Tải bản đầy đủ (.pdf) (121 trang)

Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên Trung học cơ sở quận Hải An, thành phố Hải Phòng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.25 MB, 121 trang )





ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM





PHẠM SỸ TUYÊN













BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG
CHUYÊN MÔN
CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ QUẬN HẢI AN,
THÀNH PHỐ
HẢI PHÒNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC








Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số : 60 14 05



LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC



Người hướng dẫn khoa học: TS. PHẠM VIẾT NHỤ




















HÀ NỘI - 2008


LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tác giả xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo Khoa Sư
phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội và các Thầy Cô giáo đã giảng dạy, giúp đỡ
tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Tiến
Sỹ Phạm Viết Nhụ - người hướng dẫn khoa học, đã tận tình, chu đáo, động
viên, giúp đỡ, hướng dẫn tác giả thực hiện đề tài này.
Tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến Sở Giáo dục và §ào tạo Hải
Phòng, Quận Uỷ, Uỷ ban nhân dân, Phòng giáo dục & đào tạo, cán bộ quản lý
và giáo viên các trường Trung học cơ sở trên địa bàn quận Hải An đã động
viên, nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện để tác giả học tập, nghiên cứu và
hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, xin dành lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè và đồng
nghiệp đã động viên, khuyến khích và tạo điều kiện cho tác giả hoàn thành tốt
luận văn này.

Hà Nội, ngày 06 tháng 12 năm 2008
Tác giả


Phạm Sỹ Tuyên







NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BD : Bồi dưỡng
BDGV : Bồi dưỡng giáo viên
BDTX : Bồi dường thường xuyên
CBQL : Cán bộ quản lý
CNH, HĐH : Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CSVC : Cơ sở vật chất
CT-SGK : Chương trình- Sách giáo khoa
DH : Dạy học
ĐH : Đại học
ĐHSP : Đại học Sư phạm
ĐMGD : Đổi mới giáo dục
ĐNGV : Đội ngũ giáo viên
ĐT-BD : Đào tạo - bồi dưỡng
GD : Giáo dục
GD&ĐT : Giáo dục và Đào tạo
GDPT : Giáo dục phổ thông
GV : Giáo viên
HS : Học sinh
HĐND : Hội đồng nhân dân
KT-XH : Kinh tế - xã hội
KH-CN : Khoa học - công nghệ
PP : Phương pháp
PPDH : Phương pháp dạy học

QL : Quản lý
QLGD : Quản lý giáo dục
SGK : Sách giáo khoa
TBDH : Thiết bị dạy học
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
TNKQ : Trắc nghiệm khách quan
TW : Trung ương
UBND : Uỷ ban nhân dân
XHHGD : Xã hội hoá giáo dục

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
2
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
2
5. Giả thuyết khoa học
3
6. Phạm vi đề tài nghiên cứu
3
7. Phương pháp nghiên cứu
3
8. Cấu trúc luận văn

4
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI
DƢỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ
SỞ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC
5
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
5
1.2. Một số khái niệm cơ bản
9
1.2.1. Quản lý, quản lý giáo dục
9
1.2.2. Bồi dưỡng, bồi dưỡng chuyên môn
14
1.2.3. Biện pháp, biện pháp quản lý
15
1.3. Giáo dục Trung học cơ sở và đổi mới giáo dục Trung học cơ sở
16
1.3.1. Vị trí, vai trò, mục tiêu, nội dung, phương pháp của giáo dục
Trung học cơ sở

16
1.3.2. Các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về đổi mới
giáo dục

20
1.3.3. Những yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông và giáo dục Trung học
cơ sở

22
1.3.4. Những nội dung đổi mới giáo dục phổ thông và Trung học cơ sở

26
1.3.5. Ý nghĩa của đổi mới giáo dục, đổi mới giáo dục Trung học cơ sở
28
1.3.6. Vị trí, vai trò, nhiệm vụ và yêu cầu đối với giáo viên Trung học
cơ sở

29
1.4. Những yêu cầu về quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho
giáo viên trước yêu cầu đổi mới giáo dục

31
1.4.1. Những yêu cầu bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên Trung

học cơ sở
31
1.4.2. Những yêu cầu đổi mới quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên
34
1.4.3. Phòng Giáo dục và Đào tạo với quản lý hoạt động bồi dưỡng
chuyên môn cho giáo viên Trung học cơ sở đáp ứng yêu cầu đổi mới
giáo dục


34
Kết luận chương 1
36
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI
DƢỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ
SỞ QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG




37
2.1. Khái quát về giáo dục Trung học cơ sở quận Hải An, thành phố
Hải Phòng

37
2.1.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của quận Hải An
37
2.1.2. Khái quát về giáo dục Trung học cơ sở quận Hải An
39
2.2. Thực trạng hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên
Trung học cơ sở
52
2.2.1. Các chương trình và nội dung bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên
Trung học cơ sở
52
2.2.2. Các hình thức bồi dưỡng chuyên môn
55
2.3. Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo
viên Trung học cơ sở quận Hải An
56
2.3.1. Nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên các trường Trung
học cơ sở về công tác bồi dưỡng chuyên môn giáo viên
56
2.3.2. Tổ chức thực hiện công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo
viên Trung học cơ sở
59
2.3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên
môn giáo viên
62

Kết luận chương 2
63
Chƣơng 3: NHỮNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI
DƢỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ
SỞ QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG ĐÁP ỨNG
YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC
65
3.1. Những nguyên tắc định hướng cho việc đề xuất các biện pháp
65
3.1.1. Đảm bảo tính khoa học của các biện pháp
65
3.1.2. Đảm bảo tính hệ thống của các biện pháp
65
3.1.3. Đảm bảo tính đồng bộ của các biện pháp
66
3.1.4. Đảm bảo tính thực tiễn của các biện pháp
66
3.1.5. Đảm bảo tính khả thi của các biện pháp
66
3.2. Những biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho
giáo viênTung học cơ sở quận Hải An đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục

67
3.2.1. Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý và giáo
viên về hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên Trung học cơ
sở đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
67
3.2.2. Biện pháp 2: Điều tra, xây dựng kế hoạch về hoạt động bồi
dưỡng chuyên môn cho giáo viên Trung học cơ sở quận Hải An đáp
ứng yêu cầu đổi mới giáo dục

71
3.2.3. Biện pháp 3: Quản lý nội dung bồi dưỡng chuyên môn cho giáo
viên Trung học cơ sở đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
76
3.2.4. Biện pháp 4: Quản lý phương thức bồi dưỡng chuyên môn cho
giáo viên Trung học cơ sở đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
92
3.2.5. Biện pháp 5: Xây dựng và thực hiện tốt các chế độ, chính sách
về bồi dưỡng giáo viên
96
3.3. Mối quạn hệ và tính khả thi của các biện pháp
98
3.3.1. Mối quạn hệ giữa các biện pháp
98
3.3.2. Điều kiện chung để thực hiện các biện pháp
100
3.3.3. Khảo sát mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
101
Kết luận chương 3
103
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
105
1. Kết luận
105
2. Khuyến nghị
107
TÀI LIỆU THAM KHẢO
109
PHỤ LỤC





1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đất nước chúng ta đang bước vào hội nhập, việc đào tạo nguồn nhân lực
đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước là nhiệm vụ quan trọng của
ngành giáo dục và đào tạo.
Đối với giáo dục và đào tạo cũng như giáo dục THCS, yếu tố then chốt
là chất lượng giáo dục. Yếu tố có tính quyết định trực tiếp đến chất lượng giáo
dục là đội ngũ các thầy, cô giáo ở các nhà trường nói chung và trong trường
THCS nói riêng.
Trong những năm qua, đứng trước yêu cầu phát triển đất nước, yêu
cầu đổi mới giáo dục và yêu cầu hội nhập, ngành giáo dục và đào tạo đã có
những bước phát triển, song về quy mô và chất lượng, hiệu quả giáo dục -
đào tạo còn bộc lộ những hạn chế, chưa đáp ứng kịp thời những đòi hỏi lớn
và ngày càng cao về nhân lực của công cuộc đổi mới KT-XH. Về đội ngũ
giáo viên thì : “Vừa thiếu, vừa yếu, nhìn chung chất lượng đội ngũ chưa đáp
ứng yêu cầu phát triển GD-ĐT trong giai đoạn mới”.
Phòng Giáo dục - Đào tạo Hải An mới được thành lập 5 năm, chất lượng
lượng giáo dục toàn diện đã có những bước tiến bộ song kết quả thi vào lớp 10
THPT chưa có sự phát triển ổn định – năm cao, năm thấp; chất lượng mũi
nhọn học sinh giỏi chưa được khẳng định ở cấp thành phố;
Nguyên nhân có nhiều, nhưng có lẽ về phía chủ quan, giáo viên lên lớp
dạy chưa có trách nhiệm cao, chưa thực sự tâm huyết với nghề, chưa thực sự
đổi mới phương pháp phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiệm vụ quan trọng cho ngành Giáo dục -
Đào tạo là khắc phục những yếu kém trên. Như vậy toàn Đảng, toàn dân phải
quan tâm đến ngành giáo dục. Trước tiên phải chăm lo đào tạo và bồi dưỡng

đội ngũ giáo viên, lực lượng quyết định chất lượng Giáo dục - Đào tạo.
Quán triệt tinh thần đó, Phòng Giáo dục - Đào tạo quận Hải An đã chú


2
trọng công tác bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho giáo viên, nhưng nhìn chung
chất lượng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển giáo dục - đào tạo ngày
càng cao theo xu thế hiện đại. Một bộ phận giáo viên hiện nay còn yếu về
chuyên môn, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục. Chính vì vậy nâng
cao trình độ chuyên môn cho giáo viên là việc làm cần thiết, cấp bách hiện
nay. Với những lý do trên, bản thân là một cán bộ công tác tại Phòng Giáo
dục, trong quá trình chỉ đạo chuyên môn tại các trường THCS trên địa bàn
quận nhận thấy vấn đề này cần thiết phải được đặt ra nghiên cứu một cách
nghiêm túc, theo một hệ thống khoa học. Vì vậy tôi chọn đề tài: “Biện pháp
quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên Trung học cơ sở
quận Hải An, thành phố Hải Phòng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục” làm
đề tài Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục.
2. Mục đích nghiên cứu
Từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số biện pháp quản lý
hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên THCS quận Hải An, thành
phố Hải Phòng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên THCS đáp ứng
yêu cầu đổi mới giáo dục và yêu cầu hội nhập hiện nay.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên THCS của
Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Hải An.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên
THCS quận Hải An, Hải Phòng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý hoạt
động bồi dưỡng chuyên môn
4.2. Đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn
cho giáo viên Trung học cơ sở trong toàn quận


3
4.3. Đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn
cho giáo viên Trung học cơ sở quận Hải An, Hải Phòng
5. Giả thuyết khoa học
Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn đội ngũ giáo viên
cấp THCS còn hạn chế. Nếu những biện pháp đề xuất về quản lý hoạt động
bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên THCS quận Hải An, thành phố Hải
Phòng được áp dụng thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng chuyên môn của đội
ngũ giáo viên THCS, đáp ứng được yêu cầu đổi mới của giáo dục.
6. Phạm vi đề tài nghiên cứu
- Nghiên cứu các biện pháp quản lý của Phòng Giáo dục và Đào tạo về
hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên THCS.
- Phạm vi nghiên cứu ở Phòng Giáo dục-Đào tạo và 6 trường THCS
thuộc quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu, đề xuất được những biện pháp quản lý có tính
khả thi, hữu hiệu, đề tài sử dụng kết phối hợp các phương pháp sau:
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp các tài liệu có liên quan đến
nội dung của đề tài.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn bao gồm
- Khảo sát các hoạt động bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên THCS.
- Điều tra bằng phiếu hỏi.
- Phân tích xử lý số liệu.

- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm.
7.3. Các phương pháp hỗ trợ : Phương pháp thống kê toán học.


4
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung luận văn được trình bày trong 3 chương :
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn
cho giáo viên Trung học cơ sở đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho
giáo viên Trung học cơ sở quận Hải An, thành phố Hải Phòng
Chƣơng 3: Những biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn
cho giáo viên Trung học cơ sở quận Hải An, thành phố Hải Phòng đáp ứng
yêu cầu đổi mới giáo dục.




























5
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG
CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG YÊU
CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC

1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Yếu tố đóng vai trò then chốt, quyết định chất lượng và hiệu quả giáo
dục - đào tạo chính là đội ngũ người thầy. Để có được đội ngũ giáo viên đủ
mạnh, đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay, vấn đề đào tạo bồi
dưỡng giáo viên hết sức cần thiết và quan trọng, đó là một trong những giải
pháp để nâng cao chất lượng của giáo dục.
Từ trước đến nay, vấn đề đào tạo bồi dưỡng giáo viên đã là một mối
quan tâm của nhiều nhà khoa học, đã có không ít các công trình của tập thể và
các cá nhân (trong và ngoài nước) nghiên cứu.
* Nước ngoài:
Nghề dạy học được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở Liên Xô

trước đây, tiêu biểu là N.L Bôndurep với tác phẩm “Chuẩn bị cho sinh viên
làm công tác giáo dục ở trường phổ thông”. Trong tác phẩm này, vai trò của
kỹ năng sư phạm đối với nghề dạy học được tác giả đặc biệt quan tâm và nhấn
mạnh “những kỹ năng đó chỉ được hình thành và củng cố trong hoạt động
thực tiễn của người thầy giáo”. Theo tác giả này, những yêu cầu về chuyên
môn của người thầy giáo tất nhiên không phải chỉ có những kiến thức phong
phú mà còn phải có những kỹ năng cần thiết để tổ chức và thực hành công tác
giáo dục, vấn đề không phải chỉ ở chỗ tiếp thu kiến thức về tâm lý học và giáo
dục học mà việc vận dụng chúng vào thực tế. Muốn làm công tác giáo dục tốt
cần phải có kỹ năng giáo dục và phải có cả thời gian. Như vậy, việc bồi dưỡng
giáo viên nhất thiết phải làm thường xuyên.
Có thể nói là, vấn đề bồi dưỡng giáo viên được các nhà khoa học giáo
dục trên thế giới quan tâm, và càng ngày công tác này được thực tế giáo dục
khẳng định là rất cần thiết. Dự án Việt - Bỉ (hỗ trợ học từ xa) đã dịch và giới
thiệu ở Việt Nam một số công trình, có thể điểm ra:


6
“Đào tạo bồi dưỡng thường xuyên” của 2 tác giả Pierre Besnard (Đại
học Paris V – Sorbonne) và Bernard Lietard (Đại học Genève). Trong đó bàn
về vấn đề người lớn tham gia đào tạo bồi dưỡng.
Tác giả Jacques Nimier với “Giáo viên rèn luyện tâm lý” đã khẳng định
việc đào tạo tâm lý không phải chỉ làm ở các trường sư phạm là đã đủ, mà cuộc
sống nghề nghiệp sau này người giáo viên phải luôn luôn tự rèn luyện mình.
James H.Mc Millan với “Kiểm tra đánh giá lớp học – Nguyên tắc và
thực hành để giảng dạy hiệu quả”. Đây là một tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ
cho giáo viên “nhằm cung cấp cho những giáo viên đang giảng dạy và những
giáo viên tương lai tự trình bày chính xác về những nguyên tắc đánh giá có
liên quan rõ ràng và cụ thể tới giảng dạy; những nghiên cứu hiện thời và
những phương hướng mới trong lĩnh vực đánh giá và những ví dụ thực tế và

hữu ích, những gợi ý và các điểm cố”. Nếu như làm tốt được công việc đánh
giá thì chất lượng giảng dạy và học tập sẽ tăng lên rõ rệt.
Michel Develay: “Một số vấn đề về đào tạo giáo viên” – Nội dung cuốn
sách được trình bày theo trình tự lôgíc Học  Dạy  Đào tạo giáo viên. Trong
đó việc đào tạo giáo viên bao gồm nhiều vấn đề: quan niệm, nội dung, phương
thức đào tạo, tính chất và bản sắc nghề nghiệp… Đó là một cuốn sách nhằm
góp phần đổi mới sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng giáo viên ngày càng tốt hơn.
Ở Trung Quốc: Chính phủ coi đào tạo BDGV là “Máy cái” của toàn bộ
ngành giáo dục, là cơ sở nền tảng cho việc dạy dỗ thế hệ mới, đào tạo nên
những con người có tư tưởng đạo đức tốt, có học vấn sâu sắc và sẵn sàng thích
ứng thế giới tương lai. Họ dành cho GV những danh hiệu cao quý như: “Viên
kim cương của nhân loại”; “ Người vun trồng các bông hoa của dân tộc”
Họ đã “ Tăng đầu tư ưu tiên xây dựng và củng cố các trường sư phạm trọng
điểm, coi đó là đối sách chiến lược của toàn bộ sự nghiệp giáo dục, coi việc
làm tốt công tác giáo dục sư phạm là chức năng của chính phủ”[41, tr.15].
Ở Pháp: Đất nước có truyền thống coi trọng nghề dạy học. Họ quan
niệm: “Giảng dạy là một nghề đòi hỏi có trình độ chuyên sâu và được đào tạo


7
về nghề nghiệp rất cao” [41, tr.21]. Việc BDGV ở Pháp được thực hiện theo 3
hướng chính: Coi trọng việc tự nâng cao trình độ nghề nghiệp của GV. Tạo ra
sự phù hợp với công việc đối với tất cả GV đặc biệt là đối với GV dạy các
môn mà lĩnh vực đó luôn có sự phát triển mạnh mẽ và các thiết bị trở nên lạc
hậu. Định kỳ xác định những kiến thức sẽ phải đưa vào tổng thể chương trình
bồi dưỡng để tổ chức BDGV. Có thể nói ở Pháp luôn có sự chú trọng tới vấn
đề BDGV, bởi họ luôn mong muốn có ĐNGV có chất lượng cao nhằm đảm
bảo mục tiêu, kế hoạch GD&ĐT
Nhìn chung các nước trên thế giới đều quan tâm đến vấn đề bồi dưỡng
GV và đều có hệ thống BDGV từ trung ương đến địa phương. Hình thức

BDGV tuỳ thuộc vào điều kiện của từng quốc gia, xây dựng quy trình phù
hợp, từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ GV.
* Trong nước:
Ngay sau khi đất nước thống nhất, để đáp ứng yêu cầu của cải cách GD,
Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương cấp bách về việc đào tạo và bồi
dưỡng ĐNGV theo nhiều loại hình khác nhau, đặc biệt là đội ngũ GV THCS
như : Đào tạo chính quy, tại chức, ngắn hạn và cấp tốc theo các hệ khác nhau:
7+2, 10+2, 10+3 dẫn đến trình độ của GV THCS không đồng đều.
Từ năm 1986, cả nước bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện để thực hiện
mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đảng và Nhà nước ta hết sức coi
trọng sự phát triển GD nhằm tạo động lực phát triển kinh tế xã hội. Bắt đầu từ
đây, việc đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV có những chuyển biến tích cực nhằm dần
dần chuẩn hoá đội ngũ này. Tuy nguồn ngân sách còn hạn hẹp, nhưng Đảng và
Nhà nước đã coi công tác bồi dưỡng thường xuyên (BDTX) là rất cần thiết
nhằm nâng cao trình độ ĐNGV về chính trị, chuyên môn nghiệp vụ để đáp
ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục. Trải qua ba chu kỳ BD thường
xuyên 1992-1996, 1997-2000, 2003-2007 đã phần nào khẳng định được những
kinh nghiệm bổ ích về hoạt động nâng cao năng lực sư phạm cho ĐNGV phổ
thông nói chung và GV THCS nói riêng.


8
Bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên là công tác được Bộ Giáo dục và
Đào tạo coi trọng và quan tâm chú ý trong nhiều năm qua. Công tác đào tạo,
bồi dưỡng được thực hiện hết sức linh hoạt, đa dạng, phong phú: đào tạo mới,
đào tạo nâng chuẩn, trên chuẩn, bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳ, bồi
dưỡng cập nhật kiến thức, bồi dưỡng thay sách,…
Nghiên cứu vấn đề này, xét các công trình trong nước có một số công
trình ở Hải Phòng, Hà Nội, Bắc giang
- Ở Hải Phòng có công trình “Những biện pháp tăng cường quản lý công

tác bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở ở Hải Phòng” của tác giả Đào Trung
Đồng . Ở đề tài này người viết bàn đến các biện pháp tăng cường công tác bồi
dưỡng giáo viên ở Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay.
- Luận văn Thạc sĩ khoa học chuyên ngành quản lý và tổ chức công tác
văn hoá, giáo dục của tác giả Phùng Thanh Kỷ (1998) với đề tài: “Một số giải
pháp tăng cường quản lý công tác bồi dưỡng thường xuyên đội ngũ GV THCS
Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” đã tập trung vào vấn đề bồi dưỡng thường
xuyên cho đội ngũ GVTHCS .
- Luận văn Thạc sĩ quản lý giáo dục của tác giả Dương Văn Đức (2006)
với đề tài: “Những biện pháp quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ
giáo viên tiểu học ở huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang nhằm đáp ứng yêu
cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay” tập trung vào bồi dưỡng
GV Tiểu học.
Các luận văn kể trên đã nêu các giải pháp, biện pháp đào tạo, bồi dưỡng
ĐNGV nhưng chưa đề cập nhiều đến biện pháp quản lý của phòng giáo dục và
đào tạo trong việc quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên
trung học cơ sở đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Đến nay, tại thành phố Hải
Phòng chưa có đề tài khoa học nào ở cấp Phòng Giáo dục và Đào tạo nghiên
cứu về vấn đề này.
Thực hiện Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư về việc “Xây
dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục” và thực


9
hiện Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg ngày 11/01/2005 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục giai đoạn 2005 -2010”, Thành phố Hải Phòng đã cụ thể hoá các
chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương, triển khai thực hiện trong toàn ngành giáo
dục. Công tác ĐTBD GV, CBQLGD đã được ngành GD&ĐT Thành phố Hải
Phòng tập trung đầu tư. Nhiều CBQLGD, GV đã được cử đi đào tạo để nâng

cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ ở trong và ngoài nước. Tổ chức BDTX
theo chu kỳ cho GV theo hình thức bồi dưỡng tập trung hoặc tại chỗ. Cử GV
tập huấn theo chuyên đề của từng bộ môn theo dự án THCS. Tăng cường công
tác kiểm tra đánh giá và kiểm định chất lượng các nhà trường.
Thành phố tập trung chỉ đạo các chương trình mục tiêu, xây dựng đề án
đào tạo Thạc sỹ, Tiến sỹ, đào tạo Tin học và Ngoại ngữ cho CBQLGD, GV,
nhân viên tạo nền tảng cho giáo dục hội nhập.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Quản lý, quản lý giáo dục
1.2.1.1. Quản lý
Từ khi xã hội loài người có tổ chức, có sự phân công, hợp tác lao động
thì cũng từ đó xuất hiện hoạt động quản lý. Quản lý là một hoạt động bắt
nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động trong một tổ chức nhất định nhằm
đạt được hiệu quả lao động cao hơn. Vì vậy quản lý mang tính lịch sử, nó phát
triển theo sự phát triển của xã hội loài người.
Trong lịch sử, đã có một “sự tiến hoá” của các tư tưởng quản lý từ thời
thượng cổ đến nay.
Chủ nghĩa Mác đã đề cao vai trò của quản lý: “Tất cả mọi lao động xã
hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì
ít nhiều cũng cần đến sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực
hiện những chức năng chung Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy
mình, còn dàn nhạc thì cần có một nhạc trưởng” [25, tr.23-480].


10
Tuỳ theo các cách tiếp cận, mà có nhiều cách định nghĩa về hoạt động
quản lý như:
- W. Taylor, một nhà kinh tế học Anh cho rằng: “Quản lý là một nghệ
thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào, bằng
phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”.

- Tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế
hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là
khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến” [43].
- Theo từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là việc tổ chức, điều khiển hoạt
động của một đơn vị, một cơ quan” [45, tr.616].
Theo giáo trình của Học viện chính trị quốc gia, quản lý là một quy trình
công nghệ và “có nghĩa là điều khiển” mà đối tượng điều khiển của nó là các
mối quan hệ giữa: con người với thiên nhiên, con người với kỹ thuật công
nghệ (máy móc, phương tiện hiện đại), con người với con người. Do đó quản
lý là “ sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt
động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích
đã đề ra và đúng với ý chí của người quản lý” [21, tr.18].
Định nghĩa này thể hiện ý chí của người quản lý, nó hàm chứa mầu sắc
chính trị và quan điểm giai cấp.
Theo Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc, hoạt động quản lý là tác động
có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể
(người bị quản lý) - trong một tổ chức.
Định nghĩa này cho ta thấy bất luận một tổ chức nào, có mục đích gì, cơ
cấu, quy mô ra sao đều phải có sự quản lý, người quản lý để tổ chức đó hoạt
động và đạt được mục đích.
Từ các định nghĩa được nhìn nhận từ nhiều góc độ, chúng ta thấy rằng tất
cả các tác giả đều thống nhất về vấn đề cốt lõi của khái niệm quản lý, đó là trả
lời câu hỏi: Ai quản lý? (chủ thể quản lý); quản lý ai? quản lý cái gì? (khách
thể quản lý); quản lý như thế nào? (phương thức quản lý); quản lý bằng cái gì ?


11
(công cụ quản lý); quản lý nhằm làm gì (mục tiêu) và từ đó chúng ta cũng
nhận thức được: Bản chất của quản lý là những hoạt động của chủ thể quản lý
tác động vào khách thể quản lý để đảm bảo cho hệ thống tồn tại, ổn định và

phát triển lâu dài, vì mục tiêu và lợi ích của hệ thống.
Chúng ta có thể hiểu khái niệm quản lý theo nghĩa chung nhất: quản lý là
sự tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý bằng những công cụ, phương
pháp mang tính đặc thù trong việc thực hiện các chức năng quản lý để đạt được
mục tiêu chung của hệ thống.







Sơ đồ 1.1. Quá trình quản lý
Hệ thống chức năng của quản lý:
Quản lý cũng như các hoạt động khác đều có chức năng riêng của nó.
Quản lý có nhiều chức năng khác nhau, nhưng có thể xác định 4 chức năng cơ
bản: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra.
- Kế hoạch hoá: Đây là chức năng đầu tiên và quan trọng nhất của nhà
quản lý. Nhà quản lý phải xác định được mục đích, mục tiêu, nội dung, biện
pháp, con đường, cách thức, điều kiện để tiến hành mọi công việc. Với kế
hoạch đã có, nhà quản lý phối hợp các nguồn lực trong một quy trìmh tổ chức
nhất định để đạt được mục đích, mục tiêu đề ra
- Tổ chức: Sau khi đã lập xong kế hoạch, nhà quản lý phải thực hiện kế
hoạch bằng cách điều hành và phối hợp, phân công, phân cấp các thành viên
trong tổ chức, phát huy hết các nguồn lực, tạo ra sự hoạt động đồng bộ của bộ
máy, tạo ra sức mạnh hợp đồng để phát triển tổ chức và đạt được mục tiêu đã
Công cụ
Chủ thể
quản lý
Chức năng

quản lý
Khách thể
quản lý
Mục
tiêu
Phương pháp


12
đề ra. Chức năng cơ bản của tổ chức là gắn kết các thành tố, các bộ phận để
thực hiện thành công kế hoạch. Hai yếu tố có tác động mang tính quyết định
đến quy trình tổ chức là cơ chế và năng lực của nhà quản lý. Nhà quản lý có tổ
chức tốt thì bộ máy của cơ quan, của tập thể mới vận hành tốt và đạt hiệu
quả cao.
- Chỉ đạo: Chỉ đạo giống như công việc của một “nhạc trưởng”. Nhà
quản lý phải dẫn dắt, hướng dẫn, điều chỉnh mọi liên kết, mọi hoạt động của tổ
chức. Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống thì chỉ đạo là quá trình vận hành,
điều khiển hệ thống hoạt động hợp lý, nhịp nhàng, không có sự chồng chéo,
vô lý. Thực chất chức năng chỉ đạo của chủ thể quản lý là điều hành bằng các
văn bản, quyết định hành chính, là trình bày bằng mệnh lệnh và tôn trọng
nguyên tắc dân chủ của tổ chức.
- Kiểm tra: Kiểm tra là chức năng cơ bản, không thể thiếu của người
quản lý. Có thể nói không có thanh tra, kiểm tra coi như không có hoạt động
quản lý. Thông qua kiểm tra, người quản lý nắm được những vấn đề tồn tại,
thiếu sót, hạn chế, khuyết điểm để có những biện pháp uốn nắn, điều chỉnh
đồng thời phát hiện những ưu điểm để phát huy, động viên, khích lệ hoàn
thành kế hoạch đã đề ra.
Nội dung kiểm tra là kiểm soát tình hình, phát hiện động viên, phê phán,
đánh giá thu thập thông tin và xử lý thông tin. Kiểm tra chính là xác định mối
quan hệ ngược trong quản lý. Muốn kiểm tra đúng thực chất thì phải có chuẩn,

dựa theo chuẩn, nó là cái thước mà khách thể quản lý và chủ thể quản lý đều
phải tuân theo.
Bốn chức chức năng cơ bản của quản lý: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo,
kiểm tra có quan hệ chặt chẽ, biện chứng, bổ sung cho nhau tạo thành một chu
trình quản lý. Trong chu trình đó yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả các
giai đoạn với vai trò vừa là điều kiện vừa là phương tiện để thực hiện các chức
năng quản lý. Quan hệ giữa các chức năng quản lý và thông tin được biểu hiện
bằng sơ đồ sau:


13








Sơ đồ 1.2. Quan hệ giữa các chức năng quản lý và thông tin.
1.2.1.2. Quản lý giáo dục
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý giáo dục là hệ thống những
tác động có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý làm cho vận hành theo
đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của
nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là qui trình dạy học- giáo
dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về
chất. Tác giả đã đưa ra khái niệm về QLGD: “Là sự tác động có ý thức của
chủ thể quản lý tới khách thể nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo
dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” [43, tr.56].
Theo Phạm Minh Hạc: "Quản lý giáo dục là quản lý trường học, thực

hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức
là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu
giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng
học sinh" [37, tr.48].
Ngày nay, giáo dục không còn là một thứ phúc lợi xã hội đơn thuần vì nó
được gắn với quá trình phát triển xã hội. Việc đi học của mỗi người phải là:
học thường xuyên, học suốt đời. Do vậy giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ
trẻ mà là giáo dục cho mọi người, cho nên QLGD cũng có thể hiểu là: sự điều
hành hệ thống giáo dục quốc dân nhằm thực hiện mục tiêu: nâng cao dân trí,
đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Thông tin

Kế hoạch

Tổ chức

Kiểm tra

Chỉ đạo


14
Vậy khái niệm chung nhất của quản lý giáo dục là:
Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp
quy luật của chủ thể quản lý nhằm tổ chức, điều khiển hoạt động của khách
thể quản lý làm cho hệ thống giáo dục được quản lý, vận hành theo đúng
đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng nhằm thực hiện được các mục tiêu
giáo dục đề ra.
1.2.2. Bồi dưỡng, bồi dưỡng chuyên môn
1.2.2.1. Chuyên môn

Theo từ điển Tiếng Việt (NXB Đà Nẵng, 1997): Lĩnh vực riêng, những
kiến thức riêng nói chung của một ngành khoa học, kỹ thuật.
1.2.2.2. Bồi dưỡng
+ Bồi: Nghĩa chữ Hán là vun bón; nghĩa bóng là dưỡng dục nhân tài;
+ Dưỡng: Nuôi lớn.
 Theo Từ điển Tiếng Việt (NXB Đà Nẵng, 1997): “Làm cho tăng thêm
năng lực hoặc phẩm chất”.
 Theo quan niệm của UNESCO: “Bồi dưỡng có ý nghĩa là nâng cao
nghề nghiệp, quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng
cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn - nghiệp vụ cho bản thân nhằm đáp
ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp”.
 Theo Từ điển giáo dục học [46], bồi dưỡng:
Nghĩa rộng: Quá trình giáo dục, đào tạo nhằm hình thành nhân cách và
những phẩm chất riêng biệt của nhân cách theo định hướng mục đích đã chọn.
Thí dụ: bồi dưỡng cán bộ, bồi dưỡng chí khí chiến đấu, bồi dưỡng các đức tính
cần kiệm, liêm chính, v.v…
Nghĩa hẹp: Trang bị thêm các kiến thức, kỹ năng nhằm mục đích nâng
cao và hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể. Thí dụ : bồi
dưỡng kiến thức, bồi dưỡng lý luận, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, v.v…
Như vậy, mục đích của bồi dưỡng là nhằm nâng cao năng lực phẩm chất


15
và năng lực chuyên môn để người lao động có cơ hội củng cố, mở rộng và
nâng cao hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn - nghiệp vụ đã có, từ
đó nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc đang làm. Trong hoạt động bồi
dưỡng thì yếu tố quyết định đến chất lượng các hoạt động vẫn là vai trò chủ
thể của người được bồi dưỡng thông qua con đường tự học, tự đào tạo, tự bồi
dưỡng nhằm phát huy nội lực các nhân.
1.2.2.3. Bồi dưỡng chuyên môn

Là bồi dưỡng kiến thức chuyên môn; kỹ năng tay nghề; kiến thức, kỹ năng
thực tiễn. Bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên có thể coi là việc đào tạo lại,
đổi mới, cập nhật kiến thức và kỹ năng chuyên môn, nâng cao trình độ cho
giáo viên, là sự nối tiếp tinh thần đào tạo liên tục trước và trong khi làm việc
của người giáo viên. Hoạt động bồi dưỡng chuyên môn đối với mọi giáo viên
là thường xuyên, liên tục.
Đối với cấp THCS, bồi dưỡng chuyên môn là bồi dưỡng cho giáo viên nắm
vững các kiến thức khoa học cơ bản liên quan đến các môn học trong chương
trình THCS để dạy được tất cả các khối lớp của THCS đáp ứng các yêu cầu của
đối tượng học sinh, yêu cầu đổi mới giáo dục và yêu cầu hội nhập.
1.2.3. Biện pháp, biện pháp quản lý
* Biện pháp
Theo từ điển Tiếng Việt (NXB. Đà Nẵng, 1997) “Biện pháp là cách làm,
cách giải quyết một vấn đề cụ thể”.
* Hoạt động
Theo Từ điển Tiếng Việt (NXB. Đà Nẵng, 1997): “Hoạt động là tiến
hành những việc làm có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm một mục đích nhất
định trong đời sống xã hội”.
* Biện pháp quản lý: Là cách làm, cách giải quyết của chủ thể quản lý
đến khách thể quản lý (thông qua các chức năng quản lý) một cách hợp qui
luật nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường.


16
* Biện pháp quản lý giáo dục: Cách làm, cách giải quyết những vấn đề
giáo dục của người quản lý giáo dục tác động đến khách thể quản lý giáo dục
(thông qua các chức năng quản lý) nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đã đề ra.
* Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn là: Cách làm,
cách giải quyết của người quản lý (thông qua các chức quản lý: lập kế hoạch,
tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra) về các hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho khách

thể quản lý (đội ngũ) nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra (về nâng cao năng lực
chuyên môn).
1.3. Giáo dục Trung học cơ sở và đổi mới giáo dục Trung học cơ sở
1.3.1. Vị trí, vai trò, mục tiêu, nội dung, phương pháp của giáo dục Trung
học cơ sở
1.3.1.1. Vị trí
Giáo dục THCS là một cấp tương đối độc lập, là một bộ phận trong hệ
thống giáo dục quốc dân, cùng với Tiểu học và Trung học phổ thông hình
thành một nền giáo dục thống nhất, chất lượng, hiệu quả, hội nhập với nền
giáo dục các nước trong khu vực và trên thế giới.
Giáo dục trung học cơ sở được thực hiện trong bốn năm học, từ lớp sáu
đến lớp chín. Học sinh vào học lớp sáu phải hoàn thành chương trình tiểu học,
có tuổi là mười một tuổi (Khoản 1, Điều 26, Luật GD, 2005).
Vị trí của giáo dục THCS trong hệ thống giáo dục quốc dân được mô tả
trong sơ đồ sau:


17


Hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam

1.3.1.2. Vai trò
Giáo dục THCS có vai trò hết sức quan trọng cùng với Tiểu học là cấp
học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ xây dựng và phát
triển tình cảm đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ, và thể chất của học sinh nhằm hình
thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam.
1.3.1.3. Mục tiêu của giáo dục phổ thông, giáo dục Trung học cơ sở
“Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện
về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng

lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt
Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị


18
cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc” [22, Điều 27].
“Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển
những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và
những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học
phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” [22, Điều 27].
Thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và Nghị quyết của Quốc hội về
việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, chương trình THCS được ban
hành kèm theo quyết định số 03/2002/QĐ-GD&ĐT, ngày 24/01/2002 của Bộ
trưởng Bộ GD&ĐT đã chỉ ra mục tiêu cụ thể đối với giáo dục THCS là: Học hết
chương trình THCS, học sinh phải đạt được các yêu cầu giáo dục sau:
- Yêu nước, hiểu biết và có niềm tin vào lý tưởng độc lập dân tộc và
CNXH. Tự hào về truyền thống dựng nước, giữ nước và nền văn hóa đậm đà
bản sắc dân tộc, quan tâm đến những vấn đề bức xúc có ảnh hưởng tới Quốc
gia, khu vực và toàn cầu. Tin tưởng và góp phần vào mục tiêu “Dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, thông qua các hoạt động
học tập, lao động, công ích xã hội. Có lối sống văn hóa lành mạnh, cần kiệm,
trung thực, có lòng nhân ái, tinh thần hợp tác, ý thức trách nhiệm ở gia đình,
nhà trường, cộng đồng và xã hội, tôn trọng và có ý thức đúng đắn đối với lao
động, tuân theo nội quy của nhà trường, các quy định nơi công cộng nói riêng
và pháp luật nói chung.
- Có kiến thức phổ thông cơ bản, tinh giản, thiết thực, cập nhật làm nền
tảng để từ đó có thể chiếm lĩnh những nội dung khác của khoa học xã hội và
nhân văn, khoa học tự nhiên và công nghệ. Nắm được những kiến thức có ý
nghĩa đối với cuộc sống của cá nhân, gia đình và cộng đồng. Bước đầu hình

thành và phát triển được những kỹ năng, phương pháp học tập của các bộ
môn. Cuối cấp học có thể có những hiểu biết sâu hơn về một lĩnh vực tri thức
nào đó so với yêu cầu chung của chương trình, tùy khả năng và nguyện vọng,
để tiếp tục học THPT, THCN, học nghề hoặc đi vào cuộc sống.


19
- Có kỹ năng bước đầu vận dụng những kiến thức đã học và kinh nghiệm
thu được của bản thân. Biết quan sát, thu thập, xử lý và thông báo thông tin
qua nội dung được học. Biết vận dụng và trong một số trường hợp có thể vận
dụng một cách sáng tạo những kiến thức đã học để giải quyết những vấn đề
trong học tập hoặc thường gặp trong cuộc sống bản thân và cộng đồng. Có kỹ
năng lao động kỹ thuật đơn giản. Biết thưởng thức và ham thích sáng tạo cái
đẹp trong cuộc sống và trong văn học nghệ thuật. Biết rèn luyện thân thể, giữ
gìn vệ sinh và bảo vệ sức khỏe. Biết sử dụng hợp lý thời gian để giữ cân bằng
giữa hoạt động trí lực và thể lực, giữa lao động và nghĩ ngơi. Biết tự định
hướng con đường học tập và lao động tiếp theo.
- Trên nền tảng những kiến thức và kỹ năng nói trên để hình thành và
phát triển các năng lực chủ yếu đáp ứng yêu cầu phát triển con người Việt
Nam trong thời kỳ CNH, HĐH:
+ Năng lực hành động có hiệu quả mà một trong những thành phần quan
trọng là năng lực tự học, tự giải quyết vấn đề. Mạnh dạn trong suy nghĩ, hành
động trên cơ sở phân biệt được đúng sai.
+ Năng lực thích ứng với những thay đổi trong thực tiễn để có thể chủ
động, linh hoạt và sáng tạo trong học tập, lao động, sinh sống cũng như hòa
nhập với môi trường tự nhiên, cộng đồng xã hội.
+ Năng lực giao tiếp, ứng xử với lòng nhân ái, có văn hóa và thể hiện
tinh thần trách nhiệm với bản thân, gia đình, cộng đồng xã hội.
+ Năng lực tự khẳng định, biểu hiện ở tinh thần phấn đấu học tập và lao
động, không ngừng rèn luyện bản thân, có khả năng tự đánh giá và phê phán

trong phạm vi môi trường hoạt động và trải nghiệm của bản thân.
1.3.1.4. Nội dung giáo dục
Điều 28 Luật Giáo dục quy định: “Nội dung giáo dục phổ thông phải bảo
đảm tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với
thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh, đáp ứng
mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học.

×