Tải bản đầy đủ (.docx) (24 trang)

Nhận thức và vận dụng Chính sách kinh tế mới của Lênin vào công cuộc Đổi mới ở nước ta hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (168.17 KB, 24 trang )

1. Sơ lược về Chính sách kinh tế mới của Lê-nin
1.1. Hoàn cảnh ra đời
Không bao lâu sau khi cách mạng tháng 10 Nga năm 1917 kết thúc, việc thực hiện
kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội của V.I.Lê-nin bị gián đoạn bởi cuộc nội chiến 1918-
1920. Trong thời kì này, V.I.Lê-nin đã áp dụng chính sách cộng sản thời chiến là trưng thu
lương thực thừa của nông dân sau khi dành lại cho họ mức ăn tối thiểu, đồng thời xóa bỏ
quan hệ hàng hóa tiền tệ (ví dụ như cấm buôn bán lương thực trên thị trường thể hiện
bằng sắc lệnh của Hội đồng tối cao 1920 đã quốc hữu hóa toàn bộ khu vực tiểu thủ công
nghiệp, loại bỏ thương nghiệp bán lẻ và kết thúc bằng việc cấm chợ ở các thành phố), xóa
bỏ việc tự do mua bán lương thực trên thị trường, thực hiện chế độ cung cấp hiện vật cho
quân đội và bộ máy nhà nước vào nền kinh tế. Chính sách cộng sản thời chiến đã đóng vai
trò quan trọng trong thắng lợi của nhà nước Xô Viết; nhờ đó mà quân đội đủ sức chiến
thắng kẻ thù, bảo vệ được nhà nước Xô Viết non trẻ.
Tuy nhiên khi hòa bình lập lại, chính sách cộng sản thời chiến không còn thích hợp.
Nó trở thành nhân tố kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, hậu quả chiến tranh
đối với nền kinh tế rất nặng nề, thêm vào đó chính sách trưng thu lương thực thừa đã làm
mất động lực đối với nhân dân. Việc xóa bỏ quan hệ hàng hóa-tiền tệ làm mất tính năng
động của nền kinh tế vốn dĩ mới bước vào giai đoạn phát triển. Vì vậy, khủng hoảng kinh
tế - chính trị diễn ra rất sâu sắc . Tình hình kinh tế của nước Nga Xô Viết sau nội chiến vô
cùng tồi tệ, tình trạng phân tán và tản mạn của những người tiểu sản xuất ngày càng
nhiều, xã hội xảy ra hiện tượng nghèo đói, vô văn hoá và mù chữ, mối liên hệ trao đổi
hàng hóa giữa thành thị và nông thôn bị ngừng trệ. Nội chiến những năm 1918 - 1920 làm
cho đất nước khánh kiệt, việc tái thiết lực lượng sản xuất bị cản trở; nạn mất mùa, dịch
súc vật năm 1920 làm tăng thêm tình trạng nghèo đói, từ đó ngày càng cản trở việc khôi
phục giao thông và công nghiệp. Theo đà ngày càng suy thoái của tình trạng kinh tế đất
nước, tình thế chính trị cũng tiếp tục trầm trọng hơn, khá phổ biến là sự dao động về
chính trị của người tiểu sản xuất. Cuộc nổi loạn ở Crônstát và cuộc khởi nghĩa của nông
Trang 1
dân ở vùng Tambốp đã thể hiện một cách đặc trưng cho sự dao động của tầng lớp tiểu tư
sản và tính tự phát của nông dân nói chung.
Điều đó đòi hỏi phải có chính sách kinh tế thích ứng thay thế và chính sách kinh tế


mới được V.I.Lê-nin khởi xướng để đáp ứng nhu cầu này nhằm tiếp tục thực hiện kế
hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn mới. V.I.Lê-nin cho rằng “nếu như “chủ
nghĩa cộng sản thời chiến” trước đây được rất nhiều người trong Đảng hiểu như là một
chính sách cần phải được tiếp tục trong chặng đường tiếp theo của thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội, thì thực tế đã cho thấy, sau chiến tranh, không thể tiếp tục con đường đó, bởi
nó đối lập Đảng với quần chúng nhân dân, công nhân với nông dân và chỉ làm trầm trọng
thêm nền kinh tế vốn đã hoang tàn của đất nước”.
Tháng 2 năm 1921, tại Hội nghị lần thứ XI, Đảng Cộng sản Nga đã nhất trí thông
qua chính sách kinh tế mới. Đảng đã quyết định áp dụng ở nước Nga Xô Viết những biện
pháp khẩn cấp, kiên quyết nhằm cải thiện tình cảnh của nông dân và phát triển lực lượng
sản xuất ở nông thôn.
1.2. Nội dung
Chính sách kinh tế mới bao gồm các nội dung chủ yếu như sau:
Một là, thay thế chính sách trưng thu lương thực thừa bằng chính sách thuế lương
thực. Theo chính sách này, người nông dân chỉ nộp thuế lương thực với một mức cố định
trong nhiều năm. Mức thuế này dựa vào điều kiện tự nhiên của đất canh tác. Nói cách
khác,”thuế là cái mà nhà nước thu của nhân dân mà không bù lại”. Số lương thực còn lại
sau khi nộp thuế được người dân tự do trao đổi, mua bán trên thị trường.
Hai là, tổ chức thị trường, thương nghiệp, thiết lập quan hệ hàng hóa tiền tệ giữa nhà
nước và nông dân, giữa thành thị và nông thôn, giữa công nghiệp và nông nghiệp.
Ba là, sử dụng sức mạnh kinh tế nhiều thành phần, các hình thức kinh tế quá độ như
khuyến khích phát triển sản xuất hàng hóa nhỏ của nông dân, thợ thủ công; khuyến khích
kinh tế tư bản tư nhân; sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước; củng cố lại các doanh nghiệp
nhà nước chuyển sang chế độ hạch toán kinh tế. Đồng thời, V.I.Lê-nin chủ trương phát
Trang 2
triển mạnh mẽ quan hệ hợp tác kinh tế với các nước tư bản phương tây để tranh thủ kỹ
thuật, vốn thúc đẩy kinh tế phát triển.
Theo chính sách kinh tế mới, nhà nước cho phép những người sản xuất nhỏ được tự
do buôn bán và việc trao đổi hàng hoá, mua bán bằng tiền được coi là “đòn xeo chủ yếu
của chính sách kinh tế mới, được đặt lên hàng đầu"

1
. Trong nông nghiệp, nhà nước chỉ thu
của nông dân một số thuế nhất định và ấn định trước số thuế đó, những nông sản còn lại
người nông dân được tự do mua bán trên thị trường. Qua đó đã tạo được động lực kích
thích nông dân phát triển sản xuất, tạo ra nhiều nông sản hàng hoá. Nhưng theo V.I. Lê-
nin, tự do buôn bán là "khôi phục chủ nghĩa tư bản trên một mức độ lớn", “là tự do của
chủ nghĩa tư bản”
2
. Tuy nhiên, cần phải "dung nạp" chủ nghĩa tư bản, vì nó cần cho đông
đảo quần chúng nông dân và cho tư bản tư nhân - những người phải buôn bán để thoả
mãn nhu cầu của nông dân. Đối với tư bản nước ngoài, phải thu hút, thông qua chính sách
tô nhượng nhà nước cho nhà tư bản nước ngoài thuê xí nghiệp, hầm mỏ, khu rừng, đất
đai, mỏ dầu , thông qua những hợp đồng buôn bán với các nước tư bản lớn, và những
hình thức khác để khôi phục và phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nhận của họ
những sản phẩm công nghiệp, những máy móc. “Chính quyền Xô Viết mời các nhà tư bản
nước ngoài nào muốn có các tô nhượng ở nước Nga”
3
. Và “Tất cả các đồng chí đều phải
làm kinh tế. Bên cạnh các đồng chí sẽ có những nhà tư bản, cũng sẽ có những nhà tư bản
nước ngoài… Họ sẽ làm giàu bên cạnh các đồng chí. Cứ để cho họ làm giàu; còn các
đồng chí thì sẽ học ở bọn họ cách quản lý kinh tế, chỉ có như thế, các đồng chí mới xây
dựng được nước cộng hòa cộng sản chủ nghĩa”
4
. Đồng thời, cần tìm cách hướng nó vào
1V.I.Lênin, toàn tập, T. 43. NXB tiến bộ, M., 1978, tr. 400, tr. 299
2 V.I.Lênin, toàn tập, T. 44. NXB tiến bộ, M., 1978, tr. 54, tr. 54, tr. 58, tr. 209
3 V.I.Lênin, toàn tập, T. 43. NXB tiến bộ, M., 1978, tr. 400, tr. 299
4 V.I.Lênin, toàn tập, T. 44. NXB tiến bộ, M., 1978, tr. 54, tr. 54, tr. 58, tr. 209
Trang 3
con đường của chủ nghĩa tư bản nhà nước để nhà nước xã hội chủ nghĩa có thể điều tiết,

dẫn dắt nó nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Đối với kinh tế nhà nước thì áp dụng chế độ hạch toán kinh tế. Ngoài ra, Lê-nin
cũng giành cho chế độ hợp tác xã một ý nghĩa đặc biệt trong việc thu hút những người
nông dân đi lên chủ nghĩa xã hội. Nhưng là những hợp tác xã được thành lập dựa trên
những nguyên tắc cơ bản mà sau này V.I. Lê-nin đưa ra như tự nguyện, bình đẳng, cùng
có lợi, quản lý dân chủ, đi từ thấp đến cao, có sự hỗ trợ của nhà nước và phải tiến hành
cách mạng văn hoá trong nông thôn.
Như vậy, thực chất của chính sách kinh tế mới chính là ở việc sử dụng rộng rãi quan
hệ hàng hoá - tiền tệ, phát triển thị trường, khôi phục và phát triển các thành phần kinh tế.
Chuyển các đơn vị kinh tế nhà nước sang chế độ hạch toán kinh tế; khuyến khích phát
triển kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân thay cho việc thủ tiêu kinh doanh tư nhân trong
chính sách “Cộng sản thời chiến”; chủ trương phát triển quan hệ kinh tế với các nước
phương Tây để tranh thủ vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm tổ chức, quản lý, sử dụng chủ nghĩa
tư bản nhà nước và những hình thức kinh tế quá độ khác để phát triển tối đa lực lượng sản
xuất, xây dựng chủ nghĩa xã hội Thực tế lịch sử đã cho thấy, cách tiếp cận như vậy sẽ
cho phép kết hợp lợi ích riêng với lợi ích chung và bảo đảm tiến lên chủ nghĩa xã hội một
cách ít tổn thất nhất. Nhờ đó, nước Nga đã thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội,
chính trị, tạo được những tiền đề quan trọng để xây dựng cơ sở vật chất CNXH.
1.3. Ý nghĩa
Chính sách kinh tế mới của Lê-nin có ý nghĩa vô cùng quan trọng thể hiện ở các mặt
sau:
Trước hết, nó khôi phục được nền kinh tế Xô Viêt sau chiến tranh. Chỉ trong một
thời gian ngắn đã tạo ra một bước phát triển quan trọng biến “nước Nga đói” thành một
đất nước có nguồn lương thực dồi dào, từ đó đã khắc phục được khủng hoảng kinh tế -
chính trị, củng cố lòng tin cho nhân dân vào sự thắng lợi tất yếu và bản chất tốt đẹp của
Trang 4
chủ nghĩa xã hội mà Lê-nin đã vạch ra. Sau hơn 3 năm thực hiện chính sách kinh tế mới,
nước Nga Xô viết đã thoát khỏi khủng hoảng, thành quả của cách mạng được giữ vững,
công cuộc xây dựng đất nước theo những yêu cầu của các quy luật khách quan mà chính
sách đã thể nghiệm thành công, được tiếp tục triển khai với tính cách là một chiến lược

phát triển.
Thứ hai, chính sách kinh tế mới còn đánh dấu một bước phát triển mới về lý luận
kinh tế xã hội chủ nghĩa. Theo tư tưởng này, nền kinh tế nhiều thành phần, các hình thức
kinh tế quá độ, việc duy trì và phát triển quan hệ hàng hóa - tiền tệ, quan tâm tới lợi ích
kinh tế cá nhân, mà trước hết là của nông dân, là những vấn đề có tính nguyên tắc trong
việc xây dựng mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa. Từ đó chính sách kinh tế mới có ý nghĩa
quốc tế to lớn đối với các nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó có
nước ta.
2. Vận dụng chính sách kinh tế mới ở Việt Nam
2.1. Sự cần thiết áp dụng chính sách kinh tế mới của Lê-nin ở Việt Nam
Việt Nam bước vào thời kỳ quá độ với đặc trưng kinh tế chủ yếu là sản xuất nhỏ,
mang tính chất của nền kinh tế tiểu nông, một nước mà khi cách mạng xã hội chủ nghĩa
diễn ra với những điều kiện bên trong và quốc tế vừa có nhiều khác biệt, vừa có nhiều
điểm tương đồng, lại vừa có điểm phức tạp hơn so với nước Nga Xô viết sau nội chiến.
Những gì diễn ra sau năm 1975 và đỉnh điểm là những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ
trước, vừa khẳng định những nét đặc thù của cách mạng Việt Nam đòi hỏi cần có nhận
thức lý luận để vận dụng chính sách kinh tế mới (NEP), vừa chỉ ra cơ sở thực tiễn cho
phép Đảng và Nhà nước ta vận dụng NEP. Từ những nội dung kinh tế và chính trị của
công cuộc đổi mới cho thấy Đảng ta đã vận dụng hết sức sáng tạo Chính sách kinh tế mới
của V.I.Lê-nin.
Vào giữa những năm 80 của thế kỷ trước, Việt Nam lâm vào một cuộc khủng hoảng
kinh tế - xã hội trầm trọng ở trong nước. Suốt những năm 1970 cho đến năm 1986, sở hữu
Trang 5
tư nhân bị triệt tiêu, nhường chỗ cho sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể. Hệ quả tất yếu là
sản xuất nông nghiệp trì trệ, tình trạng thiếu lương thực diễn ra triền miên. Phần lớn nhà
máy, xí nghiệp rơi vào tình trạng “lời giả, lỗ thật”, lưu thông phân phối ách tắc, thị trường
rối loạn. Lạm phát đạt tốc độ “ phi mã” kéo dài với chỉ số tăng giá bán lẻ cả năm 1986 là
774,7%. Đời sống của các tầng lớp nhân dân sa sút nghiêm trọng. Thời kỳ giáp hạt ở nông
thôn, có tới hàng triệu gia đình thiếu ăn. Tiêu cực xã hội lan rộng, lòng dân không yên…
Còn ở bên ngoài, chủ nghĩa xã hội hiện thực trên thế giới cũng đang ở trong tình trạng suy

giảm động lực phát triển, rơi vào trì trệ và khủng hoảng có tính phổ biến, các thế lực thù
địch tiếp tục phong toả, bao vây và cấm vận đối với nước ta.
Trong bối cảnh đó, đổi mới đã trở nên tất yếu cần thiết và bức xúc, chẳng những để
tìm lối thoát cho cuộc khủng hoảng, mà còn để xác lập một mô hình phát triển mới cho
phù hợp với thực tiễn. Đại hội VI (1986) đã tạo một bước ngoặt mới cho sự phát triển của
Việt Nam, với đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo. Đảng ta xác định rằng,
đổi mới trước hết phải đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế. Tư tưởng cải cách của Lênin
và chính sách kinh tế mới đã từng làm hồi sinh nước Nga, giờ đây đã lại một lần nữa thể
hiện giá trị, ý nghĩa và sức sống trên mảnh đất thực tiễn của đổi mới ở Việt Nam. Đảng ta
đã vận dụng tinh thần và phương pháp của NEP với thực hành sáng tạo, kế thừa để phát
triển và phát triển trong những điều kiện mới, hoàn cảnh mới, chứ không phải là sao chép
máy móc, giáo điều.
2.2. Việc vận dụng Chính sách kinh tế mới (NEP) của Lênin vào công cuộc đổi mới tại Việt
Nam
Trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đã nhận thức và vận dụng sáng tạo
Chính sách kinh tế mới của Lênin vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam. Những quan
điểm, đường lối và chính sách của Đảng, nhất là từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
(ngày 18/12/1986) đến nay, đã thể hiện rõ sự nhận thức và vận dụng này:
Trang 6
2.2.1. Xây dựng nền kinh tế đa sở hữu, đa thành phần để tạo sức mạnh phát triển chủ
nghĩa xã hội
Từ Đại hội VI, Đảng ta đã thừa nhận nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là đặc
trưng của cơ cấu kinh tế quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta và đưa ra chủ trương
chuyển nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế nhiều thành phần. Nếu thời kỳ trước đổi mới,
ở nước ta chỉ có một thành phần kinh tế là “thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa bao gồm
cả khu vực quốc doanh và khu vực tập thể”, thì giờ đây, Đảng ta xác định phải “bằng
những biện pháp thích hợp, sử dụng mọi khả năng của các thành phần kinh tế khác trong
sự liên kết chặt chẽ và dưới sự chỉ đạo của thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa”. Chỉ có
như vậy, chúng ta mới khai thác được mọi tiềm năng của sản xuất, khai thác được sức
mạnh của toàn dân trong tất cả các thành phần kinh tế thúc đẩy lực lượng sản xuất phát

triển.
Tiếp tục sự nghiệp đổi mới, Đại hội X (năm 2006) xác định năm thành phần kinh tế
trong thời kỳ quá độ ở nước ta:
Một là: thành phần kinh tế nhà nước. Kinh tế nhà nước bao gồm các doanh nghiệp
nhà nước và các sở hữu khác của Nhà nước, kể cả phần vốn của Nhà nước trong các đơn
vị liên doanh. Đảng ta khẳng định: “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật
chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều
kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển”.
Hai là: thành phần kinh tế tập thể. Kinh tế tập thể mà nòng cốt là các hợp tác xã là
hình thức liên kết tự nguyện của những người lao động nhằm kết hợp sức mạnh của từng
thành viên với sức mạnh của tập thể để giải quyết tốt hơn những vấn đề của sản xuất, kinh
doanh và đời sống. Trong quá trình xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
“kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của
nền kinh tế quốc dân”.
Trang 7
Ba là: thành phần kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân). “Kinh tế tư nhân
có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế”. Vì vậy, Đảng ta chủ
trương phát triển mạnh các hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp tư nhân.
Bốn là: thành phần kinh tế tư bản nhà nước. Kinh tế tư bản nhà nước bao gồm các
hình thức hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản tư nhân trong nước và nước
ngoài. Kinh tế tư bản nhà nước có vai trò quan trọng trong việc động viên tiềm năng to
lớn về vốn, công nghệ, khả năng tổ chức, quản lý, thị trường… của nhà tư bản để phát
triển sản xuất.
Năm là: thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài hướng vào mục tiêu phát triển các sản phẩm xuất khẩu, tăng khả năng cạnh tranh và
xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm
việc làm. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là thành phần kinh tế được khuyến khích phát
triển.
Tiếp đó, định hướng về phát triển kinh tế tại Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ: cần
“phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở

hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức, kinh doanh và hình thức phân phối”,
“phát huy quyền tự do kinh doanh theo pháp luật của mọi công dân để làm giàu cho bản
thân và đóng góp cho xã hội. Mọi thành phần kinh tế, các chủ thể tham gia thị trường đều
được coi trọng, cùng phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh và văn
minh, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”.
Có thể nói, quan điểm của Đảng ta về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận
hành theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của Nhà nước
chính là sự tiếp tục cuộc cách mạng trên lĩnh vực quan hệ sản xuất trong điều kiện mới,
đảm bảo thích ứng của quan hệ sản xuất với trình độ hiện có của lực lượng sản xuất, thúc
đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Điều đó thể hiện sự vận dụng sáng tạo của Chính sách
Trang 8
kinh tế mới của Lênin vào công cuộc đổi mới tại Việt Nam nhằm tạo ra cơ cấu kinh tế hợp
lý phục vụ cho sự phát triển của đất nước.
Tuy nhiên, kinh tế thị trường luôn có những mặt tiêu cực mâu thuẫn với bản chất của
chủ nghĩa xã hội. Song, với tình hình cụ thể hiện nay của nước ta, chúng ta không có con
đường nào khác là thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng ta phải chấp nhận ở mức độ nhất định những
quan hệ mà chúng ta đang muốn xoá bỏ, như lao động làm thuê, bất bình đẳng, bất công,
sự phân hoá giàu nghèo, nạn thất nghiệp…
2.2.2. Đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, mở rộng các quan hệ kinh tế, đẩy mạnh lưu thông
hàng hóa và lưu thông tiền tệ, phát huy vai trò đòn bẩy quan trọng để phát triển kinh
tế xã hội
Từ những ngày đầu của công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đã sớm xác định
nhiệm vụ quan trọng là ổn định tình hình kinh tế - xã hội bao gồm ổn định và phát triển
sản xuất đi cùng với ổn định phân phối và lưu thông. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VI chủ trương giải phóng lực lượng sản xuất, sản xuất phải đảm bảo đủ tiêu dùng và có
tích lũy; đặc biệt là trong lĩnh vực lương thực - thực phẩm, các mặt hàng tiêu dùng thiết
yếu và xuất khẩu: “bảo đảm nhu cầu lương thực của xã hội và có dự trữ; đáp ứng một
cách ổn định nhu cầu thiết yếu về thực phẩm, mức tiêu dùng lương thực, thực phẩm đủ tái
sản xuất sức lao động”, “đáp ứng được nhu cầu của nhân dân về những hàng tiêu dùng

thiết yếu” và “tạo được một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực; tăng nhanh kim ngạch xuất
khẩu để đáp ứng được phần lớn nhu cầu nhập khẩu vật tư, máy móc, phụ tùng và những
hàng hoá cần thiết” để tạo nguồn thu lớn cho ngân sách.
Để tăng nhanh khối lượng hàng hoá lưu thông, phải “kết hợp việc xây dựng các
ngành kinh tế - kỹ thuật với việc phát huy thế mạnh của từng vùng, từng tỉnh, thành phố
theo hướng mở rộng sản xuất và lưu thông hàng hoá, chú trọng xây dựng kinh tế trên địa
bàn huyện”, phải “mở rộng giao lưu hàng hoá, bãi bỏ các biện pháp cấm đoán, chia cắt thị
Trang 9
trường theo địa giới hành chính, kịp thời phát hiện và nghiêm khắc trừng trị bọn đầu cơ,
buôn bán phi pháp”.
2.2.3. Cải tạo dần dần cơ cấu kinh tế xã hội cũ, từng bước xây dựng cơ cấu kinh tế xã hội
mới theo đúng quy luật khách quan, không đốt cháy giai đoạn
Quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một quá trình lịch sử lâu dài, là thời kỳ diễn ra những
cải biến cách mạng sâu sắc và toàn diện, đòi hỏi chúng ta phải có những bước đi thích
hợp; trải qua những khâu trung gian, quá độ khác nhau. Do vậy, nhiệm vụ cải tạo xã hội
chủ nghĩa cần được thực hiện một cách thường xuyên, với những hình thức và bước đi
thích hợp, làm cho quan hệ sản xuất từng bước phù hợp với tính chất và trình độ của lực
lượng sản xuất, thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất. Trong cải tạo xã hội xã hội
chủ nghĩa tại Việt Nam không thể nôn nóng xóa bỏ các thành phần kinh tế không phải của
chủ nghĩa xã hội mà phải tuyệt đối tuân theo quy luật khách quan. Trên thực tế, chúng ta
cũng đã từng bị trả giá do biện pháp và bước đi quá vội vàng, đó là khi chúng ta tiến hành
hợp tác hoá và xây dựng hợp tác xã bậc cao, bất chấp quy luật phát triển khách quan; do
vậy, kết quả mang lại không được như ý muốn.
2.2.4. Phát triển có mức độ chủ nghĩa tư bản tư nhân trong nước, đồng thời phát triển chủ
nghĩa tư bản nhà nước
Thời kỳ đầu đổi mới, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng chủ trương
“sử dụng kinh tế tư bản tư nhân (tư sản nhỏ) trong một số ngành, nghề, đi đôi với cải tạo
họ từng bước bằng nhiều hình thức kinh tế tư bản nhà nước. Mở rộng nhiều hình thức liên
kết giữa các thành phần kinh tế theo nguyên tắc cùng có lợi, bình đẳng trước pháp luật”.
Sau đó, tại Đại hội X, với nhận thức về vai trò của chủ nghĩa tư bản tư nhân để phát

triển kinh tế tư nhân - thành phần kinh tế năng động nhất, chiếm số lượng doanh nghiệp
và số người tham gia đông nhất, còn nhiều tiềm năng phát triển, Đảng ta khuyến khích:
“Mọi công dân có quyền tham gia các hoạt động đầu tư, kinh doanh với quyền sở hữu tài
sản và quyền tự do kinh doanh được pháp luật bảo hộ; có quyền bình đẳng trong đầu tư,
Trang 10
kinh doanh, tiếp cận các cơ hội, nguồn lực kinh doanh, thông tin và nhận thông tin. Xoá
bỏ mọi rào cản, tạo tâm lý xã hội và môi trường kinh doanh thuận lợi cho các loại hình
doanh nghiệp của tư nhân phát triển không hạn chế quy mô trong mọi ngành nghề, lĩnh
vực, kể cả các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh quan trọng của nền kinh tế mà pháp luật
không cấm”.
Cho đến hiện tại, Nhà nước ta vẫn áp dụng phổ biến các hình thức kinh tế tư nhân,
tư bản nhà nước tạo điều kiện kinh tế và pháp lý thuận lợi cho các nhà kinh doanh tư nhân
yên tâm đầu tư, làm ăn lâu dài nhưng kinh tế nhà nước vẫn là chủ đạo cùng với kinh tế tập
thể dần dần trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân. Hiện nay, thành phần kinh tế tư
nhân đóng góp khoảng 40% GDP của cả nước.
Cùng với tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước cũng được nhìn nhận có vai trò
quan trọng trong việc động viên tiềm năng to lớn về vốn, công nghệ, khả năng tổ chức,
quản lý, thị trường… của nhà tư bản để phát triển sản xuất vì lợi ích của bản thân họ và
của sự nghiệp xây dựng, đổi mới, phát triển đất nước.
2.2.5. Đẩy mạnh công nghiệp hóa nền kinh tế quốc dân xã hội chủ nghĩa, để thực hiện tốt
mục tiêu năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế trong tất cả các
ngành của nền kinh tế gắn với mở rộng thị trường
Ngay từ thời kỳ đầu đổi mới, Đảng ta đã chú trọng: “ra sức phát triển công nghiệp
nhẹ, tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp, đáp ứng cho được nhu cầu về hàng tiêu dùng
thông thường, về chế biến nông, lâm, thuỷ sản, tăng nhanh hàng gia công xuất khẩu và
các mặt hàng xuất khẩu khác. Tiếp tục xây dựng một số cơ sở công nghiệp nặng và kết
cấu hạ tầng, trước hết là năng lượng và giao thông vận tải, phù hợp với điều kiện thực tế,
nhằm phục vụ thiết thực các mục tiêu kinh tế, quốc phòng trong chặng đường đầu tiên, và
chuẩn bị tiền đề cho việc đẩy mạnh công nghiệp hoá trong chặng đường tiếp theo”.
Để thúc đẩy sự nghiệp đổi mới của đất nước tiếp tục tiến lên, thu được những thành

tựu to lớn hơn nữa, tại Đại hội X, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã xác định mục tiêu
Trang 11
đến năm 2020 nước ta "cơ bản trở thành nước công nghiệp". Kế thừa có chọn lọc và phát
triển những tri thức của văn minh nhân loại về công nghiệp hoá và căn cứ vào điều kiện
lịch sử cụ thể của Việt Nam, Đảng cộng sản Việt Nam tại Hội nghị Trung ương lần thứ
bảy khóa VII (năm 1994), nêu chủ trương tiến hành xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật
của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn mới bằng con đường công nghiệp hóa và
hiện đại hóa, thực hiện “quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất
kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là chính
sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp
tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ,
tạo ra năng suất lao động xã hội cao”.
Theo quan niệm này, quá trình xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam phải kết hợp chặt chẽ hai nội dung công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Nó
không chỉ đơn thuần là phát triển công nghiệp mà còn phải thực hiện chuyển dịch cơ cấu
trong từng ngành, lĩnh vực và toàn bộ nền kinh tế quốc dân theo hướng hiện đại. Nó
không chỉ là một quá trình phát triển tuần tự từ cơ giới hóa lên tự động hóa, tin học hóa
mà còn kết hợp giữa thủ công truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào
hiện đại ở những khâu có thể và mang tính quyết định.
2.2.6. Đẩy mạnh phát triển hợp tác hóa trong nông nghiệp, tiểu công nghiệp, thủ công
nghiệp, tạo điều kiện phát triển nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa
Để phục vụ công cuộc đổi mới đất nước, bên cạnh việc sử dụng khả năng tích cực
của kinh tế tiểu sản xuất hàng hoá, Nhà nước ta còn chủ trương “vận động và tổ chức
những người lao động cá thể vào các hình thức làm ăn tập thể để nâng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh; sắp xếp, cải tạo và sử dụng tiểu thương, giúp đỡ số người không cần
thiết trong lĩnh vực lưu thông chuyển sang sản xuất và dịch vụ”. Theo đó, việc phát triển
mô hình hợp tác xã trong nông nghiệp, tiểu công nghiệp phải tôn trọng tính tự nguyện của
Trang 12
người dân và phát triển từ thấp lên cao được đặc biệt chú trọng, khi đủ điều kiện thì phát
triển mô hình này thành doanh nghiệp của nhà nước.

Thực hiện Nghị quyết 26/NQ-TW, Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương
Đảng khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; chương trình mục tiêu quốc gia về
xây dựng nông thôn mới là một trong những nội dung cụ thể hóa đã trở thành phong trào
lớn được hưởng ứng rộng khắp trong cả nước. Đây là cơ hội và điều kiện thuận lợi làm
cho khu vực nông thôn ngày càng phát triển, ổn định, đời sống vật chất và tinh thần của
người dân ngày càng được nâng cao. Trong thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về
xây dựng nông thôn mới, hình thức tổ chức sản xuất là một trong những tiêu chí quan
trọng: muốn xây dựng nông thôn mới thì phải có tổ hợp tác hoặc hợp tác xã hoạt động có
hiệu quả. Do đó, các tổ chức kinh tế hợp tác mà cụ thể là vai trò của hợp tác xã nông
nghiệp được coi trọng, vừa là hỗ trợ để thực hiện những tiêu chí cần đạt được và là điều
kiện phát huy nội lực rất hiệu quả trong sự nghiệp xây dựng nông thôn mới.
2.2.7. Đa dạng hóa các loại hình phân phối thu nhập, thực hiện tốt các quan hệ về lợi ích
kinh tế. Trong đó, chủ trương lấy hình thức phân phối theo lao động là chủ yếu, là
thước đo, là cơ sở thực hiện các hình thức phân phối khác
Trong giai đoạn đổi mới nền kinh tế quốc dân, Đảng ta chú trọng việc khẩn trương
sửa đổi, bổ sung các chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách về cung ứng vật tư, lưu
thông hàng hoá, giá, thuế, tín dụng, tiền lương nhằm khuyến khích các cơ sở và công
nhân, nông dân, thợ thủ công hăng hái phát triển sản xuất.
“Mức thu nhập của tập thể và của người lao động tuỳ thuộc vào kết quả lao động và
hiệu quả kinh tế. Các chính sách và chế độ quản lý vật tư, lao động, tiêu thụ sản phẩm, giá
cả, tài chính, tín dụng, tiền lương phải hướng các hoạt động kinh tế vào việc thực hiện
các mục tiêu của kế hoạch kinh tế quốc dân, tạo điều kiện và đòi hỏi mọi đơn vị kinh tế
thực hiện tốt hạch toán kinh doanh, mọi tổ chức và cá nhân ra sức tiết kiệm trong sản xuất
và tiêu dùng”.
Trang 13
Đối với công nhân, viên chức, có chế độ tiền lương hợp lý, phúc lợi xã hội cần thiết
để bảo đảm đời sống vật chất và văn hoá cho người lao động và gia đình. Đối với nông
dân, giải quyết tốt quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ đống góp cho đất nước, rà soát lại
các chính sách có liên quan đến nông dân, bãi bỏ những chính sách không đúng. Đối với
trí thức, điều quan trọng nhất là đánh giá đúng năng lực và tạo điều kiện cho các khả năng

sáng tạo được sử dụng đúng và phát triển.
Trong mục tiêu và phương hướng phát triển đất nước 5 năm 2006 - 2010, Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ X nêu rõ: "thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao
động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và
thông qua phúc lợi xã hội". Phân phối theo lao động là phân phối trong các đơn vị kinh tế
dựa trên cơ sở sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất (kinh tế nhà nước) hoặc các hợp tác
xã cổ phần mà phần góp vốn của các thành viên bằng nhau (kinh tế hợp tác). Các thành
phần kinh tế này đều dựa trên chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất ở các
trình độ khác nhau. Người lao động làm chủ những tư liệu sản xuất, nên tất yếu cũng làm
chủ phân phối thu nhập. Vì vậy, phân phối phải vì lợi ích của người lao động.
Đến năm 2011, tại Đại hội XI, quan điểm này vẫn là được quán triệt mạnh mẽ và
quyết liệt: “Đổi mới quan hệ phân phối, chính sách tiền lương, thu nhập của cán bộ, công
chức, viên chức, người lao động; khắc phục tình trạng bất hợp lý và tác động tiêu cực của
quan hệ phân phối, chính sách tiền lương, thu nhập hiện nay”.
2.2.8. Tăng cường vai trò quản lý kinh tế của nhà nước bằng biện pháp kinh tế chống mệnh
lệnh, hành chính, quản lý bằng kế hoạch, chính sách công minh trên cơ sở tôn trọng
và vận dụng các quy luật kinh tế của thị trường
Để đảm bảo thắng lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải giữ
vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Ở đây, sự điều tiết vĩ mô của Đảng và Nhà nước là
một tất yếu khách quan. Do đó, công tác lãnh đạo của Đảng luôn được quán triệt theo tinh
thần cách mạng và khoa học, tăng cường hiệu lực tổ chức quản lý, thiết lập trật tự, kỷ
Trang 14
cương và thực hiện công bằng xã hội. Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nhằm tạo ra động
lực thúc đẩy các đơn vị kinh tế và quần chúng lao động hăng hái phát triển sản xuất, nâng
cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế. Kiên quyết xoá bỏ cơ chế tập trung quan
liêu, bao cấp, thiết lập và hình thành đồng bộ cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hạch
toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ. Cơ chế mới lấy kế
hoạch hoá làm trung tâm, sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hoá - tiền tệ, quản lý bằng
phương pháp kinh tế là chủ yếu kết hợp với biện pháp hành chính, giáo dục, thực hiện
phân cấp quản lý theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thiết lập trật tự, kỷ cương trong mọi

hoạt động kinh tế.
“Các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến xã, phường phải làm đúng chức
năng quản lý hành chính - kinh tế, không can thiệp vào công việc sản xuất - kinh doanh
của các đơn vị cơ sở. Bảo đảm hiệu lực quản lý tập trung thống nhất của trung ương trong
những vấn đề có tầm quan trọng đối với cả nước; đồng thời bảo đảm quyền chủ động của
các cấp địa phương trong việc quản lý kinh tế, xã hội trên từng địa bàn”.
Đảng ta luôn chú trọng nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, củng cố và phát huy vai trò của Mặt trận tổ quốc và các đoàn
thể quần chúng. Đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của các tổ chức quần chúng,
hướng mạnh về cơ sở, thu hút đông đảo nhân dân, tăng cường khối đoàn kết toàn dân,
đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo. Thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, tôn trọng và bảo
đảm quyền công dân; chống tệ quan liêu cửa quyền, ức hiếp quần chúng trong bộ máy
lãnh đạo và quản lý các cấp. Thực hiện có nền nếp khẩu hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm,
dân kiểm tra”; “tất cả vì dân và do dân”. Động viên và tổ chức quần chúng tham gia quản
lý kinh tế, quản lý xã hội, tham gia các hoạt động cải cách kinh tế.
Nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước. Nêu cao vị trí và vai trò của Quốc hội và
Hội đồng nhân dân các cấp, tạo điều kiện cho các cơ quan dân cử thực hiện đúng chức
năng, nhiệm vụ và quyền hạn theo Hiến pháp quy định. Tăng cường pháp chế xã hội chủ
Trang 15
nghĩa và quản lý xã hội bằng pháp luật. Phân định rành mạch nhiệm vụ, quyền hạn, trách
nhiệm của cơ quan nhà nước từng cấp theo nguyên tắc tập trung dân chủ, phân biệt rõ
chức năng quản lý hành chính - kinh tế với quản lý sản xuất - kinh doanh, kết hợp quản lý
theo ngành với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ. Chấn chỉnh bộ máy quản lý nhà
nước theo hướng tinh, gọn, có đủ năng lực thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng
thành pháp luật, chính sách cụ thể; xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch nhà nước;
quản lý và điều hành có hiệu quả các hoạt động kinh tế; xã hội; giữ vững pháp luật, kỷ
cương và trật tự, an toàn xã hội.
2.2.9. Mở rộng chính sách kinh tế đối ngoại với mục đích tăng cường huy động các nguồn
đầu tư quốc tế vào phát triển trong nước
Hợp tác kinh tế với các nước là xu thế phát triển tất yếu của chủ nghĩa xã hội để khai

thác thành quả của nền văn minh nhân loại. Do vậy trong những năm qua, nước ta luôn
chủ trương mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu để đáp
ứng nhu cầu nhập khẩu, tham gia ngày càng rộng rãi vào sự phân công lao động quốc tế,
tích cực phát triển quan hệ kinh tế và khoa học, kỹ thuật với các nước khác, với các tổ
chức quốc tế và tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi; mở rộng quan
hệ với tất cả các nước trên nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình; triển khai đồng bộ, toàn diện,
hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tích cực và chủ động hội nhập quốc tế.
Tóm lại:
Trong bối cảnh quốc tế và trong nước có rất nhiều khó khăn, thách thức, nhất là do
ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu; toàn Đảng, toàn
dân, toàn quân ta đã nỗ lực phấn đấu đạt được những thành tựu quan trọng, ứng phó có
kết quả trước những diễn biến phức tạp của kinh tế thế giới và trong nước. Bằng sự vận
dụng sáng tạo Chính sách kinh tế mới của Lênin, chúng ta cơ bản giữ vững ổn định kinh
tế vĩ mô; duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế khá, các ngành đều có bước phát triển, quy mô
Trang 16
nền kinh tế tăng lên. Đời sống của nhân dân tiếp tục được cải thiện; chính trị - xã hội ổn
định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn
lãnh thổ được giữ vững; hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế được mở rộng, vị thế, uy
tín quốc tế của nước ta được nâng cao; phát huy dân chủ có tiến bộ, khối đại đoàn kết
toàn dân tộc tiếp tục được tăng cường; công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị đạt
một số kết quả tích cực.
Tuy nhiên, cũng còn nhiều hạn chế, khuyết điểm cần quyết tâm khắc phục: Kinh tế
phát triển chưa bền vững, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp;
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá chậm; chế độ phân
phối còn nhiều bất hợp lý, phân hoá giàu nghèo tăng lên. Những hạn chế, yếu kém trong
các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường
chậm được khắc phục; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tội phạm, tệ nạn xã hội, suy
thoái đạo đức, lối sống chưa được ngăn chặn, đẩy lùi. Thể chế kinh tế, chất lượng nguồn
nhân lực, kết cấu hạ tầng vẫn là những điểm yếu cản trở sự phát triển. Nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chưa được phát huy đầy đủ. Công tác

xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đổi mới, nâng cao chất
lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân chuyển biến chậm. Còn
tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định chính trị - xã hội.
Những hạn chế, yếu kém nói trên có nguyên nhân khách quan là do ảnh hưởng của
cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu; thiên tai, dịch bệnh; sự chống phá
của các thế lực thù địch; những yếu kém vốn có của nền kinh tế và nguyên nhân chủ quan
là do công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được
yêu cầu. Nhận thức trên một số vấn đề cụ thể của công cuộc đổi mới còn hạn chế, thiếu
thống nhất. Công tác dự báo trong nhiều lĩnh vực còn yếu. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng,
quản lý, điều hành của Nhà nước trên một số lĩnh vực và một số vấn đề lớn chưa tập
trung, kiên quyết, dứt điểm; kỷ luật, kỷ cương chưa nghiêm. Tổ chức thực hiện vẫn là
Trang 17
khâu yếu. Năng lực, phẩm chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức
chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Trong thời gian tới, trên thế giới; hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn,
nhưng sẽ có những diễn biến phức tạp mới, tiềm ẩn nhiều bất trắc khó lường. Ở trong
nước, những thành tựu, kinh nghiệm của 25 năm đổi mới (1986 - 2011) đã tạo ra cho đất
nước lực và thế, sức mạnh tổng hợp lớn hơn nhiều so với trước. Những năm tới là giai
đoạn kinh tế nước ta tiếp tục phục hồi, lấy lại đà tăng trưởng sau thời kỳ suy giảm; khắc
phục những hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, xây dựng Đảng
và hệ thống chính trị. Tuy nhiên, nước ta đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau,
tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp.
Do vậy, trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường lối
và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đổi mới toàn
diện, đồng bộ với những bước đi thích hợp. Tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
phải gắn với chú trọng xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, giữ vững truyền thống và
bản sắc văn hoá dân tộc. Mở rộng, phát huy dân chủ phải gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ
cương và ý thức trách nhiệm của mỗi công dân, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và cả cộng
đồng.

3. Một số giải pháp vận dụng chính sách kinh tế mới của Lê nin để phát triển kinh tế
trong giai đoạn hiện nay
Khẳng định quan điểm vận dụng một cách sáng tạo và phát triển hơn nữa những tư
tưởng cơ bản của V.I. Lênin về chính sách kinh tế mới nhằm mục đích sáng tạo ra nhiều
hình thức kinh tế trong thời kỳ quá độ, phù hợp với bối cảnh của công cuộc đổi mới theo
định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Chúng ta cần tiếp tục thực hiện:
3.1. Đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác xã
Trang 18
Kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế hợp tác xã dần dần trở
thành nền tảng tạo điều kiện kinh tế pháp lý thuận lợi để các nhà kinh doanh tư nhân yên
tâm đầu tư, làm ăn lâu dài. Mở rộng các hình thức liên doanh liên kết giữa kinh tế nhà
nước với các thành phần kinh tế khác cả trong và ngoài nước.Áp dụng phổ biến các hình
thức kinh tế tư bản nhà nước.
Trong bối cảnh mở cửa, giao lưu, hợp tác khu vực và quốc tế ngày càng mở rộng và
có chiều sâu; sự phát triển mạnh mẽ và có hiệu quả của thành phần kinh tế tư bản nhà
nước trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần chẳng những giúp chúng ta đẩy mạnh
tốc độ tăng trưởng kinh tế, rút ngắn quá trình khắc phục tình trạng tụt hậu về kinh tế so
với các nước trong khu vực và trên thế giới, mà còn tạo thêm công ăn việc làm cho người
lao động nước ta và góp phần cải thiện đời sống của họ.
Chiến lược phát triển lấy công nghiệp hoá hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ
nghĩa vừa là mục tiêu vừa là động lực, thiết nghĩ không thể không phát triển kinh tế tư
bản nhà nước.
3.2. Phát triển quan hệ hàng hoá - tiền tệ trong đổi mới cơ chế quản lý kinh tế
Trình độ sản xuất hàng hoá không đồng đều trải rộng từ trình độ trao đổi giản đơn ở
nông thôn đến trình độ sản xuất lớn của xí nghiệp ở thành thị. Sản xuất hàng hoá nhỏ
đang chiếm ưu thế so với sản xuất hàng hoá lớn.Sản xuất hàng hoá nhỏ trong công nghiệp
và nông nghiệp đang đáp ứng 80 - 90% nhu cầu hàng hoá của xã hội. Ngay trong các
thành phố lớn và hàng xuất khẩu, sản xuất hàng hoá nhỏ vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn. Đặc
điểm này đòi hỏi chú ý vận dụng các hình thức quan hệ hàng - tiền thúc đẩy sản xuất hàng
hoá nhỏ phát triển và hình thành hệ thống phân công lao động và quan hệ trao đổi sản

xuất hàng hoá lớn. Hiện nay lưu thông hàng hoá còn chiếm ưu thế so với sản xuất hàng
hoá. Do điểm xuất phát là nền nông nghiệp lạc hậu, kinh tế tự cung tự cấp còn lớn, nên sự
phát triển của lưu thông và thị trường để mở rộng sản xuất hàng hoá là hợp quy luật, phát
triển ngoại thương để thúc đẩy kinh tế trong nước là tính quy luật phát triển nước ta.
Trang 19
3.3. Duy trì và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
Duy trì và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần (kinh tế thị trường định
hướng XHCN) trong suốt thời kỳ quá độ và thực hiện cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước. Chủ trương này là sự vận dụng sáng tạo quan hệ hàng hóa - tiền tệ trong NEP
vào điều kiện nước ta.
Từ những bài học kinh nghiệm ở Liên Xô, các nước XHCN Đông Âu, Đảng và Nhà
nước ta đã nhận rõ rằng: Phải xây dựng và phát triển một nền kinh tế hàng hóa với cơ cấu
nhiều thành phần (kinh tế thị trường) theo định hướng XHCN và để nó vận hành có hiệu
quả, phải thực hiện cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Quan điểm trên giúp chúng ta không ngừng đổi mới những chính sách kinh tế và lợi
ích để phát huy vai trò đòn bẩy của kinh tế hàng hóa, quan hệ hàng hóa - tiền tệ thúc đẩy
sản xuất và đời sống, nhờ vậy kinh tế nước ta phát triển khá mạnh trong hơn 20 năm qua.
Duy trì và phát triển nền kinh tế hàng hóa đa thành phần theo định hướng XHCN
trong suốt thời kỳ quá độ; thực hiện cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước là chủ
trương và quyết sách hết sức đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trước mắt cũng như
trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta. Bởi lẽ kinh tế hàng hóa (kinh tế thị
trường) là thành tựu văn minh của nhân loại và đang là xu thế phát triển kinh tế khách
quan của các nước trên thế giới cũng như của nước ta.
3.4. Xây dựng thị trường xã hội thống nhất trong cả nước và gắn với thị trường thế giới.
Thực hiện chính sách một giá
Trang 20
Vận dụng sáng tạo NEP, Đảng và Nhà nước ta đã quyết định xây dựng một thị
trường xã hội thống nhất, bảo đảm cho mọi hàng hóa được lưu thông thông suốt trong cả
nước. Thực hiện chính sách một giá trên cơ sở vận dụng quy luật giá trị và quan hệ cung -
cầu hàng hóa, bảo đảm giá cả sát với giá trị, xóa bỏ tình trạng "lỗ thật, lãi giả" trong nền

kinh tế. Gắn thị trường trong nước với thị trường thế giới là đòi hỏi khách quan để cho
nền sản xuất hàng hóa phát triển mạnh.
Từ Đại hội VII và đặc biệt là từ Đại hội VIII trở đi, Đảng ta đã chủ trương mở rộng
thị trường trong nước, thực hiện quan hệ đa phương với thị trường thế giới trên nguyên
tắc bảo đảm đôi bên cùng có lợi - chính sách này đã tạo ra một sức hấp dẫn vốn đầu tư
nước ngoài vào nước ta và kích thích ngoại thương phát triển, xuất, nhập khẩu tăng nhanh
có lợi cho nền kinh tế nước ta trong những thập kỷ qua.
3.5. Chấp nhận tự do cạnh tranh và mở rộng liên doanh liên kết giữa các thành phần kinh
tế, giữa trong nước với ngoài nước
Trang 21
Đảng ta đã quyết tâm từ bỏ mô hình kinh tế bao cấp sơ cứng chỉ có 2 thành phần
kinh tế (quốc doanh và tập thể); không thị trường, không có cạnh tranh và không có liên
doanh liên kết kinh tế… thay thế bằng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với
nhiều thành phần kinh tế tham gia, sử dụng quan hệ hàng hóa - tiền tệ làm phương thức
vận động, thực hiện trao đổi mua bán sản phẩm trên thị trường theo đúng quy luật giá trị -
quy luật kinh tế của sản xuất hàng hóa.
Chủ trương này đã đạt được những thành công lớn trong phát triển kinh tế hơn 20
năm qua trên đất nước ta.Liên doanh liên kết giữa các thành phần kinh tế, giữa kinh tế
trong nước với kinh tế ngoài nước là sự cần thiết, xuất phát từ yêu cầu phát triển sản xuất,
mở rộng kinh doanh. Liên doanh liên kết còn nhằm nâng cao tiềm lực vốn, kỹ thuật, sức
mạnh trong cạnh tranh và khả năng sản xuất kinh doanh của từng đơn vị xí nghiệp, các
chủ thể tham gia liên doanh liên kết đều có lợi.
3.6. Phát triển mạnh mẽ nền kinh tế thị trường định hướng XHCN phải dựa vào phát huy
nội lực là chính, đồng thời kết hợp với sử dụng có hiệu quả các nguồn ngoại lực
Tự túc, tự cường, tự chủ vốn là truyền thống của dân tộc ta trong 4.000 năm lịch sử.
Trong tình hình chính trị thế giới phức tạp như hiện nay và lực lượng sản xuất ngày càng
có xu hướng quốc tế hóa, để không bị lệ thuộc vào nước ngoài, vấn đề phát huy, khai thác
sử dụng có hiệu quả mọi nguồn nội lực để phát triển kinh tế là điều cực kỳ quan trọng,
phải xem đó là vấn đề chiến lược trước mắt cũng như lâu dài. Tuy nhiên việc thu hút và
sử dụng có hiệu quả các nguồn ngoại lực cũng không kém phần quan trọng để tạo điều

kiện cho nước ta có thêm sức mạnh, sớm đuổi kịp các nước tiên tiến trên thế giới. Song
dù quan trọng đến đâu thì ngoại lực không thể thay thế được nội lực.
3.7. Xây dựng chính sách tài chính quốc gia phù hợp với nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN
Trang 22
Từ cơ chế ngân sách bao cấp Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương nhanh chóng phải
chuyển sang xây dựng chính sách tài chính quốc gia phù hợp với kinh tế thị trường. Trước
hết là thay đổi cơ chế hoạt động của hệ thống ngân hàng, tách các ngân hàng phục vụ sản
xuất và kinh doanh, tín dụng thành hệ thống ngân hàng hoạt động theo cơ chế kinh doanh
và thực hiện hạch toán kinh tế. Ngân hàng phục vụ nhu cầu vốn cho các xí nghiệp sản
xuất kinh doanh phải tuân theo quy luật của quan hệ hàng - tiền. Vay vốn kinh doanh phải
trả lãi theo quy định … Thành lập Kho bạc Nhà nước không làm chức năng kinh doanh
tiền tệ mà chỉ có chức năng quản lý các quỹ ngân sách như quỹ dự trữ tài chính của Nhà
nước, quỹ ngoại tệ tập trung của Nhà nước… Từng bước thực hiện Luật Ngân sách, bảo
đảm ngân sách Nhà nước thật sự trở thành một công cụ mạnh để Nhà nước quản lý nền
kinh tế.
Trong tình hình nền kinh tế nước ta đang gặp khó khăn tạm thời như hiện nay do tác
động của khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu, Đảng ta vẫn lấy phát triển kinh tế thị
trường định hướng XHCN và thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ văn minh” làm mục tiêu trung tâm để đưa ra những nhóm giải pháp hữu
hiệu nhằm kiềm chế và đẩy lùi lạm phát và tăng giá; kích cầu sản xuất, tiêu dùng, bảo
đảm đời sống dân sinh và phát triển bền vững…
3.8. Cần phải nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, xây dựng bộ máy quản lý nhà nước
vững mạnh, có hiệu quả
Đây cũng là yêu cầu để phát huy năng lực sáng tạo, tính chủ động của quần chúng
nhân dân trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế, động viên họ tham gia trực tiếp
vào công tác quản lý, về sự khắc phục triệt để mọi biểu hiện của chủ nghĩa quan liêu trong
các tổ chức Đảng và chính quyền trong những năm thực hiện chính sách kinh tế mới hiện
vẫn là cơ sở để chúng ta khẳng định tính đúng đắn của sự kết hợp đổi mới kinh tế với đổi
mới chính trị trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay. Nhưng tư tưởng đó của

V.I.Lênin cho thấy rõ, giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính có quan hệ biện chứng, có sự
Trang 23
tác động qua lại lẫn nhau, là tiền đề, là điều kiện của nhau và do đó ngay từ đầu giữa
chúng phải có sự kết hợp chặt chẽ, trong đó đổi mới kinh tế phải được coi là trọng tâm,
đồng thời từng bước đổi mới chính trị.
Trang 24

×