở sự kết hợp một
cách tối u các yếu tố sản xuất, giảm chi phí không cần thiết đồng thời nắm bắt các
cơ hội kinh doanh đem lại cho doanh nghiệp sự tăng trởng và phát triển.
* Trình độ tay nghề của ngời lao động.
Nếu công nhân sản xuất có trình độ tay nghề cao phù hợp với trình độ công
nghệ của dây chuyền sản xuất thì việc sử dụng máy móc thiết bị sẽ tốt hơn, khai
thác tối đa công suất máy móc thiết bị làm tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.

4.6. Trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh
Đây cũng là yếu tố có ảnh hởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp. Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải trải qua 3 giai
đoạn là cung ứng, sản xuất và tiêu thụ.
- Cung ứng là quá trình chuẩn bị các yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất
nh nguyên vật liệu, lao động,... nó bao gồm các hoạt động mua và dự trữ. Một
doanh nghiệp tổ chức hoạt động kinh doanh tốt tức là doanh nghiệp đó phải xác
định đợc lợng nguyên vật liệu phù hợp của từng loại với chi phí thấp nhất và mức
dự trữ tối u đảm bảo cho quá trình sản xuất không bị gián đoạn.
- Khâu sản xuất: trong giai đoạn này phải sắp xếp dây chuyền sản xuất cũng
nh công nhân sao cho sử dụng máy móc thiết bị có hiệu quả nhất khai thác tối đa
công suất, thời gian làm việc của máy đảm bảo kế hoạch sản xuất sản phẩm.
- Khâu tiêu thụ sản phẩm: là khâu quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, doanh nghiệp phải xác định giá bán tối u đồng
thời cũng phải có những biện pháp thích hợp để thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm nhanh
chóng. Khâu này quyết định đến doanh thu, là cơ sở để doanh nghiệp tái sản xuất.
16
4.7. Trình độ quản lý và sử dụng các nguồn vốn
Đây là nhân tố ảnh hởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp. Công cụ chủ yếu để theo dõi, quản lý sử dụng vốn là hệ thống kế toán - tài
chính. Công tác kế toán thực hiện tốt sẽ đa ra các số liệu chính xác giúp cho lãnh
đạo nắm đợc tình hình tài chính của doanh nghiệp nói chung cũng nh việc sử dụng
vốn nói riêng trên cơ sở đó ra quyết định đúng đắn. Mặt khác, đặc điểm hạch toán,
kế toán nội bộ doanh nghiệp luôn gắn với tính chất tổ chức sản xuất của doanh
nghiệp nên cũng tác động tới việc quản lý vốn. Vì vậy thông qua công tác kế toán
mà thờng xuyên kiểm tra tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp, sớm tìm ra
những điểm tồn tại để có biện pháp giải quyết.
4.8. Các nhân tố khác
- Cách chính sách vĩ mô của Nhà nớc: Vai trò điều tiết của Nhà nớc trong
nền kinh tế thị trờng là điều tất yếu nhng các chính sách vĩ mô của Nhà nớc tác

động một phần không nhỏ tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Cụ thể hơn
từ cơ chế giao vốn, đánh giá tài sản cố định, sự thay đổi các chính sách thuế, chính
sách tín dụng, bảo hộ và khuyến khích nhập một số loại nhất định, các quy định
của Nhà nớc về phơng hớng, định hớng phát triển của các ngành nghề kinh tế đều
có thể làm tăng hoặc giảm hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
- Tiến bộ khoa học kỹ thuật: Trong điều kiện hiện nay, khoa học công nghệ
phát triển với tốc độ chóng mặt thị trờng công nghệ biến động không ngừng và
chênh lệch trình độ công nghệ giữa các nớc là rất lớn, làn sóng chuyển giao công
nghệ ngày càng gia tăng một mặt nó tạo điều kiện cho doanh nghiệp đổi mới công
nghệ sản xuất mặt khác nó đặt doanh nghiệp vào môi trờng cạnh tranh gay gắt. Do
vậy để sử dụng vốn có hiệu quả doanh nghiệp phải xem xét đầu t vào công nghệ
nào và phải tính đến hao mòn vô hình do phát triển của khoa học kỹ thuật.
- Môi trờng tự nhiên: là toàn bộ các yếu tố tự nhiên tác động đến doanh
nghiệp nh khí hậu, thời tiết, môi trờng,... Các điều kiện làm việc trong môi trờng
tự nhiên phù hợp sẽ tăng năng suất lao động và tăng hiệu quả công việc, và sẽ ảnh
hởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Trên đây là một số vấn đề liên quan tới vốn và hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp trong cơ chế thị trờng. Trong Chơng I chúng ta đã tìm hiểu về vốn,
phân loại vốn, vai trò của vốn đối với doanh nghiệp. Chúng ta cũng đã tìm hiểu về
sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng nh các chỉ tiêu, các nhân tố
ảnh hởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
17
Sau đây chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công
ty Vật liệu xây dựng Cầu Đuống thuộc Sở Xây dựng Hà Nội.
18
Ch ơng II
Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn
tại công ty Vật liệu xây dựng Cầu Đuống -
Sở Xây dựng Hà Nội
I. Một số nét khái quát về công ty Vật liệu xây dựng

Cầu Đuống
1. Sơ lợc quá trình hình thành và phát triển của công ty Vật liệu xây dựng
Cầu Đuống
Tiền thân của công ty Vật liệu xây dựng Cầu Đuống là cơ sở sản xuất gạch
ngói của nhà t sản Hng Ký đợc thành lập từ thời Pháp thuộc. Cơ sở nằm cách Hà
Nội về phía Bắc 10Km ngay cạnh bờ sông Đuống và ngã 3 Hà Nội - Bắc Ninh -
Thái Nguyên.
Năm 1958 Nhà nớc ta đã tiếp quản dây chuyền sản xuất của nhà t sản Hng
Ký và thành lập xí nghiệp hợp doanh giữa Nhà nớc và nhà t sản Hng Ký. Với
nhiệm vụ chủ yếu là sản xuất các sản phẩm phục vụ xây dựng nh gạch nung, ngói
nung,...
Bớc vào thời kỳ đổi mới để đứng vững và phát triển Nhà nớc đã quyết định
thành lập doanh nghiệp Nhà nớc theo Quyết định 3352/QĐ-UB ngày 22/12/1992
mang tên Xí nghiệp gạch ngói Cầu Đuống với nhiệm vụ chủ yếu là sản xuất và
kinh doanh vật liệu xây dựng, sản phẩm của xí nghiệp chủ yếu là gạch, ngói phục
vụ xây dựng.
Năm 1995 để đáp ứng nhu cầu về vật liệu xây dựng, UBND thành phố Hà
Nội đã ra Quyết định 130/QĐ-UB ngày 20/01/1995 về việc đổi tên và xác định lại
nhiệm vụ của xí nghiệp.
Từ đó xí nghiệp mang tên công ty Vật liệu xây dựng Cầu Đuống.
Trụ sở của công ty chuyển về Km 14 quốc lộ số 3 - Mai Lâm - Đông Anh -
Hà Nội.
19
Số điện thoại: 8.832346 - 8.832711 - 8.780036
Số Fax: 8.800258
Công ty Vật liệu xây dựng Cầu Đuống là một doanh nghiệp Nhà nớc trực
thuộc Sở Xây dựng Hà Nội, là tổ chức kinh tế cơ sở, có t cách pháp nhân, sản xuất
kinh doanh theo nhiệm vụ Nhà nớc giao, hạch toán kinh tế độc lập, có tài khoản
tại ngân hàng và đợc sử dụng con dấu theo quy định.
Công ty có nhiệm vụ:

- Sản xuất kinh doanh các loại vật liệu xây dựng và cấu kiện bê tông nhỏ.
- Chuyển giao công nghệ sản xuất gạch ngói nung và vận hành lò Tuylen.
- Nhận thầu san ủi và xây dựng các công trình kỹ thuật hạ tầng, công trình
dân dụng, công trình công nghiệp quy mô vừa và nhỏ, trang trí nội thất theo giấy
phép hành nghề.
- Đợc mở các cửa hàng để kinh doanh và đại lý uỷ thác vật liệu xây dựng tại
các vị trí đợc cấp có thẩm quyền cho phép.
- Đợc liên doanh liên kết với các tổ chức trong và ngoài nớc để đầu t phát
triển công nghệ sản xuất kinh doanh của công ty.
Để hoàn thành nhiệm vụ đợc giao và có đủ sức cạnh tranh trên thị trờng công
ty đã không ngừng nâng cấp các dây chuyền sản xuất và đã đa dây chuyền sản
xuất gạch ngói bằng lò Tuylen vào sản xuất nhằm nâng cao chất lợng cũng nh số
lợng sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trờng.
Song song với việc đổi mới, phát triển cơ sở kỹ thuật và công nghệ công ty đã
đặc biệt chú trọng đào tạo bồi dỡng trình độ chuyên môn cho cán bộ khoa học kỹ
thuật và quản lý không ngừng nâng cao tay nghề cho đội ngũ công nhân sản xuất.
2. Bộ máy tổ chức quản lý của công ty Vật liệu xây dựng Cầu Đuống
Công ty Vật liệu xây dựng Cầu Đuống tổ chức quản lý theo chế độ thủ trởng
có Giám đốc và một số Phó giám đốc giúp việc. Để thực hiện chức năng và nhiệm
vụ của công ty, Giám đốc công ty tổ chức các phòng ban giúp việc quản lý từng
mặt công tác và các xí nghiệp thành viên.
- Mỗi phòng ban nghiệp vụ đợc giao thực hiện một số chức năng riêng. Cơ
cấu của mỗi phòng có 1 trởng phòng và 1 đến 2 phó phòng cùng một số nhân viên.
- Mỗi xí nghiệp thành viên đợc giao thực hiện một số chức năng nhiệm vụ
riêng và có cơ cấu 1 giám đốc xí nghiệp, 1 hoặc 2 phó giám đốc xí nghiệp và bộ
20
máy giúp việc. Giám đốc xí nghiệp do công ty bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trớc
Giám đốc công ty về kết quả hoạt động của xí nghiệp.
Các phòng ban của công ty hoạt động theo chức năng tham mu giúp việc
giám đốc, đợc giao nhiệm vụ cụ thể trong các lĩnh vực công tác. Mối quan hệ giữa

các phòng ban là mối quan hệ phối hợp, cộng đồng trách nhiệm nhằm tham mu
giúp giám đốc chỉ đạo sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao.
Quan hệ giữa các phòng ban và các xí nghiệp thành viên là quan hệ ngang có
tính chất hữu cơ, có sự tác động qua lại vì vậy phải có sự phối hợp chặt chẽ và
đồng bộ nhằm tạo điều kiện để các xí nghiệp hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu
kinh tế kỹ thuật. Mặt khác thông qua đó các phòng ban cũng thực hiện tốt nhiệm
vụ của mình là hớng dẫn giúp đỡ xí nghiệp về công tác nghiệp vụ, quản lý theo
chức năng đã đợc phân công.
2.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức công ty Vật liệu xây dựng Cầu Đuống
21
Phòng
Kế hoạch -
Vật tư
Phòng
Tổ chức -
Hành chính
Phòng
Kỹ thuật -
Công nghệ
Phòng
Bảo vệ
Phòng
Kế toán -
Tài chính
Xí nghiệp
Kinh doanh
vật liệu
xây dựng
Xí nghiệp
Gốm

xây dựng
Cầu Đuống
Xí nghiệp
Gốm
xây dựng
Mai Lâm
Xí nghiệp
Xây lắp
Phó giám đốc
Kế hoạch -
tiền lương
Phó giám đốc
Kỹ thuật -
an ninh
Phó giám đốc
Kinh doanh
Giám đốc công ty
2.2. Cơ cấu tổ chức của công ty
Đứng đầu công ty là Ban giám đốc, giúp việc cho giám đốc là ba phó giám
đốc dới là các phòng ban nghiệp vụ, các xí nghiệp thành viên làm nhiệm vụ sản
xuất hay phục vụ sản xuất.
2.2.1. Ban giám đốc gồm có:
+ Giám đốc công ty: vừa đại diện cho Nhà nớc, vừa đại diện cho công nhân
viên chức, quản lý công ty theo chế độ thủ trởng, có quyền quyết định điều hành
mọi hoạt động của công ty theo đúng kế hoạch, chính sách, pháp luật Nhà nớc và
Nghị quyết Đại hội công nhân viên chức. Chịu trách nhiệm trớc Nhà nớc và tập
thể công nhân lao động về kết quả sản xuất kinh doanh của công ty.
Giám đốc công ty phụ trách chung và trực tiếp chỉ đạo.
- Công tác tổ chức bộ máy quản lý, công tác cán bộ, tuyển dụng lao động.
- Công tác tài chính kế toán.

- Ký các văn bản báo cáo cấp trên văn bản pháp quy nội bộ.
- Ký các quy định về định mức kinh tế kỹ thuật, đơn giá tiền lơng định kỳ
báo cáo Đảng uỷ về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
- Ký kết các hợp đồng kinh tế.
- Ký duyệt các chứng từ chi tiền.
- Làm việc với công đoàn về quyền lợi nghĩa vụ của ngời lao động và những
việc phát sinh trong vấn đề thực hiện thoả ớc lao động.
+ Phó giám đốc kế hoạch tiền lơng: Thay mặt giám đốc điều hành phòng kế
hoạch - vật t, phòng tổ chức hành chính và trực tiếp chỉ đạo:
- Công tác vật t phục vụ cho sản xuất.
- Công tác lao động và tiền lơng.
- Công tác quản trị hành chính khối văn phòng cơ quan.
+ Phó giám đốc kỹ thuật - an ninh: Thay mặt giám đốc điều hành phòng kỹ
thuật công nghệ và phòng bảo vệ. Trực tiếp chỉ đạo:
- Công tác kỹ thuật, công nghệ.
- Công tác xây dựng cơ bản nội bộ.
- Công tác bảo vệ, quân sự, an ninh trật tự trong công ty.
- Công tác an toàn, vệ sinh công nghiệp, phòng chống lụt bão thiên tai.
22
+ Phó giám đốc kinh doanh: điều hành phòng kế toán tài chính và trực tiếp
chỉ đạo:
- Công tác dự án đầu t.
- Công tác kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
2.2.2. Các phòng nghiệp vụ công ty.
* Phòng tổ chức hành chính: chịu sự chỉ đạo trực tiếp của phó giám đốc kế
hoạch tiền lơng. Có nhiệm vụ giúp giám đốc trong công tác điều hành cán bộ,
công nhân lao động, quản lý hành chính trong công ty.
Phòng có chức năng:
- Thực hiện chính sách đối với ngời lao động, chăm sóc sức khoẻ cán bộ
công nhân viên.

- Tham mu giúp giám đốc về tuyển dụng, bố trí, đào tạo và bồi dỡng cán bộ.
* Phòng kế toán - tài chính: Do sự chỉ đạo của phó giám đốc kinh doanh có
nhiệm vụ giúp giám đốc công ty tổ chức, chỉ đạo thực hiện toàn bộ công tác thống
kê thông tin kinh tế và hạch toán kinh tế ở công ty theo pháp lệnh thống kê kế toán
hiện hành. Thu thập, xử lý và cung cấp thông tin cho giám đốc nhằm phục vụ công
tác quản lý.
* Phòng kế hoạch vật t: Chịu sự chỉ đạo trực tiếp của phó giám đốc kế hoạch
tiền lơng.
Chức năng của phòng là giúp giám đốc công ty về công tác kế hoạch hoá và
điều độ sản xuất, tổ chức cung cấp vật t phục vụ sản xuất kinh doanh.
Nhiệm vụ: căn cứ vào khả năng, năng lực của công ty và nhu cầu của thị tr-
ờng để lập kế hoạch sản xuất, kỹ thuật, vật t,... cho giám đốc công ty.
* Phòng kỹ thuật công nghệ: chịu sự chỉ đạo của phó giám đốc kỹ thuật - an
ninh, là phòng giúp giám đốc công ty triển khai công tác kỹ thuật công nghệ sản
xuất, kỹ thuật máy móc thiết bị. Triển khai công tác an toàn vệ sinh công nghiệp,
chuyển giao công nghệ sản xuất vật liệu xây dựng.
* Phòng bảo vệ: trực thuộc phó giám đốc kỹ thuật - an ninh.
Phòng có chức năng giúp giám đốc công ty triển khai tổ chức công tác bảo vệ
pháp chế và công tác quân sự trong công ty, và có nhiệm vụ lập kế hoạch triển
khai công tác bảo vệ, huấn luyện quân sự hàng năm, phòng cháy chữa cháy,...
2.2.3. Các xí nghiệp thành viên
23
* Xí nghiệp gốm xây dựng Cầu Đuống và gốm xây dựng Mai Lâm.
Đứng đầu xí nghiệp là giám đốc xí nghiệp là ngời chịu trách nhiệm trớc giám
đốc về toàn bộ kết quả sản xuất kinh doanh của xí nghiệp.
Là đơn vị sản xuất ra sản phẩm vật liệu xây dựng. Căn cứ vào nhiệm vụ kế
hoạch đợc công ty giao cho xí nghiệp tổ chức mọi hoạt động sản xuất trên cơ sở
khoán gọn tiền lơng.
* Xí nghiệp xây lắp:
Đứng đầu xí nghiệp là giám đốc xí nghiệp là ngời chịu trách nhiệm trớc giám

đốc về kết quả kinh doanh của xí nghiệp.
Xí nghiệp có chức năng thực thi xây dựng công trình, lắp đặt thiết bị công
nghệ. Có nhiệm vụ xây dựng các công trình kỹ thuật hạ tầng, công trình dân dụng,
công trình công nghiệp qui mô vừa và nhỏ, khảo sát tổ chức thi công lắp đặt thiết
bị các công trình trên cơ sở dự toán và thiết kế đợc phê duyệt.
* Xí nghiệp kinh doanh vật liệu và xây dựng kỹ thuật hạ tầng.
Đứng đầu xí nghiệp là giám đốc xí nghiệp là ngời đợc giám đốc công ty bổ
nhiệm, là ngời chịu trách nhiệm trớc giám đốc công ty về kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh của xí nghiệp.
Xí nghiệp có chức năng kinh doanh các loại vật liệu xây dựng, vận chuyển
nguyên vật liệu cho sản xuất, tổ chức thi công các công trình đợc giao. Nhiệm vụ
đào đắp đất đá, nề mộc, bê tông, sắt thép trong xây dựng lắp đặt điện nớc thông
dụng, sản xuất cấu kiện bê tông nhỏ, trang trí nội thất, ngoại thất công trình.
Nhận san ủi và xây dựng các công trình công nghiệp qui mô vừa và nhỏ.
II. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành
Công ty Vật liệu xây dựng Cầu Đuống đợc Uỷ ban nhân dân thành phố Hà
Nội giao cho nhiệm vụ xây lắp và sản xuất vật liệu xây dựng theo Quyết định
130/QĐ-UB ngày 20/01/1995.
Chính vì vậy công ty chịu ảnh hởng của ngành sản xuất vật liệu và ngành xây
dựng.
1. Đặc điểm của ngành sản xuất vật liệu xây dựng.
Ngành công nghiệp vật liệu xây dựng về bản chất nó là một ngành riêng và
có nhiệm vụ chuyển sản xuất các loại vật liệu và các cấu kiện xây dựng để bán cho
ngành xây dựng.
24
Sản phẩm của vật liệu xây dựng là nguyên liệu, vật liệu của ngành xây dựng
và nó tồn tại cùng với sản phẩm của ngành xây dựng.
Việc tiêu thụ sản phẩm của ngành vật liệu xây dựng phụ thuộc vào ngành xây
dựng do vậy sản xuất vật liệu xây dựng có chu kỳ thờng dài và không đều nhau
chủ yếu tiêu thụ vào mùa khô, từ đặc điểm đó đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất

vật liệu xây dựng phải có kế hoạch dự trữ thành phẩm đủ lớn để đáp ứng nhu cầu
về vật liệu xây dựng cho ngành xây dựng.
2. Đặc điểm của ngành xây dựng.
Sản phẩm của ngành xây dựng là những công trình nhà cửa, cầu cống, đợc
xây dựng và sử dụng tại chỗ, đứng cố định tại địa điểm xây dựng phân bổ tản mạn
ở nhiều nơi trên lãnh thổ.
Sản phẩm xây dựng phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện địa phơng, có kích thớc
lớn, thời gian xây dựng và sử dụng dài và liên quan đến nhiều ngành cả về phơng
diện cung cấp nguyên vật liệu cả về phơng diện sử dụng sản phẩm.
Sản xuất của ngành xây dựng có chu kỳ dài, tình hình và điều kiện sản xuất
trong xây dựng thiếu tính ổn định luôn biến động theo địa điểm xây dựng và giai
đoạn xây dựng.
Quá trình sản xuất xây dựng rất phức tạp các đơn vị tham gia xây dựng công
trình phải cùng nhau kéo đến hiện trờng thi công để thực hiện phần việc của mình
trong điều kiện diện tích hạn chế.
Mặt khác sản xuất xây dựng phải tiến hành ngoài trời nên chịu nhiều ảnh h-
ởng của thời tiết.
Tất cả những đặc điểm kể trên đều ảnh hởng đến mọi khâu của sản xuất kinh
doanh xây dựng kể từ khâu tổ chức dây chuyền công nghệ sản xuất, cung ứng vật
t,... đến chế độ kiểm tra chất lợng sản phẩm, hạch toán sản xuất, bàn giao nghiệm
thu.
Vì vậy để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp cần có những
giải pháp phù hợp với đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành.
25

×