Tải bản đầy đủ (.pdf) (25 trang)

CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG TRONG THỜI KỲ MỚI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (300.68 KB, 25 trang )

ĐẶT VẤN ĐỀ
________


Trong sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước, công tác tư tưởng
luôn được Đảng ta đặt ở vị trí quan trọng hàng đầu và là một bộ phận cấu
thành đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Đảng, góp phần
quan trọng xây dựng Đảng về tư tưởng, chính trị và sự đồng thuận xã hội
nhằm thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước. Thực tiễn công cuộc đổi mới, một lần nữa khẳng định
điều này.
Tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI,
Đảng ta khẳng định: “những thành tựu đạt được trong 20 năm qua là to lớn
và có ý nghĩa lịch sử. Chúng ta đã thực hiện thành công chặng đường đầu
của công cuộc đổi mới, đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, đời
sống nhân dân có nhiều thay đổi tích cực, sức mạnh quốc gia về mọi mặt
được tăng cường, độc lập tự chủ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ
vững, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao, tạo
tiền đề để nước ta tiếp tục phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn trong giai
đoạn mới”
(1)
. Thành tựu to lớn đó, có phần đóng góp to lớn của công tác tư
tưởng của Đảng.
Tuy nhiên, đất nước ta, cũng như công tác tư tưởng hiện nay đang
đứng trước một bối cảnh quốc tế và trong nước có các diễn biến phức tạp
khó lường: Xu thế hình thành thế giới đa cực với những tương quan chính
trị, kinh tế, quân sự mới; cuộc khủng hoảng tài chính gây nhiều khó khăn đối
với nền kinh tế thế giới, tác động mạnh vào nước ta làm bộc lộ những yếu
kém của nền kinh tế và của cả công tác quản lý, điều hành kinh tế. Bên cạnh
đó, các thế lực thù địch trong và ngoài nước vẫn không ngừng tăng cường


chống phá cách mạng Việt Nam Trong bối cảnh đó, đòi hỏi công tác tư
tưởng phải hết sức tập trung, phát huy cao độ trí tuệ, tâm huyết, kinh
nghiệm, khắc phục bằng được những yếu kém, bất cập, đổi mới mạnh mẽ
nội dung, phương pháp, không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt
động, phấn đấu góp phần đưa đất nước vượt qua khó khăn, thách thức, ngày
càng phát triển vững mạnh hơn. Quá trình đổi mới và phát triển đất nước cần

1
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị
Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.9.


2
chú trọng vào việc giáo dục mục tiêu, lý tưởng, gắn liền độc lập dân tộc với
chủ nghĩa xã hội. Xác định rõ sự thống nhất giữa độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội là quy luật, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt của đường lối cách mạng
Việt Nam; tập trung vào việc củng cố, tăng cường sự thống nhất về tư tưởng,
chính trị trong Đảng, sự đồng thuận về chính trị và tinh thần trong các tầng
lớp nhân dân, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh; phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng thời phát
huy sức mạnh những yếu tố ưu việt của xã hội xã hội chủ nghĩa.
Công tác tư tưởng trong thời kỳ đổi mới đã trực tiếp góp phần hình
thành và phát triển đường lối đổi mới, đồng thời nỗ lực tìm tòi, tổng kết lý
luận kết hợp chặt chẽ với thực tiễn đời sống, góp phần quan trọng trong
việc phát triển đường lối, xây dựng những luận cứ khoa học cho những
quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước; hình thành những quan điểm của
Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Công tác tư tưởng đã góp phần xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư
tưởng và tổ chức, rèn luyện giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên ngày càng
tiến bộ, có thể đảm đương nhiệm vụ được phân công trong giai đoạn cách

mạng mới. Đánh giá và nhìn lại quá trình phát triển của công tác tư tưởng
của Đảng luôn có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn
đối với toàn Đảng cũng như mỗi cán bộ đảng viên, nhất là trong giai đoạn
hiện nay, khi chúng ta đang tập trung cao trong việc quán triệt, thực hiện
Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá XI)
“những vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Đó cũng là lý do tôi
lựa chọn chuyên đề Công tác tư tưởng của Đảng trong thời kỳ đổi mới
làm nội dung Tiểu luận môn Công tác Tư tưởng của Đảng.
I- KHÁI NIỆM
Công tác tư tưởng của Đảng là hoạt động lãnh đạo quan trọng hàng
đầu của Đảng trong việc: phát triển hệ tư tưởng của Đảng; nghiên cứu lý
luận tổng kết thực tiễn, góp phần hình thành quan điểm, đường lối, chính
sách của Đảng; truyền bá giáo dục hệ tư tưởng, đường lối, chủ trương chính
sách của Đảng, pháp luật Nhà nước nhằm hình thành thế giới quan, phương
pháp nhận thức khoa học cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân,
tạo sự thống nhất tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận tư tưởng giữa Đảng
với nhân dân; cổ vũ, động viên tinh thần sáng tạo cách mạng của nhân dân
thực hiện thắng lợi đường lối chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật
của Nhà nước; đấu tranh chống các thế lực thù địch trên mặt trận tư tưởng;
góp phần xây dựng nền văn hóa mới, con người mới XHCN; quảng bá hình


3
ảnh tươi đẹp của đất nước, con người Việt Nam, chủ trương của Đảng,
chính sách pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định: tư tưởng dẫn đầu;
Đảng phải quan tâm đến giáo dục tư tưởng và lãnh đạo quá trình tư tưởng
trong Đảng và trong xã hội. Người nhấn mạnh: “Giáo dục tư tưởng và lãnh
đạo tư tưởng là việc quan trọng nhất của Đảng. Phải kiên quyết chống cái
thói xem nhẹ tư tưởng”, “Mục đích của chính Đảng là nâng cao tư tưởng

và trình độ chính trị của đảng viên và cán bộ, làm cho đảng viên và cán bộ
theo đúng quan điểm và lập trường vô sản”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt
coi trọng công tác tư tưởng, coi nó là mặt trận mà mọi cán bộ, đảng viên
của Đảng phải là chiến sĩ xung kích trên mặt trận ấy. Trong tổ chức thực
hiện, công tác tư tưởng phải đi trước một bước, không ngừng đổi mới để
phù hợp với những điều kiện cụ thể của hoàn cảnh, đối tượng, nâng cao
hiệu quả, phục vụ cho sự nghiệp chung của cách mạng.
Theo sự chỉ dẫn của tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn luôn quan tâm
đẩy mạnh công tác tư tưởng trong toàn Đảng và trong xã hội; xác đây là công
tác có vị trí quan trọng hàng đầu trong các công tác cách mạng của Đảng, đặc
biệt là trong thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
II- NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG TÁC TƯ
TƯỞNG TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
1- Thời đại ngày nay và những vấn đề đặt ra cho công tác tư
tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức và quá trình
toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến sự phát triển của nhiều
nước. Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới biểu hiện dưới những hình thức
và mức độ khác nhau vẫn tồn tại và phát triển. Hoà bình, độc lập dân tộc,
dân chủ, hợp tác và phát triển là xu thế lớn; nhưng đấu tranh dân tộc, đấu
tranh giai cấp, chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, tôn
giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố, tranh chấp
lãnh thổ, biển, đảo, tài nguyên và cạnh tranh quyết liệt về lợi ích kinh tế
tiếp tục diễn ra phức tạp. Khu vực châu Á-Thái Bình Dương và Đông Nam
Á phát triển năng động, nhưng cũng tiềm ẩn những nhân tố mất ổn định.
Tình hình đó tạo thời cơ phát triển, đồng thời đặt ra những thách thức gay
gắt, nhất là đối với những nước đang và kém phát triển.
Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ là tổn thất lớn
đối với phong trào cách mạng thế giới, nhưng một số nước theo con đường



4
xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam, vẫn kiên định mục tiêu, lý tưởng,
tiến hành cải cách, đổi mới, giành được những thành tựu to lớn, tiếp tục
phát triển; phong trào cộng sản và công nhân quốc tế có những bước hồi
phục. Tuy nhiên, các nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, phong trào
cộng sản và cánh tả còn gặp nhiều khó khăn, các thế lực thù địch tiếp tục
chống phá, tìm cách xoá bỏ chủ nghĩa xã hội.
Hiện tại, chủ nghĩa tư bản còn tiềm năng phát triển, nhưng về bản
chất vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công. Những mâu thuẫn cơ
bản vốn có của chủ nghĩa tư bản, nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội
hoá ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư
bản chủ nghĩa, chẳng những không giải quyết được mà ngày càng trở nên
sâu sắc. Khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội vẫn tiếp tục xảy ra. Chính sự
vận động của những mâu thuẫn nội tại đó và cuộc đấu tranh của nhân dân
lao động sẽ quyết định vận mệnh của chủ nghĩa tư bản.
Các nước đang phát triển, kém phát triển phải tiến hành cuộc đấu
tranh rất khó khăn, phức tạp chống nghèo nàn, lạc hậu, chống mọi sự can
thiệp, áp đặt và xâm lược để bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, dân tộc.
Nhân dân thế giới đang đứng trước những vấn đề toàn cầu cấp bách
có liên quan đến vận mệnh loài người. Đó là giữ gìn hoà bình, đẩy lùi
nguy cơ chiến tranh, chống khủng bố, bảo vệ môi trường và ứng phó với
biến đổi khí hậu toàn cầu, hạn chế sự bùng nổ về dân số, phòng ngừa và
đẩy lùi những dịch bệnh hiểm nghèo Việc giải quyết những vấn đề đó
đòi hỏi sự hợp tác và tinh thần trách nhiệm cao của tất cả các quốc gia,
dân tộc.
Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước
với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác
vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu
tranh của nhân dân các nước vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát

triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng sẽ có
những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất
định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội.
2- Công cuộc đổi mới ở nước ta và những vấn đề của công tác tư
tưởng
- Tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng ta đã đặc biệt coi trọng đổi mới
về tư duy, có định hướng tư tưởng chính trị đúng đắn và kịp thời trước
những diễn biến phức tạp của tình hình.


5
- Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, công cuộc đổi mới của ta tiến
hành trong hoàn cảnh có rất nhiều khó khăn gay gắt: cuộc khủng hoảng
kinh tế - xã hội kéo dài nhiều năm, sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu làm
cho ta mất nguồn viện trợ và thị trường xuất nhập khẩu chủ yếu, mô hình
chủ nghĩa xã hội bị sụp đổ gây sự rạn nứt lớn về niềm tin vào chủ nghĩa xã
hội, đất nước ta lại nằm trong thế bị bao vây cấm vận, đang đứng trước
những khó khăn và thách thức mới, đó là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế,
chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nạn tham nhũng và tệ quan liệu, “diễn biến
hoà bình” do các thế lực thù địch gây ra. Tình hình trên tác động rất lớn
đến công tác tư tưởng của Đảng ta.
- Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện chính sách phát triển
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chủ
trương này trong thời gian qua đã mang lại nhiều mặt tích cực, thúc đẩy
tính chủ động, năng động, tích cực của mọi thành viên trong xã hội, khơi
dậy mọi tiềm năng trong xã hội, tạo ra những động lực mới để phát triển
kinh tế- xã hội. Song bên cạnh mặt tích cực là chủ yếu, cũng nảy sinh
nhiều tiêu cực, nhất là trên các vấn đề về xã hội, về đạo đức, lối sống,
đẩy nhanh sự phân tầng và phân hóa trong xã hội, tạo môi trường cho

chủ nghĩa thực dụng phát triển. Sự phát triển của kinh tế thị trường ở
nước ta trong thời gian qua tuy mới bước đầu nhưng các mặt tích cực và
tiêu cực của nó đều đã được bộc lộ ở cấp độ khác nhau đối với từng
vùng, từng ngành, từng đối tượng khác nhau trong xã hội. Tình hình trên
đang gây ra sự thay đổi các chuẩn mực trong xã hội, tạo ra những biến
đổi lớn về nhận thức tư tưởng.
- Từ một nước nông nghiệp chậm phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội,
bỏ qua chế độ tư bản, Đảng ta vừa phải nắm vững những vấn đề cơ bản của
chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thực tiễn của đất nước và
thời cuộc, tự khám phá ra con đường hướng tới mục tiêu xã hội chủ nghĩa
với mô hình, giải pháp và bước đi thích hợp. Từng bước xác định rõ hơn
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Hội nhập với thế giới nhưng
vẫn giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình đổi mới là một
sự nghiệp hết sức khó khăn, đòi hỏi không ngừng nâng cao năng lực trí tuệ
và bản lĩnh chính trị của Đảng, khắc phục những tư tưởng, quan điểm
không đúng, ngăn chặn và đấu tranh với những quan điểm sai lầm có thể
dẫn tới chệch hướng, lý giải một cách thuyết phục những vấn đề do thực
tiễn đặt ra là công việc hết sức khó khăn và phức tạp, đòi hỏi sự đổi mới
mạnh mẽ về tư duy cũng như nhận thức và tổng kết thực tiễn.


6
Do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, đặc biệt là
viễn thông và công nghệ thông tin, do sự lớn mạnh nhanh chóng của các
binh chủng lực lượng làm công tác tư tưởng - văn hóa, nên điều kiện để
tiến hành công tác tư tưởng hiện nay có những bước phát triển mới, vượt
bậc so với trước.
Mặt khác, công tác tư tưởng không thể tách khỏi sự tác động của
chính sách, đặc biệt là các chính sách kinh tế. Chính vì chính sách tác động
trực tiếp đến lợi ích của từng nhóm người, từng giai cấp trong xã hội, do đó

cũng gây ra các phản ứng khác nhau trong xã hội, làm xuất hiện các tâm
trạng chính trị, các trạng thái chính trị khác nhau của từng nhóm người
hoặc từng giai tầng trong xã hội.
Chủ thể tác động tư tưởng chủ yếu hiện nay vẫn là các tổ chức Đảng,
chính quyền, đoàn thể, trong đó lực lượng nòng cốt là các cơ quan, cán bộ
chuyên môn về lĩnh vực tư tưởng - văn hóa. Song do môi trường và điều
kiện tác động tư tưởng có nhiều thay đổi, xã hội không còn thuần nhất như
trước, nên khách thể chịu sự tác động không phải chỉ từ các cơ quan lãnh
đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước mà còn có thể chịu sự tác động không
ít của các chủ thể khác.
Do sự tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan nên tình
hình tư tưởng chính trị thời gian qua rất đa dạng và phức tạp.
III- CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG TRONG TIẾN TRÌNH MỚI
Hơn 25 năm qua là một đoạn đường đầy biến động lịch sử. Những
biến động này đã tác động sâu sắc đến tình hình tư tưởng và công tác tư
tưởng.
1- Đại hội VI đã mở ra bước ngoặt mới đối với cách mạng nước ta
Với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ
sự thật”, Đảng ta đã kiểm điểm sâu sắc tình hình, chỉ ra những thành tựu và
khuyết điểm, sai lầm, trong đó nhấn mạnh những sai lầm về chính sách
kinh tế, đặc biệt là bệnh chủ quan duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản
đơn, nóng vội. Trong lĩnh vực lãnh đạo tư tưởng của Đảng đã bộc lộ sự lạc
hậu về nhận thức và lý luận, sự yếu kém trong vận dụng các quy luật trong
thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đánh giá tình hình chưa
khách quan, công tác tư tưởng chưa đúng với tình hình thực tiễn.
Đại hội đã rút ra năm bài học lớn và đề ra đường lối đổi mới, coi đó
là sự nghiệp sống còn của cách mạng nước ta. Đại hội cũng đề ra một trong
những nhiệm vụ trọng tâm trước mắt là đổi mới tư duy, trước hết là đổi mới



7
tư duy kinh tế, lấy đổi mới chính sách kinh tế và ổn định chính trị là tiền đề
bảo đảm thực hiện công cuộc đổi mới.
Đường lối đổi mới đáp ứng trúng nguyện vọng bức thiết của toàn
Đảng, toàn dân, thể hiện tinh thần độc lập tự chủ của Đảng, tạo ra niềm tin
và hy vọng trong xã hội.
Công tác tư tưởng lúc này có thuận lợi lớn là nghị quyết của Đảng
hợp lòng dân, bước đầu đã khơi dậy được không khí dân chủ, cởi mở trong
xã hội. Đồng thời Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã đặc biệt quan tâm lãnh đạo
công tác tư tưởng. Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị về công tác văn hóa, văn
nghệ trong giai đoạn mới, Chỉ thị 15 của Ban Bí thư về phê bình công khai
trên báo chí đã có ảnh hưởng rộng lớn trong xã hội, tạo điều kiện thuận lợi
cho báo chí, văn hóa văn nghệ có bước khởi sắc. Thông tin đa dạng, phong
phú hơn, phê phán các hiện tượng tiêu cực mạnh mẽ hơn, phản ánh nhiều
hơn tiếng nói chân thực của nhân dân.
Trong nhiệm kỳ, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 10 xác định
quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của hộ nông dân xã viên hợp tác xã sản
xuất nông nghiệp được nông dân hưởng ứng rộng rãi, đạt hiệu quả rõ rệt
trong việc thúc đẩy sản xuất nông nghiệp; Nghị quyết 16 của Bộ Chính trị
đánh dấu một bước đổi mới tư duy quan trọng về kinh tế ngoài quốc doanh,
thúc đẩy phát triển các thành phần kinh tế trong xã hội. Tuy nhiên, đất nước
ta vẫn tiếp tục nằm trong tình trạng khủng hoảng kinh tế-xã hội, phân phối
lưu thông vẫn là một mặt trận nóng bỏng, kinh tế tiếp tục sa sút, lạm phát
phi mã, đời sống cán bộ, nhân dân ngày càng khó khăn… Làm cho nhiều
cán bộ, đảng viên và nhân dân sinh ra lo lắng, thiếu tin vào việc thực hiện
Nghị quyết Đại hội VI, một số cảm thấy bế tắc, hoang mang. Đây chính là
thời điểm nguy hiểm đối với cách mạng khi đã xuất hiện những biểu hiện
giao động và lệch lạc về tư tưởng chính trị Một số cán bộ, trí thức thiếu tin
vào con đường xã hội chủ nghĩa, đã ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản và
chủ nghĩa xã hội dân chủ. Đã xuất hiện những luận điệu bôi đen, xuyên tạc

lịch sử, phủ nhận thành tựu của cách mạng, phê phán ta tiến hành Cách
mạng tháng Tám và hai cuộc kháng chiến là sai lầm, cho rằng chủ nghĩa
Mác-Lênin là đã lỗi thời, chủ nghĩa xã hội là ảo tưởng. Một số ý kiến khác
đặt vấn đề xem lại chiến lược cách mạng, cho rằng cách mạng nước ta hiện
nay còn trong giai đoạn dân chủ nhân dân, chưa phải đã bước vào thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Trước tình hình trên, kết luận số 20 của Bộ Chính trị (11/1988) về
những nhiệm vụ trước mắt của công tác tư tưởng được ban hành kịp thời.


8
Bám sát chủ trương, nghị quyết của Đảng, công tác tư tưởng đã tiến hành
cuộc đấu tranh bảo vệ mục tiêu, lý tưởng, bảo vệ đường lối, chính sách đổi
mới của Đảng, khẳng định con đường xã hội chủ nghĩa và những thành tựu
của cách mạng nước ta, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng, phê phán các
khuynh hướng rập khuôn, sao chép cải tổ, cải cách của nước ngoài và các
khuynh hướng cơ hội hữu khuynh khác. Đồng thời công tác tư tưởng phê
phán bảo thủ, giáo điều, muốn quay lại cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp.
Hội nghị Trung ương 6 (khoá VI) đã sơ kết hai năm thực hiện Nghị
quyết Đại hội VI, khẳng định đường lối đổi mới, đề ra 6 nguyên tắc chỉ đạo
công cuộc đổi mới, giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa, cụ thể hóa một
bước những chủ trương lớn của Đại hội, khẳng định và làm rõ hơn cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, không chấp nhận đa nguyên, đa đảng
đối lập. Nghị quyết đã giúp định hướng kịp thời cho suy nghĩ và hành động
của Đảng trong tình hình trào lưu xã hội cơ hội chủ nghĩa từ bên ngoài tác
động tiêu cực đến một bộ phận cán bộ, đảng viên.
Với các chính sách và cơ chế mới, cùng với sự sáng tạo của phong
trào quần chúng và sự phát huy tác dụng của một số công trình to lớn đã
được xây dựng trước đây, từ năm 1989 trở đi đã khắc phục một số mặt đình

đốn, suy thoái, kinh tế bắt đầu có tăng trưởng, lạm phát giảm, lương thực
có dự trữ và có xuất khẩu ngày càng nhiều, sinh hoạt dân chủ tiếp tục được
mở rộng, ta rút quân khỏi Campuchia, tiến tới từng bước bình thường hóa
quan hệ với Trung Quốc, quan hệ đối ngoại từng bước được mở rộng tình
hình trong nước phát triển tốt đã tác động tốt đến định hướng tư tưởng
trong Đảng và củng cố lòng tin nhiều hơn trong nhân dân.
Cuối năm 1988, công cuộc cải tổ và cải cách ở Liên Xô và các nước xã
hội chủ nghĩa Đông Âu ngày càng chao đảo, việc thực hiện đa nguyên về
chính trị, đa đảng đối lập đã dẫn đến sự phủ nhận sạch trơn quá khứ cách
mạng, chĩa mũi nhọn công kích vào Đảng Cộng sản và chủ nghĩa Mác-Lênin,
gieo rắc những tư tưởng hoài nghi, bi quan, dao động với chủ nghĩa xã hội.
Trong bối cảnh đó, Hội nghị Trung ương 6 khoá VI (3/1989), cùng với tiếp
tục bổ sung, phát triển đường lối đổi mới, đã nêu lên sáu nguyên tắc của đổi
mới, trong đó nguyên tắc đầu tiên là: Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu
xã hội chủ nghĩa, mà là làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả bằng
những quan niệm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội, bằng những hình thức, bước
đi và biện pháp thích hợp. Trung ương đã có hai nghị quyết quan trọng là
Nghị quyết 7 và Nghị quyết 8. Các nghị quyết đã phân tích những sai lầm về


9
nguyên tắc trong cải tổ, cải cách ở một số nước xã hội chủ nghĩa, xác định
nguyên nhân khủng hoảng chính trị và sụp đổ của các nước này, âm mưu và
thủ đoạn của các lực lượng đế quốc, thù địch. Nghị quyết cũng phân tích, phê
phán các biểu hiện dao động, những nhận thức mơ hồ về chủ nghĩa xã hội dân
chủ, khuynh hướng dân chủ và công khai vô nguyên tắc, đề ra những nhiệm
vụ cơ bản của công tác tư tưởng là giáo dục kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin,
mục tiêu xã hội chủ nghĩa, đường lối đổi mới và sự lãnh đạo của Đảng, chống
chủ nghĩa cơ hội dưới mọi màu sắc và chống âm mưu diễn biến hoà bình của
các thế lực thù địch. Nghị quyết 8b của Trung ương đề ra các chủ trương, biện

pháp củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân, chống quan liêu,
mệnh lệnh, xa rời quần chúng.
Có thể khẳng định công tác tư tưởng giai đoạn này đã tập trung làm
thấu suốt trong toàn Đảng, toàn dân về những nhận định và định hướng lớn
của Trung ương nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đẩy mạnh sự nghiệp
đổi mới, giữ vững ổn định chính trị, tập trung sức phát triển kinh tế - xã hội.
Công tác giáo dục chính trị nhân những ngày kỷ niệm lớn, kỷ niệm ngày sinh
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập trung chủ đề về Đảng, về tư tưởng Hồ Chí
Minh, về con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác và nhân dân ta đã lựa
chọn, từng bước xác định rõ hơn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta,
củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và quan hệ giữa Đảng và nhân
dân, nâng cao cảnh giác cách mạng, chống âm mưu “diễn biến hoà bình” của
các thế lực thù địch. Thông tin nội bộ trong Đảng được tăng cường. Tài liệu
phục vụ sinh hoạt chi bộ ra đều kỳ hàng háng cùng với việc mở rộng các loại
thông tin khác trong Đảng đã góp phần quan trọng vào định hướng tư tưởng,
chính trị và sự nhất trí trong Đảng, củng cố khối đoàn kết thống nhất trong
Đảng, tạo điều kiện để đảng viên làm công tác tư tưởng với quần chúng ngoài
Đảng, góp phần ổn định chính trị. Đồng thời trong thời kỳ này, Ban Tư tưởng
- Văn hóa Trung ương cũng có Thông tri hướng dẫn đẩy mạnh công tác tuyên
truyền các nhân tố mới, tuyên truyền điển hình nhằm khai thác các mặt tích
cực trong xã hội, định hướng lại dư luận xã hội nhìn nhận tình hình một cách
đúng đắn và khách quan hơn, tiến hành đấu tranh chống lại các quan điểm
lệch lạc về dân chủ, công khai, đa nguyên, đa đảng và các khuynh hướng lệch
lạc trong văn hóa văn nghệ và báo chí-xuất bản.
2- Đại hội VII đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên CNXH
Trên cơ sở tổng kết thành tựu 5 năm đổi mới rút ra những bài học
lớn, Đại hội đã đề ra Cương lĩnh chính trị và Chiến lược phát triển kinh tế-



10
xã hội đến năm 2000, nêu rõ những đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa mà
nhân dân ta sẽ xây dựng, xác định các phương hướng cơ bản để đi lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta. Đại hội lần đầu tiên đưa vào văn kiện chính thức
của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin là nền
tảng tư tưởng của Đảng. Đây là một bước tiến quan trọng trong tư duy
chính trị và tư tưởng của Đảng. Có thể nói, từ Đại hội VI đến Đại hội VII,
những quan niệm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
ở nước ta đã được hình thành trên những nét chủ yếu nhất, đánh dấu một
bước tiến về đổi mới tư duy lý luận của Đảng. Các Nghị quyết Trung ương
2, 3, 4, 5, 7, 8 và Nghị quyết Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ
của Đảng đã cụ thể hóa đường lối của Đại hội VII trên nhiều lĩnh vực về
đối nội và đối ngoại. Hội nghị Trung ương ba (6/1992) ra Nghị quyết về
“Đổi mới và chỉnh đốn Đảng”, xác định xây dựng Đảng là nhiệm vụ then
chốt, đề ra các chủ trương, phương pháp đổi mới và chỉnh đốn Đảng, trong
đó về chính trị tư tưởng tập trung vào bốn vấn đề là:
- Nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ và năng lực lãnh đạo của Đảng.
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tiếp
tục cụ thể hóa và phát triển các quan điểm và đường lối của Đại hội VII,
từng bước xác định rõ thêm con đường và giải pháp đi lên chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam. Xây dựng cho cán bộ, đảng viên niềm tin và ý chí kiên định lý
tưởng cách mạng, kiên định mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
- Xây dựng đạo đức cách mạng và lối sống lành mạnh của cán bộ,
đảng viên trong điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế.
- Củng cố khối đoàn kết thống nhất trong Đảng, tăng cường mối quan
hệ giữa Đảng và nhân dân.
- Nâng cao cảnh giác cách mạng, chống “diễn biến hoà bình”.
Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ của Đảng đã tổng kết một
bước thực tiễn đổi mới của Đảng, khẳng định: “Những thành tựu quan
trọng đạt được đã và đang tạo ra những tiền đề đưa đất nước chuyển dần

sang một thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy tới một bước công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước”. Hội nghị cũng chỉ rõ những thách thức mới và cơ
hội lớn. Trong các thách thức, Hội nghị nhấn mạnh 4 nguy cơ: sự tụt hậu xa
hơn về kinh tế, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nạn tham nhũng, tệ quan liêu
và âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch.
Cùng với nhiệm vụ trọng tâm là đổi mới kinh tế, việc đổi mới
phương thức hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị trong thời kỳ này đã


11
có bước tiến mới. Dân chủ tiếp tục được mở rộng. Công tác xây dựng và
ban hành pháp luật được xúc tiến và có nhiều đổi mới. Về lĩnh vực tư
tưởng-văn hóa, Nhà nước đã ban hành Luật Báo chí và Luật Xuất bản.
Bộ Chính trị khoá VII cũng đã ra một số nghị quyết về công tác tư
tưởng: Nghị quyết 01 về công tác lý luận (3/1992), Nghị quyết 08 về tổ
chức các ngày lễ lớn hai năm 1994-1995 và Nghị quyết 09 về một số định
hướng lớn trong công tác tư tưởng (01/1995). Đây là những nghị quyết
quan trọng về phát huy truyền thống dân tộc và của Đảng, chỉ rõ những
định hướng cơ bản xây dựng Đảng về tư tưởng và nâng cao trình độ lãnh
đạo của Đảng, nâng cao sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ mới.
Từ năm 1992, mười chương trình nghiên cứu khoa học xã hội cấp
nhà nước đã được triển khai với sự tham gia đông đảo các nhà khoa học.
Những kết quả nghiên cứu bước đầu đã góp phần cung cấp những luận cứ
khoa học cho việc xây dựng một số nghị quyết của Đảng và các nghị quyết
của Nhà nước, xúc tiến việc xây dựng giáo trình quốc gia về khoa học Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
3. Đại hội VIII của Đảng đánh dấu bước ngoặt chuyển đất nước
ta sang thời kỳ mới- thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước
Đại hội toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (6/1996) đã kiểm điểm kết

quả thực hiện Nghị quyết Đại hội VII, tổng kết 10 năm đổi mới, đề ra mục
tiêu: phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta về cơ bản trở thành một nước
công nghiệp, xác định nội dung của CNH, HĐH đất nước trong thời kỳ
mới, vạch ra phương hướng nhiệm vụ năm năm 1996-2000 nhằm hoàn
thành thắng lợi chiến lược phát triển kinh tế- xã hội do Đại hội VII đề ra.
Trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa, Nghị quyết Đại hội chỉ rõ phải rất
chú trọng giáo dục, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất cách
mạng và trình độ trí tuệ của đảng viên, thường xuyên bồi dưỡng cho đảng
viên về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các vấn
đề cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống
tốt đẹp của dân tộc, những kiến thức mới của thời đại. Công tác lý luận
trước hết phải hướng vào những vấn đề do cuộc sống đặt ra, phải đặc biệt
quan tâm giữ gìn và nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc, kế thừa và phát huy
truyền thống đạo đức, tập quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc, tiếp thu tinh
hoa văn hóa nhân loại, phát triển đi đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin
đại chúng vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh,
tiến lên chủ nghĩa xã hội.


12
Các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2, 3 (khoá VIII) bàn về chiến
lược phát triển giáo dục-đào tạo, khoa học-công nghệ, về tăng cường công
tác xây dựng Nhà nước, công tác cán bộ và kết luận của Trung ương 3 về
bảo vệ nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối của Đảng, đấu tranh chống
các luận điệu sai trái và chống đối của những người cơ hội về chính trị và
bọn phản động đều nhấn mạnh đến công tác tư tưởng trên tất cả các lĩnh vực
trọng yếu của sự nghiệp cách mạng nước ta trong giai đoạn cách mạng mới.
Cùng với những kết quả đổi mới về kinh tế- xã hội, công tác tư tưởng
đã góp phần quan trọng làm cho tình hình tư tưởng dần dần ổn định, tinh
thần yêu nước và ý thức dân tộc được khơi dậy, nhiều tiềm năng trong xã

hội được phát huy.
Những thành tựu kinh tế-xã hội thu được trong thời kỳ này đã có ý
nghĩa rất quan trọng góp phần tạo ra những tiền đề cho bước ngoặt mới của
cách mạng Việt Nam, không những khắc phục được khủng hoảng kinh tế-
xã hội, kinh tế phát triển không ngừng với tốc độ tăng trưởng khá, giữ vững
ổn định chính trị, xoá được thế bị bao vây cô lập, mở rộng được quan hệ
đối ngoại. Tình hình trên đã củng cố thêm niềm tin của nhân dân vào sự
lãnh đạo của Đảng cũng như vào sự nghiệp đổi mới của nước ta.
Từ tháng 7/1997, nền kinh tế các nước trong khu vực, bắt đầu từ Thái
Lan, bước vào cuộc khủng hoảng sâu sắc, cộng vào đó cơn bão số năm cuối
năm 1997 đổ vào các tỉnh cực Nam, gây thiệt hại lớn về người và tài sản,
đã ảnh hưởng nhiều mặt đến sự phát triển kinh tế- xã hội nước ta. Một số
tỉnh, đặc biệt là nhiều xã của Thái Bình (265/285 xã, phường) diễn ra các
vụ khiếu kiện tập thể đông người là một biểu hiện mới trong xã hội. Các vụ
tham nhũng và tệ lãng phí, tham ô công quỹ với quy mô ngày càng lớn, các
tệ nạn ma tuý, mại dâm, tình trạng mất dân chủ diễn ra nghiêm trọng, sự
phân tầng và phân hóa trong xã hội ngày càng tăng Tình hình trên đã
chứa đựng những tiềm ẩn bất ổn định trong xã hội. Một số phần tử cơ hội
chính trị cho đây là thời cơ để tiến hành thay đổi đường lối chính trị và tác
động vào bộ máy lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước. Do đó, đã cho
phát tán nhiều tài liệu trái phép đánh giá sai lệch tình hình đất nước, nói
xấu các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đưa ra những kiến nghị trái với
Cương lĩnh, Điều lệ và đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước, kêu gọi
Đảng từ bỏ vai trò lãnh đạo, xoá bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, xoá bỏ kinh tế
quốc doanh, thực hiện nhanh chóng tư nhân hóa nền kinh tế, tự do hóa về
chính trị Những luận điểm đó đã bị kịch liệt phê phán nhưng nó cũng gây
ra những tác động tiêu cực về tư tưởng-chính trị trong một số người.


13

Hội nghị Trung ương 4 và Trung ương 6 (lần 1) đã đề ra chủ trương
tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, khơi dậy và phát huy tối đa nội lực,
nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, ra sức cần kiệm đẩy mạnh CNH, HĐH,
nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, kết hợp chặt chẽ với
phát triển văn hóa, giáo dục, thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội
Hội nghị Trung ương 5 về “xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” đã xác định phương hướng xây
dựng và phát triển văn hóa, đã xác định 5 tiêu chí xây dựng con người Việt
Nam trong giai đoạn cách mạng mới và các nhiệm vụ xây dựng và phát
triển văn hóa, đặt ra nhiệm vụ trọng tâm cấp bách đến năm 2000 là xây
dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh.
Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong
công tác xây dựng Đảng hiện nay, sau khi phân tích truyền thống và những
thành tựu đạt được trong quá trình đổi mới do Đảng lãnh đạo. Trung ương nhận
định rằng: “Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, tình trạng tham nhũng, quan liêu,
lãng phí của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng phát triển nghiêm
trọng hơn. Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ không nghiêm, bộ máy
tổ chức của Đảng và Nhà nước chậm được củng cố và đổi mới”. Hội nghị đã đề
ra 10 nhiệm vụ cơ bản và cấp bách cần tập trung đối với công tác xây dựng Đảng
về nhận thức tư tưởng chính trị, về đạo đức, lối sống và tổ chức.
Cùng với các Nghị quyết Trung ương, Hội nghị Trung ương 5 đã có
kết luận 01 KL/TW về đấu tranh chống các quan điểm sai trái, bảo vệ
Cương lĩnh, Điều lệ và đường lối của Đảng cùng với nhiều chỉ thị quan
trọng khác của Bộ Chính trị như Chỉ thị 27 CT/TW về việc thực hiện nếp
sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội; Chỉ thị 30 CT/TW về xây
dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Thông báo 71 của Thường vụ
Bộ Chính trị về công tác báo cáo viên tuyên truyền miệng, Chỉ thị 22 về
Báo chí- xuất bản, Chỉ thị 11 và Thông báo 08 về thông tin đối ngoại, Quy
định 54 về chế độ học tập lý luận trong Đảng, Chỉ thị 64 về kỷ luật phát
ngôn và nhiều văn bản quan trọng khác để chỉ đạo công tác tư tưởng, thúc

đẩy sự phát triển kinh tế, giữ vững ổn định chính trị.
Năm 2000, kết thúc thế kỷ XX, toàn Đảng, toàn dân ta đã hoàn thành
cơ bản các mục tiêu của chiến lược 10 năm (1991-2000), chặn đứng được
sự suy giảm tốc độ tăng trưởng, thế và lực đất nước mạnh hơn gấp nhiều
lần, tạo đà cho dân tộc ta bước vào thế kỷ XXI và thiên niên kỷ mới. Đây là
động lực quan trọng của công tác tư tưởng, khơi dậy chủ nghĩa yêu nước,
khí thế tiến công và phong trào cách mạng của quần chúng.


14
4- Đại hội IX của Đảng - Đại hội đầu tiên của thế kỷ mới.
Đại hội IX của Đảng (tháng 4/2001) họp vào thời điểm quan trọng:
dân tộc ta kết thúc một thế kỷ đấu tranh oanh liệt, Đảng và nhân dân ta trải
qua 70 năm đấu tranh bền bỉ, kiên cường, 15 năm đổi mới và bước sang thế
kỷ XXI. Những thành tựu đạt được là to lớn, có ý nghĩa lịch sử trọng đại:
Tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới; đẩy mạnh thực hiện công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy sức
mạnh toàn dân; xây dựng, chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức
mạnh chiến đấu của Đảng, tiến bước vững chắc trong thế kỷ XXI. Đại hội
IX của Đảng tiếp tục coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng
Đảng là then chốt.
Trên lĩnh vực công tác tư tưởng-văn hóa, Đại hội IX đã chỉ rõ nhiệm
vụ số một của công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng là giáo dục tư tưởng,
chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân. Nghị
quyết Đại hội IX đã khẳng định tiếp tục thực hiện và phát triển những quan
điểm của Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII), hướng mọi hoạt động của
văn hóa và xây dựng đời sống tinh thần của nhân dân và xây dựng con
người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức,
thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung,
tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hóa, quan hệ hài hoà trong gia đình,

cộng đồng và xã hội.
Hội nghị Trung ương 5 (Khoá IX) đã ra Nghị quyết quan trọng về
nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới; tháng
7/2004, tại Hội nghị Trung ương 10 (Khoá IX), Trung ương đã ra kết luận
về tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá VIII)
“về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc”; Hội nghị Trung ương 12 họp tháng 7/2005 đã dành thời gian bàn
về một số vấn đề tư tưởng cần quan tâm
5- Đại hội X (tháng 4/2006)
Tổng kết 20 đổi mới, Đại hội khẳng định: Nhận thức về chủ nghĩa xã
hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn; hệ thống
luận điểm về công cuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản.
Đại hội tiếp tục khẳng định chủ trương: Phát huy sức mạnh toàn dân tộc,
đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, đưa nước ta sớm ra khỏi tình trạng
kém phát triển, vươn lên trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện
đại. Đồng thời Đại hội bổ sung thêm hai đặc trưng của xã hội xã hội chủ


15
nghĩa đó là, xây dựng xã hội: dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ,
văn minh và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Trong nhiệm kỳ Đại hội, tại Hội nghị Trung ương năm (7/2007) Đảng
đã ra các nghị quyết: Về công tác tư tưởng, lý luận, báo chí; về tiếp tục đổi
mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính
trị; về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; về đẩy mạnh cải cách hành
chính. Đặc biệt, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương về công tác
tư tưởng lý luận và báo chí, Đảng ta chỉ rõ: Công tác tư tưởng, lý luận là một
bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Đảng; là

lĩnh vực trọng yếu để xây dựng, bồi đắp nền tảng chính trị của chế độ ; thể
hiện vai trò đi trước, mở đường trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ
quốc ; đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng; làm cho
hệ tư tưởng của Đảng, những giá trị tốt đẹp truyền thống, những tinh hoa văn
hoá thế giới chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội. Thực tiễn
cách mạng của Đảng và nhân dân ta luôn chỉ rõ, ở bất kỳ giai đoạn cách
mạng nào, công tác tưởng luôn đứng ở vị trí hàng đầu trong các mặt công tác
của Đảng. Công tác tư tưởng, xét về bản chất là hoạt động lãnh đạo và chỉ
đạo cách mạng của Đảng. Bởi, không thể có quyết định lãnh đạo đúng đắn
nếu không có cơ sở lý luận đúng, không thể có hoạt động lãnh đạo hiệu quả,
nếu không thực hiện tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục quần chúng. Hơn
nữa, lãnh đạo chính là giác ngộ, tổ chức, chỉ dẫn đường lối cho quần chúng
tin tưởng và làm theo đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật
của Nhà nước. Như vậy có thể thấy nhận thức và quan điểm của Đảng về vai
trò, vị trí công tác tư tưởng đối với sự nghiệp cách mạng luôn luôn được
Đảng ta quan tâm và rất đề cao.
6- Đại hội XI (tháng 01/2011)
Tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên CNXH và 10 năm thực hiện Chiến lược kinh tế-xã hội (2001-
2010), Đại hội khẳng định: Công cuộc đổi mới, CNH, HĐH đất nước đã đạt
được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Việt Nam đã ra khỏi tình
trạng nước nghèo kém phát triển, trở thành nước có thu nhập trung bình.
Đại hội xác định mục tiêu tổng quát: Xây dựng được về cơ bản nền
tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư
tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội
chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc. Từ nay đến giữa thế kỷ XXI,


16

phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo
định hướng xã hội chủ nghĩa.
Để xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh
đạo và sức chiến đấu của Đảng, Đại hội đã xác định phải “tăng cường
nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làm sáng tỏ một số vấn đề về đảng
cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước
ta và những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình đổi mới…”. Tiếp tục đổi
mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính thuyết
phục, hiệu quả của công tác tư tưởng, tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền, cổ vũ động viên các nhân tố mới, điển
hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt, giáo dục truyền thống yêu nước,
cách mạng. Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục lý luận chính trị,
giáo dục công dân trong hệ thống các trường chính trị, các trường thuộc hệ
thống giáo dục quốc dân. Xây dựng và thực hiện quy định mọi đảng viên có
trách nhiệm trực tiếp làm công tác tư tưởng. Cán bộ chủ chốt cấp uỷ đảng
phải thường xuyên tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân, chủ động nắm
bắt, đánh giá, dự báo diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và có biện
pháp giải quyết kịp thời…
IV- NHỮNG THÀNH TỰU, HẠN CHẾ CỦA CÔNG TÁC TƯ
TƯỞNG TRONG 25 NĂM ĐỔI MỚI
1- Thành tựu:
Công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam hơn 25 năm tiến
hành sự nghiệp đổi mới đạt được những kết quả sau:
1.1- Góp phần đổi mới tư duy, tiếp tục bổ sung, hoàn thiện, phát
triển đường lối đổi mới.
Thông qua tổng kết thực tiễn đổi mới, thông qua việc đẩy mạnh công
tác nghiên cứu lý luận, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn được làm sáng rõ
dần, góp phần bổ sung các quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và
Nhà nước; điều đó khẳng định tư duy lý luận, tư duy cầm quyền và lãnh đạo

của Đảng đã được nâng lên tầm cao mới, như: Luận giải về thể chế kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tính định hướng xã hội chủ nghĩa
trong phát triển kinh tế thị trường; vai trò động lực của kinh tế tư nhân, chức
năng của nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;
công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức và chủ động,
tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; về cách diễn đạt mới về bản chất của


17
Đảng, về đảng viên làm kinh tế tư nhân phải gương mẫu chấp hành pháp
luật, chính sách của nhà nước, nghiêm chỉnh chấp hành điều lệ Đảng và qui
định của Ban Chấp hành Trung ương. Đảng ta cũng xác định cần phải
thường xuyên tổng kết thực tiễn, tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề về chủ
nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, làm rõ cơ sở lý
luận và thực tiễn của việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của việc rút ngắn
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với kinh tế tri thức và chủ động,
tích cực hội hập kinh tế quốc tế, của phát triển văn hóa với tư cách là nền
tảng tinh thần của xã hội, của việc thực hiện dân chủ trong điều kiện một
đảng cầm quyền duy nhất, hình thành đồng bộ, hệ thống lý luận cầm quyền
và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam…
Từ Đại hội VI, nhất là sau khi có Nghị quyết 01 của Bộ Chính trị (28-
3-1992) đến nay, công tác nghiên cứu lý luận được triển khai tích cực.
Nhiều chương trình nghiên cứu lý luận đã và đang được thực hiện với sự
tham gia của các cấp, các ngành, các cơ quan nghiên cứu và đông đảo các
nhà khoa học. Hội đồng nghiên cứu lý luận Trung ương được thành lập,
làm tư vấn cho Bộ Chính trị về lãnh đạo công tác lý luận. Sinh hoạt lý luận
trong Đảng được tăng cường. Không khí dân chủ trong nghiên cứu, tìm tòi,
thảo luận, tranh luận được mở rộng. Công tác lãnh đạo, tổ chức quản lý các
hoạt động lý luận đã và đang tiếp tục được đổi mới theo hướng gắn lý luận

với thực tiễn, thông qua tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận, coi trọng
chất lượng, hiệu quả.
Cụ thể hóa đường lối đổi mới, hình thành hệ thống các quan điểm cơ
bản chỉ đạo công cuộc đổi mới trên từng lĩnh vực (kinh tế, xã hội, tư tưởng,
an ninh, quốc phòng, đối ngoại, xây dựng Đảng, Nhà nước ). Tạo cơ sở
khoa học cho việc xây dựng những quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước:
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ, đường lối công nghiệp
hóa, hiện đại hoá
Tuy nhiên, đây mới chỉ là những tiến bộ bước đầu. Nhiều vấn đề mới
mẻ của cuộc sống đang đặt ra còn phải được làm sáng tỏ về mặt lý luận để
có giải pháp đúng đắn, bảo đảm cho công cuộc đổi mới phát triển đúng
hướng.
1.2- Công tác nghiên cứu lý luận và giáo dục lý luận chính trị.
Trong những năm đổi mới, Đảng ta đã đề xướng các quan điểm đổi
mới và lãnh đạo việc thực hiện công cuộc đổi mới có kết quả. Nêu ra tư
tưởng đổi mới toàn diện trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, sau đó là


18
những nguyên tắc của đổi mới, làm cho công cuộc đổi mới theo đúng
hướng. Tiếp theo Đại hội VII đã nêu ra các đặc trưng của chủ nghĩa xã hội.
Song công tác lý luận chưa ngang tầm yêu cầu của sự nghiệp cách mạng.
Còn nhiều câu hỏi chưa được giải đáp. Việc triển khai các chương trình
nghiên cứu cấp nhà nước còn chưa đạt hiệu quả cao.
Cùng với công tác nghiên cứu lý luận, công tác giáo dục lý luận
chính trị cũng đã có bước phát triển mạnh. Hệ thống trường lớp chính trị
chính quy đã có bước đổi mới về nội dung, chương trình và phương pháp
đào tạo. Hệ thống giáo dục phổ cập lý luận đã được mở rộng, nhiều nơi đã
thành phong trào học tập lý luận chính trị sôi nổi. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo
của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể đã được bồi dưỡng tương đối hệ thống

những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Các
huyện, quận, thị đã thành lập Trung tâm bồi dưỡng chính với nhiệm vụ chủ
yếu thực hiện các chương trình giáo dục bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán
bộ, đảng viên ở cơ sở. Đây là một quyết định đúng đắn, thể hiện tinh thần
“hướng về cơ sở” góp phần nâng cao chất lượng đảng viên và tổ chức Đảng
ở cơ sở. Phong trào học tập lý luận khá sôi nổi, học viên đánh giá nội dung
bồi dưỡng thiết thực, bổ ích. Chương trình giáo dục các nghị quyết của
Đảng được coi trọng. Ngoài việc mở lớp nghiên cứu, học tập các nghị
quyết của Đảng, các cấp uỷ, các cơ quan Nhà nước, các đoàn thể quần
chúng còn tiến hành sinh hoạt quán triệt, học tập nghị quyết và đề ra
chương trình, kế hoạch thực hiện nghị quyết.
1.3- Công tác tuyên truyền, cổ động của Đảng
Công tác tuyên truyền, cổ động của Đảng về chủ trương, đường lối,
chính sách, pháp luật đã có tác dụng rất lớn đến việc nâng cao trình độ nhận
thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về trách nhiệm, nghĩa vụ công dân,
nâng cao trình độ năng lực hoạt động thực tiễn, thúc đẩy phong trào cách
mạng trong cả nước.
Công tác tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, đường lối, chính sách, pháp luật trong Đảng và trong các tầng
lớp dân cư đã trở thành nền nếp. Liên tiếp các đợt nghiên cứu, học tập,
quán triệt nghị quyết Đại hội Đảng, các nghị quyết của Trung ương, các chỉ
thị của Bộ Chính trị, của các cấp uỷ các cấp; các đợt thảo luận xây dựng và
thi hành Hiến pháp, Pháp luật, thực hiện các chính sách của Nhà nước, các
đợt tuyên truyền về các ngày kỷ niệm lớn, về phong trào thi đua yêu nước
được tổ chức trong các tổ chức Đảng, các đoàn thể quần chúng nhân dân,
các cơ quan, xí nghiệp đã góp phần quan trọng khôi phục chủ nghĩa anh


19
hùng cách mạng trong xây dựng và bảo vệ đất nước, tạo ra không khí lành

mạnh trong xã hội.
Các cơ quan thông tin đại chúng giữ vai trò quan trọng trong việc
truyền bá các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đến quần
chúng nhân dân. Đặc biệt là sự phát triển của báo điện tử trên mạng
Internet đã gây sự chú ý và ngày một đông đảo của bạn đọc. Các loại hình
báo truyền thống đã có nhiều đổi mới góp phần đáp ứng nhu cầu thông tin
của bạn đọc trong và ngoài nước.
Những tiến bộ và phát triển mới của báo chí-xuất bản về nội dung,
chất lượng và hiệu quả xã hội thể hiện trên những mặt sau: Hoạt động đúng
định hướng của Đảng, Nhà nước, phục vụ đắc lực và có hiệu quả sự nghiệp
đổi mới, về cơ bản giữ được vai trò và chức năng là phương tiện công tác
tư tưởng, văn hóa của Đảng, Nhà nước, tiếng nói của nhân dân; tích cực
tham gia đấu tranh, phê phán các hiện tượng tiêu cực trong xã hội, góp
phần tăng cường ổn định chính trị, tạo bầu không khí dân chủ, cởi mở trong
xã hội, nâng cao dân trí, phát triển văn hóa; thoả mãn ngày càng tốt hơn
nhu cầu thông tin và hưởng thụ văn hóa của nhân dân, mở rộng quan hệ
hợp tác, hữu nghị với bạn bè trên thế giới, thúc đẩy sự đổi mới toàn diện
đất nước. Góp phần giáo dục truyền thống lịch sử, truyền thống cách mạng
của dân tộc. Phản ánh ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Cổ vũ
phong trào thi đua thực hiện các nhiệm vụ kinh tế-xã hội, an ninh, quốc
phòng, đối ngoại. Một số sách, báo đã tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh
tư tưởng, nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làm sáng tỏ hơn những vấn
đề quan trọng của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, công
cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo
Tuyên truyền miệng với nhiều hình thức khác nhau như nói chuyện,
đối thoại, hội thảo, mạn đàm là một loại công cụ đắc lực, một phương
thức để tiến hành công tác tư tưởng có hiệu quả của Đảng trong các giai
đoạn cách mạng trước đây và hiện nay. Suốt hơn 25 năm qua, lực lượng
báo cáo viên, tuyên truyền viên đã phát triển mạnh mẽ cả về số lẫn chất
lượng. Nội dung hoạt động báo cáo viên, tuyên truyền viên những năm qua

đã bám sát và phục vụ tốt hơn yêu cầu thông tin ngày càng đa dạng của cán
bộ, đảng viên và quần chúng ở cơ sở. Đặc biệt là việc cán bộ lãnh đạo các
cấp tăng cường về cơ sở và tổ chức đối thoại trực tiếp với quần chúng nhân
dân ở nhiều vùng khác nhau trong cả nước đã có tác dụng rất tích cực. Việc
thực hiện thông tin hai chiều được quan tâm nhiều hơn, nắm bắt dư luận xã
hội ngày càng được chú trọng đã góp phần tạo không khí cởi mở, dân chủ


20
trong xã hội, giải đáp trúng những vấn đề bức xúc của quần chúng, do đó
đã nâng cao nhiều hơn hiệu quả giáo dục.
Thông báo nội bộ có vai trò quan trọng và thiết thực trong việc cung
cấp những thông tin cần thiết, chính xác, có định hướng, góp phần nâng cao
nhận thức và thống nhất tư tưởng, quan điểm, tăng cường đoàn kết nhất trí
trong Đảng. Thông báo nội bộ đã trở thành một công cụ quan trọng trong
công tác tư tưởng ở cơ sở, làm cho sinh hoạt chi bộ có thêm nội dung giáo
dục thiết thực, là món ăn tinh thần không thể thiếu được đối với đảng viên,
giúp cho đảng viên và tổ chức đảng cơ sở gạt bỏ những thông tin sai lệch
loan truyền ở địa phương, chống lại những quan điểm và hành động sai trái
với quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Thông báo
nội bộ là một trong những hoạt động đổi mới công tác tư tưởng theo hướng
dân chủ hoá và “hướng về cơ sở”, góp phần bảo đảm quyền được thông tin
của đảng viên, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ, đảng viên làm tốt công
tác tuyên truyền, giáo dục đối với quần chúng.
1.4- Công tác tư tưởng phục vụ đắc lực cho việc hoàn thành các
nhiệm vụ chính trị quan trọng của đất nước
Thực hiện tốt mục tiêu kinh tế- xã hội, xây dựng Đảng, phát động
phong trào quần chúng tham gia cùng Nhà nước giải quyết các vấn đề kinh
tế, xã hội bức bách. Nổi bật là các phong trào xoá đói, giảm nghèo, làm
giàu chính đáng; khuyến nông; phát triển kinh tế; phong trào khuyến học,

hỗ trợ tài năng trẻ, giúp đỡ học sinh nghèo vượt khó, phong trào đền ơn đáp
nghĩa, nhận nuôi dưỡng bà mẹ Việt Nam anh hùng, thành lập quỹ giúp đỡ
những nạn nhân chiến tranh; phong trào xây dựng gia đình văn hóa mới;
tuổi trẻ lập thân, lập nghiệp v.v
Việc tham gia phát hiện, tuyên truyền các mô hình tốt, những kinh
nghiệm hay, biểu dương người tốt, việc tốt đã có tác động tích cực đến
tình cảm, tư tưởng, lối sống của nhiều người, nhiều tập thể, có tác động lớn
trong xã hội, trở thành phương thức tuyên truyền có hiệu quả thiết thực, có
tác động cổ vũ hành động, thúc đẩy nhiệt tình cách mạng trong mỗi người
để hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị, bồi dưỡng tình cảm cách mạng, củng
cố niềm tin đối với Đảng.
1.5- Tiến hành sâu rộng, với nhiều hình thức phong phú
Đã chú ý và tập trung thực hiện khá tốt công tác giáo dục truyền
thống cách mạng, truyền thống yêu nước của dân tộc, xây dựng ý thức tự
hào, tự tôn dân tộc, trách nhiệm đối với cha anh, với tinh thần “uống nước


21
nhớ nguồn”, tôn vinh người có công với cách mạng. Với hình thức này,
công tác tư tưởng đã biết khơi dậy tiềm lực lớn, khai thác sức mạnh to lớn
trong xã hội vào việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tạo nên phong trào hành
động cách mạng sôi nổi trong xã hội về niềm tự hào, về trách nhiệm đối với
những người có công với cách mạng, giáo dục cho lớp trẻ lòng tự hào dân
tộc, ý thức tự cường, vươn lên vượt khó, quyết tâm xây dựng nước ta ngày
càng giàu mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu.
1.6- Công tác tư tưởng có bước chuyển tích cực trong cuộc đấu
tranh chống các quan điểm, tư tưởng sai lầm, lệch lạc trong nội bộ, đấu
tranh chống âm mưu “diễn biến hoà bình” chống các nước xã hội chủ
nghĩa. Các thế lực thù địch coi Việt Nam là một địa bàn trọng điểm. Chúng
luôn coi “diễn biến hoà bình” về chính trị - tư tưởng là cửa đột phá. Những

lúc tình hình trong nước và quốc tế có những biến động phức tạp, các hoạt
động phá hoại của các lực lượng thù địch trên mặt trận chính trị-tư tưởng
càng quyết liệt với nhiều thủ đoạn thâm độc và tinh vi hơn. Mũi nhọn tiến
công của chúng trước hết là xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Để làm được
điều đó, chúng ra sức tiến công vào nền tư tưởng của Đảng và thần tượng
của dân tộc. Mọi luận điệu của chúng đều nhằm phủ định chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ định Cương lĩnh, Điều lệ Đảng và
đường lối, chính sách của Đảng, chia rẽ nội bộ Đảng, chia rẽ Đảng với
nhân dân, phủ định thành quả cách mạng nhằm gây mất ổn định chính trị,
xã hội, thực hiện mưu toan “diễn biến hoà bình”, biến chất Đảng, kết hợp
với bạo loạn lật đổ Lực lượng thù địch nước ngoài tìm mọi cách để phối
hợp với lực lượng cơ hội về chính trị và chống đối trong nước để truyền bá
các quan điểm sai trái, nhằm gây sự hoài nghi, tác động tiêu cực đến một
bộ phận cán bộ nhân dân.
Để triển khai thắng lợi công cuộc đổi mới, những năm qua Đảng ta
luôn coi trọng cuộc đấu tranh trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, lý luận, bảo
vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Cương lĩnh, Điều lệ và đường lối của
Đảng, chống “diễn biến hoà bình”. Trong cuộc đấu tranh này, Đảng ta chủ
trương lấy xây đi liền với chống trong đó xây là chính. Các binh chủng của
công tác tư tưởng như hoạt động lý luận, tuyên truyền, báo chí, xuất bản,
thông tin cổ động đã thường xuyên bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên và
nhân dân ta về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý tưởng và
mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đường lối và quan điểm đổi
mới của Đảng, nhận thức đúng đắn thời cơ và nguy cơ, thấy rõ những thành
tựu đã đạt được, những tiềm năng của đất nước, cổ vũ quần chúng thực
hiện thắng lợi công cuộc đổi mới. Chúng ta tăng cường công tác giáo dục


22
chính trị, kịp thời có định hướng tư tưởng trước những sự kiện phức tạp.

Trung ương Đảng, Bộ Chính trị đã ra nhiều nghị quyết, chỉ thị liên quan
đến việc chỉ đạo công tác tư tưởng, đấu tranh chống âm mưu “diễn biến
hoà bình”, như Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 của Trung ương Đảng khoá
VII về công tác xây dựng Đảng, Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị Ban Chấp
hành Trung ương khoá VII đề ra 6 định hướng công tác tư tưởng-văn hóa,
kết luận của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 3 khoá VIII về
“Bảo vệ nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối của Đảng, đấu tranh
chống các luận điệu sai trái và chống đối của những người cơ hội về chính
trị và bọn phản động”; Kết luận 01- KL/TW của Trung ương lần thứ 5 về
“Đấu tranh chống các quan điểm sai lầm, bảo vệ đường lối, Cương lĩnh,
Điều lệ của Đảng”, Chỉ thị số 25 CT/TW của Bộ Chính trị Ban Chấp hành
Trung ương khoá VIII về việc giữ đúng nguyên tắc trong nói và viết những
vấn đề liên quan đến lịch sử Đảng, Chỉ thị 22 CT/TW về công tác báo chí-
xuất bản Đây là những nghị quyết, chỉ thị giúp định hướng cho công tác
tư tưởng; lãnh đạo, chỉ đạo cuộc đấu tranh tư tưởng hiện nay.
Thành tựu của công cuộc đổi mới và kết quả đấu tranh của ta đã giữ
vững và tăng cường sự nhất trí về chính trị, tư tưởng trong Đảng và trong
nhân dân. Các luận điệu sai trái của những người cơ hội chính trị và bọn
chống đối ngày càng lộ rõ và bị dư luận chính trực lên án, trong số họ cũng
ngày càng bị phân hóa. Một số cực đoan vẫn tiếp tục chống đối, số khác tuy
chưa từ bỏ ý thức chống đối song ít nhất cũng phải chuyển giọng điệu, bớt
hung hãn hơn, nằm im chờ thời.
Hiện nay, để bảo vệ được học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, chúng ta nhất định phải không ngừng bổ sung, phát triển chứ không
chỉ bằng lòng với việc nhắc lại những công thức có sẵn. Do đó, phải thường
xuyên tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển lý luận.
1.7- Công tác tư tưởng tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh chống
tham nhũng, tiêu cực xã hội, giải quyết điểm nóng, khiếu kiện của nhân
dân, góp phần giữ vững ổn định chính trị xã hội.
Công tác tư tưởng đã góp phần quan trọng làm cho các tầng lớp nhân

dân, các tổ chức Đảng, đoàn thể, chính quyền thấy được sự cần thiết và sự
cấp thiết của cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, quan liêu, chống các
tệ nạn xã hội; phát hiện và phanh phui nhiều vụ tham nhũng, tiêu cực gây
hậu quả nghiêm trọng; tạo ra dư luận quần chúng hưởng ứng cuộc đấu
tranh chống tiêu cực xã hội, tuyên truyền sâu rộng trong Đảng và nhân dân


23
các chủ trương của Đảng và Nhà nước về việc đẩy mạnh đấu tranh chống
tham nhũng, chống quan liêu, chống các tệ nạn xã hội.
Quá trình giải quyết các vụ việc nổi cộm có ảnh hưởng đến an ninh,
chính trị, trật tự xã hội cũng như xử lý việc khiếu kiện của nhân dân, công
tác tư tưởng ở các cấp đã rút ra nhiều bài học có giá trị cho công tác của
mình, thúc đẩy công tác tư tưởng của toàn Đảng lên một bước mới, chống
tình trạng quan liêu, trì trệ trong công tác tư tưởng, làm cho công tác tư
tưởng gắn với cơ sở, với quần chúng hơn.
Trong chỉ đạo, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chú trọng công tác giáo
dục cơ bản là giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống, chống chủ
nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, với việc giải quyết các nhiệm vụ trước
mắt, kết hợp chặt chẽ giữa xây và chống, kiên quyết đấu tranh chống lại các
quan điểm sai trái, các luận điệu chống đối của những người cơ hội về
chính trị và các lực lượng thù địch. Công tác sơ kết, tổng kết kết quả từng
mặt đổi mới của hoạt động tư tưởng cũng được quan tâm nhiều hơn trước.
Hoạt động báo chí, xuất bản đã kịp thời biểu dương những mặt tốt, uốn nắn
những lệch lạc; Đảng xác định đây là mặt trận quan trọng tác động mạnh
đến định hướng tư tưởng và dư luận xã hội, góp phần quan trọng giữ vững
ổn định chính trị.
1.8- Phương pháp công tác tư tưởng ngày càng được đổi mới để tăng
tính hiệu quả, với phương châm dân chủ hóa đời sống tinh thần và hướng về
cơ sở, công tác tư tưởng có nhiều chuyển biến tích cực trong việc quan tâm

đến các loại đối tượng của công tác tư tưởng để tiến hành công tác tư tưởng
cho phù hợp và có sức thuyết phục, có chiều sâu; mở rộng thông tin, chú ý
nhiều hơn đến thông tin hai chiều, tăng cường đối thoại, nghiên cứu nắm bắt
dư luận xã hội, ứng dụng khoa học công nghệ tin học trong công tác tư
tưởng; tổ chức lực lượng báo cáo viên từ Trung ương đến cơ sở; từng bước
đổi mới việc triển khai nghị quyết cho thiết thực và hiệu quả; thể chế hoá về
mặt Nhà nước, các chế độ chính sách, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về
công tác tư tưởng ngày càng tốt hơn. Điều đó đã tạo nên bầu không khí cởi
mở, lành mạnh hơn trong xã hội; tạo cho hoạt động tư tưởng ngày càng đạt
hiệu quả cao hơn.
1.9- Tăng cường một bước vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng
trong lĩnh vực tư tưởng-văn hóa
Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Thường vụ các cấp uỷ Đảng thường trực
tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng, xác định những định hướng lớn,
những nội dung công tác tư tưởng trong từng thời kỳ và trực tiếp chỉ đạo


24
nhiều nhiệm vụ cụ thể, nhất là trước những sự kiện lớn, trước những khó
khăn, thử thách cũng như trước mỗi bước chuyển của cách mạng. Nhiều
binh chủng, lực lượng trong công tác tư tưởng cũng đã tranh thủ sự lãnh
đạo của cấp uỷ Đảng, thuyết phục cấp uỷ quan tâm chỉ đạo, giúp đỡ, giải
quyết các khó khăn, vướng mắc để tạo điều kiện hoạt động có hiệu quả
hơn…
2- Một số hạn chế, yếu kém của công tác tư tưởng lý luận
Ở những mức độ khác nhau trong từng giai đoạn lịch sử, kết quả nêu
trên đã chứng tỏ tính thuyết phục, tính chiến đấu và hiệu quả của công tác
tư tưởng. Tuy nhiên, từ yêu cầu của thực tiễn phát triển đất nước, trên
những vấn đề này vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, đó là: công tác nghiên
cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, dự báo tình hình trong nước và quốc tế vẫn

chưa theo kịp với đòi hỏi của cuộc sống; chưa triển khai tốt công tác giáo
dục chính trị, tư tưởng và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ
hội, những quan điểm mơ hồ, sai trái. Công tác giáo dục lý tưởng, văn hoá,
khoa giáo chưa sâu rộng và còn nhiều hạn chế. Vấn đề đấu tranh phản bác
các quan điểm sai trái, thù địch có lúc còn bị động, hiệu quả thấp; chưa huy
động đầy đủ được sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị làm công tác
tư tưởng. Nội dung, phương pháp công tác chậm đổi mới, hoạt động chưa
đồng đều, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp, các bộ
phận chưa được giải quyết kịp thời và triệt để một số bức xúc của nhân dân.
Rõ ràng, những thiếu sót, yếu kém trên cũng cho thấy tính thuyết phục,
hiệu quả của công tác tư tưởng trên một số lĩnh vực còn hạn chế.













25
KẾT LUẬN

Bối cảnh mới của sự nghiệp cách mạng nước ta đặt ra nhiều yêu cầu,
đổi mới đối với công tác tư tưởng, đặc biệt trong vấn đề nâng cao tính
thuyết phục trong các hoạt động, không chỉ kế thừa, phát huy những thành

tựu, kinh nghiệm của quá khứ, mà còn nhạy bén, dự báo và phát hiện
những điểm mới, sự khác biệt, những thuận lợi và khó khăn phía trước, đặc
biệt khi đất nước ta bước vào giai đoạn mới, phấn đấu đưa nước ta trở
thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Những khó
khăn, thách thức đặt ra đối với cả nước, các cấp, các ngành, trong đó trực
tiếp là lĩnh vực công tác tư tưởng, đòi hỏi có sự đổi mới, nâng cao tính
thuyết phục trong từng nội dung, hình thức hoạt động, trên từng vấn đề lớn,
trọng tâm trong nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
Để nâng cao chất lượng hiệu quả công tác tư tưởng, phải nắm vững
nguyên tắc, nắm vững nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu về công tác tư tưởng
được Đảng ta xác định ở các hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ
5, khóa IX và khóa X. Nhất là trong thời điểm hiện nay, toàn Đảng đang
quyết tâm chỉ đạo thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư
(khóa XI) “một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, với vấn đề
thứ nhất là trọng tâm, xuyên suốt và cấp bách nhất. Ba vấn đề cấp bách
Nghị quyết đặt ra là ba vấn đề rất hệ trọng nếu không được khắc phục sửa
chữa sẽ là thách thức nghiêm trọng đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự tồn
vong của chế độ. Điều đó đòi hỏi phải tăng cường và phát huy sức mạnh
tổng hợp của các binh chủng của công tác tư tưởng cũng như phải phối hợp
chặt chẽ, đồng bộ giữa công tác tư tưởng với công tác tổ chức, cơ chế chính
sách và công tác kiểm tra mới có thể thực hiện thắng lợi Nghị quyết có tầm
quan trọng quyết định xây dựng Đảng ta trong sạch vững mạnh./.


×