Tải bản đầy đủ (.doc) (33 trang)

skkn một số giải pháp quản lý phòng chống tình trạng hs bỏ học ở các trường thpt huyện tân phú, tỉnh đồng nai

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (286.66 KB, 33 trang )

PHẦN 1:MỞ DẦU
1. Lý do chọn đề tài
Qua gần 20 năm công tác trong ngành giáo dục, gần 6 năm làm công tác
quản lý trường học, với vai trò là người lãnh đạo, quản lý một trường THPT ở
huyện Tân Phú tỉnh Đồng Nai, tôi luôn trăn trở về tình trạng bỏ học khá phổ biến
của học sinh những năm gần đây ở các trường THPT trên địa bàn huyện. Thực tiễn
ấy đã thôi thúc tôi nghiên cứu, tìm tòi các biện pháp hữu hiệu để phòng chống tình
trạng học sinh bỏ học ở bậc THPT trên địa bàn huyện Tân Phú tỉnh Đồng Nai.
Hiện nay, tuy nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể về mặt kinh tế,
đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao, nhưng những mặt trái
của cơ chế thị trường đã tác động không nhỏ đến một bộ phận thanh thiếu niên như:
lối sống thực dụng, thiếu ước mơ và hoài bão, không có lý tưởng rõ ràng Một bộ
phận dân cư đã không nhận thức được vai trò của tri thức trong nền kinh tế thị
trường, trong nền sản xuất CNH-HĐH, từ đó có sự dễ dãi đối với việc bỏ học từ bậc
học phổ thông của con em mình.
Bên cạnh đó, những tệ nạn xã hội, ma túy, tai nạn giao thông, bạo lực
học đường đã và đang xâm nhập vào các nhà trường và có xu hướng gia tăng.
Lối sống hưởng thụ, buông thả, lười lao động lười học tập đang tác động không
nhỏ đến HS, nhất là những HS có hoàn cảnh kinh tế gia đình khá giả. Trên thực
tế, tình hình giáo dục ở bậc THPT của huyện Tân Phú đã và đang có những đổi
thay khởi sắc: Trường học được xây dựng kiên cố theo hướng chuẩn quốc gia,
trang thiết bị và đồ dùng dạy học được trang bị cơ bản đầy đủ, đội ngũ cán bộ
quản lý và giáo viên được chuẩn hóa, chất lượng giáo dục đào tạo từng bước
được nâng lên…Tuy nhiên, còn một vấn đề mà các cấp chính quyền, cha mẹ
HS, thầy cô giáo và xã hội rất quan tâm, đó là vấn đề HS bỏ học, các em sẽ gia
nhập vào các nhóm thanh niên chơi bời lêu lỏng, gây nhiều phiền toái cho nhân
dân.
Thời gian qua, các trường THPT của huyện Tân Phú đã có nhiều cố gắng và
đạt được những thành tích nhất định về việc phòng chống tình trạng HS bỏ học.
Cho đến nay chưa có tác giả nào nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm để rút ra những
kết luận khoa học về việc nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục để phòng chống tình


trạng HS bỏ học trên địa bàn huyện.
Tình hình HS bỏ học những năm qua ở các trường THPT trên địa bàn
huyện là đáng báo động. Vì vậy, việc nghiên cứu để tìm ra những giải pháp
quản lý phòng chống tình trạng HS bỏ học trở nên hết sức cần thiết. Với những
lý do nêu trên, chúng tôi chọn vấn đề “Một số giải pháp quản lý phòng chống
tình trạng HS bỏ học ở các trường THPT huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai”
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn để tìm ra những nguyên
nhân ảnh hưởng đến việc duy trì sĩ số học sinh trung học phổ thông, từ đó đề
xuất các giải pháp quản lý nhằm duy trì sĩ số học sinh trung học phổ thông
huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý duy trì sĩ số học sinh ở trường THPT.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp quản lý nhằm duy trì sĩ số học sinh ở các trường THPT trên địa
bàn huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
4. Giả thuyết khoa học
Có thể duy trì sĩ số học sinh ở các trường trung học phổ thông huyện Tân
Phú, tỉnh Đồng Nai nếu đề xuất và thực hiện các giải pháp quản lí có cơ sở
khoa học và có tính khả thi.
5. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý duy trì sĩ số học sinh ở các trường THPT.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý duy trì sĩ số học sinh ở
các trường THPT.
- Đề xuất giải pháp quản lý duy trì sĩ số học sinh ở các trường THPT huyện Tân
Phú, tỉnh Đồng Nai.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp ngiên cứu lý luận.
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn.

- Phương pháp toán học.
PHẦN 2:NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về các nguyên nhân có thể
ảnh hưởng đến việc HS bỏ học. Các tác giả đã đưa ra những quan điểm lý luận
chung giúp xác định bản chất của hiện tượng HS bỏ học, các nhân tố tác động đến
hiện tượng HS bỏ học. Các nghiên cứu khảo sát thực trạng HS bỏ học trên phạm vi
cả nước của Phạm Minh Hùng , Nguyễn Sinh Huy….Các tác giả đã đề cập đến bản
chất của hiện tượng lưu ban, bỏ học; mối tương quan giữa lưu ban và bỏ học; các
nhân tố tác động đến hiện tượng bỏ học (như xã hội, nhà trường, gia đình và bản
thân HS); đồng thời các tác giả cũng đề xuất các giải pháp trên bình diện quá trình
dạy học GD, bình diện nhân cách và cá nhân HS….
Một số công trình nghiên cứu khác đã đề cập đến một số biện pháp cụ thể
nhằm hạn chế hiện tượng HS bỏ học, từ đó giúp duy trì tốt hơn sĩ số HS, như các
tác giả Trần Kiểm, Nguyễn Thị Kim Quý đã khảo sát các đặc điểm tâm lý HS học
kém, lưu ban, thử nghiệm tổ chức học riêng cho HS kém, trên cơ sở đó đề ra giải
pháp phòng chống học kém nhằm phòng chống tình trạng HS bỏ học.
Bây giờ học sinh nên học những kiến thức cơ bản nhất và học khi cần thông
tin biết tìm ở đâu, làm cách nào tìm ra, tìm ra thì dùng như thế nào. Trường học
phải dạy cho học sinh những kỹ năng đó.
Hơn nữa hàng loạt chính sách tài chính giáo dục kiểu “nhà nước và nhân dân
cùng làm” đang đẩy vùng nghèo, người nghèo vào hoàn cảnh khó khăn. Đóng góp
của phụ huynh được coi là một nguồn tài chính giáo dục nên tại những vùng phụ
huynh không thể đóng góp nhiều, đầu tư bị thua sút.
Để đảm bảo công bằng về cơ hội học tập cho mọi người, nhóm nghiên cứu
“Việt Nam - quản lý chi tiêu để tăng trưởng và giảm nghèo” do ngân hàng Thế giới
thực hiện đã đề xuất cơ chế để tất cả học sinh đều được nhận một mức chất lượng
giáo dục tối thiểu. Theo đó, cần xây dựng mức chi ngân sách tối thiểu cho một học
sinh với đầy đủ các yếu tố như: Chi lương, chi ngoài lương, chi trang thiết bị, duy

tu, bảo dưỡng trường lớp. Các địa phương có quyền tự chủ thực hiện trong việc
cung cấp nhiều hơn nhưng không được ít hơn mức này. Bên cạnh việc nhanh chóng
tìm lời giải chủ quan từ phía mình, có lẽ, đây là cách giải quyết nguyên nhân khách
quan của tình trạng bỏ học một cách căn cơ nhất nên làm.
Tuy đã có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu về xây dựng các giải pháp
quản lý nhằm duy trì sĩ số học sinh ở các trường THPT huyện Tân Phú thì chưa có
một công trình nào đi vào nghiên cứu và xây dựng các giải pháp quản lý nhằm
phòng chống tình trạng HS bỏ học. Do vậy việc nghiên cứu đề xuất một số biên
pháp quản lý tình trạng HS bỏ học ở các trường THPT huyện Tân Phú có ý nghĩa
quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn trong quản lý công tác duy trì sĩ số HS ở các
trường THPT huyện Tân Phú, góp phần đáp ứng ngày càng cao của sự nghiệp phát
triển giáo dục đào tạo.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Sĩ số học sinh
HS được xác định là đối tượng đặc biệt quan trọng trong hoạt động dạy-học,
và vấn đề lưu giữ HS là vấn đề quan trọng được đặt ra không chỉ đối với nhà
trường, với ngành GD mà là vấn đề cần được sự quan tâm của toàn XH, đặc biệt là
cha mẹ các em và đội ngũ nhà giáo.
Theo từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thì “sĩ số học sinh” (SSHS) là “Số
HS của trường hay của lớp”.
1.2.2. Duy trì sĩ số học sinh
Duy trì là giữ cho tiếp tục tồn tại trong tình trạng như cũ (thường dùng cho
những cái đang có chiều hướng giảm sút hoặc mất đi).
1.2.3. Quản lý, quản lí việc duy trì sĩ số học sinh
- QL là một khoa học vì nó nghiên cứu, phân tích về công việc QL trong các
tổ chức, các quan hệ QL. Nó tổng quát hóa các kinh nghiệm tốt thành các nguyên
tắc và lý thuyết áp dụng cho mọi hình thức QL tương tự. Nó cung cấp khái niệm cơ
bản làm nền tảng cho việc nghiên cứu các môn học về QL.
- Các khái niệm (thuộc lĩnh vực QL XH) trên đây, tuy khác nhau, song chúng
có chung những dấu hiệu chủ yếu sau đây:

+ Hoạt động QL được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm XH.
+ Hoạt động QL là những tác động có tính hướng đích.
+ Hoạt động QL là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm
thực hiện mục tiêu của tổ chức.
- QL việc DTSSHS là “Việc nắm vững SSHS diễn ra trong quá trình đào tạo
ở trường”, cụ thể là:
+ Nắm vững thực trạng diễn biến về sự biến động SSHS trong quá trình đào
tạo theo thời gian của từng tháng, từng quý, học kỳ, năm học và khóa học.
+ Tìm hiểu và nghiên cứu xem những nguyên nhân nào tác động đến sự biến
động SSHS.
+ Nghiên cứu và đề xuất những giải pháp khắc phục để ngăn ngừa và hạn
chế tình trạng giảm sút SSHS trong quá trình đào tạo của trường, nhằm giữ cho hoạt
động của trường được ổn định, giảm thiểu những khó khăn do sự biến động sĩ số
gây ra.
1.2.4. Giải pháp, giải pháp quản lý duy trì sĩ số học sinh
- Giải pháp : Nghĩa chung nhất của giải pháp là “Cách làm, cách thực hiện
một công việc nào đó nhằm đạt được mục đích đề ra”.
Theo từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thì: “Giải pháp là cách thức giải
quyết một vấn đề cụ thể”.
- Giải pháp quản lý duy trì sĩ số học sinh : Nếu không đề cập đến nguyên
nhân HS chuyển trường thì hiện tượng HS bỏ học là nguyên nhân chính ảnh hưởng
đến việc duy trì sĩ số HS. Như vậy, muốn DTSSHS thì phải có những giải pháp
nhằm hạn chế hiện tượng HS bỏ học. Điều này đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ
giữa nhà trường, gia đình và XH trong công tác QL nhằm hạn chế hiện tượng HS bỏ
học như tinh thần của nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã khẳng
định quan điểm đổi mới toàn diện GD&ĐT: “Xây dựng môi trường GD lành mạnh,
kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và XH”.
Vậy có thể hiểu: Giải pháp QL DTSSHS là “Cách thức QL của Hiệu trưởng nhằm
giữ vững SSHS đã có trong suốt một năm học, suốt một cấp học”.
1.3. Một số vấn đề về quản lý việc duy trì sĩ số học sinh trung học phổ thông

1.3.1. Những nhân tố tác động dẫn đến tình trạng học sinh bỏ học
a. Nguyên nhân xã hội
Những biến đổi KT-XH, đặc biệt là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở nước ta, đã tạo ra nhiều cơ hội kiếm tiền dễ dàng, ngay cả đến trẻ em
cũng có thể kiếm được tiền bằng việc đi nhặt phế liệu, bán vé số, làm thuê… Trong
XH xuất hiện những người giàu có nhanh chóng trong khi có những người học cao
thì không tìm được việc làm phù hợp; đồng thời việc chuẩn hóa cán bộ lại xuất hiện
hiện tượng chạy theo bằng cấp nên có tình trạng bằng cấp giả hoặc “học giả - bằng
cấp thật”; tiền lương của cán bộ công chức, nhất là GV không đủ trang trải cuộc
sống tối thiểu, vị thế chưa tương xứng của người thầy trong XH; ngành GD bị cuốn
vào căn bệnh duy ý chí, bệnh thành tích của XH, xuất hiện những tiêu cực …
Những nhân tố đó đã tác động rất lớn đến nhà trường và đến HS.
b. Nguyên nhân nhà trường
Với tư cách là một bộ phận của XH, nhà trường chưa thích ứng kịp với
những biến đổi của XH từ mục tiêu, nội dung, phương pháp đến hình thức tổ chức
QLGD, sự bất cập giữa phát triển qui mô GD và chất lượng GD. Mặt khác, bản thân
quá trình GD còn chưa mang đậm tính nhân văn, nội dung GD chưa thiết thực, chưa
phù hợp với lợi ích người học, sản phẩm của GD chưa được XH hoàn toàn chấp
nhận. Cơ sở vật chất, phương tiện dạy học tuy được quan tâm đầu tư nhưng vẫn còn
nghèo nàn lạc hậu, chưa đáp ứng được nội dung chương trình sách giáo khoa. Hiện
tượng “dạy chay, học chay” vẫn còn tồn tại; tình trạng quá tải trong học tập; hiện
tượng dạy thêm, học thêm tràn lan; học tập theo kiểu nhồi nhét kiến thức. Điều này
khiến HS nghèo, HS học yếu kém chán nản dẫn đến bỏ học. Nhà trường chưa làm
tốt nhiệm vụ là nơi tạo lập nên niềm vui cho HS, chưa thân thiện với HS và chưa
tạo nên tâm lý “mỗi ngày đến trường là một ngày vui”.
c. Nguyên nhân gia đình
Gia đình là môi trường gần gũi nhất, là mái ấm của HS, những nhân tố
tích cực và tiêu cực hàng ngày, hàng giờ đã tác động đến gia đình và HS: nhận
thức hạn hẹp hoặc lệch lạc về động cơ, mục đích học tập; trình độ GD thấp,
phương pháp GD của cha mẹ không phù hợp với tâm sinh lý trẻ; hoàn cảnh sống,

nề nếp gia đình đã tác động không nhỏ đến việc học tập của HS. Mặt khác sự tác
động của XH đến gia đình, thông qua gia đình tác động đến HS: những ảnh
hưởng tiêu cực, những mặt trái của nền kinh tế thị trường, sự phân hóa giàu
nghèo trong XH mạnh mẽ đã làm thay đổi sâu sắc định hướng giá trị của cha mẹ
HS về việc học tập của con em mình.
Tất cả những tác động trên tạm gọi là tác động bên ngoài đối với HS và dẫn đến bỏ
học. Cùng với tác động đó, những tác động bên trong của bản thân HS cũng dẫn đến
bỏ học.
d. Nguyên nhân từ bản thân học sinh
Với tư cách là một thực thể của XH, HS cũng chịu sự tác động của môi
trường XH. Nếu chỉ xét trong mối quan hệ gần trong XH như ảnh hưởng của nhóm
bạn, của tập quán địa phương, của chuẩn mực vốn có không chính thức, của môi
trường tự nhiên, bệnh tật, học kém do mất căn bản,… đã ảnh hưởng đến sự định
hướng giá trị về học tập của HS. Quan điểm biện chứng đã khẳng định rằng, sự tự
nỗ lực của chủ thể là một trong những động lực quan trọng để chủ thể phát triển. Vì
vậy, nếu bản thân HS có nghị lực và ý chí vượt qua những khó khăn từ phía XH, từ
phía gia đình, từ phía nhà trường thì việc bỏ học sẽ không đến với HS.
e. Một số đặc điểm tâm lý của học sinh trung học phổ thông
Tuổi của học sinh THPT từ 15 đến 18 tuổi, là giai đoạn chuyển hóa, giao thời
giữa giữa tuổi trẻ em và tuổi người lớn. Trong lứa tuổi này các em có cơ thể phát
triển cân đối, khỏe và đẹp. Đa số các em có thể đạt được những khả năng thành tích
về cơ thể như người lớn. Những đặc điểm nhân cách chủ yếu của lứa tuổi HS THPT
liên quan đến việc phát triển của tự ý thức, sự hình thành thế giới quan, các hoạt
động giao tiếp và quan hệ xã hội, sự phát triển của tâm sinh lý và đời sống tình cảm.
1.4. Thực trạng học sinh bỏ học ở huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai
1.4.1. Thực trạng công tác quản lý nhằm duy trì sĩ số học sinh phòng
chống bỏ học ở huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai
Để tìm hiểu các giải pháp mà các nhà trường THPT đang áp dụng nhằm duy
trì sĩ số HS, cũng như xác định nguyên nhân dẫn đến HS THPT bỏ học làm ảnh
hưởng đến công tác duy trì sĩ số HS của các nhà trường, chúng tôi đã tiến hành

tham khảo các tài liệu có liên quan; đồng thời tiến hành thăm dò, phỏng vấn, đàm
thoại với các thành phần sau:
+ Trưng cầu ý kiến của 05 Hiệu trưởng, 10 phó hiệu trưởng các trường
THPT của huyện Tân Phú, 76 người là thành viên trong hội đồng sư phạm như: chủ
tịch công đoàn, bí thư Đoàn trường, GVCN, tổ trưởng chuyên môn, các thành viên
trong hội đồng sư phạm nhà trường.
+ Thăm dò ý kiến ngẫu nhiên 50 người là cha mẹ hoặc người nuôi dưỡng của
những HS đã bỏ học và 42 em HS THPT đã bỏ học.
+ Thăm dò ngẫu nhiên ý kiến của 60 HS THPT có nguy cơ bỏ học và 60 HS
THPT đang học tập bình thường.
1.4.2. Thực trạng học sinh trung học phổ thông của huyện bỏ học từ
năm 2009 đến 2013
Nhận định của cán bộ quản lý, giáo viên THPT cho rằng HS bỏ học nhiều nhất
là thời gian sau khi nghỉ hè và sau khi nghỉ Tết Nguyên đán. Qua khảo sát, ý kiến của
phụ huynh và chính các em HS bỏ học đã xác định điều đó. Sau thời điểm nghỉ hè số
lượng HS ở các trường thường giảm. Kết quả khảo sát 42 em đã bỏ học, chúng tôi
cũng thu được các kết quả tương tự như nhận định. HS bỏ học vào thời điểm nghỉ hè
ít được chú ý.
Bảng 1: HS THPT bỏ học qua khảo sát 42 HS đã bỏ học
Tổng số HS
khảo sát
Thời điểm bỏ học
Trong dịp
nghỉ hè
Trong học kì I
Trong học kì II
Sau Tết Nguyên
đán
Thời điểm còn
lại trong HKII

SL % SL % SL % SL %
42 15 36% 6 14,4% 11 25,6% 10 24%
Biểu đồ : Tỉ lệ HS THPT bỏ học qua khảo sát 42 HS đã bỏ học
Từ kết quả khảo sát trên, ta nhận thấy rằng các cơ quan quản lý giáo dục cần
chú ý chỉ đạo các nhà trường thực hiện tốt công tác vận động HS ra lớp ở thời điểm
đầu năm học, làm được điều này sẽ tác động rất lớn đến việc duy trì sĩ số HS. Mặt
khác, cần chú ý đến các báo cáo số lượng HS của nhà trường ở thời điểm kết thúc
năm học trước và thời điểm bắt đầu năm học mới để kịp thời nắm bắt số lượng HS
bỏ học trong thời gian nghỉ hè. HS bỏ học trong hè hiện đang bỏ ngỏ, chưa đưa vào
thống kê hàng năm. Bên cạnh đó, các nhà trường và Sở GD&ĐT cần chú ý đến
công tác duy trì sĩ số HS trước và sau Tết Nguyên đán, thời điểm mà có tỉ lệ HS bỏ
học cao thứ hai trong năm.
1.4.3. Hoàn cảnh gia đình học sinh bỏ học
Tham khảo ý kiến của cán bộ quản lý và các giáo viên, đa số đều cho rằng,
HS bỏ học thường rơi vào những gia đình làm những nghề nghiệp cần đến sức lao
động chân tay như: Làm rẫy, làm ruộng, làm công nhân, thợ thủ công, làm thuê
hoặc không có việc làm ổn định.
Bảng 2: Nghề nghiệp của bố, mẹ HS bỏ học (42 HS THPT bỏ học)
Làm rẫy,
làm ruộng
Công
nhân
Thợ thủ
công
Buôn
bán
Nghề
nghiệp
Công
chức, viên

khác chức
Số
lượng
18 11 5 2 5 1
Tỉ lệ 42,9% 26,2% 11,9% 4,8% 11,9% 2,3%
Nghề nghiệp của bố mẹ và gia đình phản ánh đúng về góc độ kinh tế và hoàn
cảnh dẫn đến HS bỏ học. Có nhiều HS nhìn thấy bố mẹ phải lao động vất vả để nuôi
mình đi học đã mong muốn được nghỉ học để ở nhà giúp đỡ bố mẹ. Bên cạnh đó, do
phải làm việc vất vả nên nhiều bậc phụ huynh không có thời gian để quan tâm đến
việc học tập của con em mình, điều này góp phần làm sao nhãng nhiệm vụ học tập
của các em.
Cũng qua kết quả khảo sát đối với 42 HS nêu trên, cùng với tham khảo ý
kiến của các cán bộ quản lý, các thầy cô giáo. Chúng tôi nhận thấy, đa phần HS bỏ
học thường rơi vào những gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, gia đình hộ
nghèo và không ít HS thuộc những gia đình có kinh tế khá giả nhưng bố mẹ chia ly.
1.4.4. Học sinh bỏ học phân theo kết quả học lực và hạnh kiểm
+ Xếp loại học lực: Theo thống kê, HS bỏ học phổ biến nhất vẫn là HS trung
bình, yếu, kém. Nhóm HS này cũng là những đối tượng thuộc diện có nguy cơ bỏ
học cao.
Biểu đồ 2: Xếp loại học lực của HS THPT bỏ học ở huyện Tân Phú
+ Xếp loại hạnh kiểm: Theo kết quả khảo sát từ HS bỏ học, HS có hạnh kiểm
từ khá trở xuống có tỉ lệ cao. Các em HS xếp loại hạnh kiểm từ Trung bình trở
xuống là nhóm có nguy cơ bỏ học cao hơn hẳn.
Biểuđồ 3:Xếp loại hạnh kiểm của HS THPT bỏ học ở huyện Tân Phú
1.4.5. Nguyên nhân bỏ học từ phía gia đình
Kết quả thăm dò ý kiến của 50 phụ huynh có con em bỏ học cho thấy: 32 người
(64%) cho rằng bỏ học có ảnh hưởng đến tương lai của con em họ, nhưng ảnh hưởng
này là không lớn. 11 người (22%) cho rằng nghỉ học không ảnh hưởng đến tương lai,
trong khi đó chỉ có 17 người (34%) cho là ảnh hưởng rất lớn.
Bảng 4: Nhận thức của cha mẹ HS về mức độ ảnh hưởng từ việc bỏ học

TT Mức độ ảnh hưởng Số ý kiến Tỷ lệ
1 Ảnh hưởng rất lớn 17 34%
2 Ảnh hưởng không lớn 32 64%
3 Không ảnh hưởng 11 22%
Kết quả trên cho thấy ý thức trách nhiệm của nhiều bậc phụ huynh đối với
nhiệm vụ học tập của con em mình còn có những hạn chế. Đây cũng là một lý do
ảnh hưởng lớn đến mục tiêu học tập của HS, làm cho các em bị suy giảm động lực
học tập, từ đó dễ dẫn đến tư tưởng phó mặc, không cần cố gắng vươn lên trong học
tập ở HS, sau đó là học yếu kém và cuối cùng là xuất hiện ý định bỏ học và bỏ học.
Cũng thông qua kết quả thăm dò 50 phụ huynh ở trên cho thấy hầu hết họ
đều có trình độ văn hóa thấp, thậm chí còn có người chưa biết chữ. Đây cũng là câu
trả lời vì sao nhận thức của họ về ý nghĩa của việc học tập đối với tương lai của con
em mình còn sai lệch.
Bảng 5: Thống kê trình độ văn hóa của cha mẹ HS THPT bỏ học
Trình độ
Chưa
biết chữ
Cấp 1
(Tiểu
học)
Cấp 2
(THCS)
Cấp3
(THPT)
Đại học,
Cao
đẳng
Sau
Đại học
Số lượng 1 24 19 4 2 0

Tỉ lệ 2% 48% 38% 8% 4 0
Kết quả thăm dò còn cho thấy, ngoài điều kiện kinh tế gia đình, hoàn cảnh
hôn nhân của cha mẹ, số con trong gia đình, bệnh tật của người thân, tình trạng tâm
sinh lý của bố mẹ cũng ảnh hưởng nhiều đến việc HS bỏ học. Trong số 42 HS bỏ
học được khảo sát, có 5 em bỏ học là do cha mẹ ly dị, 1 em bỏ học do cha cờ bạc
hay đánh chửi vợ con, 4 em mồ côi cha chỉ còn mẹ phải lao động vất vả, 1 em mồ
côi cả cha lẫn mẹ. Đặc biệt có tới 27 em thuộc gia đình đông con (có ba con trở
lên). Những nguyên nhân này đòi hỏi phải có sự chung tay của toàn xã hội, cần sự
phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể xã hội và nhà
trường, gia đình thì mới có thể khắc phục dứt điểm được.
1.4.6. Nguyên nhân bỏ học từ phía nhà trường
Khảo sát, thăm dò 42 HS bỏ học ở trên cho thấy, hầu như tất cả các em đều
cho rằng mình không hiểu bài sau mỗi giờ lên lớp của GV (37 em; chiếm 88,1%) số
còn lại thì thấy rằng ngại học các môn khoa học cơ bản như Toán, Lý, Hóa, Anh văn
….
Việc HS không hiểu bài và ngại học có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân dễ
dàng nhận thấy nhất đó là trình độ chuyên môn, phương pháp giảng dạy của một số
GV trong ngành GD còn yếu kém, cộng với nội dung chương trình các môn học gây
quá tải đối với cả người dạy và người học.
1.4.7. Nguyên nhân bỏ học do học sinh
+ Qua trao đổi ý kiến với các nhà quản lý giáo dục, các em HS bỏ học, tôi
còn nhận thấy một nguyên nhân rất cơ bản xuất phát từ nhận thức của HS về vấn đề
học tập.
+ Trong số 42 HS bỏ học được hỏi ý kiến có tới 36 em cho rằng các em
không nghĩ học tập là nghĩa vụ của mình đối với xã hội và gia đình. Cũng đa số các
em HS trả lời rằng, bản thân chưa xác định được học tập để làm gì.
+ Khi trao đổi với 60 em HS đang có nguy cơ bỏ học, có nhiều em lâm vào
tình trạng khủng hoảng niềm tin vào tương lai của mình và không tin rằng nếu mình
tiếp tục học tập thì sẽ có một tương lai tốt đẹp hơn. Trong số này cũng có nhiều em
cho rằng, bản thân mình không có năng lực học tập, không thể cố gắng học tốt hơn

được.
Những nguyên nhân trên đang là tác nhân chủ yếu ở trong nội tại HS, gây
nên tâm lý ngại học, chán học và ý tưởng bỏ học của HS.
+ Ngược lại, khi trao đổi với 60 HS đang là HS tiên tiến, HS giỏi ở các
trường THPT trong huyện, đa phần các em đều xác định được mục tiêu học tập của
mình, các em còn nêu được dự định của bản thân mình trong tương lai sau khi học
xong chương trình THPT.
Những nghiên cứu trên đây có thể cho thấy rằng, những yếu tố từ gia đình,
xã hội và nhà trường có ảnh hưởng rất lớn đến HS, những điều này là tác nhân trực
tiếp gây nên những tác động tiêu cực hoặc tích cực đến nhận thức về mục đích học
tập của các em, từ đó ảnh hưởng rất lớn đến công tác duy trì sĩ số HS của các
trường THPT trên địa bàn huyện Tân Phú.
II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÍ PHÒNG CHỐNG TÌNH TRẠNG
HỌC SINH BỎ HỌC Ở HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI
2.1. Những nguyên tắc cơ bản trong đề xuất các giải pháp
2.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu
Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là phát triển GD&DT nhằm nâng cao
dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Luật giáo dục đã qui định mục tiêu
GD, mục tiêu GD phổ thông trong đó có mục tiêu GD THPT.
Nguyên tắc này đòi hỏi các giải pháp được đề xuất phải hướng vào việc QL
phòng chống tình trạng HS THPT bỏ học trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng
Nai. Mỗi một biện pháp phải nhằm đạt một mục tiêu cụ thể, từ đó hướng tới mục tiêu
chung. Các mục tiêu phải được quán triệt trong mọi hình thức QL nhằm phòng chống
tình trạng HS THPT bỏ học, góp phần vào việc nâng cao chất lượng GD&ĐT, tích
cực thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ phát triển KT-XH của huyện. Có như vậy các nội
dung của biện pháp mới có tính thiết thực và đạt hiệu quả cao.
2.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học
Trong khi thực hiện mục tiêu QLGD chung, QL phòng chống tình trạng HS
THPT bỏ học, mỗi nhà trường có các điều kiện khác nhau về cơ sở vật chất, về đội
ngũ, về các khả năng QL, tổ chức, điều hành. Để đề xuất các biện pháp QL có hiệu

quả phải dựa trên cơ sở khoa học và xem xét cụ thể thực tiễn của mỗi nhà trường,
qua đó tăng cường các điều kiện về cơ sở vật chất, về con người, cách thức QL và
các hình thức phối hợp…Để đảm bảo tính khả thi, các biện pháp QL phòng chống
tình trạng HS THPT bỏ học phải vừa phù hợp với lý luận QLGD và các quan điểm
chỉ đạo của Đảng, nhà nước, phù hợp với thực tiễn nhà trường, đặc điểm văn hóa và
tâm lý lứa tuổi HS.
2.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ
Công tác phòng chống tình trạng HS THPT bỏ học trong huyện Tân Phú sẽ
đạt được kết quả cao nếu thực hiện giải pháp một cách đồng bộ và có sự quyết tâm
cao của các ngành, các cấp. Ngoài nhà trường còn có sự phối hợp với các lực lượng
GD ở ngoài nhà trường để thực hiện công tác QL phòng chống tình trạng HS THPT
bỏ học và nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường. Các biện pháp nêu ra
phải đảm bảo sự thống nhất giữa mục tiêu, nội dung, phương pháp GD, có sự phân
công cụ thể, tạo được ý thức tự giác, sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận và cá
nhân tham gia, tạo điều kiện cho công tác QL tiến hành thống nhất và đồng bộ
nhằm đạt mục tiêu đã đề ra. Các biện pháp phải đa dạng, tuy nhiên trong đó có
những biện pháp cơ bản, chủ yếu, cần thực hiện ngay, có biện pháp hỗ trợ. Đồng
thời các giải pháp phải xác định được đối tượng tác động chính và giải pháp trọng
tâm trong từng thời điểm.
2.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả
Các chủ thể tham gia công tác QL phòng chống tình trạng HS THPT bỏ học
đó là CBQL, GVCN, GVBM, nhân viên nhà trường, Đoàn thanh niên, phụ huynh
HS, các cơ quan đoàn thể địa phương và chính bản thân HS…Mỗi chủ thể GD có
vai trò tích cực khác nhau trong quá trình GD. Bản thân HS là một chủ thể hết sức
quan trọng. Vì vậy hệ thống các giải pháp phải phát huy được tính tích cực, chủ
động, sáng tạo, tự giác của đội ngũ CBQL, GV, HS và các lực lượng GD ở ngoài
nhà trường.
Phải thường xuyên phát huy năng lực tự ý thức, tự GD của HS. HS có thể
thực hiện vai trò chủ thể trong mọi hoạt động GD, đặc biệt là phải chú trọng đến đội
ngũ cán bộ lớp, các nhóm nòng cốt, các cá nhân có năng lực nổi bật. Các nhà GD

phải thực sự có niềm tin ở HS, tạo được quan hệ phù hợp với HS. Quan hệ giữa GD
với HS là quan hệ hợp tác, cộng đồng trách nhiệm, tạo điều kiện cho HS khẳng định
được tính chủ thể trong mọi hoạt động. Các biện pháp QL phải xác định vai trò định
hướng của các nhà GD, của gia đình và quan hệ hợp tác giữa các nhà GD với HS.
Đặc biệt là mối quan hệ gia đình, nhà trường và XH trong công tác QL phòng chống
HSBH. Đồng thời đảm bảo tính kế thừa và phát triển của những giải pháp đã được
thực hiện và mang lại hiệu quả trong việc QL phòng chống tình trạng HS THPT bỏ
học
2.1.5. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi
Nguyên tắc này đòi hỏi các giải pháp được đề xuất phải phù hợp với điều
kiện KT-XH của huyện và yêu cầu đổi mới GD trong điều kiện hiện nay. Đặc biệt,
các giải pháp được đề xuất cũng phải được sự đồng thuận của đại đa số cán bộ
QLGD ở các trường THPT trong huyện Tân Phú, cũng như cán bộ QLGD, các Ban,
ngành đoàn thể các cấp.
2.2. Các giải pháp quản lý phòng chống tình trạng học sinh trung học
phổ thông bỏ học trên địa bàn huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai
2.2.1. Giải pháp 1
Nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân
viên và cha mẹ học sinh về việc phòng chống tình trạng bỏ học của học sinh trung
học phổ thông
*Mục tiêu của giải pháp
Nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm về việc phòng chống trình trạng bỏ
học của HS THPT có một vị trí quan trọng trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả
của công tác này. Chỉ khi toàn xã hội, trước hết là ngành giáo dục và các lực lượng
liên quan trực tiếp, nhận thức được ví trí, tầm quan trọng, trách nhiệm của mình đối
với công tác này thì mới thực sự đưa hết tâm lực đóng góp cho việc phòng chống
HS THPT bỏ học.
* Nội dung giải pháp
a) Làm rõ vị trí của tri thức, của việc học trong xã hội hiện nay, trong việc
nâng cao đời sống của mỗi cá nhân và cả cộng đồng. GD là một hiện tượng xã hội

tồn tại lâu dài cùng với xã hội loài người và phát triển theo sự phát triển của xã hội.
GD hình thành và phát triển nhằm thực hiện chức năng giao truyền kinh nghiệm của
thế hệ trước cho thế hệ sau và để cho thế hệ sau có trách nhiệm tiếp thu, kế thừa,
phát triển.
b) Tuyên truyền, phổ biến để mọi người dân nhận thức được tác hại của việc
không đi học, học vấn thấp, bỏ học sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của bản thân, của
gia đình, của xã hội. Điều này có thể chứng minh bằng những minh chứng trong
lịch sử, trong cuộc sống xã hội, trong thực tiễn của huyện Tân Phú và trong bất cứ
một xã nào.
c) Cần lồng ghép tuyên truyền, giáo dục cho HS THPT khi các em mới bước
vào lớp 10 để các em duy trì việc học của mình trong suốt quá trình học tập. Thực
hiện tích hợp việc GD vai trò quan trọng của tri thức, của việc học thông qua các môn
học khác nhau, thông qua chương trình ngoại khóa, qua hoạt động của các tổ chức,
đoàn thể. Quán triệt cho CBQL, GV, nhân viên về vị trí quan trọng của giải pháp QL
công tác nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm về việc phòng chống trình trạng bỏ
học của HS THPT.
* Cách thức thực hiện
Hàng năm để chuẩn bị cho năm học mới, ngành giáo dục, các nhà trường nên
phối hợp với chính quyền địa phương tiến hành rà sóat số liệu HS cùng với các hội,
đoàn thể để thực hiện huy động HS đến lớp, đặc biệt đối với lớp HS lớp 9 lên lớp
10.
BGH, đội ngũ GVCN thường xuyên theo dõi việc duy trì sĩ số HS trên lớp,
thực hiện việc QL HS bằng phiếu “HS có nguy cơ bỏ học” cho từng lớp, từng năm
học và được chuyển tiếp lên các lớp sau thông qua việc ghi chép vào sổ chủ nhiệm
để GVCN nắm bắt và cập nhật kịp thời. Đối với những HS có nguy cơ bỏ học tùy
theo nguyên nhân, nhà trường cùng với chính quyền địa phương và các hội, đoàn
thể nên có biện pháp vận động, hỗ trợ kịp thời nhằm tạo điều kiện thuận lợi để các
em được đi học trở lại.
Hàng tuần duy trì nề nếp sinh hoạt GVCN, thực hiện chế độ trực ban của lớp
để theo dõi và nắm bắt diễn biến tư tưởng HS để có biện pháp tác động kịp thời và

báo cáo về BGH. Đặc biệt chống các hiện tượng HS bỏ tiết, nghỉ học không lý do.
Hàng tháng BGH họp với GVCN và các thành viên liên quan nghe báo cáo công tác
phòng chống HS bỏ học, rút ra bài học kinh nghiệm và chỉ đạo các phương án khắc
phục.
2.2.2. Giải pháp 2
Lập kế hoạch, phân công nhân sự, xây dựng chương trình hoạt động trong
công tác phòng chống tình trạng học sinh trung học phổ thông bỏ học
* Mục tiêu của giải pháp
Bốn chức năng của QL ( kế hoạch hoá - tổ chức - chỉ đạo - kiểm tra ) QL
phòng chống hiện tượng HS bỏ học nói riêng luôn cần được thực hiện liên tiếp, đan
xen vào nhau, phối hợp bổ sung cho nhau, tạo sự kết nối từ chu trình này sang chu
trình sau theo hướng phát triển.
Khi đã quán triệt được về mặt nhận thức, tổ chức công tác phòng chống tình trạng
HS THPT bỏ học mà không có một chương trình, kế hoạch cụ thể, không có người
chịu trách nhiệm thực hiện thì cũng chỉ dừng lại ở mặt hô hào, hình thức, đánh
trống bỏ dùi. Có thể nói, chất lượng và hiệu quả của công tác phòng chống tình
trạng HS THPT bỏ học ở huyện Tân Phú phụ thuộc rất lớn về giải pháp QL công tác
xây dựng chương trình kế hoạch hoạt động, bồi dưỡng bố trí nhân lực cho hoạt
động này.
Căn cứ vào chức năng nhiệm vụ của các trường THPT, các đơn vị liên quan
để xây dựng, thống nhất kế hoạch về công tác phòng chống tình trạng HS bỏ học và
đưa vào chương trình hoạt động của nhà trường, các tổ chức đoàn thể liên quan.
Cần phải làm tốt công tác QL việc thu thập thông tin về thực trạng HS THPT bỏ
học. Muốn phòng chống được thực trạng bỏ học, trước tiên nhà trường phải nắm
chắc thực trạng, nguyên nhân và dự báo được những đối tượng thuộc nhóm có nguy
cơ bỏ học.
*Nội dung của giải pháp
Nhà trường phải có kế hoạch và triển khai đến GVCN ngay đầu năm học,
phải thu thập thông tin về tình hình HS một cách khách quan, chính xác, trung thực,
đáng tin cậy. Muốn vậy, các trường cần hướng dẫn, tổ chức tốt công tác GVCN, tìm

hiểu ở các trường THCS khi các em mới vào lớp 10, tìm hiểu ở địa phương, ở hoàn
cảnh gia đình của từng HS. GVCN phải cung cấp thông tin liên quan đến phòng
chống HS bỏ học một cách cụ thể, rành mạch, đầy đủ các chi tiết cần thiết.
Tổ chức triển khai thực hiện các nội dung của kế hoạch đó ở trên các lĩnh
vực của hoạt động GD&ĐT, ở các địa phương, các tổ chức đoàn thể liên quan.
Công tác phòng chống tình trạng HS THPT bỏ học không phải chỉ thực hiện khi HS
đã bỏ học mà phải làm ngay từ khi HS đến trường, khi nhà trường tổ chức các hoạt
động dạy học và GD, nhằm hạn chế những nguyên nhân dẫn đến HS bỏ học.
* Cách thức thực hiện
Từ đầu năm học, BGH các trường THPT phân công thành viên phụ trách
công tác này hoặc cử cán bộ, giáo viên soạn thảo kế hoạch và chương trình hoạt
động để trình lên UBND huyện Tân Phú. Các ngành, tổ chức, đoàn thể, xây dựng
chương trình, kế hoạch về công tác QL phòng chống tình trạng HS THPT bỏ học
vào trong chương trình công tác của mình, coi đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực
để phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Tùy vào điều kiện thực tế, có thể tổ
chức tập huấn và cung cấp tài liệu về nội dung, phương pháp, kỹ năng thực hiện
công tác phòng chống tình trạng HS THPT bỏ học cho một số CBQL, các cán bộ
của các tổ chức đoàn thể, tôn giáo, hội khuyến học, Hội phụ huynh, để tạo nên sức
mạnh tổng hợp cho việc triển khai công tác này một cách đúng hướng, có hiệu quả.
Xây dựng giải pháp tổng thể phòng chống HS bỏ học. Tiến hành đồng bộ các giải
pháp về nhận thức, kinh tế - xã hội. Tạo điều kiện hỗ trợ cho HS nghèo, HS có hoàn
cảnh khó khăn được đến trường, đồng thời vận động gia đình ký cam kết cho con đi
học, phối hợp với nhà trường thực hiện các giải pháp phòng chống HS bỏ học và
chịu trách nhiệm chính trong việc vận động HS bỏ học trở lại trường.
2.2.3. Giải pháp 3
Xây dựng môi trường giáo dục tốt; phát hiện và giải quyết dứt điểm, đồng bộ
các nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh trung học phổ thông bỏ học ở huyện
Tân Phú
* Mục tiêu của giải pháp
Tình trạng HS THPT bỏ học là một hiện tượng xã hội, bắt nguồn từ nhiều

nguyên nhân khách quan và chủ quan, trực tiếp và gián tiếp liên quan đến hoạt động
học tập của HS. Vì vậy, phòng chống tình trạng HS THPT bỏ học thực chất là xác
định nguyên nhân và giải quyết dức điểm nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên. Do
đó, giải pháp QL việc phát hiện và giải quyết dứt điểm, đồng bộ các nguyên nhân
dẫn đến tình trạng HS THPT bỏ học có thể xem nó có vị trí quan trọng then chốt
trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác này. Nếu làm tốt giải pháp này,
thì việc chấm dứt tình trạng HS THPT bỏ học mới có hiệu quả bền vững, lâu dài,
còn không sẽ dẫn đến tình trạng “bắt cóc bỏ đĩa”, một HS có thể tái diễn việc bỏ
học nhiều lần do chưa giải quyết được nguyên nhân gốc rễ.
* Nội dung của giải pháp
Quản lý việc giải quyết các nguyên nhân dẫn đến tình trạng HS THPT bỏ
học hoặc những dấu hiệu đẫn đến nguy cơ bỏ học, hậu quả tác động của tình trạng
HS bỏ học không chỉ ở ngay trong nhà trường bằng việc nâng cao chất lượng hoạt
động dạy học, xây dựng “trường học thân thiện, học sinh tích cực” để thu hút việc
học tập của HS. QL việc điều tra, tìm hiểu các nguyên nhân và nguy cơ bên ngoài
dẫn đến tình trạng HS bỏ học để có biện pháp loại trừ ngay từ đầu, tránh tình trạng
“nước đến chân mới nhảy”, để xảy ra tình trạng HS bỏ học và vi phạm pháp luật
mới bắt đầu tìm hiểu, xóa bỏ nguyên nhân. Nguyên nhân bỏ học của HS rất phức
tạp, đa dạng và liên quan đến nhiều vấn đề khác nhau. Xây dựng cảnh quan nhà
trường xanh - sạch - đẹp, tổ chức các hoạt động GD lành mạnh, đổi mới phương
pháp dạy học nhằm tạo cho HS sự hứng khởi, tình cảm thân thiết, gắn bó đối với
môi trường học tập. Tránh tâm lý nhàm chán ở các em khi phải tiếp xúc với một
môi trường học tập khô khan, phương pháp giáo dục và dạy học áp đặt khó hiểu, từ
đó dễ hình thành ý định bỏ học ở các em.
* Cách thức thực hiện
a) Phát hiện và giải quyết những nguyên nhân xã hội
Ông bà ta thường nói “Có thực mới vực được đạo”, không có đời sống kinh
tế tốt thì không thể đảm bảo cho việc học tập được tốt, nhất là trong điều kiện kinh
tế thị trường và thực trạng của hoạt động học tập hiện nay. Vì vậy, để không xảy ra
hiện tượng HS bỏ học, các địa phương, các xã, thị trấn của huyện Tân Phú phải phát

triển đời sống kinh tế - xã hội, làm cho dân giàu nước mạnh, nhà ai cũng thoát được
nghèo đói mới thoát được dốt nát. Khi kinh tế gia đình phát triển bền vững thì tạo
điều kiện cơ bản cho con em theo học đến nơi đến chốn. Thực hiện các chính sách
phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm
làm nền tảng cho việc phòng chống HS bỏ học. Phối hợp với chính quyền địa
phương tác động đến tư tưởng và làm thay đổi nhận thức trong cha mẹ HS có con
bỏ học hoặc có nguy cơ bỏ học. Cha mẹ quan niệm rằng học để biết đọc biết viết,
“lấy thúng đong lúa chứ không phải lấy thúng đong chữ”. Nếu con em chịu học, học
lên lớp cho học tiếp, nếu không thích học hoặc bị lưu ban thì cho nghỉ học làm
ruộng, phụ giúp gia đình, đi làm thuê, làm mướn. Xây dựng môi trường sư phạm
chuẩn mực, thực hiện các biện pháp duy trì sĩ số song song với nâng cao chất lượng
dạy học và giáo dục.
b) Phát hiện và giải quyết những nguyên nhân liên quan đến nhà trường
Làm tốt công tác khảo sát chất lượng đầu vào đối với tất cả các khối lớp
THPT một cách nghiêm túc. Trên cơ sở đó, kết hợp với kết quả học tập cuối năm
trước, GVCN, GV bộ môn phân loại từng nhóm đối tượng HS: khá - giỏi, trung
bình và yếu kém. Nếu có những HS yếu kém, không đủ trình độ tiếp thu kiến thức
lớp đang học, thông báo về gia đình cha mẹ HS nắm cùng phối hợp GD và mở lớp
bồi dưỡng HS yếu kém ngay từ đầu năm học, không để HS yếu kém trong thời gian
dài, dẫn đến chán nản rồi mới mở lớp bồi dưỡng, mọi chuyện sẽ quá trễ không
phòng chống HS bỏ học có hiệu quả. Xây dựng trường học thân thiện và HS tích
cực để thu hút việc học tập của HS. Xoá bỏ tính khép kín của nhà trường, tạo điều
kiện để mỗi người dân trong cộng đồng có cơ hội nắm được thông tin về GD, tham
gia bàn bạc và quyết định các vấn đề trọng yếu của GD. Để gắn bó với cuộc sống,
kết hợp với GD hướng nghiệp, nhà trường cần thu hút sự tham gia của các tổ chức,
các đơn vị sản xuất,…thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng chăm lo
cho GD”. Tăng cường nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất, hoàn thiện mạng lưới
trường, lớp học theo hướng xã hội hóa, chuẩn hóa, hiện đại hóa. Nâng cao chất
lượng đội ngũ GV, cán bộ QLGD theo hướng đạt chuẩn và trên chuẩn. Đổi mới
chương trình, nội dung, phương pháp để nâng cao chất lượng dạy và học.

c) Phát hiện và giải quyết những nguyên nhân từ gia đình, xã hội
Các trường THPT cần quan tâm đến tất cả các tổ chức, các phương thức hoạt
động ở địa phương có liên quan đến GD để chủ động liên kết, lồng ghép với các nội
dung hoạt động của nhà trường. Hiện nay tại các xã, thị trấn trong huyện có các loại
hình hoạt động như: cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa và đời sống mới ở
khu dân cư; tổ dân phòng - khuyến học, gia đình hiếu học, gia đình thể thao, câu lạc
bộ người lớn gương mẫu, trẻ em chăm ngoan; câu lạc bộ ông bà cha mẹ mẫu mực
con cháu thảo hiền, dòng họ hiếu học, họ đạo khuyến học,… nếu biết khai thác và
lồng ghép tốt các hoạt động của nhà trường, trong đó có hoạt động phòng chống HS
bỏ học, tạo cho mình một tổng lực to lớn góp phần thực hiện mục tiêu GD cả trước
mắt và lâu dài.
d) Phát hiện và giải quyết những nguyên nhân từ bản thân HS THPT
Cần phải phát huy sự nỗ lực của chủ thể HS như là một động lực quan trọng để
phát triển nhân cách, sự tự giác nhận thức được vai trò, ý nghĩa của việc học cũng như
tác hại của sự bỏ học. Phải tạo điều kiện, môi trường và dư luận cho HS THPT có nghị
lực và ý chí vượt qua những khó khăn chủ quan và khách quan để kiên trì với việc học
tập. Phát huy tính chủ động, tự giác, sáng tạo của HS trong quá trình chiếm lĩnh tri
thức, rèn luyện kỹ năng, hoàn thiện nhân cách; góp phần hình thành kỹ năng sống cho
HS. Giúp HS tự mình có thể ứng phó với những thử thách, khó khăn của cuộc sống và
của xã hội.
2.2.4. Giải pháp 4
Đẩy mạnh xã hội hóa trong phòng chống tình trạng bỏ học của học sinh trung
học phổ thông
* Mục tiêu của giải pháp
Giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, của toàn xã hội. Công tác QL
phòng chống tình trạng bỏ học của HS THPT cũng phải được xã hội hóa như sự
nghiệp GD nói chung. Hơn nữa, cuộc sống của HS THPT diễn ra ở nhiều môi trường
khác nhau và nguyên nhân dẫn đến trình trạng bỏ học cũng khác nhau. Vì vậy, không
thể không thực hiện giải pháp quản lý sự phối hợp của các lực lượng khác, của toàn xã
hội trong việc giảm bớt hiện tượng bỏ học của HS.

* Nội dung của giải pháp
Để thực hiện tốt giải pháp này, các trường THPT cần nghiên cứu đề xuất đa
dạng các loại hình phối hợp với các lực lượng ngoài xã hội một cách sinh động, phù
hợp. Kịp thời cung cấp cho cấp ủy, chính quyền địa phương, hội cha mẹ HS, các tổ
chức khuyến học và từ thiện, các nhà hảo tâm, các mạnh thường quân, danh sách
những HS bỏ học và có nguy cơ bỏ học để có giải pháp vận động, hỗ trợ, giúp đỡ
kịp thời và có hiệu quả.
Bố trí các cán bộ kiêm nhiệm công tác phòng chống HS bỏ học có đủ phẩm
chất đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng hoạt động, tích cực, sáng tạo trong
QL công tác phòng chống HS THPT bỏ học. Chú ý ưu tiên chọn những cán bộ này
là người của huyện Tân Phú am hiểu địa bàn mình QL, nắm vững phong tục tập
quán, có kỹ năng giao tiếp, có điều kiện phục vụ lâu dài, nắm hoàn cảnh từng HS
trong địa bàn phụ trách; phát hiện, hỗ trợ kịp thời những HS có nguy cơ bỏ học,
đồng thời chịu trách nhiệm chính trong việc vận động HS bỏ học ra lớp, tránh quan
điểm việc vận động HS bỏ học ra lớp là trách nhiệm của nhà trường.
* Cách thức thực hiện
Để lôi kéo được các thành phần xã hội hỗ trợ mình trong công tác GD, nhà
trường cần tích cực tham gia vào đời sống cộng đồng, tham gia vào các hoạt động
của xã hội. Thường xuyên giữ mối liên hệ với các cơ quan, đoàn thể có liên quan để
kịp thời xử lý thông tin liên quan đến nhiệm vụ GD của nhà trường, đặc biệt là các
thông tin về HS.
Phối hợp cùng với các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội, các xã, thị trấn tổ
chức các hoạt động văn hóa, thể thao, vui chơi lành mạnh trong nhà trường và tại
địa phương.
3.2.5. Giải pháp 5
Phát huy vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong công tác phòng chống tình
trạng học sinh trung học phổ thông bỏ học
* Mục tiêu của giải pháp
GVCN là người quản lí trực tiếp lớp học, chịu trách nhiệm chính về tình
hình, thái độ học tập và rèn luyện của HS trong lớp. Đồng thời GVCN chính là

người hiểu rõ nhất về tình hình học tập, đặc điểm tâm lí và hoàn cảnh gia đình của
HS. GVCN cũng là cầu nối quan trọng giữa nhà trường và gia đình HS. Phát huy tốt
vai trò của GVCN sẽ góp phần đắc lực vào việc nâng cao hiệu quả của công tác duy
trì sĩ số, phòng chống HS bỏ học.
* Nội dung của giải pháp
+ Đề ra những giải pháp tích cực nhằm nâng cao tinh thần yêu nghề, tận tụy
với công việc ở GVCN.
+ Giao nhiệm vụ và yêu cầu GVCN phải thường xuyên quan tâm đến lớp
học do mình phụ trách.
+ Tăng cường sự phối hợp giữa GVCN với các GV bộ môn khác.
+ Giữ mối liên hệ thường xuyên giữa GVCN và Hiệu trưởng.
+ Xây dựng cho GVCN giữ mối liên lạc với phụ huynh HS.
+ Tạo điều kiện để GVCN thường xuyên quan tâm đến các hoạt động xã hội
ở địa phương.
+ Bồi dưỡng cho GVCN các kĩ năng cần thiết để thực hiện tốt công tác vận
động HS đi học.
+ Chỉ đạo GVCN thường xuyên xây dựng các phong trào học tập, thi đua
trong lớp.
* Cách thức thực hiện
Tích cực xây dựng đội ngũ GVCN thực sự có tinh thần yêu nghề, tận tụy với
công việc. Chính lòng yêu nghề, yêu công việc sẽ giúp cho đội ngũ GV mà đặc biệt
là GVCN quan tâm nhiều hơn với công tác của mình trong đó có công tác phòng
chống HS bỏ học.
Giảng dạy tốt, có nghiệp vụ sư phạm vững vàng, có những biện pháp GD
đúng đắn, có sức lôi cuốn HS, được HS tin tưởng chính là những phẩm chất rất cần
thiết của một người GVCN. Người GVCN biết quan tâm thường xuyên đến HS của
lớp mình sẽ là một động lực rất lớn nhằm thúc đẩy HS siêng năng học tập, học tập
với thái độ tích cực hơn.
Công tác chủ nhiệm là một công tác quan trọng nhằm giúp nhà trường thực
hiện tốt công tác giáo dục HS, trong đó có công tác duy trì sĩ số, phòng chống HS

bỏ học. Một người GVCN tốt sẽ góp phần xây dựng nên một tập thể lớp giỏi, nhiều
GVCN tốt sẽ xây dựng nên một nhà trường vững mạnh.
2.2.6. Giải pháp 6
Tổ chức tốt các hoạt động tư vấn giáo dục cho phụ huynh và học sinh
* Mục tiêu của giải pháp
Trong cuộc sống với rất nhiều những tình huống, những sự kiện có ảnh
hưởng rất lớn đến đời sống tâm lý của HS, đặc biệt là đối với HS ở lứa tuổi THPT,
các em đang ở giai đoạn phát triển từ trẻ em sang giai đoạn người lớn với rất nhiều
những khó khăn mà một mình các em không thể giải quyết được. Chính vì vậy, việc
tổ chức tốt công tác tư vấn cho HS THPT là vấn đề cần được các nhà trường đặc
biệt quan tâm. Điều này cũng góp phần rất hiệu quả trong công tác duy trì tốt sĩ số,
phòng chống HS bỏ học.
* Nội dung của giải pháp
+ Phân công GV phụ trách công tác tư vấn, phù hợp với chuyên môn nghiệp vụ và
khả năng của mỗi GV trong từng lĩnh vực tư vấn.
+ Xác định những nội dung cần tư vấn, những điều cần lưu ý trong khi tư vấn.
+ Tư vấn cho phụ huynh HS những vấn đề về GD con em mình về các vấn đề: tâm
lý lứa tuổi, giới tính, vấn đề theo dõi giám sát việc học tập của HS, phương pháp, cách thức
động viên con em tích cực học tập .v.v.
* Cách thức thực hiện
Tư vấn cho HS là phương pháp tác động mang tính định hướng GD tới
những HS đang có những khó khăn tâm lý, tình cảm, những bức xúc của lứa tuổi
cần được giải đáp, những vướng mắc trong học tập, sinh hoạt, trong hướng nghiệp
cần được người am hiểu và có trách nhiệm trợ giúp, tư vấn giải quyết để chọn được
cách xử lý đúng, góp phần ổn định đời sống tâm hồn, tình cảm và giúp HS thực hiện
được nguyện vọng của mình.
Toàn thể GV trong nhà trường, với vốn hiểu biết và nghiệp vụ đã được học ở
trường sư phạm đều có thể thực hiện công tác tư vấn, vì vậy, nhiệm vụ này phải là
nhiệm vụ chuyên môn bắt buộc của mỗi GV (được quy định trong điều 31 Điều lệ
trường THCS, THPT và trường PT có nhiều cấp học).

Tuy nhiên, để công tác tư vấn trong nhà trường có hiệu quả, và có trọng tâm,
hiệu trưởng cần xây dựng một nhóm GV làm công tác tư vấn, nhóm GV có thể xây
dựng như: GV có chuyên môn nghiệp vụ về môn GDCD phụ trách tư vấn về các
vấn đề: Hiểu biết pháp luật; hiểu biết xã hội; các vướng mắc trong cuộc sống gia
đình, trong giao tiếp với bạn bè; các vấn đề về tâm lý lứa tuổi vị thành niên v.v. GV
có chuyên môn nghiệp vụ về môn Sinh học phụ trách tư vấn về các vấn đề: Vệ sinh
thân thể; phòng chống bệnh tật; các vấn đề của lứa tuổi dậy thì; sức khỏe sinh sản vị
thành niên. GV làm công tác Đoàn phụ trách tư vấn về các vấn đề: Xây dựng niềm
tin, lý tưởng cho HS; hướng nghiệp; các biện pháp phòng tránh tai, tệ nạn xã hội, tai
nạn giao thông; các biện pháp hạn chế những tác động của những hủ tục lạc hậu đến
đời sống của HS .v.v.
2.3. Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp
Hệ thống các giải pháp mà chúng tôi đưa ra là kết quả của quá trình nghiên
cứu lý luận và khảo sát, phân tích thực trạng công tác quản lý sĩ số HS, phòng
chống tình trạng HS bỏ học ở các trường THPT trên địa bàn huyện Tân Phú, tỉnh
Đồng Nai; tuy nhiên để phản ánh khách quan tính cần thiết và tính khả thi của các
giải pháp đã đề xuất, chúng tôi đã trưng cầu ý kiến của 7 hiệu trưởng, 14 phó hiệu
trưởng các trường THPT của huyện Tân Phú, 76 người là thành viên trong hội đồng
sư phạm: là chủ tịch công đoàn, Bí thư Đoàn trường, GVCN, tổ trưởng chuyên
môn, các thành viên trong hội đồng sư phạm nhà trường.
Mục tiêu khảo sát: xác định sự cần thiết, tính khả thi của các giải pháp do tác
giả đề xuất, từ đó triển khai hoặc điều chỉnh rồi triển khai thực hiện ở các nhà
trường THPT trên địa bàn huyện.
Hình thức khảo sát: phát phiếu khảo sát tới các cá nhân đang công tác tại các
trường THPT trên địa bàn huyện Tân Phú.
Kết quả khảo sát
2.3.1. Đánh giá sự cần thiết của các giải pháp
TT Các giải pháp
Mức độ cần thiết của các giải pháp
Rất

cần
Cần
Ít
cần
Không
cần
Không
trả lời
1
Nâng cao nhận thức, ý thức trách

nhiệm về việc phòng chống trình
SL 82 15 0 0 0
% 84,5 15,5
2
Lập kế hoạch, phân công nhân sự,

xây dựng chương trình hoạt động
SL 86 11 0 0 0
% 88,7 11,3
3
Xây dựng môi trường giáo dục tốt;

phát hiện và giải quyết dứt điểm,
SL 89 6 2 0 0
% 91,7 6,2 2,1
4
Đẩy mạnh xã hội hóa trong phòng

chống tình trạng bỏ học của học sinh

SL 75 20 2 0 0
% 77,3 20,6 2,1
5
Phát huy vai trò của giáo viên chủ

nhiệm trong công tác phòng chống
SL 87 8 2 0 0
% 89,7 8,2 2,1
6
Tổ chức tốt các hoạt động tư vấn GD

cho phụ huynh và HS.
SL 85 9 3 0 0
% 87,6 9,3 3,1
7
Đảm bảo các điều kiện hoạt động,

công tác thanh tra kiểm tra, đánh giá
SL 80 10 7 0 0
% 82,5 10,3 7,3
8 Trung bình chung
SL 84 11 2 0 0
% 86,6 11,3 2,1
2.3.2. Đánh giá tính khả thi của các giải pháp
TT Các giải pháp
Mức độ khả thi của các giải pháp
Rất
khả
thi
Khả

thi
Ít
Khả
thi
Không
khả
thi
Không
trả lời
1
Nâng cao nhận thức, ý thức trách

nhiệm về việc phòng chống trình
SL 80 10 7 0 0
% 82,5 10,3 7,2
2
Lập kế hoạch, phân công nhân sự,

xây dựng chương trình hoạt động
SL 85 9 3 0 0
% 87,6 9,3 3,1
3
Xây dựng môi trường giáo dục tốt;

phát hiện và giải quyết dứt điểm,
SL 89 7 1 0 0
% 91,7 7,3 1,0
4
Đẩy mạnh xã hội hóa trong phòng


chống tình trạng bỏ học của học sinh
SL 80 11 6 0 0
% 82,5 11,3 6,2
5
Phát huy vai trò của giáo viên chủ

nhiệm trong công tác phòng chống
SL 88 8 1 0 0
% 90,7 8,3 1,0
6
Tổ chức tốt các hoạt động tư vấn GD

cho phụ huynh và HS.
SL 79 10 8 0 0
% 81,4 10,3 8,3
7
Đảm bảo các điều kiện hoạt động,

công tác thanh tra kiểm tra, đánh giá
SL 74 14 9 0 0
% 76,3 14,4 9,3
8 Trung bình chung SL 82 10 5 0 0
% 84,5 10,3 5,2
Kết quả tổng hợp được thể hiện qua hai bảng trên đây cho thấy tính cấp thiết
và tính khả thi của các giải pháp đều đạt ở mức độ cao. Cho phép chúng ta tin tưởng
những giải pháp đề xuất có thể đưa ra áp dụng trong thực tế để góp phần duy trì tốt sĩ
số, phòng chống HS THPT bỏ học. Bảng khảo nghiệm trên cho thấy cần tăng cường
giải pháp tác động đến gia đình HS có nguy cơ bỏ học; đẩy mạnh thực hiện xây dựng
môi trường GD tốt, phát hiện và giải quyết dứt điểm, đồng bộ các nguyên nhân dẫn
đến tình trạng HS THPT bỏ học, đồng thời phát huy vai trò của GVCN và tổ chức tốt

các hoạt độg tư vấn trong nhà trường nhằm duy trì sĩ số, phòng chống HS THPT bỏ
học ở huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Giải quyết tốt vấn đề HS THPT bỏ học là một trong những biện pháp góp
phần thúc đẩy phát triển GD nói riêng và phát triển KT-XH nói chung của huyện
Tân Phú, cũng là của tỉnh Đông Nai. Với đặc điểm riêng của huyện Tân Phú, nếu
thực hiện một cách linh hoạt, sáng tạo các nội dung trên sẽ góp phần nâng cao hiệu
quả quản lý công tác phòng chống tình trạng HS THPT bỏ học trên địa bàn huyện
Tân Phú, với điều kiện phải phát huy sức mạnh của cả cộng đồng, của ngành
GD&ĐT, các cấp lãnh đạo, chính quyền địa phương và các cơ quan hữu quan của
huyện Tân Phú, phải đảm bảo các điều kiện cơ bản cho việc triển khai các nội dung
đó.
Vì vậy, cần tăng cường ngân sách đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị một cách
đồng bộ, phục vụ hiệu quả cho công tác dạy và học, làm cho nhà trường trở thành môi
trường hấp dẫn, thu hút HS một cách thực chất và bền vững. Thực hiện tốt công tác xã
hội hóa GD, xây dựng cơ chế phối hợp trong công tác phòng chống HS bỏ học.
Sớm ban hành các văn bản bắt buộc, khuyến khích HS phải tốt nghiệp THPT nhằm
nâng cao mặt bằng dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Sở GD&ĐT Đồng Nai, các trường THPT của huyện Tân Phú tiếp tục tăng
cường chỉ đạo quản lý công tác phòng chống tình trạng HS bỏ học trong tình hình
mới, trong điều kiện thực tế của từng xã, thị trấn của huyện Tân Phú. Nhà trường
thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng và đổi mới phương pháp giảng
dạy, phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS, tiến hành đổi mới kiểm tra, đánh giá.
Khai thác sử dụng có hiệu quả các thiết bị dạy học, làm cho HS hứng thú học tập,
phấn đấu tu dưỡng để “mỗi ngày đến trường là một ngày vui”. Phát huy sức mạnh
tổng hợp của các lực lượng trong và ngoài huyện Tân Phú vào việc phát triển
GD&ĐT và việc phòng chống HS THPT bỏ học.
2. Kiến nghị
a. Đối với các cấp ủy Đảng, chính quyền và các trường trung học phổ

thông
+ Các cấp ủy, chính quyền trong huyện cần chỉ đạo sát sao hơn nữa công tác
xã hội hóa GD, tạo được sự quan tâm của các cấp, các ngành và toàn thể nhân dân
đối với công tác GD, chú trọng công tác tuyên truyền về xây dựng xã hội học tập,
dòng họ học tập, thực hiện tốt hoạt động của các tổ chức khuyến học, họ đạo
khuyến học ở tất cả các xóm ấp. Tiếp tục chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở vật chất,
trang thiết bị dạy học cho các nhà trường, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho
công tác GD.
+ Hàng năm tổ chức hội nghị chuyên đề về công tác khuyến học, khen
thưởng và nhân rộng các địa phương có mô hình khuyến học hiệu quả, đặc biệt

×